02633 540134 | lamdong@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   02/09/2026 15:11

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung chăm sóc, gieo trồng Vụ Hè thu; nhờ chủ động nguồn nước, đẩy mạnh cơ giới hóa và sử dụng giống ngắn ngày, chất lượng cao nên tiến độ sản xuất bảo đảm kế hoạch. Chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn gia súc, gia cầm được duy trì, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát tốt. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào công tác trồng rừng đúng kế hoạch; đồng thời tăng cường quản lý bảo vệ rừng và triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống cháy rừng. Hoạt động khai thác, nuôi trồng và sản xuất giống thủy sản đạt kết quả tích cực, lợi thế tôm giống tiếp tục được giữ vững. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tính đến ngày 15/8/2026, tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm ước đạt 254.344,9 ha, tăng 2,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: diện tích gieo trồng lúa ước đạt 104.800 ha, tăng 1,21% (diện tích gieo trồng lúa Vụ Hè thu ước đạt 49.400 ha, tăng 2,42%); diện tích gieo trồng ngô ước đạt 38.220 ha, tăng 3,89%; diện tích gieo trồng rau ước đạt 60.000 ha, tăng 3,54%; diện tích gieo trồng hoa ước đạt 8.050 ha, tăng 2,98%; diện tích gieo trồng đậu các loại ước đạt 10.300 ha, tăng 0,5%; diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm còn lại ước đạt 32.974,9 ha, tăng 4,17%. 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, trong đó các cây trồng chủ lực tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh. Hiện tại phần lớn diện tích các cây trồng đang bước vào giai đoạn nuôi quả, đây là thời điểm then chốt quyết định năng suất cuối vụ nên người dân đang tích cực chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Tính đến ngày 15/8/2026, tổng dung tích nước tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh ước đạt 461,47 triệu m3, bằng 50,8% dung tích thiết kế, tăng 7,34 triệu m3 so với tháng trước. Trong tháng, trên địa bàn tinh tiếp tục xuất hiện mưa trên diện rộng nhưng lượng mưa không phân bố đồng đều giữa các khu vực. Công tác quản lý, bảo đảm an toàn công trình và kết cấu hạ tầng thủy lợi tiếp tục được tăng cường; triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn đập, hồ chứa và vùng hạ du trong mùa mưa, lũ; đôn đốc việc quản lý, sử dụng, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi; đồng thời kiểm tra, rà soát hiện trạng các công trình thủy lợi bị hư hỏng đột xuất trên địa bàn để xử lý kịp thời. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, công tác bảo vệ thực vật được tăng cường, tình hình dự báo sâu bệnh định kỳ, thường xuyên đã kịp thời phát hiện và xử lý các đối tượng gây hại trên cây trồng, đặc biệt là các cây trồng chủ lực của tỉnh như lúa, rau, hoa, chè, cà phê,... hạn chế thiệt hại trên diện rộng. Vì vậy, trong tháng sâu bệnh gây hại trên các loại cây trồng không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cây trồng.  2. Chăn nuôi Trong tháng, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, quy mô đàn vật nuôi đều tăng so với cùng kỳ nhờ nhu cầu tiêu dùng tương đối ổn định, giá một số sản phẩm chăn nuôi thuận lợi, các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn và mở rộng quy mô; tuy nhiên, tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi vẫn tiềm ẩn nguy cơ, chi phí thức ăn, con giống, thuốc thú y vẫn ở mức cao đã ảnh hưởng đến hiệu quản sản xuất. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 30.434 tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 246.349 tấn, tăng 11,36%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27,2 nghìn con, tăng 1,30% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô đàn trâu tăng nhẹ, chủ yếu do một số hộ chăn nuôi ổn định, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có và bãi chăn thả. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp, hiệu quả kinh tế của chăn nuôi trâu chưa thực sự hấp dẫn so với các vật nuôi khác. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 320,2 nghìn con, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước (trong đó đàn bò sữa 32,5 nghìn con, tăng 4,53%). Quy mô đàn bò tăng do nhu cầu thị trường đối với thịt bò và sữa tương đối ổn định, một số cơ sở tiếp tục duy trì quy mô và đầu tư cải tạo đàn. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.542 nghìn con, tăng 5,36% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.253,8 nghìn con, tăng 4,93%). Quy mô đàn lợn tăng chủ yếu do các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn, mở rộng quy mô sản xuất sau thời gian thị trường có tín hiệu thuận lợi; mô hình chăn nuôi trang trại, liên kết với doanh nghiệp tiếp tục được duy trì (trong tháng, có 02 doanh nghiệp chăn nuôi lợn đầu tư mới và mở rộng quy mô: Công ty TNHH chăn nuôi Trần Nguyễn, quy mô 3.600 con lợn nái và Trang trại chăn nuôi Quảng Phú của Công ty TNHH MTV Nông trại Cao Nguyên Quảng Phú 1 phát triển đàn lợn giống, lợn thịt thương phẩm với sản lượng xuất trại khoảng 60.000 con lợn thịt và duy trì quy mô 15.000 con lợn nái sinh sản). Việc áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học giúp hạn chế thiệt hại do dịch bệnh. Tuy nhiên, nguy cơ dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn, cùng với giá thức ăn chăn nuôi và chi phí phòng, chống dịch ở mức cao nên một số hộ nhỏ lẻ còn thận trọng trong việc tái đàn. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 24.600 nghìn con, tăng 9,28% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.620 nghìn con, chiếm 67,56% trong tổng đàn gia cầm, tăng 9,34%). Đây là nhóm vật nuôi có tốc độ tăng cao nhờ nhu cầu tiêu dùng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, nhu cầu tiêu dùng thịt và trứng tương đối ổn định, cùng với việc chủ động phòng, chống dịch bệnh và áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn giúp người nuôi mạnh dạn tái đàn. Tuy nhiên giá thức ăn chăn nuôi và giá sản phẩm đầu ra biến động vẫn ảnh hưởng đến quyết định mở rộng sản xuất của một bộ phận hộ chăn nuôi. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh trên đàn vật nuôi tiếp tục diễn biến phức tạp; dịch bệnh đã phát sinh tại 12 xã, phường trên địa bàn tỉnh, đã tiêu hủy 639 con/26,7 tấn. Lũy kế từ 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 22.859 con lợn mắc bệnh với tổng trọng lượng 1.091,3 tấn tại 51 hộ/cơ sở thuộc 34 thôn của 20 xã, phường; đến nay còn 07 xã có ổ dịch chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi như: Tai xanh, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, cúm gia cầm không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng, tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị chuyên môn phối hợp với địa phương khoanh vùng, xử lý ổ dịch, tăng cường giám sát, lấy mẫu quan trắc môi trường và kiểm tra các cơ sở an toàn dịch bệnh. Đã phân bổ 50.700 liều vắc xin (gồm 3.000 liều tụ huyết trùng, 40.850 liều lở mồm long móng, 6.850 liều tam liên) và 50 lít hóa chất cho 21 xã, phường, phụ vụ công tác tiêm phòng, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng và phòng, chống dịch bệnh. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, hoạt động trồng rừng được triển khai theo kế hoạch; diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 1.284 ha, tăng 3,82% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 7.126 ha, tăng 4,52%. Diện tích trồng cây phân tán tháng 8/2026 ước đạt 1,6 triệu cây, tăng 3,13% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 8,8 triệu cây, tăng 3,3%. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.859 m3, tăng 2,03% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 318.447 m3, tăng 3,37%. - Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 27.405 ste, tăng 1,59% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 235.498 ste, tăng 1,91%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/7/2026 - 10/8/2026) là 31 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 16 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 3,3 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 17 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 11 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 0,7 ha). Lũy kế 8 tháng năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/8/2026), tổng số vụ vi phạm là 381 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 175 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 30,2 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 77 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 64 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 10,4 ha). - Công tác phòng, chống cháy rừng: Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được triển khai đồng bộ. Các hoạt động trọng tâm gồm phát dọn đường băng cản lửa, tập trung theo dõi, thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn cấp xã, phường; cập nhật kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát, xác định các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao; đồng thời tổ chức trực và canh gác tại các khu vực có nguy cơ cháy rừng cấp III, IV và V theo quy định. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng; lũy kế 8 tháng năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,6 ha. 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, các địa phương tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra, giám sát môi trường, phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi thủy sản. Tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Diện tích nuôi trồng ước đạt 457,8 ha, tăng 1,10% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 3.827,0 ha, tăng 1,43% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 3.410,6 ha, tăng 1,18%; diện tích nuôi tôm đạt 369,7 ha, tăng 4,22%). Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 2.454,5 tấn, giảm 0,67% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 490,2 tấn, tăng 2,02%); lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 18.777,7 tấn, tăng 0,29% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 3.230 tấn, tăng 3,95%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng, hoạt động khai thác trên ngư trường biển, các đội tàu khai thác xa bờ được quản lý chặt chẽ, thực thi nghiêm pháp luật về khai thác IUU; thực hiện nghiêm quy định cấm phát triển nghề lướt kéo dưới mọi hình thức, tuân thủ hạn ngạch số lượng giấy phép khai thác tại vùng khơi. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 24.958 tấn, tăng 5,35% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 24.858 tấn, tăng 5,15%); lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 170.372,4 tấn, tăng 3,84% (sản lượng khai thác biển đạt 169.760,1 tấn, tăng 3,71%). - Sản xuất giống thủy sản: Hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc thả nuôi, sản xuất tôm giống ước đạt 2,4 tỷ post, tăng 17,65% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 18,1 tỷ post, tăng 12,85%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Trong tháng, toàn ngành tập trung sản xuất các đơn hàng đã ký kết nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương; nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp tỉnh. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 7,09% so với tháng trước và tăng 19,14% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 15,93% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 20,33%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 18,73%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,71%. Tính chung 8 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 10,60% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,16%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,31%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 6,78%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,61%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 427.535 m3, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 15,79% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.997.128 m3, tăng 19,36% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng tương xứng trong điều kiện tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo quyết liệt đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung mọi nguồn lực, giải pháp thu hút các dự án đầu tư triển khai trên địa bàn tỉnh, theo đó các doanh nghiệp ngành khai khoáng đã nắm bắt và chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.909 tấn, tăng 6,11% so với tháng trước và tăng 34,86% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 28.211 tấn, tăng 18,64% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu hơn so với năm trước và chủ động nguồn hàng cho các tháng sắp tới, các sản phẩm sầu riêng cấp đông tăng sản lượng sản xuất do nhu cầu tăng. - Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Ước trong tháng đạt 2.525 tấn, tăng 4,73% so với tháng trước và tăng 49,85% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 17.094 tấn, tăng 24,99% so với cùng kỳ. Sản phẩm thủy sản chế biến là một trong những sản phẩm thế mạnh của tỉnh Lâm Đồng, hiện nay đã và đang được các doanh nghiệp tận dụng lợi thế để phát triển và trong thời gian tới hi vọng sẽ ngày càng khởi sắc hơn do đây là vùng có cơ sở hạ tầng, giao thông thuận tiện và tỉnh cũng đang có xu hướng dịch chuyển ưu tiên phát triển ngành công nghiệp vùng ven biển phía Nam nhằm kết nối liên vùng Tây Nguyên với Duyên hải Nam Trung Bộ. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 17.721 nghìn lít, tăng 2,76% so với tháng trước và tăng 13,83% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 168.576 nghìn lít, tăng 17,83% so với cùng kỳ, nguyên nhân là các do doanh nghiệp tăng cường sản xuất các sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao; sản phẩm bia đóng chai giảm so với tháng trước một phần do nhu cầu giảm và do sự điều tiết sản xuất tại các Chi nhánh. - Sản phẩm giày, dép: Ước trong tháng sản lượng đạt 837 nghìn đôi, giảm 8,70% so với tháng trước và tăng 67,24% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 5.557 nghìn đôi, tăng 40,52% so với cùng kỳ là do Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam mở rộng dây chuyền sản xuất. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 14.446 tấn, tăng 12,85% so với tháng trước và tăng 4,30% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 91.975 tấn, tăng 12,11% so với cùng kỳ; nguyên nhân là do các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất phục vụ mùa sản xuất nông nghiệp năm 2026 trong điều kiện giá nông sản tiếp tục ổn định ở mức cao nên nhu cầu phân bón đầu tư cho nông nghiệp ngày càng tăng (đặc biệt là cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng…). - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 119,25 nghìn tấn, tăng 1,05% so với tháng trước và tăng 18,55% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 958,04 nghìn tấn, tăng 2,83% so với cùng kỳ. - Sản phẩm nhôm thỏi: Công ty luyện kim Trần Hồng Quân đã đi vào sản xuất trong tháng 7 khoảng 600 tấn, ước tính tháng 8/2026 sản xuất 2.500 tấn. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.309 triệu kwh, tăng 6,38% so với tháng trước và tăng 18,46% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 24.629 triệu kwh, tăng 6,65% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 525 triệu kwh, tăng 5,10% so với tháng trước và tăng 13,66% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng ước đạt 4.031 triệu kwh tăng 9,36% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do song song với sự phát triển của ngành chế biến chế tạo (đặc biệt sự kiện công bố sản phẩm nhôm thỏi đầu tiên của Việt Nam tại Khu công nghiệp Nhân cơ) khối lượng điện thương phẩm tiêu thụ phục vụ trong ngành này tăng đáng kể; tuy nhiên tốc độ không quá cao là do các đơn vị sản xuất cũng như người tiêu dùng có ý thức tiết kiệm điện cũng như hưởng ứng việc sử dụng năng lượng xanh (lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu). 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,56% so với tháng trước và tăng 9,61% so cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,44%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,06%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,12%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,29%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 9,55% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 13,05%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,07%. Tính chung 8 tháng năm 2026, Chỉ số sử dụng lao động tăng 6,63%; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,33%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,96%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,53%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,25%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp Trong tháng, doanh thu của các doanh nghiệp ngành công nghiệp tỉnh Lâm Đồng tăng 6,47% so với tháng trước và tăng 15,41% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 8,25% so với cùng kỳ năm trước, doanh thu ngành công nghiệp tăng trưởng ổn định, đóng góp quan trọng vào kết quả tăng trưởng kinh tế. Ngành B (Khai khoáng): Doanh thu tăng 2,00% so với tháng trước và tăng 18,92% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 17,45% so với cùng kỳ. Doanh thu ngành khai khoáng có sự tăng trưởng cao so với cùng kỳ là nhờ các đơn vị khai thác tối ưu hóa công suất vận hành, đáp ứng kịp thời nhu cầu nguyên vật liệu từ các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm trên địa bàn. Ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo): Doanh thu tăng 4,67% so với tháng trước và tăng 22,30% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 13,11% so với cùng kỳ. Doanh thu tăng trưởng cao nhờ việc phát huy tối đa lợi thế nguồn nguyên liệu nông sản và khai khoáng tại chỗ để đẩy mạnh chế biến sâu, kết hợp cùng sự xuất hiện của các sản phẩm mới như: nhôm thỏi, phanh xe cơ giới,… từ các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ kịp thời của tỉnh đã giúp doanh nghiệp khơi thông nguồn vốn và ổn định chuỗi cung ứng góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp tỉnh. Ngành D (Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí): Doanh thu tăng 7,86% so với tháng trước và tăng 11,34% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 5,51% so với cùng kỳ. Mức tăng trong tháng nhằm đáp ứng nhu cầu điện năng phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Ngành tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng và hỗ trợ trực tiếp cho các ngành sản xuất khác trên địa bàn. Ngành E (Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải): Doanh thu tăng 2,22% so với tháng trước và tăng 7,29% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 8,23% so với cùng kỳ. Mức tăng trưởng của ngành nhằm đảm bảo cung ứng nước sạch phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất ngày càng mở rộng. Các đơn vị ngành nước và môi trường đã chủ động bảo trì hạ tầng, tối ưu hóa công nghệ xử lý nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và kiểm soát tốt các chỉ tiêu vệ sinh môi trường. 1.5. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong tháng (từ ngày 15/7 - 15/8/2026), tỉnh Lâm Đồng đã thu hút được 04 dự án vào các KCN trên địa bàn tỉnh (vốn đầu tư 5 triệu USD và 244 tỷ đồng, diện tích đất thuê là 6,92 ha). Lũy kế 8 tháng năm 2026, đã thu hút được 17 dự án đầu tư (trong đó có 03 dự án nước ngoài và 14 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 814,3 tỷ đồng và 7,7 triệu USD, diện tích đất thuê 27,96 ha. Hiện nay, trong các KCN có 175 doanh nghiệp đi vào hoạt động; công tác đầu tư hạ tầng các KCN được các chủ đầu tư quan tâm triển khai. Trong tháng, có 5 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị 10,32/881,57 tỷ đồng đạt 1,17% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026. Cụ thể: - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Chủ đầu tư duy tu cây xanh. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,02/0,82 tỷ đồng đạt 2,44% kế hoạch năm 2026. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, dọn dẹp mặt bằng. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,10 tỷ đồng. - KCN Hàm Kiệm I: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, duy tu giao thông, hệ thống thoát nước, tiếp tục thi công nhà điều hành KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,2/22,79 tỷ đồng đạt 0,88% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm II: Chủ đầu tư san lấp mặt bằng KCN; duy tu cây xanh trong KCN; duy tu và thi công các tuyến đường trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 4/205 tỷ đồng đạt 1,95% kế hoạch năm 2026. - KCN Tân Đức: Chủ đầu tư tiếp tục đền bù giải tỏa KCN những diện tích đất còn lại; dọn dẹp và thi công san lấp mặt bằng KCN, thi công các tuyến đường trong KCN (D2, D3, D4, N1, N2, N3), nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 7 là 6/473 tỷ đồng đạt 1,27% kế hoạch năm 2026. - KCN Lộc Sơn: Thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phú Hội: Thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Tâm Thắng: Thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Nhân Cơ: Thu hút được 01 dự án. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Tỉnh Lâm Đồng đang bước vào giai đoạn tăng tốc với hàng loạt dự án hạ tầng và chính sách quản lý mới. Trong tháng 8 năm 2026 tình hình giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục tăng tốc với sự chỉ đạo quyết liệt trong việc gắn trách nhiệm cán bộ với kết quả giải ngân vốn đầu tư công để đánh giá, phân loại cán bộ lãnh đạo. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư của các xã, phường và đặc khu đến ngày 13/8/2026 ghi nhận mức cao như: phường Phan Thiết đạt 73,7%; xã Tuy Phong đạt 71,75%; xã Phan Sơn đạt 68,17%. Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng về hạ tầng (như việc mở lại sân bay Liên Khương) và các khu công nghiệp trọng điểm (Sơn Mỹ), xu hướng đầu tư trong những tháng cuối năm 2026 được dự báo sẽ tăng tốc mạnh mẽ nhằm hoàn thành kế hoạch năm 2026. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước trong tháng đạt 1.578,8 tỷ đồng, tăng 26,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.376,2 tỷ đồng, chiếm 87,16% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 28,37% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 592,7 tỷ đồng, tăng 38,73% so với cùng kỳ; vốn trung ương trong nước ước đạt 251,5 tỷ đồng, tăng 2,63% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 19,9 tỷ đồng, giảm 18,60% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 503 tỷ đồng, tăng 35,37% so với cùng kỳ; vốn khác 9,2 tỷ đồng, tăng 2,41 lần so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 202,6 tỷ đồng, chiếm 12,84% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 14,34% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 7.721,4 tỷ đồng, đạt 38,39% so với kế hoạch năm, tăng 15,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 6.853,2 tỷ đồng, tăng 13,39% so với cùng kỳ (trong đó: vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 3.083,3 tỷ đồng, tăng 30,98% so với cùng kỳ; vốn trung ương trong nước ước đạt 1.048,6 tỷ đồng, giảm 33,59% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 105,6 triệu đồng, giảm 21,76% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến 2 thiết 2.573,9 tỷ đồng, tăng 31,64% so với cùng kỳ; vốn khác 42,7 tỷ đồng, tăng 91,51% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 868,2 tỷ đồng, tăng 34,53% so với cùng kỳ. Trong tháng (từ ngày 17/7-17/8/2026) toàn tỉnh có 282 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 54,29% so với cùng kỳ; 38 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 35,59%; 63 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 22,22%; 533 doanh nghiệp giải thể, tăng 4,85 lần (tương ứng 442 doanh nghiệp). Nguyên nhân từ đầu tháng 7 năm 2026 đến nay, Cơ quan Đăng ký kinh doanh đang phối hợp với Cơ quan Thuế triển khai thực hiện “Chiến dịch làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”. Cơ quan thuế và cơ quan Đăng ký kinh doanh thực hiện các biện pháp nghiệm vụ, hướng dẫn các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ nhiều năm nhưng chưa làm thủ tục giải thể theo quy định của Luật doanh nghiệp. Tính chung 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 3.017 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 13,94% so với cùng kỳ; 666 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 4,88%; 1.405 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 2,43%; 1.185 doanh nghiệp giải thể, tăng 1,58 lần (tương ứng 726 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 15.886,8 tỷ đồng, tăng 17,06%. Về thu hút đầu tư (tính đến ngày 19/8/2026), toàn tỉnh có 41 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 165.994,2 tỷ đồng; 39 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 19/8/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.960 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 938.711 tỷ đồng (trong đó: có 246 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.968 tỷ đồng). III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Trong tháng, hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh cơ bản duy trì ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đi lại của người dân, đồng thời phục vụ hiệu quả lượng khách du lịch trong mùa cao điểm hè. Hàng hóa trên thị trường dồi dào, đa dạng, cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân và khách du lịch. Hoạt động du lịch tiếp tục diễn ra sôi động, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng. Dịch vụ lữ hành duy trì ổn định; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống, dịch vụ vui chơi, giải trí tăng cường hoạt động và nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân và du khách. Hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa cơ bản thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương và vận chuyển hàng hóa trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt, vận tải đường thủy duy trì ổn định, phục vụ thuận lợi nhu cầu đi lại của người dân và du khách đến đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 18.030,8 tỷ đồng, tăng 3,36% so với tháng trước và tăng 22,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ước tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 10.589 tỷ đồng, tăng 1,69% so với tháng trước và tăng 20,84% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 4.058,8 tỷ đồng, tăng 7,29% so với tháng trước và tăng 32,75% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.383 tỷ đồng, tăng 4,12% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 132.755,8 tỷ đồng, tăng 18,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 81.012 tỷ đồng, tăng 17,02% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 27.428,5 tỷ đồng, tăng 24,37% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 24.315,2 tỷ đồng, tăng 17,32% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng, lực lượng Quản lý thị trường tiếp tục tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, tập trung phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu; đồng thời đẩy mạnh đấu tranh với các hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và tăng cường kiểm soát đối với các mặt hàng gạo, vật liệu xây dựng. Công tác theo dõi cung - cầu và giá bán xăng dầu được thực hiện thường xuyên, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các dấu hiệu bất thường, như tăng giá không hợp lý, gián đoạn nguồn cung hoặc ngừng bán hàng không đúng quy định, góp phần bảo đảm thị trường hoạt động ổn định, minh bạch và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trong tháng, lực lượng chức năng đã kiểm tra 104 vụ, phát hiện 85 vụ vi phạm và xử lý 91 vụ (trong đó có 7 vụ chuyển từ kỳ trước) với tổng số tiền thu nộp ngân sách nhà nước đạt 714,6 triệu đồng (trong đó tiền xử phạt vi phạm hành chính 673,25 triệu đồng). Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/8/2026, lực lượng chức năng đã kiểm tra 1.013 vụ, xử lý 934 vụ, với tổng số tiền xử phạt 7.631,6 triệu đồng. Kết quả trên cho thấy công tác quản lý, kiểm soát thị trường tiếp tục được triển khai quyết liệt, chủ động và có trọng tâm, góp phần giữ ổn định thị trường, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. 2. Giá tiêu dùng (CPI) Trong tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân cơ bản ổn định. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa và dịch vụ vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố như chi phí sản xuất, chi phí vận tải, nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ, cùng với diễn biến giá cả trên thị trường thế giới biến động, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,68% so với tháng trước, tăng 1,34% so với tháng 12/2025 và tăng 4,33% so với cùng kỳ. Bình quân 8 tháng năm 2026, CPI tăng 4,31% so với cùng kỳ. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính các nhóm hàng đều tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,04%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,33%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,16%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,53%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,68%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; Giao thông tăng 4,28%; Thông tin và truyền thông tăng 0,21%; Giáo dục tăng 0,07%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,36%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,39%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,04% so tháng trước, do giá nguyên vật liệu chế biến, giá gas, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng. Đồng thời trong tháng du lịch hè tăng nên nhu cầu ăn uống bên ngoài tăng. Giá gas trong tháng tăng 5,41% so với tháng trước, do giá bán lẻ trong nước công ty điều chỉnh tăng 29.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 06, 13 và 20 tháng 8/2026, tính bình quân chung tháng 8/2026 chỉ số giá nhiên liệu tăng 9,26%. Trong đó mặt hàng xăng tăng 9,53% so tháng trước; giá dầu diezel tăng 22,17%. - Nguyên nhân giảm: Giá lương thực giảm 0,68% so tháng trước, giảm chủ yếu các mặt hàng gạo do đang vào mùa thu hoạch lúa hè thu, nguồn cung dồi dào nên giá bán thị trường giảm so tháng trước. Giá rau tươi, khô và chế biến giảm 0,57% so với tháng trước, một số loại rau tươi đang vào kỳ thu hoạch nên nguồn cung tại địa phương dồi dào, giá bán thị trường giảm so tháng trước. Trong đó, giá bắp cải giảm 0,7% so với tháng trước; cà chua giảm 1,17%; đỗ quả tươi giảm 0,5%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2026 tăng 4,31% so với bình quân cùng kỳ năm 2025. * Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 8 tháng năm 2026 CPI bình quân 8 tháng năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu duy trì xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông và giáo dục. Trong đó, nhóm lương thực tăng 1,85%, làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm, chủ yếu do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp, gạo tẻ ngon tăng cao trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán. Nhóm thực phẩm tăng 4,25%, góp phần làm CPI tăng 1,06 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thịt lợn, thịt gia cầm tăng trong bối cảnh nguồn cung còn hạn chế, nhu cầu tiêu dùng tăng cao và chi phí chăn nuôi duy trì ở mức cao. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,77%, làm CPI tăng 1,03 điểm phần trăm, do giá vật liệu xây dựng và giá thuê nhà tăng; giá gas trong nước tăng 18,75% theo diễn biến giá gas thế giới. Bên cạnh đó, nhóm giao thông tăng 5,55%, góp phần làm CPI tăng 0,63 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 9,96% theo các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước và giá dịch vụ vận tải hành khách tăng 26,76%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,86%, làm CPI tăng 0,41 điểm phần trăm, do giá lương thực, thực phẩm, gas, thuê mặt bằng và nhân công tăng. Nhóm giáo dục tăng 7,04%, góp phần làm CPI tăng 0,34 điểm phần trăm do một số cơ sở giáo dục điều chỉnh học phí; các nhóm đồ uống và thuốc lá, may mặc, mũ nón, giày dép và thiết bị, đồ dùng gia đình cũng tăng do nhu cầu tiêu dùng cao cùng với chi phí nguyên vật liệu, sản xuất và vận chuyển tăng. Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,21%, góp phần kiềm chế mức tăng CPI 0,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá các dòng điện thoại thế hệ cũ giảm khi doanh nghiệp triển khai các chương trình khuyến mại, giảm giá và kích cầu tiêu dùng. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, hoạt động du lịch bước vào mùa sôi động với hàng loạt lễ hội, sự kiện văn hóa, thể thao, ẩm thực và xúc tiến thương mại, góp phần thu hút du khách và quảng bá hình ảnh địa phương với sự kết nối biển xanh, cao nguyên, nông nghiệp công nghệ cao và văn hóa bản địa. Điểm nhấn là thông điệp “Hành trình kết nối Biển - Hoa - Đại ngàn”, khai thác lợi thế không gian du lịch mới sau sáp nhập tỉnh, tạo điều kiện để du khách kết hợp nghỉ dưỡng biển, khám phá cao nguyên, trải nghiệm văn hóa và thưởng thức đặc sản trong cùng một hành trình. Chuỗi hoạt động nổi bật gồm Ngày hội Du lịch - Mua sắm - Giao lưu ẩm thực Việt, Festival Khinh khí cầu, Festival Ẩm thực, Lễ hội Hoa - Rau - Quả, chương trình LamDong Night và các hoạt động giao lưu văn hóa. Du lịch thể thao tiếp tục được khai thác, tiêu biểu là Lam Dong TriFactor 2026 diễn ra từ ngày 14 - 16/8 tại phường Tiến Thành, góp phần quảng bá cảnh quan và phát triển du lịch trải nghiệm. Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Liên Khương mở cửa trở lại sau nâng cấp, tạo thuận lợi cho kết nối và thu hút du khách, kỳ vọng tạo thêm động lực tăng trưởng cho ngành du lịch. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.344,5 nghìn lượt, tăng 5,15% so tháng trước và tăng 26,75% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 81,5 nghìn lượt, tăng 4,07% so với tháng trước và tăng 9,44% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ ước đạt 4.269,1 nghìn ngày khách, tăng 5,01% so với tháng trước và tăng 28,18% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 98,8 nghìn lượt khách, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 13,49% so với cùng kỳ; ngày khách phục vụ ước đạt 317,4 nghìn ngày khách, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 16,59% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 16.460,9 nghìn lượt, tăng 18,98% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày đạt 584,7 nghìn lượt, tăng 12,13% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ đạt 30.533,6 nghìn ngày khách, tăng 20,82% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế lũy kế 8 tháng năm 2026 đạt 997,5 nghìn lượt, tăng 14,8% so với cùng kỳ; ngày khách quốc tế đạt 3.182,6 nghìn ngày khách, tăng 18,04% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 813,8 tỷ đồng, tăng 5,99% so với tháng trước và tăng 30,66% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.184 tỷ đồng, tăng 7,72% so với tháng trước và tăng 33,33% so với cùng kỳ; du lịch lữ hành ước đạt 61 tỷ đồng, tăng 2,74% so với tháng trước và tăng 31,06% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 5.565,4 tỷ đồng, tăng 23,57% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 21.418,5 tỷ đồng, tăng 24,31% so với cùng kỳ; dịch vụ lữ hành đạt 444,6 tỷ đồng, tăng 39,04% so với cùng kỳ. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.516,4 tỷ đồng, tăng 6,44% so với tháng trước và tăng 29,8% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 45.588,8 tỷ đồng, tăng 22,31% so với cùng kỳ. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.383 tỷ đồng, tăng 4,12% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 780,5 tỷ đồng, tăng 1,78% so với tháng trước và tăng 10,87% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 183,2 tỷ đồng, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 13,12% so với cùng kỳ ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 170,2 tỷ đồng, tăng 3,95% so với tháng trước và tăng 23,52% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 264,4 tỷ đồng, tăng 1,58% so với tháng trước và tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.644,8 tỷ đồng, tăng 6,48% so với tháng trước và tăng 22,71% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 339,9 tỷ đồng, tăng 1,64% so với tháng trước và tăng 18,41% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 24.315,2 tỷ đồng, tăng 17,32% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 5.831,9 tỷ đồng, tăng 10,63% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.366,7 tỷ đồng, tăng 11,82% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.220,9 tỷ đồng, tăng 22,83% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.965,7 tỷ đồng, tăng 16,15% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 11.445,5 tỷ đồng, tăng 22,52% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác đạt 2.484,5 tỷ đồng, tăng 12,78% so với cùng kỳ. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng, hoạt động vận tải, kho bãi tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, gắn với nhu cầu đi lại, vận chuyển hành khách và hàng hóa ngày càng tăng. Hoạt động du lịch, dịch vụ, sản xuất và kinh doanh trên địa bàn ổn định, cùng với nhu cầu vận chuyển phục vụ xây dựng, tiêu thụ nông sản và cung ứng hàng hóa thiết yếu tăng, đã góp phần thúc đẩy doanh thu vận tải trong tháng. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.300,9 tỷ đồng, tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 26,79% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2026, doanh thu ước đạt 9.697,8 tỷ đồng, tăng 23,83% so với cùng kỳ, cho thấy hoạt động vận tải tiếp tục đáp ứng tốt nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại trên địa bàn. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.012,5 nghìn HK, tăng 0,08% so với tháng trước và tăng 16,48% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 432.639,5 nghìn HK.Km, tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 16,61% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 22.945,7 nghìn HK, tăng 16,69% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 3.302.829,9 nghìn HK.Km, tăng 17,21% so với cùng kỳ. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.361,8 nghìn tấn, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 26,04% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 347.165,8 nghìn tấn.Km, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 26,48% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 16.963,4 nghìn tấn, tăng 19,8% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.495.190,7 nghìn tấn.Km, tăng 20,31% so với cùng kỳ. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.300,9 tỷ đồng, tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 26,79% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 9.697,8 tỷ đồng, tăng 23,83% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.341,7 tỷ đồng, tăng 27,86% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 4.741,9 tỷ đồng, tăng 26,11% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.261,4 tỷ đồng, tăng 13,75% so với cùng kỳ; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 352,8 tỷ đồng, tăng 1,08% so với cùng kỳ. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.097,7 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.928,2 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 169,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.397,7 tỷ đồng, tăng 29,95% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước thực hiện 23.940 tỷ đồng, bằng 69,52% kế hoạch năm và tăng 15,67% so với cùng kỳ, trong đó: thu nội địa ước thực hiện 22.130 tỷ đồng, bằng 67,73% kế hoạch năm và tăng 12,43%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 1.810 tỷ đồng, bằng 102,84% kế hoạch năm và tăng 78,54% so với cùng kỳ. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 8 tháng năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 2.900 tỷ đồng (bằng 76,24% kế hoạch năm và tăng 3,19% so với cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 1.143 tỷ đồng (bằng 82,84% kế hoạch năm và tăng 16,32%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 6.055 tỷ đồng (bằng 90,54% kế hoạch năm và tăng 46,3%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 2.095 tỷ đồng (bằng 76,74% kế hoạch năm và tăng 0,31%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 3.225 tỷ đồng (bằng 43,73% kế hoạch năm và tăng 1,66%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 3.765 tỷ đồng (bằng 64,91% kế hoạch năm và tăng 12,19%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 4.983,2 tỷ đồng, lũy kế 8 tháng năm 2026 ước 35.474,8 tỷ đồng, bằng 72,7% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 14.764,4 tỷ đồng, bằng 111,74% kế hoạch năm; chi thường xuyên 20.693,3 tỷ đồng, bằng 68,17% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: Đến 31/7/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 251.517 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 22.241 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 9,7%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 248.690 tỷ đồng (chiếm 98,88% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.827 tỷ đồng, (chiếm 1,12% tổng huy động vốn). Ước đến 31/8/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 253.700 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 24.424 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 10,65%. Hoạt động tín dụng: Đến 31/7/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 377.440 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 6.456 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,74%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 375.159 tỷ đồng (chiếm 99,4% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.281 tỷ đồng (chiếm 0,6% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 266.510 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 110.930 tỷ đồng. Ước đến 31/8/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 379.300 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 8.316 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,24%. Lãi suất tiền gửi: Lãi suất huy động bằng VND bình quân: tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng ở mức 0,17% - 0,49%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,28% - 4,74%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng ở mức 7,43% - 8,09%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng trở lên ở mức 6,87% - 7,63%/năm. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay: Bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở mức 9,09% - 11,69%/năm; cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,34% - 4,8%/năm.     Dư nợ cho vay: Đến 31/7/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 183.976 tỷ đồng, chiếm 48,74% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.540 tỷ đồng, chiếm 8,62% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 160.924 tỷ đồng, chiếm 42,64% tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn tỉnh được kiểm soát ở mức 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng, không thay đổi so với cuối năm 2025. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã triển khai công tác tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị và kỷ niệm các ngày lễ của đất nước: kỷ niệm 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026); đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc biệt chào mừng kỷ niệm 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026); tổ chức triển lãm chuyên đề "Hội An - Từ ký ức đấu tranh cách mạng đến Di sản Văn hóa Thế giới" tại Di tích quốc gia Nhà lao Thiếu nhi Đà Lạt; Lễ hội Cầu ngư các vạn chài phường Phan Thiết năm 2026 với chủ đề “Giữ gìn bản sắc văn hóa biển - Cầu quốc thái dân an - Ngư dân vươn khơi thắng lợi”; tổ chức chương trình âm nhạc đường phố,… Ngoài ra, đã tổ chức 08 buổi biểu diễn phục vụ chính trị; 09 buổi biểu diễn văn nghệ phục vụ cơ sở; 107 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở; tổ chức Tuần phim Ấn Độ và chiếu phim miễn phí phục vụ nhân dân; bên cạnh đó tổ chức biểu diễn doanh thu đạt 55 triệu đồng. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 37.760 lượt khách, trong đó có 1.455 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 7.513 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 1.676 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 235 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 27.971 lượt; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 365 lượt). Lũy kế từ ngày 01/01 đến 13/8/2026 đã đón 239.504 lượt khách tham quan, trong đó có 17.023 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 58.125 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 37.118 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 7.076 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 128.394 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 8.791 lượt khách). + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 211 đoàn với 20.399 lượt khách (trong đó có 34 khách quốc tế); phục vụ 30 lễ viếng, báo công. Lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 12/8/2026) đã tiếp đón 1.478 đoàn khách tham quan với 111.062 lượt khách (trong đó có 332 khách quốc tế); phục vụ: 186 lễ viếng, 10 báo công, 06 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 02 lễ rước đuốc, 04 lễ tuyên dương và 24 sinh hoạt chuyên đề; tổ chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh); tham gia triển lãm chuyên đề “Lan tỏa - Di sản văn hóa Hồ Chí Minh” tại Khu Di tích Quốc gia Đặc biệt Kim Liên, tỉnh Nghệ An; thực hiện 09 phóng sự tại Di tích Dục Thanh. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 15 đoàn với 1.518 lượt khách; lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 13/8/2026) đã đón 16.080 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 256 thẻ (thiếu nhi 129 thẻ), phục vụ 159.081 lượt bạn đọc, luân chuyển 15.798 lượt tài liệu, sưu tầm 716 tin bài về Lâm Đồng, trưng bày 801 tài liệu. Ngoài ra đã tổ chức các hoạt động phục vụ hè cho các em thiếu nhi, chương trình “Sách đến mọi nhà” với hình thức xe sách lưu động, chương trình giao lưu - trao tặng 500 quyển các tác phẩm thuộc bộ sách “Khi trẻ là tác giả”. Lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 14/8/2026) đã cấp mới và gia hạn 6.206 thẻ (thiếu nhi 4.546 thẻ), phục vụ 1.842.314 lượt bạn đọc, luân chuyển 475.357 lượt tài liệu, trưng bày 144.964 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức và phối hợp tổ chức Giải ba môn phối hợp “Lam Dong Tri Factor 2026”; Giải Bơi phong trào đường đua xanh tỉnh Lâm Đồng năm 2026; tổ chức chuỗi sự kiện thể thao “Sports Festival” năm 2026 (Giải vô địch Triathlon trẻ và U23 quốc gia năm 2026; Giải Quần vợt quốc tế ITF Masters Tour 2026; Giải Golf cảnh sát các nước Asean mở rộng năm 2026; Giải Golf công an nhân dân mở rộng - lần thứ 2; cúp bắn súng mùa hạ 2026; Giải Chạy "Hành trình 81 năm - Vì An ninh Tổ Quốc"; Giải Đua xe đạp CLB phong trào toàn quốc năm 2026; Giải Pickleball công an nhân dân khu vực phía Nam mở rộng lần thứ nhất năm 2026; Giải Bóng chuyền bãi biển Nữ Quốc tế năm 2026; Giải Quần vợt bãi biển). - Thể thao thành tích cao: Trong tháng, cử đoàn tham gia 18 giải thể thao; kết quả đạt được 108 huy chương (25 HCV, 21 HCB, 62 HCĐ), trong đó có 4 huy chương quốc tế (2 HCV, 1 HCB, 1 HCĐ). Lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 15/8/2026) đã tham gia 80 giải thể thao quốc gia, quốc tế; kết quả đã đạt 567 huy chương (116 HCV, 142 HCB, 309 HCĐ), trong đó có 01 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 13 huy chương quốc tế (05 HCV, 02 HCB, 06 HCĐ). 2. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đồng thời triển khai công tác truyền thông Chương trình mục tiêu quốc gia Phòng chống ma tuý năm 2026; cập nhật, hoàn thiện cơ sở dữ liệu và công khai thông tin về văn phòng đại diện, cơ quan thường trú, phóng viên thường trú, phóng viên tác nghiệp của các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh và xây dựng Không gian tham vấn trực tuyến Diễn đàn tham vấn các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2040. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Triển khai hệ thống truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông; triển khai xây dựng Đề án Thiết lập và vận hành hiệu quả hệ thống thông tin hai chiều giữa Nhà nước và người dân. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 11 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh; tổ chức kiểm tra, rà soát cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” 3. Giáo dục và đào tạo Trong tháng tập trung rà soát hệ thống cơ sở vật chất chuẩn bị phục vụ năm học mới 2026-2027; tiến hành sửa chữa những hạng mục hư hỏng, xuống cấp, đảm bảo an toàn, đầy đủ nhằm phục vụ cho công tác dạy và học cho năm học mới. Hiện nay đang triển khai tổ chức biên soạn, thẩm định tài liệu giáo dục địa phương để đưa vào sử dụng từ năm học 2026-2027 theo quy định; phối hợp với đơn vị xuất bản triển khai thực hiện bộ sách giáo khoa thống nhất từ năm học 2026-2027 để phát hành và cung ứng kịp thời cho năm học mới. Năm học 2026-2027, các trường trung học phổ thông (THPT) chuyên trên địa bàn tỉnh tổ chức tuyển sinh 1.294 chỉ tiêu vào lớp 10; xét tuyển trường phổ thông dân tộc nội trú 1.030 học sinh; công tác phê duyệt kết quả chỉ tiêu tuyển sinh các trường THPT 114/114 trường với số lượng 44.814/44.898 học sinh. Hệ thống trường chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh được quan tâm xây dựng nhằm chuẩn hóa cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và đổi mới phương pháp dạy học, góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục địa phương theo các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Hiện nay, toàn tỉnh có 1.011/1.431 trường mầm non và phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia (chiếm tỉ lệ 70,65%), trong đó có 741/1.032 trường phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia (chiếm tỉ lệ 71,8%). 4. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm, nhất là phòng - chống dịch bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng, bệnh dại trên người; tăng cường công tác truyền thông phòng, chống bệnh tay chân miệng, sốt xuất huyết và vận động tiêm chủng phòng bệnh quai bị; thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 1.090 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 634 ca so với tháng trước (456 ca) và tăng 194 ca so với cùng kỳ năm trước (896 ca); có 01 trường hợp tử vong. Lũy kế từ ngày 01/01-31/7/2026, toàn tỉnh có 2.715 ca mắc, tăng 173 ca so với cùng kỳ năm trước (2.542 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 137 ổ dịch, lũy kế đến ngày 31/7/2026 đã phát hiện xử lý 361 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 2 ca mắc; lũy kế từ ngày 01/01- 31/7/2026, toàn tỉnh có 03 ca mắc bệnh sốt rét (không tính 01 ca của tháng 12/2025). - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 425 ca mắc, tăng 33 ca so với tháng trước và tăng 211 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ ngày 01/01-31/7/2026, toàn tỉnh có 3.181 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 09 ca mắc, giảm 05 ca so với tháng trước và giảm 31 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ ngày 01/01-31/7/2026, toàn tỉnh có 92 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.870 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.453 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.744 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.830 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.593 trẻ, mũi 2 cho 3.693 trẻ và mũi 3 cho 3.642 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.619 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không có bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 435 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 9 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 422 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý là 01 người (01 người tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 183 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số 05 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng 04 BN/100.000 dân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 21 bệnh nhân nhiễm HIV mới, 03 bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 04 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.887 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.798 người, tử vong 1.582 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 389.589 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 39.727 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 120.259 ngày, xét nghiệm cho 749.938 tiêu bản, chẩn đoán 304.646 hình ảnh và phẫu thuật 4.322 trường hợp. Ước 8 tháng năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 3.375.230 lượt người; 283.312 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.739.374 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,03 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 85,50%; xét nghiệm cho 4.880.784 tiêu bản; chẩn đoán 1.177.839 hình ảnh và phẫu thuật cho 41.377 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 106 cơ sở thực phẩm, phát hiện 16 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 109,5 triệu đồng. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (do ngộ độc thực phẩm trong bánh mì, xã Nam Ban - Lâm Hà) làm 84 người mắc, không có tử vong. Lũy kế 8 tháng năm 2026 xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 188 người mắc, có 01 người tử vong. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi tiếp tục được Nhà nước quan tâm triển khai. Cơ sở hạ tầng phục vụ đồng bào và vùng khó khăn tiếp tục được đầu tư xây dựng, bản sắc văn hóa truyền thống được gìn giữ và phát huy, qua đó từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng; 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet; nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin vùng đồng bào DTTS. - Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Công tác xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và vùng sâu, vùng xa được triển khai tích cực để năm học 2026 - 2027 đưa vào sử dụng; hệ thống cơ sở vật chất, phòng học, phòng học bộ môn, thư viện, thiết bị dạy học, ký túc xá, nhà công vụ giáo viên từng bước được đầu tư; qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào DTTS. - Hệ thống y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Các cơ sở khám chữa bệnh bảo đảm thường trực cấp cứu, chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, phương tiện; công tác phòng, khám chữa bệnh được triển khai đến tận vùng sâu, vùng xa phục vụ người dân. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. - Phật giáo: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng chuẩn bị nhân sự Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031; ban hành quyết định thành lập chùa Linh Quy Pháp Ấn, xã Bảo Lâm 3; đề nghị thành lập 12 Ban Quản trị cơ sở tự viện trên địa bàn tỉnh; đăng ký bổ nhiệm 03 chức sắc làm trụ trì; chấp thuận chủ trương xây dựng 03 cơ sở Phật giáo trên địa bàn tỉnh; chùa Pháp Hoa, phường Bắc Gia Nghĩa, tổ chức lễ khai mạc Khóa tu mùa hè năm 2026 với chủ đề “Lắng nghe để hiểu - Nhìn lại để thương”; Phân ban Gia đình Phật tử (Khu vực III) tổ chức Lễ khai mạc Liên trại Huấn luyện Anoma - Ni Liên- Tuyết Sơn năm 2026 tại Tịnh xá Đức Niệm, phường Nam Gia Nghĩa. - Công giáo: Giáo phận Giáo phận Đà Lạt tổ chức Thánh lễ ban Bí tích và thêm sức cho các em thiếu nhi tại các Giáo xứ trong Giáo phận Đà Lạt, tổ chức “Ngày hội Giáo lý viên 2026 - Khơi dậy tinh thần người môn đệ thừa sai” tại Giáo xứ La Vang, phường 2 - Bảo Lộc; Toà Giám mục Giáo phận Phan Thiết mời 37 người nước ngoài (01 Hồng y, 04 Linh mục, 06 Chủng sinh, 09 giới trẻ, 12 thiếu niên, 05 người hướng dẫn) đến Việt Nam tham quan một số cơ sở tôn giáo thuộc Giáo phận Phan Thiết; Cộng đoàn Don Bosco K’Long, xã Hiệp Thạnh mở 04 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo, thu hút 135 người tham dự. - Tin lành: Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đăng ký người được bổ nhiệm làm chức việc 03 trường hợp và đề nghị thành lập 03 tổ chức tôn giáo trực thuộc (Chi hội Đạ Long 1, xã Đam Rông 4; Chi hội Dà Blu, xã Hiệp Thạnh; Chi hội Chi Rông, xã Đức Trọng); Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo tại phường Tiến Thành. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 329 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; giải quyết 231 hồ sơ về chế độ mai táng phí liên thông theo Đề án 06. Thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng theo quy định; đã giải quyết cho 14.480 đối tượng nhận trợ cấp không dùng tiền mặt qua tài khoản cá nhân. Lũy kế 8 tháng năm 2026 đã giải quyết 2.473 hồ sơ chế độ chính sách cho người có công với cách mạng; chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền mặt cho 14.480 người có công với tổng kinh phí 45,49 tỷ đồng. Tính đến ngày 12/8/2026, toàn tỉnh đã hoàn thành xây mới 27 căn nhà, đang xây dựng 11 nhà, hoàn thành sửa chữa 44 nhà, đang tiến hành sửa chữa 01 nhà cho các đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Tính đến ngày 31/7/2026, toàn tỉnh có 320.202 người tham gia BHXH, đạt 96,68% kế hoạch năm và tăng 10,14% so với cùng kỳ năm trước; 241.166 người tham gia BHTN, đạt 95,15% kế hoạch và tăng 8,01%; 3.144.162 người tham gia BHYT, đạt 98,15% kế hoạch và tăng 4,16%. Tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 92,81% dân số. Trong tháng 7/2026, đã giải quyết mới 11.470 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 3.004 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 300 người; trợ cấp 1 lần cho 2.813 người; chế độ ốm đau cho 6.609 người; chế độ thai sản cho 1.395 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 353 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.770 người và hỗ trợ học nghề cho 234 người). Lũy kế đến ngày 31/7/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 69.931 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 13.323 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 1.281 người; trợ cấp 1 lần cho 16.559 người; chế độ ốm đau cho 40.658 người; chế độ thai sản cho 8.986 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 2.447 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 12.563 người và hỗ trợ học nghề cho 760 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/7/2026 - 14/8/2026) Trong tháng xảy ra 49 vụ tai nạn giao thông, giảm 9 vụ so với tháng trước và giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 29 người, giảm 10 người so với tháng trước, tương đương so với cùng kỳ; số người bị thương 40 người, tăng 12 người so với tháng trước và giảm 6 người so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 452 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 115 vụ so với cùng kỳ; số người chết 291 người, tương đương so với cùng kỳ; số người bị thương 298 người, giảm 143 người so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 25/7 - 24/8/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ thiên tai do mưa lớn kèm theo lốc xoáy; thiên tai đã làm 02 người bị thương, 35 căn nhà bị tốc mái, 706,8 ha cây trồng các loại bị ảnh hưởng, xói lở 60,0 mét đường, 10 cột điện bị gẫy đổ, 6,4 ha nhà kính - nhà lưới bị ảnh hưởng và hư hỏng nhiều tài sản khác; ước thiệt hại 8,3 tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 20 vụ thiên tai làm 01 người chết, 04 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 48 căn nhà bị tốc mái hư hỏng, 214 căn bị ảnh hưởng nhẹ, 02 căn phòng làm việc bị tốc mái hoàn toàn, 10,6 ha lúa sạ bị ngập, 971,5 ha lúa bị ảnh hưởng nhẹ, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 52,4 ha rau màu bị ảnh hưởng nhẹ, 211,9 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm, 15 cột điện- trụ đèn bị đổ và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 38 tỷ đồng. - Cháy nổ: Từ ngày 16/7-15/8/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy nổ, tăng 03 vụ so với tháng trước và giảm 01 vụ so với cùng kỳ năm trước. Đang thống kê thiệt hại. Lũy kế 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 44 vụ cháy, tăng 09 vụ so với cùng kỳ năm trước, có 02 người chết và 02 người bị thương. Trong đó có 30 vụ đã được thống kê với số tiền thiệt hại gần 3 tỷ đồng, 14 vụ đang thống kê thiệt hại. - Vi phạm môi trường: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng xảy ra 05 vụ vi phạm môi trường, bị xử phạt tổng số tiền là 581,5 triệu đồng, lý do xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật ra môi trường (gồm có: Công ty Cổ phần Đầu tư Lan Anh Đà Lạt - phường Xuân Hương - Đà Lạt, bị xử phạt 70 triệu đồng; Công ty Cổ phần Thiên Nhân - phường Xuân Hương - Đà Lạt, bị xử phạt 70 triệu đồng; Công ty Cổ phần đầu tư IDJ Việt Nam - chủ đầu tư dự án tổ hợp khách sạn nghỉ dưỡng khu du lịch Apec Mandala Wyndham Mũi Né, bị xử phạt 270 triệu đồng; Công ty TNHH Khu công nghiệp Đông Hà - xã Trà Tân, bị xử phạt 15 triệu đồng; Cơ sở sửa xe ô tô của Ông Trần Chí Thuận - phường Hàm Thắng, bị xử phạt 156,5 triệu đồng). Lũy kế 8 tháng năm 2026, xảy ra 8 vụ vi phạm, tổng số tiền bị xử phạt là 996,5 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước giảm 10 vụ (8 tháng năm 2025: 18 vụ vi phạm, số tiền xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Nhìn chung, trong tháng 8 và 8 tháng năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, các động lực tăng trưởng chủ yếu có chuyển biến tích cực và tương đối đồng đều giữa công nghiệp, dịch vụ, đầu tư và tiêu dùng. Sản xuất công nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng, chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2026 tăng 10,6% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, sản phẩm nhôm thỏi của Công ty luyện kim Trần Hồng Quân đã đi vào sản xuất từ tháng 7/2026 sản lượng khoảng 600 tấn; ước tháng 8/2026 đạt khoảng 2.500 tấn, góp phần bổ sung năng lực sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp và tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm. Hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch và vận tải tiếp tục sôi động; lượt khách du lịch ước đạt 16,46 triệu lượt, tăng 18,98%, doanh thu du lịch tăng 22,31% so với cùng kỳ. Đầu tư công được đẩy mạnh, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tăng 15,43%; thu ngân sách nhà nước tăng 15,67%, bằng 69,52% kế hoạch năm. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định, trong đó sản lượng thịt hơi các loại tăng 11,36%, sản lượng gỗ khai thác tăng 3,37% và sản lượng thủy sản tăng 3,42% so với cùng kỳ. Hoạt động sản xuất, kinh doanh có sự cải thiện, tuy nhiên vẫn còn một số yếu tố cần lưu ý như dịch tả lợn Châu Phi phải tiêu hủy 22.859 con lợn; vi phạm lâm luật xảy ra 381 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 30,2 ha; số doanh nghiệp giải thể tăng 1,58 lần so với cùng kỳ. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, an sinh, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa và thể thao tiếp tục được quan tâm, góp phần ổn định đời sống nhân dân. Tuy nhiên, thiên tai còn diễn biến phức tạp; 8 tháng năm 2026 xảy ra 20 đợt, làm 01 người chết, 04 người bị thương, ảnh hưởng gần 1.247 ha cây trồng, tổng thiệt hại khoảng 38 tỷ đồng. Trong những tháng cuối năm, cần tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất mới, nhất là các dự án công nghiệp, nhanh chóng ổn định và nâng công suất; đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công; thúc đẩy thương mại, dịch vụ và du lịch; đồng thời tăng cường kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ rừng và chủ động ứng phó với thiên tai, qua đó tạo nền tảng hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026./. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tập huấn Điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026
  •   14/08/2026 15:29

Từ ngày 10 đến 13/8/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tập huấn Điều tra thu thập thông tin lập Bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026. Ông Phạm Quốc Hùng, Trưởng Thống kê tỉnh Lâm Đồng, chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có lãnh đạo Thống kê tỉnh, giám sát viên cấp tỉnh, đại diện lãnh đạo, công chức các Thống kê cơ sở và các điều tra viên. Hội nghị có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị cho một cuộc điều tra chuyên đề quy mô lớn, có nội dung nghiệp vụ sâu, liên quan đến nhiều nhóm đối tượng và lĩnh vực của nền kinh tế. Kết quả điều tra là nguồn thông tin đầu vào thiết yếu để lập Bảng cân đối liên ngành, biên soạn hệ số chi phí trung gian, hoàn thiện Hệ thống tài khoản quốc gia và nâng cao chất lượng các chỉ tiêu thống kê kinh tế vĩ mô. Bảng cân đối liên ngành phản ánh mối quan hệ giữa sản xuất, sử dụng sản phẩm và sự liên kết giữa các ngành trong nền kinh tế. Thông qua kết quả điều tra, cơ quan thống kê có cơ sở xác định sát hơn cơ cấu chi phí đầu vào, chi phí trung gian và giá trị tăng thêm của các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao độ tin cậy của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp; phục vụ phân tích cơ cấu kinh tế, đánh giá mức độ liên kết và tác động lan tỏa giữa các ngành, đồng thời cung cấp căn cứ khoa học cho công tác hoạch định và điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Phát biểu khai mạc, ông Phạm Quốc Hùng nhấn mạnh chất lượng của Bảng cân đối liên ngành và hệ số chi phí trung gian phụ thuộc trực tiếp vào mức độ đầy đủ, chính xác, trung thực và thống nhất của thông tin thu thập từ cơ sở. Vì vậy, giảng viên cần truyền đạt những nội dung cốt lõi, gắn lý thuyết với thực hành và các tình huống thực tế; học viên phải nghiên cứu kỹ phương án, nắm chắc nghiệp vụ, thành thạo công cụ điều tra điện tử để bảo đảm tổ chức thực hiện thống nhất, hiệu quả tại địa bàn. Tại Hội nghị, các đại biểu được phổ biến phương án điều tra, quy trình tổ chức thực hiện và nghiệp vụ thu thập thông tin đối với từng nhóm đối tượng. Nội dung tập huấn tập trung vào phương pháp, quy trình thu thập thông tin đối với doanh nghiệp ngoài lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; đơn vị hành chính, sự nghiệp và hiệp hội; cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản; hộ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; hộ dân cư điều tra chi tiêu dùng cuối cùng; đơn vị vô vị lợi. Các đại biểu cũng được hướng dẫn lập biểu tổng hợp trung gian và biểu tổng hợp phục vụ lập Bảng cân đối liên ngành. Đây là nội dung đòi hỏi sự thống nhất cao về cách hiểu, phương pháp ghi chép, kiểm tra và tổng hợp thông tin; qua đó bảo đảm dữ liệu được thu thập có thể sử dụng đồng bộ trong toàn bộ quy trình biên soạn. Một nội dung trọng tâm của Hội nghị là hướng dẫn sử dụng trang web điều tra và phần mềm CAPI. Bên cạnh việc giới thiệu chức năng, quy trình sử dụng, các đại biểu trực tiếp thực hành thao tác trên từng loại phiếu; cập nhật, kiểm tra và xử lý thông tin trên hệ thống. Những tình huống có thể phát sinh trong quá trình triển khai thực tế được đưa ra trao đổi, thảo luận và giải đáp kịp thời, giúp học viên nâng cao khả năng xử lý công việc tại địa bàn. Kết luận Hội nghị, ông Phạm Quốc Hùng đề nghị các đơn vị tiếp tục nghiên cứu kỹ tài liệu, chủ động thực hành trên hệ thống và kịp thời trao đổi với giám sát viên cấp tỉnh khi phát sinh vướng mắc. Các Thống kê cơ sở cần tổ chức thực hiện đúng phương án, đúng quy trình; bảo đảm thông tin thu thập đầy đủ, chính xác, kịp thời; đồng thời tăng cường kiểm tra, rà soát chất lượng phiếu trước khi hoàn thành. Ông nhấn mạnh: “Chất lượng cuộc điều tra được quyết định từ chất lượng của từng thông tin thu thập tại cơ sở”. Sau 4 ngày làm việc nghiêm túc, thiết thực và hiệu quả, Hội nghị đã hoàn thành các nội dung theo kế hoạch, tạo sự thống nhất về nghiệp vụ và phương pháp tổ chức thực hiện. Kết quả tập huấn là bước chuẩn bị quan trọng để Thống kê tỉnh Lâm Đồng triển khai đồng bộ cuộc điều tra năm 2026, góp phần cung cấp nguồn dữ liệu tin cậy cho biên soạn Bảng cân đối liên ngành, hệ số chi phí trung gian và công tác thống kê kinh tế vĩ mô./. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNGMột số hình ảnh của Hội nghị:Ông Phạm Quốc Hùng, Trưởng Thống kê tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại Hội nghịToàn cảnh Hội nghịCác giảng viên tập huấn các phiếu điều tra, trang web và phần mềm CAPI

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   02/08/2026 21:06

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng vụ Hè thu theo đúng khung vụ; nhờ chủ động nguồn nước, đẩy mạnh cơ giới hóa và sử dụng giống ngắn ngày, chất lượng cao nên tiến độ sản xuất bảo đảm kế hoạch. Chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn gia súc, gia cầm được duy trì. Hoạt động lâm nghiệp tập trung thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026; đồng thời tăng cường quản lý bảo vệ rừng và triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống cháy rừng. Hoạt động khai thác thủy sản đạt kết quả tích cực, sản lượng khai thác đều tăng so với cùng kỳ; công tác kiểm tra, kiểm soát, phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp tiếp tục được tăng cường. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tính đến ngày 15/7/2026, tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm ước đạt 244.974,9 ha, tăng 2,02% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng tăng ở hầu hết các loại cây trồng, trong đó: diện tích gieo trồng lúa ước đạt 104.800 ha, tăng 1,21% (diện tích gieo trồng lúa vụ Hè thu ước đạt 49.400 ha, tăng 2,42%); diện tích gieo trồng ngô ước đạt 32.200 ha, tăng 4,61%; diện tích gieo trồng rau ước đạt 58.000 ha, tăng 2,21%; diện tích gieo trồng hoa ước đạt 7.750 ha, tăng 1,48%; diện tích gieo trồng đậu các loại ước đạt 9.250 ha, tăng 0,67%; diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm còn lại ước đạt 32.974,9 ha, tăng 2,34%. 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định. Thời tiết đầu mùa mưa với lượng mưa cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh trưởng của cây trồng; giá nhiều nông sản chủ lực, đặc biệt là cà phê và sầu riêng duy trì ở mức cao, tạo động lực để nông dân đầu tư thâm canh, chăm sóc và tái đầu tư sản xuất. Diện tích sản xuất theo các tiêu chuẩn chất lượng và hướng phát triển bền vững tiếp tục được mở rộng; nhiều vùng nguyên liệu đã hình thành chuỗi liên kết với doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Cụ thể một số loại cây chính như sau: - Cây cà phê: Diện tích cà phê hiện có 329.992 ha, tăng 1,09% so với cùng kỳ; hiện cây cà phê đang trong giai đoạn nuôi trái; giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tăng cường đầu tư chăm sóc, bón phân,...; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.378 ha, tăng 1,95% so với cùng kỳ. Trong thời gian tới, diện tích cao su trồng mới dự kiến tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do người dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư; - Cây điều: Diện tích điều hiện có 45.765,2 ha, giảm 8,74% so với cùng kỳ. Mặc dù vẫn là một trong những cây công nghiệp lâu năm của tỉnh, cây điều không còn nằm trong nhóm cây được ưu tiên mở rộng diện tích. Trong bối cảnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao, cấp mã số vùng trồng và đẩy mạnh các ngành hàng xuất khẩu có giá trị cao, diện tích điều có xu hướng chuyển đổi sang các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn như cà phê, sầu riêng, chanh leo, dâu tằm,…; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.256 ha, tăng 2,13% so với cùng kỳ; hiện một số vùng đang thu hoạch, một số vùng tiếp tục trong giai đoạn nuôi trái. Giá sầu riêng duy trì ở mức khá đã khuyến khích người sản xuất đầu tư thâm canh, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm; - Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có 37.761,9 ha, tăng 0,01% so với cùng kỳ; hiện đã hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao (khoảng 148.000 - 151.000 đồng/kg) trong những tháng đầu năm 2026, đây là động lực giúp người nông dân tái đầu tư và chăm sóc vườn cây; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.866 ha, giảm 0,21% so với cùng kỳ; cây sinh trưởng tương đối ổn định, tuy nhiên chi phí sản xuất tăng do xử lý ra hoa trái vụ. Giá thanh long duy trì ở mức trung bình khá, góp phần ổn định sản xuất; người dân đang định hướng phát triển tập trung vào nâng cao năng suất, chất lượng thông qua mở rộng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP thay vì mở rộng diện tích;… 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Tính đến ngày 15/7/2026, tổng dung tích nước tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh ước đạt 454,13 triệu m3, bằng 51,45% dung tích thiết kế, tăng 10,18 triệu m3 so với cùng kỳ, cơ bản đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất trên địa bàn. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, tình hình dịch bệnh trên cây trồng biến động không đáng kể. Công tác bảo vệ thực vật được tăng cường, tình hình dự báo sâu bệnh định kỳ, thường xuyên đã kịp thời phát hiện và xử lý các đối tượng gây hại trên cây trồng, đặc biệt là các cây trồng chủ lực của tỉnh như lúa, rau, hoa, chè, cà phê,... hạn chế thiệt hại trên diện rộng. Việc áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) tiếp tục được mở rộng.  2. Chăn nuôi Trong tháng, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định và phát triển theo hướng tích cực. Công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai thường xuyên; các cơ sở chăn nuôi thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng, tiêm phòng theo quy định, góp phần kiểm soát dịch bệnh, bảo đảm an toàn sản xuất và duy trì ổn định quy mô đàn vật nuôi. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 30.646 tấn, tăng 10% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 215.915 tấn, tăng 11,68%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27 nghìn con, tăng 0,75% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tương đối ổn định nhờ người dân tận dụng các vùng chăn thả và nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 320 nghìn con, tăng 2,99% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 32,5 nghìn con, tăng 4,84%). Quy mô đàn bò tiếp tục tăng nhờ công tác cải tạo giống, mở rộng vùng nguyên liệu thức ăn, phát triển diện tích trồng cỏ và duy trì liên kết tiêu thụ giữa doanh nghiệp với người chăn nuôi, góp phần tạo đầu ra tương đối ổn định. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.541,3 nghìn con, tăng 5,4% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.253,9 nghìn con, tăng 5%). Quy mô đàn lợn tăng khá nhờ giá lợn hơi duy trì ở mức có lợi, khuyến khích người chăn nuôi tái đàn; nhiều doanh nghiệp và trang trại tiếp tục đầu tư mở rộng quy mô, áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học và kiểm soát tốt dịch bệnh. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 24.500 nghìn con, tăng 8,89% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.500 nghìn con, chiếm 67,35% trong tổng đàn gia cầm, tăng 8,91%). Đây là nhóm vật nuôi có tốc độ tăng cao nhờ nhu cầu tiêu dùng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, giá bán thuận lợi, cùng với việc áp dụng hiệu quả các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, chủ động phòng chống dịch bệnh. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh phát sinh tại 07 xã, phường trên địa bàn tỉnh, đã tiêu hủy 5.979 con/293,37 tấn. Lũy kế từ 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 22.220 con lợn mắc bệnh với tổng trọng lượng 1.064,6 tấn; đến nay còn 07 xã có ổ dịch chưa qua 21 ngày. - Bệnh Dịch tả loài nhai lại nhỏ (PPR) phát sinh trên đàn dê tại xã Tân Minh, đã tiêu hủy 21 con/345kg. - Các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi như: Dại, tai xanh, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, cúm gia cầm không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả; thực hiện tiêu độc, khử trùng môi trường chăn nuôi và kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển động vật, sản phẩm động vật (đã phân bổ bổ sung 7.300 liều vắc xin và 92 lít hóa chất cho các địa phương để tổ chức tiêm phòng, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng môi trường). Công tác tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh hoc và khai báo dịch bệnh được đẩy mạnh. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, diện tích trồng rừng ước đạt 1.615,4 ha, tăng 3,31% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 5.841,4 ha, tăng 4,67%. Diện tích trồng cây phân tán trong tháng ước đạt 1,6 triệu cây, tăng 3,27% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 7,2 triệu cây, tăng 3,34%. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.299 m3, tăng 4,94% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 275.588 m3, tăng 3,58%. - Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 28.012 ste, tăng 1,74% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 208.093,2 ste, tăng 1,95%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/6 - 10/7/2026) là 50 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật 23 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 4,2 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 18 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 19 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 3,9 ha). Lũy kế 7 tháng năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/7/2026), tổng số vụ vi phạm 350 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật 159 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 27,0 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 60 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 43 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 9,8 ha). - Công tác phòng, chống cháy rừng: Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được triển khai đồng bộ. Các hoạt động trọng tâm gồm phát dọn đường băng cản lửa, theo dõi, thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng tại các địa phương; cập nhật thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao; đồng thời tổ chức trực và canh gác tại các khu vực có nguy cơ cháy rừng cấp III, IV và V theo quy định. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng; lũy kế 7 tháng năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,7 ha. 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh ổn định; các địa phương tập trung chăm sóc diện tích nuôi hiện có, tăng cường quản lý môi trường nuôi và chủ động phòng, chống dịch bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho thủy sản sinh trưởng, phát triển. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 495,8 ha, tăng 1,75% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 3.369,2 ha, tăng 1,48% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 3.016,6 ha, tăng 1,23%; diện tích nuôi tôm đạt 318,9 ha, tăng 3,82%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.433,2 tấn, tăng 0,33% so với cùng kỳ (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 439,2 tấn, tăng 0,92%); lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 16.323,2 tấn, tăng 0,43% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 2.741,4 tấn, tăng 4,30%) - Khai thác thủy sản: Từ đầu năm đến nay, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho ngư dân duy trì và mở rộng khai thác. Sản lượng một số nghề như lưới kéo, vây rút chì, lưới rê, mành và các nghề khai thác ven bờ tiếp tục đạt khá. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng ven bờ, vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, đảo Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 25.156 tấn, tăng 4,37% so với cùng kỳ (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 25.057 tấn, tăng 4,17%); lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 145.414,1 tấn, tăng 3,58% (sản lượng khai thác biển đạt 144.901,8 tấn, tăng 3,46%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, nhu cầu con giống tăng sau thời gian thu hoạch và cải tạo ao nuôi để bước vào vụ mới, tạo điều kiện cho sản xuất và tiêu thụ tôm giống. Dự ước trong tháng, sản lượng tôm giống đạt 2,5 tỷ post, tăng 24,99% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 15,7 tỷ post, tăng 12,15%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp  Sản xuất công nghiệp tháng 7 tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành. Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước giảm 3,99% so với tháng trước và tăng 18,69% so với cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,44%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 21,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 17,65%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,62%. Tính chung 7 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 10,48% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 19,12%, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,25%, sản xuất và phân phối điện tăng 6,77%, cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,96%. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến gắn với chế biến sâu, đặc biệt là chế biến nông sản từ các vùng nguyên liệu cà phê, chè, rau, hoa, trái cây và cây công nghiệp, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Bên cạnh đó, chuỗi bauxite - alumin - nhôm tiếp tục khẳng định vai trò là ngành công nghiệp mũi nhọn với tiềm năng tạo đột phá tăng trưởng, trong khi ngành điện, đặc biệt là cụm nhiệt điện Vĩnh Tân, tiếp tục giữ vai trò là động lực quan trọng, bảo đảm nguồn năng lượng phục vụ sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 396.848 m3, tăng 8,78% so với tháng trước và tăng 14,44% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.542.419 m3, tăng 19,12% so với cùng kỳ. Việc tăng đáng kể so với tháng trước và so với cùng kỳ là do tỉnh quyết liệt đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung mọi nguồn lực, giải pháp thu hút các dự án đầu tư triển khai trên địa bàn tỉnh, theo đó các doanh nghiệp ngành khai khoáng đã nắm bắt và chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng. - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.194 tấn, chỉ tăng 0,59% so với tháng trước và tăng 22,85% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 14.352 tấn, tăng 18,68% so với cùng kỳ. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.523 tấn, giảm 12,73% so với tháng trước và tăng 17,77% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 24.141 tấn, tăng 16,07% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm so với tháng trước là do các sản phẩm hạt điều chủ yếu tập trung trong 6 tháng đầu năm vào mùa thu hoạch, bắt đầu giảm từ đầu quý 3 khi hết mùa thu hoạch; tuy nhiên so với cùng kỳ và cộng dồn vẫn tăng cao là do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu hơn so với năm trước và chủ động nguồn hàng cho các tháng sắp tới, các sản phẩm sầu riêng cấp đông tăng sản lượng sản xuất do nhu cầu tăng. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 28.291 nghìn lít, giảm 8,5% so với tháng trước và tăng 34,6% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 161.901 nghìn lít, tăng 19,18% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do các doanh nghiệp tăng cường sản xuất các sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao; tuy nhiên sản phẩm bia đóng chai và nước tinh khiết giảm so với tháng trước do nhu cầu tiêu thụ giảm. - Sản phẩm giày, dép: Sản lượng trong tháng ước đạt 930 nghìn đôi, tăng 11,18% so với tháng trước và tăng 81,28% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 4.733 nghìn đôi, tăng 37,04% so với cùng kỳ là do Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam mở rộng dây chuyền sản xuất. - Sản phẩm phân bón: Sản lượng sản xuất ước đạt 12.700 tấn, tăng 5,75% so với tháng trước nhưng giảm 5,99% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 77.428 tấn, tăng 14,79% so với cùng kỳ; do các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất phục vụ mùa sản xuất nông nghiệp năm 2026 trong điều kiện giá nông sản tiếp tục ổn định ở mức cao nên nhu cầu phân bón đầu tư cho nông nghiệp ngày càng tăng (đặc biệt là cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng…). - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 122 nghìn tấn, tăng 9,23% so với tháng trước và tăng 6,83% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 842,772 nghìn tấn, tăng 1,42% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Sản lượng trong tháng ước đạt 3.243 triệu kwh, giảm 7,65% so với tháng trước và tăng 17,31% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 21.453 triệu kwh, tăng 6,55% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng sản lượng ước đạt 489 triệu kwh, tăng 4,68% so với tháng trước và tăng 7,88% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 3.495 triệu kwh tăng 8,4% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do song song với sự phát triển của ngành chế biến chế tạo thì khối lượng điện thương phẩm tiêu thụ phục vụ trong ngành này cũng tăng theo; tuy nhiên tốc độ không quá cao là do các đơn vị sản xuất cũng như người tiêu dùng có ý thức tiết kiệm điện cũng như hưởng ứng việc sử dụng năng lượng xanh (lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu). 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng giảm 1,75% so với tháng trước và tăng 5,07% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,84%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,19%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,70%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,95%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 8,83% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 6,03%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 0,86%. Tính chung 7 tháng năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,76%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,46%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,01%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,7%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,04%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp Doanh thu sản xuất công nghiệp trong tháng giảm 1,6% so với tháng trước do ảnh hưởng của hoạt động điều tiết vận hành hệ thống năng lượng; tuy nhiên vẫn tăng 17,48% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2026, doanh thu toàn ngành tăng 7,9% so với cùng kỳ, cho thấy khu vực công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các chính sách hỗ trợ sản xuất, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, góp phần củng cố năng lực sản xuất, ổn định chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp. Theo nhóm ngành, doanh thu ngành khai khoáng tăng 7,46% so với tháng trước và tăng 15,87% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 16,81%, chủ yếu nhờ các doanh nghiệp nâng cao công suất khai thác, đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chính với doanh thu tăng 6% so với tháng trước, tăng 20,44% so với cùng kỳ và lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 11,62%, nhờ sự phát triển của chế biến nông sản, thực phẩm và sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ đầu tư công. Trong khi đó, doanh thu ngành sản xuất và phân phối điện giảm 6,05% so với tháng trước do công tác bảo trì, điều tiết vận hành nhưng vẫn tăng 15,75% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 5,79%, tiếp tục giữ vai trò bảo đảm an ninh năng lượng cho sản xuất và đời sống. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng nhẹ 0,73% so với tháng trước và tăng 13,81% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 8,54%, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và góp phần nâng cao chất lượng môi trường trên địa bàn. 1.5. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Hoạt động thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục đạt kết quả tích cực. Trong tháng (15/6 - 15/7/2026), các khu công nghiệp thu hút thêm 02 dự án với tổng vốn đăng ký 2,5 triệu USD và 43,9 tỷ đồng, diện tích thuê đất 2,06 ha. Lũy kế 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh thu hút 13 dự án đầu tư (02 dự án FDI và 11 dự án trong nước), đạt 76,47% kế hoạch về số dự án; tổng vốn đăng ký đạt 570,3 tỷ đồng và 2,7 triệu USD, diện tích thuê đất 21,04 ha. Đến nay, các khu công nghiệp có 251 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 55.211,5 tỷ đồng và 517,6 triệu USD; tỷ lệ lấp đầy đạt 55,73%, tạo nền tảng quan trọng để phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư và giải quyết việc làm trên địa bàn. Cùng với công tác thu hút đầu tư, hạ tầng các khu công nghiệp tiếp tục được quan tâm hoàn thiện. Hiện có 175 doanh nghiệp đang hoạt động trong các khu công nghiệp; trong tháng, 6/14 khu công nghiệp triển khai đầu tư xây dựng và duy tu hạ tầng với giá trị thực hiện 22,07 tỷ đồng, đạt 2,5% kế hoạch vốn năm 2026. Các hạng mục tập trung vào san lấp mặt bằng, xây dựng giao thông nội bộ, hệ thống thoát nước, xử lý nước thải và duy tu hạ tầng kỹ thuật, góp phần nâng cao năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư mới và từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng các khu công nghiệp của tỉnh. Cụ thể: - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Chủ đầu tư duy tu cây xanh. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,02/0,82 tỷ đồng đạt 2,44% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm I: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, duy tu giao thông trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,15/22,79 tỷ đồng đạt 0,66% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm II: Chủ đầu tư san lấp mặt bằng KCN; duy tu cây xanh trong KCN; duy tu và thi công các tuyến đường trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 10,5/205 tỷ đồng đạt 5,12% kế hoạch năm 2026. - KCN Sông Bình: Chủ đầu tư duy tu cây xanh trong KCN; tiếp tục thi công các tuyến đường giao thông (đường D1, D3, N4, N6) trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,15/59,07 tỷ đồng đạt 0,25% kế hoạch năm 2026. - KCN Tuy Phong: Chủ đầu tư triển khai thi công hệ thống thoát nước mưa tuyến D2 và các tuyến giao thông. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,25 tỷ đồng. - KCN Tân Đức: Chủ đầu tư tiếp tục đền bù giải tỏa KCN những diện tích đất còn lại; dọn dẹp và thi công san lấp mặt bằng KCN, thi công các tuyến đường trong KCN (D2, D3, D4, N1, N2, N3), nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 11/473 tỷ đồng đạt 2,33% kế hoạch năm 2026. Tình hình thu hút các dự án đầu tư tại các khu công nghiệp: - KCN Lộc Sơn: Thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phú Hội: Thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết: Giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Tâm Thắng: Thu hút được 49 dự án đầu tư (05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Nhân Cơ: Thu hút được 01 dự án. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 7 có cải thiện so với cùng kỳ, nhưng tiến độ lũy kế vẫn chậm so với yêu cầu. Các dự án hạ tầng giao thông, thủy lợi và khu công nghiệp đang bước vào giai đoạn thi công, song vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thủ tục đất đai, vật liệu xây dựng và năng lực tổ chức thực hiện tiếp tục ảnh hưởng đến khối lượng đầu tư. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.308,5 tỷ đồng, tăng 20,97% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.048,4 tỷ đồng, chiếm 80,11% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn và tăng 15,61% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 462 tỷ đồng, tăng 30,3% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 193,1 tỷ đồng, giảm 1,85%; vốn nước ngoài 15,9 tỷ đồng, tăng 1,31%; vốn xổ số kiến thiết 371,1 tỷ đồng, tăng 10,29%; vốn khác 6,3 tỷ đồng, tăng 85,01%); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 260,2 tỷ đồng, chiếm 19,8% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn và tăng 48,79% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 6.068,5 tỷ đồng, đạt 30,17% so với kế hoạch năm, tăng 11,55% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 5.310,5 tỷ đồng, tăng 6,81% so với cùng kỳ (vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 2.432,5 tỷ đồng, tăng 26,25% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 804,5 tỷ đồng, giảm 39,62%; vốn nước ngoài ước đạt 84,3 tỷ đồng, giảm 23,8%; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 1.955,9 tỷ đồng, tăng 23,51%; vốn khác ước đạt 33,2 tỷ đồng, tăng 79,41%); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 758 tỷ đồng, tăng 61,91% so với cùng kỳ. Được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, tình hình thực hiện các dự án hạ tầng trọng điểm như giao thông, thủy lợi, và các khu công nghiệp đẩy nhanh tiến độ, tích cực triển khai thực hiện. Các dự án dự kiến khởi công mới được khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, phân bổ nguồn vốn. Trong tháng (từ ngày 15/6-14/7/2026) toàn tỉnh có 360 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 34,66% so với cùng kỳ; 75 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,32%; 163 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,41%; 162 doanh nghiệp giải thể, tăng 92,86%. Tính chung 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 2.732 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 34,52% so với cùng kỳ; 628 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 9,03%; 1.342 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 1,47%; 642 doanh nghiệp giải thể, tăng 74,46% (tương ứng 274 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 14.685,6 tỷ đồng, tăng 38,46%. Về thu hút đầu tư (tính đến ngày 15/7/2026), toàn tỉnh có 38 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 165.975,4 tỷ đồng; 33 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 15/7/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.957 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 938.690 tỷ đồng (trong đó: có 246 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.968 tỷ đồng). III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Tình hình thương mại của tỉnh trong tháng hoạt động tương đối ổn định. Ngoài việc cung cấp hàng hóa nhu cầu thiết yếu cho người dân, các cơ sở kinh doanh còn tăng lượng hàng hóa phục vụ cho du khách nên sức mua tăng so với cùng kỳ. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, dịp này đang vào mùa cao điểm du lịch hè đã thu hút nhiều du khách đến du lịch và nghỉ dưỡng. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định và tiếp tục tăng cường phục vụ cho người dân và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.647,4 tỷ đồng, tăng 3,82% so với tháng trước và tăng 24,81% so với cùng kỳ. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.467,7 tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 22,63% so với cùng kỳ; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.967,9 tỷ đồng, tăng 7,67% so với tháng trước và tăng 32,98% so với cùng kỳ; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.211,9 tỷ đồng, tăng 4,26% so với tháng trước và tăng 22,59% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 114.927,3 tỷ đồng, tăng 18,08% so với cùng kỳ. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 70.477,9 tỷ đồng, tăng 16,56% so với cùng kỳ; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 23.554,6 tỷ đồng, tăng 24% so với cùng kỳ; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 20.894,8 tỷ đồng, tăng 16,93% so với cùng kỳ. 1.2. Công tác quản lý thị trường Công tác quản lý thị trường được tăng cường, tập trung vào xăng dầu, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và gian lận thương mại. Trong tháng, lực lượng chức năng kiểm tra 111 vụ, phát hiện 101 vụ vi phạm, xử lý 123 vụ (22 vụ chuyển từ kỳ trước sang) với tổng số tiền xử phạt 1.176,2 triệu đồng (trong đó: xử phạt hành chính 1.129,2 triệu đồng); trị giá hàng hóa xử phạt 609,3 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/7/2026, đã kiểm tra 909 vụ, xử lý 843 vụ, số tiền xử phạt 6.917 triệu đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 6.735 triệu đồng. Kết quả này góp phần ổn định thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và môi trường kinh doanh lành mạnh. 2. Giá tiêu dùng (CPI) Trong tháng Bảy và 7 tháng năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân cơ bản ổn định. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa và dịch vụ vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố như chi phí sản xuất, chi phí vận tải, nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ, cùng với diễn biến giá cả trên thị trường thế giới biến động, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,05% so với tháng trước, tăng 0,65% so với tháng 12/2025 và tăng 3,74% so với cùng kỳ. Bình quân 7 tháng năm 2026, CPI tăng 4,3% so với cùng kỳ. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 08 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,75%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,73%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,53%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,13%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,13%; Thông tin và truyền thông tăng 0,28%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,35%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,42%. Có 03 nhóm hàng giảm giá: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,22%; Giao thông giảm 1,78%; Giáo dục giảm 0,49%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,75% so tháng trước, do giá nguyên vật liệu chế biến, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng. Đồng thời trong tháng 7 mùa du lịch hè nhu cầu ăn uống bên ngoài tăng. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,45% do nhu cầu xây dựng tăng cùng với chi phí đầu vào tăng nên giá một số mặt hàng vật liệu xây dựng như: sắt, thép, xi măng và giá nhân công xây dựng tăng theo. Tháng này là thời điểm học sinh nghỉ hè, nhu cầu du lịch tăng dẫn tới chỉ số giá nhóm du lịch trọn gói tăng 1,77%. Mức lương cơ sở tăng 190.000 đồng/tháng từ ngày 01/7/2026 theo Nghị định số 161/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026, theo đó chỉ số giá nhóm bảo hiểm y tế tăng 8,12% so với tháng trước. - Nguyên nhân giảm: Giá gas trong tháng giảm 11,26% so với tháng trước, do giá bán lẻ trong nước điều chỉnh giảm 66.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 01, 02, 09, 16 và 23 tháng 7/2026, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng xăng giảm 4,04% so tháng trước; giá dầu diezel giảm 9,19%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 4,3% so với bình quân cùng kỳ năm 2025. * Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 7 tháng năm 2026 CPI bình quân 7 tháng năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu duy trì xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông và giáo dục. Trong đó, nhóm thực phẩm tăng 4,37%, làm CPI chung tăng 1,09 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thịt lợn và thịt gia cầm tăng khi nguồn cung còn hạn chế trong khi nhu cầu tiêu dùng cao vào các dịp lễ, Tết. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,85%, góp phần làm CPI tăng 1,04 điểm phần trăm do giá vật liệu xây dựng và giá thuê nhà tăng; giá gas trong nước cũng tăng 16,13% theo xu hướng giá gas thế giới. Bên cạnh đó, nhóm giao thông tăng 5,15%, làm CPI tăng 0,59 điểm phần trăm do giá nhiên liệu tăng và giá dịch vụ vận tải hành khách điều chỉnh theo chi phí đầu vào. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, làm CPI tăng 0,41 điểm phần trăm; nhóm giáo dục tăng 7,10%, góp phần làm CPI tăng 0,34 điểm phần trăm do một số cơ sở giáo dục điều chỉnh học phí. Ngoài ra, giá đồ uống, thuốc lá; may mặc, giày dép và thiết bị, đồ dùng gia đình cũng tăng do chi phí nguyên vật liệu, sản xuất và vận chuyển tăng. Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,24%, góp phần kiềm chế mức tăng CPI nhờ giá các dòng điện thoại đời cũ giảm do các chương trình khuyến mại và kích cầu của doanh nghiệp. 3. Hoạt động du lịch Mùa hè 2026, du lịch Lâm Đồng diễn ra sôi động với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao và lễ hội được tổ chức trên nhiều địa bàn, tạo sức hút đối với người dân và du khách. Nổi bật là chương trình “Hoài niệm trăm năm 2”, Âm nhạc đường phố, Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết, Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh Đế Quân xuất du, Ngày hội Du lịch, Mua sắm và Giao lưu ẩm thực Việt,… Các hoạt động không chỉ góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc trưng mà còn quảng bá hình ảnh Lâm Đồng, đa dạng về không gian, sản phẩm và trải nghiệm du lịch. Tiếp nối đà sôi động của mùa hè, Tháng Du lịch Lâm Đồng 2026 được tổ chức với nhiều sự kiện quy mô lớn như Lễ công bố mở lại Cảng Hàng không quốc tế Liên Khương, Diễn đàn Du lịch Quốc gia, Lễ hội Hoa - Rau - Quả, Festival Ẩm thực, Festival Khinh khí cầu và Drone Show, Gala quốc tế “LamDong Night”, Ngày Văn hóa - Du lịch Lâm Đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, việc Cảng Hàng không quốc tế Liên Khương dự kiến hoạt động trở lại từ giữa tháng 8 sẽ mở rộng kết nối với các trung tâm kinh tế, du lịch trong nước và quốc tế, tạo điều kiện thu hút khách, xúc tiến đầu tư và thúc đẩy du lịch Lâm Đồng tăng tốc trong những tháng cuối năm 2026. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt đạt 2.324,7 nghìn lượt, tăng 12,93% so tháng trước và tăng 27,3% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 80,9 nghìn lượt, tăng 14,77% so với tháng trước và tăng 13,44% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ ước đạt 4.234,5 nghìn ngày khách, tăng 12,41% so với tháng trước và tăng 29,05% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 96,5 nghìn lượt khách, tăng 3,23% so với tháng trước và tăng 11,88% so với cùng kỳ; ngày khách phục vụ ước đạt 310,1 nghìn ngày khách, tăng 3,86% so với tháng trước và tăng 13,25% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 14.211,5 nghìn lượt, tăng 18,58% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày đạt 505,9 nghìn lượt, tăng 13,16% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ đạt 26.433,7 nghìn ngày khách, tăng 20,47% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế lũy kế 7 tháng năm 2026 đạt 899,9 nghìn lượt, tăng 15,1% so với cùng kỳ; ngày khách quốc tế đạt 2.869,2 nghìn ngày khách, tăng 18,37% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 810,5 tỷ đồng, tăng 11,51% so với tháng trước và tăng 31,93% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.091,9 tỷ đồng, tăng 6,63% so với tháng trước và tăng 32,97% so với cùng kỳ; du lịch lữ hành ước đạt 65,4 tỷ đồng, tăng 11,57% so với tháng trước và tăng 48,6% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 4.794,4 tỷ đồng, tăng 23,54% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 18.370,5 tỷ đồng, tăng 23,78% so với cùng kỳ; dịch vụ lữ hành đạt 389,6 tỷ đồng, tăng 42,61% so với cùng kỳ. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.385,9 tỷ đồng, tăng 11,27% so với tháng trước và tăng 28,12% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 39.336,4 tỷ đồng, tăng 21,96% so với cùng kỳ. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.211,9 tỷ đồng, tăng 4,26% so với tháng trước và tăng 22,59% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 767,4 tỷ đồng, tăng 5,68% so với tháng trước và tăng 10,32% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 176,7 tỷ đồng, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 13,15% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 147,1 tỷ đồng, tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 20,48% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 258,2 tỷ đồng, tăng 3,13% so với tháng trước và tăng 17,37% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.529,2 tỷ đồng, tăng 4,55% so với tháng trước và tăng 33,48% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 333,4 tỷ đồng, tăng 3,19% so với tháng trước và tăng 18,75% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 20.894,8 tỷ đồng, tăng 16,93% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 5.052 tỷ đồng, tăng 10,61% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.181 tỷ đồng, tăng 11,37% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.034,1 tỷ đồng, tăng 20,77% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.699,1 tỷ đồng, tăng 15,69% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 9.785,1 tỷ đồng, tăng 22,29% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác đạt 2.143,6 tỷ đồng, tăng 11,89% so với cùng kỳ. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ sản xuất, kinh doanh, thương mại và dịch vụ phát triển ổn định, làm gia tăng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách. Đồng thời, hệ thống hạ tầng giao thông ngày càng được đầu tư, nâng cấp và kết nối đồng bộ đã nâng cao hiệu quả khai thác, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng hoạt động và gia tăng doanh thu. Trong tháng doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 1.316,5 tỷ đồng, tăng 5,14% so với tháng trước và tăng 30,05% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2026 doanh thu ước đạt 8.427,1 tỷ đồng, tăng 23,82% so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng tăng trưởng bền vững của lĩnh vực vận tải, đáp ứng tốt nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.106,5 nghìn HK, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 19,59% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 445.767,3 nghìn HK.Km, tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 19,65% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 20.029,5 nghìn HK, tăng 17,29% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 2.883.969,7 nghìn HK.Km, tăng 17,86% so với cùng kỳ. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.370,6 nghìn tấn, tăng 6,83% so với tháng trước và tăng 30,12% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 348.453 nghìn tấn.Km, tăng 6,86% so với tháng trước và tăng 30,57% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 14.631,4 nghìn tấn, tăng 19,09% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.152.591,4 nghìn tấn.Km, tăng 19,62% so với cùng kỳ. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.316,5 tỷ đồng, tăng 5,14% so với tháng trước và tăng 30,05% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 8.427,1 tỷ đồng, tăng 23,82% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.909,3 tỷ đồng, tăng 28,16% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 4.107,1 tỷ đồng, tăng 25,89% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.100 tỷ đồng, tăng 13,65% so với cùng kỳ; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 310,6 tỷ đồng, tăng 1,77% so với cùng kỳ. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 1.749,3 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.584,8 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 164,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.455,4 tỷ đồng, tăng 17,89% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước thực hiện 21.233 tỷ đồng, bằng 61,66% kế hoạch năm và tăng 12,63% so với cùng kỳ, trong đó: thu nội địa ước thực hiện 19.618 tỷ đồng, bằng 60,04% kế hoạch năm và tăng 9,51%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 1.615 tỷ đồng, bằng 91,76% kế hoạch năm và tăng 72,08% so với cùng kỳ. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 7 tháng năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 2.700 tỷ đồng (bằng 70,99% kế hoạch năm và tăng 2,6% so với cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 1.040 tỷ đồng (bằng 75,38% kế hoạch năm và tăng 12,21%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 5.399,6 tỷ đồng (bằng 80,74% kế hoạch năm và tăng 46,63%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 1.799,4 tỷ đồng (bằng 65,91% kế hoạch năm và giảm 2,60%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 2.759,3 tỷ đồng (bằng 37,41% kế hoạch năm và giảm 4,54%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 3.400 tỷ đồng (bằng 58,62% kế hoạch năm và tăng 10,26%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 4.455,5 tỷ đồng, lũy kế 7 tháng năm 2026 ước 30.244,2 tỷ đồng, bằng 61,98% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 12.907,4 tỷ đồng, bằng 97,69% kế hoạch năm; chi thường xuyên 17.323 tỷ đồng, bằng 57,06% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: Đến 30/6/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 247.439 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 18.163 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 7,92%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 244.626 tỷ đồng (chiếm 98,86% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.813 tỷ đồng, (chiếm 1,14% tổng huy động vốn). Ước đến 31/7/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 250.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 20.724 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 9,04%. Hoạt động tín dụng: Đến 30/6/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 377.423 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 6.440 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,74%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 375.332 tỷ đồng (chiếm 99,45% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.091 tỷ đồng (chiếm 0,55% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 267.009 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 110.414 tỷ đồng. Ước đến 31/7/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 379.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 8.516 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,3%. Lãi suất tiền gửi: Lãi suất huy động bằng VND bình quân: tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng ở mức 0,3% - 0,4%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,2% - 4,6%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng ở mức 7% - 7,9%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng trở lên ở mức 7% - 7,7%/năm. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay: Bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở mức 9,1% - 10,5%/năm; cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,3% - 5,3%/năm.       Dư nợ cho vay: Đến 30/6/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 185.476 tỷ đồng, chiếm 49,14% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.513 tỷ đồng, chiếm 8,62% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 159.434 tỷ đồng, chiếm 42,24% tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn tỉnh được kiểm soát ở mức 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng, không thay đổi so với cuối năm 2025. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thay mới và trang trí pano, khẩu hiệu phục vụ công tác tuyên các nhiệm vụ chính trị và chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc biệt chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); phục vụ tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026 với chủ đề “Lâm Đồng - Bản giao hưởng xanh”; chương trình âm nhạc đường phố phục vụ Nhân dân và du khách hưởng ứng sự kiện tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026 vào thứ 7 hàng tuần; chương trình nghệ thuật phục vụ Lễ khánh thành dự án Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa; chương trình “Hoài Niệm Trăm Năm 2” tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng gồm các hoạt động khai mạc triển lãm bộ sưu tập “Hương thơm phương Nam”, ra mắt bộ ấn phẩm quảng bá Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng và trình diễn nghệ thuật thời trang áo dài. Ngoài ra, trong tháng đã tổ chức 07 buổi biểu diễn phục vụ chính trị; 01 tuần phim; 15 buổi biểu diễn văn nghệ và 75 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở. Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến 14/7/2029), các đơn vị trên địa bàn tỉnh đã thực hiện 186 buổi biểu diễn văn nghệ (biểu diễn về cơ sở 180 buổi); tổ chức 580 buổi chiếu phim, 05 đợt phim, 02 tuần phim và 01 vở kịch tuyên truyền “Ngày Mai Tươi Sáng”. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 30.716 lượt khách, trong đó có 1.140 lượt khách quốc tế (Trong đó: Nhà trưng bày chính: 5.164 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.332 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 209 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 21.562 lượt; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 449 lượt). Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 13/7/2026) đã đón 201.744 lượt khách tham quan, trong đó có 15.568 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 50.612 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 35.442 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 6.841 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 100.423 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 8.426 lượt khách). + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 192 đoàn với 15.756 lượt khách (trong đó có 47 khách quốc tế); phục vụ 32 lễ viếng, 01 báo công, 01 tuyên dương, 01 kết nạp Đảng, 02 sinh hoạt chuyên đề. Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 10/7/2026) đã tiếp đón 1.267 đoàn khách tham quan với 90.663 lượt khách (trong đó có 298 khách nước ngoài); phục vụ: 169 lễ viếng, 09 báo công, 06 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 02 lễ rước đuốc và 10 sinh hoạt chuyên đề; tổ chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 12 đoàn với 1.292 lượt khách; lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 14/7/2026) đã đón 14.562 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 360 thẻ (thiếu nhi 192 thẻ), phục vụ 285.332 lượt bạn đọc, luân chuyển 14.477 lượt tài liệu, trưng bày 990 bản sách và 02 mô hình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị. Ngoài ra đã tổ chức các hoạt động phục vụ hè cho các em thiếu nhi trên địa bàn với các hoạt động “Hè vui đọc sách - Viết cảm nhận sách”, “Thi đọc sách nhanh và phát triển tư duy”, “Vẽ tranh theo chủ đề”,... Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 14/7/2026), Thư viện tỉnh cấp mới và gia hạn 5.950 thẻ (thiếu nhi 4.417 thẻ), phục vụ 1.683.233 lượt bạn đọc, luân chuyển 459.559 lượt tài liệu và trưng bày 144.063 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Phối hợp với Uỷ ban Olympic Việt Nam tổ chức Chương trình thể thao cộng đồng tại Phường Phan Thiết; phối hợp với Hiệp hội Thể thao Công an Nhân dân Việt Nam tổ chức Liên hoan khiêu vũ Thể thao Quốc tế Cúp CAND mở rộng; tổ chức Giải Vô địch Triathlon trẻ và U23 quốc gia năm 2026. Ngoài ra đã tổ chức các môn Bóng đá 11 người, Võ thuật Cổ truyền, Bóng chuyền 6 người, Cầu lông trong khuôn khổ Đại hội thể dục thể thao tỉnh. - Thể thao thành tích cao: Trong tháng, cử các đoàn tham gia 11 giải thể thao, đạt 123 huy chương (28 HCV, 31 HCB, 64 HCĐ). Tính đến thời điểm ngày 15/7/2026, đã tham dự 62 giải thể thao quốc gia và quốc tế, kết quả đạt được 459 huy chương (91 HCV, 121 HCB, 247 HCĐ), trong đó có 1 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 9 huy chương quốc tế (3 HCV, 1 HCB, 5 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Hoạt động giáo dục duy trì ổn định. Đã tổ chức thành công kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 nghiêm túc, an toàn và đúng quy chế. Kết quả, toàn tỉnh có 39.082/39.652 thí sinh được công nhận tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 98,56% (trong đó hệ THPT đạt 99,18%, hệ GDTX đạt 91,05%); toàn tỉnh có 49/131 đơn vị đạt tỷ lệ tốt nghiệp 100%. Đến nay, tỉnh đã triển khai thực hiện và hiệu quả chương trình giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên, phổ cập giáo dục và xóa mù chữ; đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục cho mọi đối tượng, nhất là các đối tượng là người dân tộc thiểu số, người sống vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trẻ mồ côi, trẻ em không nơi nương tựa, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo. Tính đến ngày 10/7/2026, toàn tỉnh có 947/1.433 trường công lập đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 66,09%. 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; tiếp tục thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 409 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 221 ca so với tháng trước (188 ca) và giảm 58 ca so với cùng kỳ (467 ca); không có trường hợp tử vong. Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 1.578 ca mắc, giảm 68 ca so với cùng kỳ (1.646 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 69 ổ dịch; lũy kế đến ngày 30/6/2026 đã phát hiện xử lý 224 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 392 ca mắc, giảm 201 ca so với tháng trước và giảm 165 ca so với cùng kỳ. Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 2.757 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 14 ca mắc, giảm 09 ca so với tháng trước và giảm 69 ca so với cùng kỳ. Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 83 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 4.054 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.540 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.273 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.329 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.836 trẻ, mũi 2 cho 3.765 trẻ và mũi 3 cho 4.329 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.992 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng có 01 bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 436 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 422 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý là 02 người (01 người tử vong và 01 người chuyển đi nơi khác). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 188 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 05 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 BN/100.000 dân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 39 bệnh nhân nhiễm HIV mới, 05 bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 01 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.866 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.795 người, tử vong 1.578 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 804.038 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 67.251 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 396.235 ngày, xét nghiệm cho 1.130.518 tiêu bản, chẩn đoán 269.020 hình ảnh và phẫu thuật 12.440 trường hợp. Ước 7 tháng năm 2026 tổ chức khám bệnh cho 2.985.641 lượt người; 243.585 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.256.544 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,14 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 98,67%; xét nghiệm cho 4.130.846 tiêu bản; chẩn đoán 1.013.824 hình ảnh và phẫu thuật cho 37.055 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 60 cơ sở thực phẩm, phát hiện 12 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 120,5 triệu đồng. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (do độc tố trong nấm hái tại rừng thông Kinh tế mới Châu Sơn, xã D’ran) làm 07 người mắc và 01 người tử vong. Lũy kế 7 tháng năm 2026 xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm làm 104 người mắc và 01 người tử vong. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; họp báo cung cấp thông tin về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm; đồng thời tuyên truyền các hoạt động “Chào Mùa du lịch hè 2026” và thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 02 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 01 giấy phép xác nhận thay đổi thông tin đăng ký hoạt động cơ sở in. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống được gìn giữ và phát huy; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS từng bước được cải thiện. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng; trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai đồng bộ, gắn với xây dựng nông thôn mới. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet, nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin vùng đồng bào DTTS và miền núi. - Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Công tác xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và vùng sâu, vùng xa được triển khai tích cực để đầu năm học 2026-2027 đưa vào sử dụng. Toàn tỉnh duy trì hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú và các cơ sở giáo dục phổ thông tại địa bàn khó khăn, bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh DTTS. Tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp đạt trên 99%; tỷ lệ học sinh DTTS trong độ tuổi đến trường ở cấp tiểu học đạt 97,3%; trung học cơ sở đạt khoảng 90,0%; trung học phổ thông đạt trên 70,0%. - Hệ thống y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Các hoạt động khám chữa bệnh, tiêm chủng,… tiếp tục được triển khai có hiệu quả. Người dân, đặc biệt là hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào DTTS được tiếp cận các dịch vụ y tế để khám chữa bệnh, qua đó góp phần giảm thiểu bệnh tật và nâng cao chất lượng sống cho người đồng bào DTTS. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. - Phật giáo: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng tổ chức Trại họp bạn Lục Hòa 2026 Gia đình Phật tử Lâm Đồng khu vực 1 cho khoảng 300 Huynh trưởng, đoàn sinh tại chùa Pháp Vân, xã Đức Trọng và tổ chức Liên trại huấn luyện Huynh trưởng sơ cấp Lộc Uyển và A Dục lần thứ I Gia đình Phật tử Lâm Đồng khu vực 2 cho khoảng 190 Huynh trưởng, đoàn sinh tại chùa Linh Sơn, xã Tánh Linh. Ngoài ra, các cơ sở thờ tự tổ chức nhiều khóa tu mùa hè cho thanh thiếu niên theo đạo Phật trên địa bàn tỉnh. - Công giáo: Giáo phận Ban Mê Thuột tổ chức lễ Tĩnh huấn hiền mẫu; Tĩnh huấn Ban thường vụ Hội đồng giáo xứ tại Trung tâm hành hương Đồi Thánh Tâm, xã Đức Lập; mỗi cuộc lễ có khoảng 2.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận. Giáo phận Ban Mê Thuột khánh thành nhà thờ; làm phép nhà giáo lý; làm phép 14 chặng đàng thánh giá tại Giáo xứ Thiên Ân, xã Tuy Đức; tham dự có khoảng 1.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận. Giáo phận Đà Lạt chủ trì Thánh lễ đặt đá xây dựng nhà thờ Giáo xứ Xà Lùng, xã Hoà Ninh. Tham dự lễ có gần 1.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân địa phương. - Tin lành: Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh Lâm Đồng thông báo phong phẩm Mục sư nhiệm chức 21 trường hợp; tổ chức lễ ra mắt các Chi hội Tin Lành Tô Rơ Ne, xã Hòa Ninh và Chi hội Tin Lành Bột Be, xã Hòa Ninh; mỗi buổi lễ có khoảng trên 600 người là chức sắc, chức việc, tín hữu trong và ngoài chi hội tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 258 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công và giải quyết 230 hồ sơ về chế độ mai táng phí liên thông theo Đề án 06. Đã phê duyệt kinh phí hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở cho 03 người có công với cách mạng tại phường Hàm Thắng với kinh phí hỗ trợ 250 triệu đồng. Thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng theo quy định; đã giải quyết cho 14.318 đối tượng nhận trợ cấp không dùng tiền mặt qua tài khoản cá nhân. Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Tính đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 320.083 người tham gia BHXH, đạt 100,94% kế hoạch và tăng 15,90% so với cùng kỳ; 239.615 người tham gia BHTN, đạt 103,12% kế hoạch và tăng 13,96%; 3.134.199 người tham gia BHYT, đạt 98,79% kế hoạch và tăng 8,72%. Tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 92,52% dân số. Trong tháng 6/2026, đã giải quyết mới 11.243 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.987 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 246 người; trợ cấp 1 lần cho 2.615 người; chế độ ốm đau cho 6.736 người; chế độ thai sản cho 1.321 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 325 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.826 người và hỗ trợ học nghề cho 161 người). Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 58.461 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 10.319 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 981 người; trợ cấp 1 lần cho 13.746 người; chế độ ốm đau cho 34.049 người; chế độ thai sản cho 7.591 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 2.094 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 9.793 người và hỗ trợ học nghề cho 526 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/6 - 14/7/2026) Trong tháng xảy ra 58 vụ tai nạn giao thông, tăng 4 vụ so với tháng trước và giảm 15 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 39 người, giảm 01 người so với tháng trước và giảm 14 người so với cùng kỳ; số người bị thương là 28 người, giảm 13 người so với tháng trước và giảm 16 người so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 403 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 104 vụ so với cùng kỳ; số người chết 262 người, tương đương so với cùng kỳ; số người bị thương 258 người, giảm 137 người so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 25/6 - 23/7/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ thiên tai do mưa lớn kèm theo lốc xoáy; thiên tai đã làm 02 căn nhà bị tốc mái, 10 ha lúa 80 ngày tuổi bị ảnh hưởng, xói lở 100 mét đường dân sinh, 26 cây sầu riêng 7 năm tuổi bị đổ ngã,... Lũy kế 7 tháng năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ thiên tai làm 01 người chết, 02 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 13 căn nhà bị hư hỏng, 153 căn bị ảnh hưởng nhẹ, 02 căn phòng làm việc bị tốc mái hoàn toàn, 10,6 ha lúa sạ bị ngập, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 69,6 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại (qua kết quả đánh giá lại) là 29,66 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/6 - 15/7/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy nổ, giảm 01 vụ so với tháng trước và giảm 03 vụ so với cùng kỳ; đang thống kê thiệt hại. Lũy kế 7 tháng năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 40 vụ cháy, tăng 10 vụ so với cùng kỳ, làm 02 người chết và 02 người bị thương. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra (tháng 7/2025 cũng không xảy ra). Lũy kế 7 tháng năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 15 vụ so với cùng kỳ, đã xử phạt 415 triệu đồng (7 tháng năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Trong 7 tháng năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực, nhiều lĩnh vực đạt kết quả khá, tạo nền tảng thuận lợi để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Nông nghiệp phát triển ổn định, sản xuất được duy trì đúng thời vụ, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 2,02% so với cùng kỳ; chăn nuôi tăng trưởng khá với sản lượng thịt hơi tăng 11,68%; sản lượng khai thác thủy sản tăng 3,58%. Khu vực công nghiệp tăng trưởng khá, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,48%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 17,25%, khai khoáng tăng 19,12%; vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tăng 11,55% so với cùng kỳ. Hoạt động sản xuất, kinh doanh có nhiều tín hiệu tích cực, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 34,52% với tổng vốn đăng ký tăng 38,46%; đồng thời thu hút 38 dự án đầu tư mới. Khu vực thương mại và dịch vụ duy trì mức tăng khá, phản ánh sức mua và nhu cầu đi lại, du lịch tiếp tục được cải thiện. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 18,08%; doanh thu du lịch tăng 21,96%, tổng lượt khách phục vụ tăng 18,58%; doanh thu vận tải, kho bãi tăng 23,82%. Hoạt động du lịch hè diễn ra sôi động, thời gian lưu trú của khách có xu hướng cải thiện, tạo tác động lan tỏa đến lưu trú, ăn uống, vận tải và các dịch vụ hỗ trợ. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm; kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông được tổ chức an toàn, tỷ lệ tốt nghiệp đạt cao; số người tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp tăng. Công tác chăm sóc sức khỏe, thực hiện chính sách đối với người có công và đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai kịp thời. Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số hạn chế, khó khăn. Dịch tả lợn châu Phi vẫn diễn biến phức tạp, còn 07 xã chưa qua 21 ngày có dịch. Tình trạng vi phạm lâm luật tiếp tục gia tăng. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt tỷ lệ thấp; dư nợ tín dụng chỉ tăng 2,30% so với cuối năm 2025, thấp hơn nhiều so với huy động vốn tăng 9,04%. Sản lượng oxit nhôm và điện sản xuất tăng còn thấp so với tốc độ chung. Số doanh nghiệp giải thể tăng 74,46%; thu về nhà, đất mới đạt 37,41% dự toán. Tai nạn giao thông giảm về số vụ và số người bị thương nhưng số người chết không giảm. Áp lực lạm phát còn hiện hữu khi CPI bình quân 7 tháng tăng 4,3%, chủ yếu do giá nhà ở, vật liệu xây dựng, thực phẩm, giao thông và giáo dục tăng. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng tổng kết Tổng điều tra kinh tế năm 2026
  •   01/08/2026 08:37

Sáng ngày 30/7/2026, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tổng kết và khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong quá trình triển khai Tổng điều tra trên địa bàn tỉnh. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến 15 điểm cầu Thống kê cơ sở. Đồng chí Võ Ngọc Hiệp, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có đồng chí Phạm Quốc Hùng, Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo tỉnh; các thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo tỉnh; đại diện lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh; lãnh đạo Thống kê tỉnh; các giám sát viên cấp tỉnh; lãnh đạo các phòng chuyên môn thuộc Thống kê tỉnh; đại diện Ban Chỉ đạo và lãnh đạo UBND một số xã, phường cùng các tập thể, cá nhân được khen thưởng. Tại 15 điểm cầu trực tuyến có đại diện Ban Chỉ đạo Tổng điều tra cấp xã; lãnh đạo UBND cấp xã; lãnh đạo, công chức các Thống kê cơ sở và các tập thể, cá nhân được biểu dương, khen thưởng trong quá trình tổ chức thực hiện Tổng điều tra. Mở đầu Hội nghị, các đại biểu theo dõi video clip khái quát quá trình tổ chức và triển khai Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Những hình ảnh thực tế đã phản ánh rõ khối lượng công việc lớn, phạm vi điều tra rộng, yêu cầu nghiệp vụ cao, đồng thời ghi nhận tinh thần trách nhiệm, sự chủ động và phối hợp đồng bộ của Ban Chỉ đạo các cấp, ngành Thống kê, chính quyền địa phương, lực lượng giám sát viên, điều tra viên và các đơn vị cung cấp thông tin. Thông qua quá trình tổ chức Tổng điều tra, vai trò của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương tiếp tục được phát huy. Sự phối hợp giữa cơ quan Thống kê với các cơ quan quản lý nhà nước, các xã, phường và đơn vị điều tra đã góp phần bảo đảm tiến độ thu thập thông tin, nâng cao chất lượng dữ liệu và xử lý kịp thời những khó khăn, vướng mắc phát sinh tại cơ sở. Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin toàn diện, đồng bộ và tin cậy về thực trạng hoạt động của các đơn vị kinh tế trên địa bàn. Đây là cơ sở phục vụ Đảng, Nhà nước, các cấp và các ngành trong đánh giá tình hình, hoạch định chiến lược, xây dựng chính sách và điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Tổng điều tra cũng là bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới phương thức sản xuất thông tin thống kê, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Việc tăng cường sử dụng nền tảng số trong khâu lập danh sách, thu thập, kiểm tra, giám sát và xử lý dữ liệu đã góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, giảm thời gian tổng hợp và từng bước hiện đại hóa hoạt động thống kê. Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Tỉnh, Phó Trưởng Thống kê tỉnh trình bày báo cáo tóm tắt kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng. Một trong những kết quả đáng ghi nhận là tiến độ Tổng điều tra được rút ngắn đáng kể so với kế hoạch ban đầu. Nhờ đổi mới phương thức tổ chức và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, giai đoạn 1 hoàn thành sớm hơn 20 ngày; thời gian thu thập thông tin giai đoạn 2 giảm từ 6 tháng xuống còn 2 tháng. Báo cáo kết quả sơ bộ được công bố sớm hơn 7 tháng, trong khi kết quả chính thức dự kiến được công bố sớm hơn 9 tháng so với kế hoạch ban đầu. Kết quả này thể hiện sự nỗ lực lớn của ngành Thống kê, Ban Chỉ đạo các cấp và toàn bộ lực lượng tham gia Tổng điều tra trong việc vừa bảo đảm tiến độ, vừa tuân thủ yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ và chất lượng thông tin. Hội nghị cũng dành thời gian để các đơn vị trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình triển khai Tổng điều tra tại các Ban Chỉ đạo cấp  xã. Các tham luận tập trung làm rõ công tác chỉ đạo, điều hành tại cơ sở; việc huy động lực lượng tham gia; phương pháp tiếp cận đơn vị điều tra; công tác tuyên truyền, vận động cung cấp thông tin; kiểm tra tiến độ và xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình thu thập dữ liệu. Thông qua các tham luận, nhiều bài học kinh nghiệm và cách làm hiệu quả đã được chia sẻ. Trong đó, nổi bật là vai trò của người đứng đầu chính quyền địa phương; sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban Chỉ đạo cấp xã với Thống kê cơ sở; việc thường xuyên kiểm tra tiến độ, rà soát chất lượng phiếu và chủ động hỗ trợ điều tra viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Hội nghị cũng thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tổ chức các cuộc điều tra thống kê trong thời gian tới. Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Võ Ngọc Hiệp, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng ghi nhận và biểu dương những nỗ lực của ngành Thống kê với vai trò là cơ quan thường trực, tham mưu tổ chức thực hiện Tổng điều tra trên địa bàn tỉnh. Đồng chí cũng biểu dương tinh thần trách nhiệm của Ban Chỉ đạo các cấp, chính quyền địa phương, các sở, ngành, điều tra viên, giám sát viên và các đơn vị cung cấp thông tin. Sự phối hợp trách nhiệm, đồng bộ của các lực lượng đã góp phần quan trọng vào kết quả chung của cuộc Tổng điều tra. Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Thống kê tỉnh tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành và địa phương kiểm tra, đối chiếu, rà soát và hoàn thiện cơ sở dữ liệu Tổng điều tra; bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác, thống nhất, khách quan và đúng phương pháp thống kê. Đồng chí nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường kết nối và khai thác dữ liệu hành chính; nâng cao hiệu quả chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan Thống kê với cơ quan Thuế, Kho bạc, Hải quan, cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan quản lý chuyên ngành. Việc khai thác hiệu quả dữ liệu hành chính sẽ góp phần giảm trùng lặp trong thu thập thông tin, tiết kiệm nguồn lực và nâng cao chất lượng số liệu thống kê phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành. Theo kết quả đánh giá, nghiệm thu, tỉnh Lâm Đồng được xếp loại Giỏi, đứng thứ 17 trong tổng số 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đây là kết quả ghi nhận sự nỗ lực của Ban Chỉ đạo các cấp, ngành Thống kê, các sở, ngành, địa phương và lực lượng trực tiếp tham gia Tổng điều tra. Nhân dịp này, 2 tập thể và 7 cá nhân có thành tích xuất sắc được Bộ Tài chính tặng Bằng khen. Trưởng Thống kê tỉnh tặng Giấy khen cho 20 tập thể và 212 cá nhân có thành tích trong tổ chức và thực hiện Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên địa bàn tỉnh. Việc tổ chức thành công Tổng điều tra kinh tế năm 2026 không chỉ tạo lập nguồn dữ liệu quan trọng phản ánh quy mô, cơ cấu và nguồn lực của nền kinh tế, mà còn góp phần nâng cao năng lực tổ chức các cuộc điều tra thống kê, thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới phương thức hoạt động của ngành Thống kê. Kết quả Tổng điều tra sẽ tiếp tục được kiểm tra, hoàn thiện, phân tích và khai thác để phục vụ công tác quản lý nhà nước, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, hoạch định chính sách và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của các cấp, các ngành, địa phương trong giai đoạn mới. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG Một số hình ảnh tại Hội nghị:Đồng chí Võ Ngọc Hiệp, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng phát biểu chỉ đạo Hội nghịĐồng chí Phạm Quốc Hùng, Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng ban thường trực, Ban chỉ đạo Tổng điều tra tỉnh

Hội nghị Tổng kết Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương
  •   17/07/2026 07:43

Chiều ngày 13/7/2026, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương tổ chức Hội nghị tổng kết Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Hà Nội, kết hợp trực tuyến đến 34 điểm cầu Thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đồng chí Ngô Văn Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương; lãnh đạo các đơn vị thuộc Cục Thống kê; các giám sát viên Trung ương; đại diện các tập thể, cá nhân được Bộ Tài chính tặng Bằng khen và các đại biểu liên quan. Tại điểm cầu tỉnh Lâm Đồng, đồng chí Võ Ngọc Hiệp, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng chủ trì. Cùng tham dự có lãnh đạo Thống kê tỉnh; thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; đại diện các tập thể, cá nhân được Bộ Tài chính tặng Bằng khen và các đơn vị liên quan. Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, Tổng điều tra kinh tế năm 2026 được triển khai trong bối cảnh cả nước đang thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, hướng tới mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng cao, xây dựng đất nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Kết quả Tổng điều tra có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin toàn diện, đồng bộ và tin cậy, phục vụ Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành hoạch định chiến lược, xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, đây cũng là bước quan trọng trong quá trình chuyển đổi số của ngành Thống kê, góp phần từng bước hình thành phương thức thu thập, xử lý và phổ biến thông tin thống kê hiện đại, hiệu quả. Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Ủy viên Ban Chỉ đạo, Tổ trưởng Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương trình bày báo cáo kết quả tổ chức thực hiện cuộc Tổng điều tra. Báo cáo tập trung đánh giá toàn diện công tác chuẩn bị, xây dựng phương án, tập huấn nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ thông tin, tổ chức thu thập, kiểm tra, giám sát, nghiệm thu và xử lý dữ liệu; đồng thời chỉ ra những khó khăn, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai. Tại tỉnh Lâm Đồng, ngay từ khi triển khai Tổng điều tra, Ban Chỉ đạo tỉnh đã chủ động xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương; thường xuyên theo dõi tiến độ, kiểm tra chất lượng và kịp thời xử lý những khó khăn phát sinh. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Ban Chỉ đạo các cấp, sự phối hợp trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và nỗ lực của đội ngũ điều tra viên, giám sát viên, tỉnh Lâm Đồng đã hoàn thành Tổng điều tra kinh tế năm 2026 đúng tiến độ, bảo đảm phạm vi và chất lượng theo yêu cầu của Ban Chỉ đạo Trung ương. Theo kết quả đánh giá, nghiệm thu, tỉnh Lâm Đồng được xếp loại Giỏi, đứng thứ 17/34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; có 2 tập thể và 7 cá nhân được Bộ Tài chính tặng Bằng khen. Kết quả này ghi nhận tinh thần trách nhiệm và sự phối hợp chặt chẽ của Ban Chỉ đạo các cấp, các sở, ngành, địa phương cùng toàn thể lực lượng tham gia Tổng điều tra trên địa bàn tỉnh. Phát biểu bế mạc Hội nghị, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đánh giá cao tinh thần trách nhiệm và sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương và toàn ngành Thống kê trong quá trình triển khai Tổng điều tra. Bộ trưởng đề nghị Cục Thống kê và Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương tiếp tục tập trung rà soát, làm sạch, xử lý và thẩm định dữ liệu; xây dựng các báo cáo chuyên đề và công bố kết quả chính thức theo đúng kế hoạch. Bên cạnh đó, ngành Thống kê cần đẩy mạnh khai thác, phổ biến và ứng dụng kết quả Tổng điều tra, bảo đảm dữ liệu được sử dụng hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, hoạch định chính sách và xây dựng các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 không chỉ phản ánh toàn diện quy mô, cơ cấu và nguồn lực của nền kinh tế, mà còn tạo nền tảng để ngành Thống kê tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng thông tin và đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý, điều hành trong giai đoạn mới./. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG Một số hình ảnh tại Hội nghị:Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương phát biểu chỉ đạo Hội nghị.Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương, Ủy viên Ban Chỉ đạo, Tổ trưởng Tổ Thường trực Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương trình bày báo cáo kết quả tổ chức thực hiện cuộc Tổng điều traĐồng chí Võ Ngọc Hiệp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng tham dự Hội nghị tại điểm cầu của tỉnh.Toàn cảnh Hội nghị tại điểm tỉnh Lâm Đồng

Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026
  •   06/07/2026 10:23

Chiều ngày 03/7/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026. Ông Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì buổi họp báo. Tham dự họp báo có các Phó Trưởng Thống kê tỉnh; lãnh đạo các phòng nghiệp vụ; công chức Phòng Thống kê Tổng hợp; đại diện Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Báo và Phát thanh - Truyền hình Lâm Đồng, Cổng thông tin điện tử UBND tỉnh, cùng phóng viên các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương hoạt động trên địa bàn tỉnh. Thông tin tại họp báo, ông Phạm Quốc Hùng cho biết tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý II/2026 ước tăng 9,22% so với cùng kỳ năm trước; GRDP 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 7,90%. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,05%, đóng góp 1,18 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,43%, đóng góp 2,30 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,17%, đóng góp 4,00 điểm phần trăm và tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định. Diện tích gieo trồng vụ đông xuân đạt 106.482 ha, tăng 0,82% so với cùng kỳ; sản lượng lúa đạt khoảng 370 nghìn tấn, tăng 1,14%; sản lượng ngô tăng 12,21%. Diện tích cây lâu năm đạt hơn 635 nghìn ha, trong đó cà phê đạt 329.488 ha, tăng 1,29%; sầu riêng đạt 44.246 ha, tăng 4,25%. Chăn nuôi duy trì tăng trưởng; tổng đàn lợn đạt 1,54 triệu con, tăng 5,43%; đàn gia cầm đạt 23,6 triệu con, tăng 8,69%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 185.269 tấn, tăng 9,69%. Sản xuất công nghiệp tăng khá, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 9,6% so với cùng kỳ. Ngành chế biến, chế tạo tăng 16,92%; khai khoáng tăng 19,02%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực có mức tăng cao, gồm giày dép tăng 29,21%, phân bón tăng 20,65%, đá xây dựng tăng 19,15%, thủy sản chế biến tăng 19,12% và rau quả chế biến tăng 15,38%. Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp tiếp tục có chuyển biến. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 51.950 tỷ đồng, tăng 14,38% so với cùng kỳ; vốn khu vực ngoài nhà nước chiếm trên 80% tổng vốn đầu tư. Trong 6 tháng, toàn tỉnh có 2.382 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 58,38%, với tổng vốn đăng ký gần 12.000 tỷ đồng; đồng thời thu hút 31 dự án đầu tư mới, tổng vốn đăng ký hơn 143.900 tỷ đồng. Thương mại, dịch vụ và du lịch duy trì đà tăng trưởng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 97.606,7 tỷ đồng, tăng 17,33%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành tăng 23,91%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng tăng 4,40%. Toàn tỉnh đón gần 12 triệu lượt khách, tăng 18,08%, trong đó khách quốc tế đạt 825 nghìn lượt, tăng 18,6%. Doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 33.310 tỷ đồng, tăng 22,15%; doanh thu lưu trú tăng 23,25% và doanh thu lữ hành tăng 41,8%. Doanh thu vận tải, kho bãi đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12%. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 18.623,9 tỷ đồng, bằng 54,08% dự toán năm và tăng 11,06% so với cùng kỳ. Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng ước đạt 243.000 tỷ đồng, tăng gần 6% so với cuối năm 2025, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. Bên cạnh kết quả đạt được, kinh tế - xã hội của tỉnh còn một số khó khăn: tiến độ giải ngân và triển khai một số dự án đầu tư còn chậm; hoạt động xây dựng chưa đạt kỳ vọng; mức độ phục hồi của một số ngành công nghiệp và vận tải hành khách chưa đồng đều. Đây là những vấn đề cần tiếp tục theo dõi, đánh giá và có giải pháp phù hợp trong 6 tháng cuối năm. Tại phần trao đổi, lãnh đạo Thống kê tỉnh đã trả lời, làm rõ các câu hỏi của cơ quan báo chí liên quan đến tăng trưởng GRDP; tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp; dịch vụ; đầu tư; cũng như triển vọng tăng trưởng 6 tháng cuối năm và các điều kiện để phấn đấu thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG   Một số hình ảnh tại buổi họp báo:Ông Phạm Quốc Hùng, Trưởng Thống kê tỉnh, thông tin tại họp báo.Toàn cảnh phiên chủ trì họp báo.Đại biểu và phóng viên tham dự họp báo.Trình bày các chỉ tiêu kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   03/07/2026 16:56

Tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, chi phí đầu vào chịu áp lực tăng, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục tập trung chỉ đạo phục hồi sản xuất, thúc đẩy đầu tư, thương mại, dịch vụ, du lịch và bảo đảm an sinh xã hội. Nhìn chung, kinh tế - xã hội duy trì đà tăng trưởng khá; quý II có chuyển biến tích cực hơn quý I, song một số lĩnh vực vẫn tăng chưa tương xứng với kịch bản điều hành, nhất là xây dựng, một số sản phẩm công nghiệp, vận tải hành khách, thu nhà đất và tiến độ chuyển hóa vốn đầu tư thành khối lượng thực hiện. Tình hình cụ thể như sau: I. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý II/2026 tăng trưởng tích cực, ước tăng 9,22% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 6 tháng đầu năm 2026, GRDP tăng 7,90%. Kết quả này cho thấy đà phục hồi và phát triển của nền kinh tế tiếp tục được củng cố, trong đó cả ba khu vực kinh tế đều duy trì mức tăng khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,05%, đóng góp 1,18 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,43%, đóng góp 2,30 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,17%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp 4,00 điểm phần trăm. Đối với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản xuất nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng, duy trì tăng trưởng ổn định trong bối cảnh còn chịu tác động của thời tiết, thị trường và dịch bệnh. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,15% so với cùng kỳ, đóng góp 1,00 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành lâm nghiệp tăng 4,54%, tuy nhiên do chiếm tỷ trọng thấp nên đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,49%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng khá, trong đó công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,81% so với cùng kỳ, đóng góp 1,72 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Đáng chú ý, công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao, lần lượt đạt 17,67% và 16,76%, đóng góp tương ứng 0,10 và 0,98 điểm phần trăm. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,09%, đóng góp 0,62 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,58%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ tiếp tục phục hồi mạnh trong 6 tháng đầu năm 2026. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ tăng 9,17% so với cùng kỳ, nhờ hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ tiêu dùng tiếp tục khởi sắc. Trong đó, ngành bán buôn và bán lẻ tăng 11,34%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm; vận tải, kho bãi tăng 14,81%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 13,40%, đóng góp 0,93 điểm phần trăm; thông tin và truyền thông tăng 7,35%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm. Một số ngành dịch vụ khác cũng đạt mức tăng khá góp phần củng cố xu hướng phục hồi và mở rộng của khu vực dịch vụ. II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò ổn định của nền kinh tế. Trồng trọt duy trì nhịp tăng nhờ thời tiết cơ bản thuận lợi, nguồn nước phục vụ sản xuất được bảo đảm; chăn nuôi tăng khá, nhất là lợn và gia cầm; thủy sản khai thác và sản xuất tôm giống tiếp tục phát huy lợi thế. Tuy nhiên, khu vực này vẫn chịu sức ép từ chi phí vật tư, nhiên liệu, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi và biến động giá một số nông sản chủ lực. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm - Kết quả sản xuất vụ Đông xuân: Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 106.482 ha, tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cây lương thực ước đạt 61.950 ha, tăng 1,02% (lúa diện tích ước đạt 55.400 ha, tăng 0,16%, năng suất ước đạt 66,79 tạ/ha, tăng 0,65 tạ/ha; sản lượng ước đạt 370.000 tấn, tăng 1,14%; ngô diện tích ước đạt 6.550 ha, tăng 9,0%, năng suất ước đạt 74,81 tạ/ha, tăng 2,14 tạ/ha; sản lượng ước đạt 49.000 tấn, tăng 12,21%). Nhóm cây chất bột diện tích ước đạt 3.670,3 ha, tăng 0,68% so với cùng kỳ năm trước (tăng chủ yếu ở cây khoai sọ, khoai môn). Nhóm cây có hạt chứa dầu, chủ yếu là cây đậu phộng, diện tích gieo trồng ước đạt 1.360,7 ha, tăng 0,42% so với cùng kỳ năm trước; năng suất ước đạt 22,78 tạ/ha, tăng 0,40 tạ/ha; sản lượng ước đạt 3.100 tấn, tăng 2,21%. Nhóm cây rau, đậu các loại và hoa diện tích gieo trồng ước đạt 34.000 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: diện tích rau các loại 27.000 ha, tăng 1,02%; năng suất ước đạt 337,04 tạ/ha, tăng 10,65 tạ/ha, sản lượng ước đạt 910.000 tấn, tăng 4,31%). Đã chuyển đổi 3.987,6 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng các cây ngắn ngày khác góp phần nâng hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm nước tưới và hạn chế sâu bệnh. - Tiến độ sản xuất vụ Hè thu: Mùa mưa đến sớm, lượng mưa phân bổ tương đối đều tạo điều kiện để nông dân xuống giống sớm. Ước đến ngày 15/6/2025 toàn tỉnh xuống giống vụ Hè thu đạt 45.501 ha, tăng 6,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lúa diện tích đạt 9.495 ha, tăng 3,14%; ngô diện tích đạt 8.830 ha, giảm 1,84%; cây lang diện tích đạt 1.779 ha, tăng 6,55%; đậu phộng diện tích đạt 1.745 ha, tăng 6,10%; cây rau các loại diện tích đạt 13.270 ha, tăng 13,26%; cây đậu các loại diện tích đạt 1.391 ha, tăng 6,3%. 1.2. Cây lâu năm Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 635.258 ha, tăng 0,54% so với cùng kỳ. Cơ cấu cây lâu năm tiếp tục dịch chuyển theo hướng nâng tỷ trọng cây có giá trị kinh tế cao như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, dâu tằm; trong khi một số cây hiệu quả thấp hoặc già cỗi như điều, chè tiếp tục giảm diện tích. Một số cây chủ lực có diễn biến như sau: - Cây cà phê: Diện tích hiện có 329.488 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tỉa cành, làm cỏ,...; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.375 ha, tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 31.182,5 tấn, tăng 5,55%. Diện tích cao su trồng mới có khả năng tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do nông dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư; - Cây điều: Diện tích điều hiện có 45.715 ha, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 36.183,9 tấn, giảm 7,48%. Diện tích điều tiếp tục có xu hướng giảm so với cùng kỳ do người dân chuyển sang trồng mới các loại cây có hiệu quả kinh tế vượt trội hơn như cà phê, sầu riêng, chanh leo, dâu tằm,…; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.246 ha, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 126.745 tấn, tăng 12,74%; sản lượng tăng cao so với cùng kỳ do diện tích cho thu hoạch tăng; - Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có 37.673 ha, tăng 1,31% so với cùng kỳ năm trước; hiện đã hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026, sản lượng thu hoạch ước đạt 94.193 tấn, tăng 5,65%. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao trong những tháng đầu năm 2026, đây là động lực giúp người nông dân tái đầu tư và chăm sóc vườn cây tốt hơn; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.851 ha, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 345.655 tấn, tăng 0,88%. “Đề án phát triển bền vững cây thanh long đến năm 2030” tạo định hướng rõ ràng phát triển cây thanh long theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm. Thanh long Lâm Đồng đã được Liên minh châu Âu EU bảo hộ chỉ dẫn địa lý và thương hiệu được bảo hộ tại nhiều quốc gia, xu hướng tiêu dùng nông sản sạch, truy xuất nguồn gốc tiếp tục mở ra cơ hội xuất khẩu; - Cây chè: Diện tích hiện có 9.184 ha, giảm 2,55% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 48.331 tấn, giảm 4,02%. Diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...; - Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.150 ha, tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 147.790 tấn, tăng 4,46%. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Nguồn nước phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân 2025 - 2026, vụ Hè Thu năm 2026 và nhu cầu dân sinh được theo dõi, điều tiết thường xuyên. Đến ngày 02/6/2026, tổng diện tích được cấp nước tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện đạt 34.094 ha (đạt 30,8% diện tích sản xuất nông nghiệp). Công tác kiểm tra an toàn hồ, đập, cảnh báo vùng hạ du và xử lý nguy cơ sạt lở được tăng cường, góp phần giảm rủi ro trong mùa mưa. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong 6 tháng đầu năm 2026, dịch bệnh trên cây trồng nhìn chung được kiểm soát, song vẫn xuất hiện cục bộ trên một số cây trồng chủ lực: Sầu riêng, bệnh xì mủ, thối rể gây hại 2.164 ha (108 ha nhiễm nặng); Điều, bọ xít muỗi gây hại 3.931 ha, bệnh thán thư gây hại 3.043 ha; Dâu tằm, bệnh tuyến trùng gây hại 119 ha; Cà phê chè, bọ xít muỗi gây hại 2.229 ha; Cà chua, sâu đục lá Nam Mỹ gây hại 1,7 ha, bệnh xoăn lá virus gây hại 103 ha; Lúa, bệnh đạo ôn lá gây hại 465 ha, ốc bươu vàng gây hại 544 ha, sâu đục thân gây hại 245 ha; Thanh long, bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha, bệnh thán thư cành, quả gây hại 208 ha, ốc sên gây hại 156 ha. 2. Chăn nuôi Chăn nuôi tiếp tục là điểm sáng của khu vực nông nghiệp. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với cùng kỳ, nguồn cung thịt, trứng, sữa cơ bản bảo đảm cho thị trường. Sản lượng thịt hơi các loại tháng 6 ước đạt 23.525,1 tấn, tăng 11,96%; quý II đạt 92.044,9 tấn, tăng 9,54%; lũy kế 6 tháng đạt 185.269 tấn, tăng 9,69%. Kết quả này chủ yếu nhờ chăn nuôi trang trại, liên kết với doanh nghiệp và công tác phòng, chống dịch bệnh được chú trọng. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,5 nghìn con, tăng 0,28% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tương đối ổn định nhờ người dân tận dụng các vùng chăn thả và nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,4 nghìn con, tăng 2,87% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 31,0 nghìn con, tăng 0,58%). Quy mô đàn bò tiếp tục tăng nhờ công tác cải tạo giống, mở rộng diện tích đồng cỏ, tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp và duy trì các chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt đối với chăn nuôi bò sữa. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.541,5 nghìn con, tăng 5,43% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.259,4 nghìn con, tăng 5,48%). Quy mô đàn lợn tăng khá nhờ chăn nuôi trang trại phát triển, các mô hình liên kết sản xuất với doanh nghiệp tiếp tục được mở rộng, công tác phòng chống dịch bệnh được tăng cường và giá lợn hơi duy trì ở mức có lợi cho người chăn nuôi. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ lợn thịt của các doanh nghiệp chế biến, cơ sở giết mổ và thị trường trong nước tăng, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm chăn nuôi. Trước triển vọng thị trường thuận lợi, nhiều doanh nghiệp và trang trại đã chủ động tăng quy mô đàn, tái đàn và đầu tư mở rộng sản xuất, góp phần thúc đẩy tổng đàn lợn trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước (Công ty TNHH Việt Hoàng T&T tăng từ 7,07 nghìn con lên 23 nghìn con; Công ty TNHH Bách Minh tăng từ 4,1 nghìn con lên 6,57 nghìn con; Công ty TNHH Khang Thọ, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam - Chi nhánh Lâm Đồng, Công ty Chăn nuôi Duy Ngọc Đạ Huoai đều có quy mô đàn tăng từ 0,5 đến dưới 2,0 nghìn con so với cùng kỳ năm trước). - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 23.600 nghìn con, tăng 8,69% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.337 nghìn con, chiếm 69,22% trong tổng đàn gia cầm, tăng 8,46%). Quy mô đàn gia cầm tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, khả năng thích ứng linh hoạt với thị trường, cùng với việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh phát sinh tại 01 hộ trên địa bàn xã Đức An, đã tiêu hủy 800 con/43,33 tấn. Lũy kế từ 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 14.877 con lợn mắc bệnh với tổng trọng lượng 744,01 tấn; đến nay còn 03 xã có ổ dịch chưa qua 21 ngày. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả (đã phân bổ bổ sung 15.000 liều vắc xin phòng bệnh Cúm gia cầm cho xã Nam Ban để triển khai tiêm phòng, nâng cao khả năng miễn dịch cho đàn gia cầm). Các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi như: Dại, tai xanh, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, cúm gia cầm không xảy ra. Công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất, nhập tỉnh được duy trì thực hiện theo đúng quy định; công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y tiếp tục được tăng cường. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, diện tích trồng rừng ước đạt 2.221 ha, tăng 5,54% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.226 ha, tăng 5,2%; diện tích trồng cây phân tán ước đạt 5,6 triệu cây, tăng 3,36% so với cùng kỳ. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.705 m3, tăng 4,94% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 129.224 m3, tăng 5,02%, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 233.289 m3, tăng 3,89%. - Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 30.123 ste, tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 86.622 ste, tăng 1,84%; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 180.081 ste, tăng 1,98%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (từ 10/5/2026 - 10/6/2026) là 60 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 31 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 5,3 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 15 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 20 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 4,3 ha). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 (từ 10/12/2025 - 10/6/2026), tổng số vụ vi phạm là 300 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 136 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 22,7 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 42 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 34 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 5,9 ha). - Công tác phòng, chống cháy rừng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã triển khai thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô năm 2026, tập trung theo dõi và thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn các xã, phường; cập nhật kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát, xác định các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao trên địa bàn; tổ chức trực và canh gác tại các khu rừng có nguy cơ cháy rừng cao khi dự báo cháy rừng cấp III, IV, V. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 1,1 ha; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 02 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,1 ha. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,7 ha. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng tháng 6 ước đạt 487,8 ha, tăng 1,59% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.873,4 ha, tăng 1,43% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 2.581,6 ha, tăng 1,25%; diện tích nuôi tôm đạt 269,1 ha, tăng 3,46%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.305,3 tấn, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 395 tấn, tăng 10,92%); quý II/2026 ước đạt 6.934,1 tấn, giảm 0,16% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.160,7 tấn, tăng 6,23%); lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13.890 tấn, tăng 0,45% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 2.311,2 tấn, tăng 4,95%) - Khai thác thủy sản: Những tháng đầu năm, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền bám biển hoạt động khai thác ổn định; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho một số nghề như lưới kéo, vây rút chì, lưới rê, mành. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, đảo Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 25.660 tấn, tăng 3,04% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 25.560 tấn, tăng 2,84%); quý II/2026 ước đạt 66.843,5 tấn, tăng 3,1% (sản lượng khai thác biển đạt 66.578,5 tấn, tăng 2,92%); lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.113,5 tấn, tăng 3,29% (sản lượng khai thác biển đạt 119.700,2 tấn, tăng 3,19%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,8 tỷ post, tăng 32,06% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026 ước đạt 7,3 tỷ post, tăng 17,2%; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,2 tỷ post, tăng 10,01%. 5. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông vào sản xuất Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác đào tạo, tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ, khuyến nông tiếp tục được đẩy mạnh và mang lại hiệu quả tích cực (đã triển khai 12 lớp tập huấn); Công tác thông tin tuyên truyền khuyến nông tiếp tục được quan tâm thực hiện thường xuyên. Ngành chức năng tiếp tục theo dõi, thực hiện 07 mô hình chuyển tiếp từ năm 2025 và triển khai thực hiện 13 mô hình mới. Sản xuất an toàn bền vững tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh; diện tích sản xuất được chứng nhận an toàn bền vững ngày càng được mở rộng; đến nay, toàn tỉnh hiện có trên 154.375 ha được chứng nhận sản xuất an toàn bền vững (trong đó, diện tích VietGAP, GlobalGAP đạt 23.800 ha, diện tích hữu cơ đạt 4.075 ha, diện tích cà phê chứng nhận 4C, UTZ/Rainforest… đạt 126.500 ha). 6. Chương trình xây dựng nông thôn mới Trong 6 tháng đầu năm 2026, tập trung triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Tiếp tục theo dõi hoạt động kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác và hợp tác xã (HTX); Tập trung phát triển, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh; Công tác hỗ trợ HTX, đào tạo cán bộ, đặc biệt về kỹ năng thị trường và Luật HTX được chú trọng (đã tổ chức 01 lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, thành viên của các tổ chức kinh tế tập thể, HTX nông nghiệp). Toàn tỉnh hiện có 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp đang hoạt động theo Luật HTX năm 2023 với 45 HTX thành viên và 959 HTX nông nghiệp với 19.582 thành viên (trong đó 166 HTX ngừng hoạt động); có 1.290 Tổ hợp tác (các Tổ hợp tác hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi) và 1.448 trang trại (trong đó, có 1.410 trang trại đang hoạt động, 38 trang trại ngừng hoạt động). Hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh với 428 chuỗi liên kết, thu hút 47.590 hộ tham gia; diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85 nghìn ha, sản lượng khoảng 920 nghìn tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt 2.230 nghìn con, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Chương trình OCOP tiếp tục được triển khai hiệu quả với 936 sản phẩm còn hạn chứng nhận, trong đó có 88 sản phẩm 4 sao và 848 sản phẩm 3 sao, với 526 chủ thể tham gia. III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh ước tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 duy trì đà tăng trưởng khá. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương. Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp tỉnh. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 24,68% so với cùng kỳ năm trước, quý II/2026 tăng 24,87% so với quý trước và tăng 13,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,98%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 17,04%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,63%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,29%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,02%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 16,92%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,05%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 388.861 m3, giảm 1,21% so với tháng trước và tăng 7,46% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.226.079 m3, tăng 17,57% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.136.985 m3, tăng 19,15% so với cùng kỳ. Tăng mạnh so với cùng kỳ do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang chỉ đạo tập trung giải ngân vốn đầu tư công cũng như các hạng mục công trình xây dựng khác đang đầu tư tại tỉnh. - Các sản phẩm từ thuỷ sản: Ước trong tháng sản lượng ước đạt 2.205 tấn, tăng 2,31% so với tháng trước và tăng 27,90% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 6.192 tấn, tăng 12,56% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 12.183 tấn, tăng 19,12% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp tập trung sản xuất khi mùa khai thác thủy hải sản đang thuận lợi, chủ động nguồn hàng cho các tháng tiếp theo. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến: Trong tháng ước đạt 4.851 tấn, tăng 16,98% so với tháng trước và tăng 29,71% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 12.539 tấn, tăng 20,79% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 21.431 tấn, tăng 15,38% so với cùng kỳ, một số doanh nghiệp đã đưa được sản phẩm vào siêu thị và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua một số nước trong khu vực ASEAN. - Đồ uống các loại: Ước trong tháng đạt 21.440 nghìn lít, tăng 3,22% so với tháng trước và tăng 26,07% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 60.363 nghìn lít, tăng 18,92% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 124.131 nghìn lít, tăng 16,80% so với cùng kỳ, các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 850 nghìn đôi, tăng 12,38% so với tháng trước và tăng 146,69% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.242 nghìn đôi, tăng 29,52% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.799 nghìn đôi, tăng 29,21% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm và đến nay vẫn duy trì tốc độ tăng đáng kể. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 12.896 tấn tăng 9,20% so với tháng trước và tăng 1,77% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 30.586 tấn, giảm 2,75% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng ước đạt 65.614 tấn, tăng 20,65% so với cùng kỳ nguyên nhân do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng để chuẩn bị cho mùa vụ 2026. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Ước trong tháng 135,3 nghìn tấn, tăng 1,12% so với tháng trước và tăng 10,83%% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 388,1 nghìn tấn, tăng 5,24% so với cùng kỳ, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 789,9 nghìn tấn tăng 2,53% so với cùng kỳ. - Điện sản xuất: Trong tháng ước đạt 3.380 triệu kwh, giảm 0,79% so với tháng trước và tăng 26,54% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 10.341 triệu kwh, tăng 11,30% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng ước đạt 18.079 triệu kwh, tăng 5,26% so với cùng kỳ. - Điện thương phẩm: Trong tháng ước đạt 482 triệu kwh, giảm 4,27% so với tháng trước và tăng 16,21% so với cùng kỳ. Quý II/2026 ước đạt 1.526 triệu kwh tăng 13,96% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.016 triệu kwh, tăng 8,93% so với sùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,34% so với tháng trước và tăng 7,42% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 12,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,55%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,49%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,34%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 7,54% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 12,05%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 5,66%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,96%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,48%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,22%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,38%. Chỉ số sử dụng lao động tăng cho thấy các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất, nhất là trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, lao động trong khai khoáng và cung cấp nước, xử lý rác thải còn giảm; đồng thời kết quả khảo sát doanh nghiệp cho thấy khó tuyển dụng lao động theo yêu cầu vẫn là một trong những khó khăn đáng chú ý, cần được theo dõi trong thời gian tới. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 11,77% so với tháng trước và tăng 12,35% so với cùng kỳ; lũy kế quý II/2026 chỉ số tiêu thụ giảm 1,43% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 30,45%; sản xuất đồ uống tăng 28,25%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 36,73%; chế biến gỗ tăng 48,89%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 76,47%; in và sao chép bản ghi các loại tăng 26,13%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 11,15%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 17,99%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 8,63%; sản xuất kim loại tăng 3,08%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 88,93%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: ngành dệt giảm 5,73%; sản xuất trang phục giảm 45,18%... Chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng là tín hiệu tích cực, nhưng quý II vẫn giảm 1,43% so với cùng kỳ, phản ánh sức mua và đơn hàng chưa đồng đều giữa các ngành. Các ngành thực phẩm, đồ uống, da giày, gỗ, giấy, hóa chất, cao su - plastic tăng tiêu thụ; ngược lại, dệt và sản xuất trang phục còn giảm, cho thấy rủi ro thị trường đang chịu ảnh hưởng của những biến động chưa tích cực từ tình hình kinh tế thế giới. 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 14,52% so với tháng trước và giảm 21,4% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 23,29%; sản xuất đồ uống giảm 26,68%; dệt giảm 77,93%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 29,52%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 56,35%… Ngược lại những ngành tăng như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 54,23%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 9,66%. 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Sản xuất kinh doanh quý II/2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 32,14% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 21,43% đánh giá khó khăn hơn và 46,43% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi. Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước 12,5% có chiều hướng thuận lợi; 75% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 31,03% có chiều hướng thuận lợi; 45,69% có chiều hướng không thay đổi và 23,28% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 50% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 37,5% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý II/2026, có 50,94% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 26,42% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 35,85% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 7,55% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 22,64% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 5,66% cho rằng thiếu năng lượng; 33,96% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 28,3% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 20,75% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 20,75% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 9,43% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 20,75% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 3,77% lý do khác. 1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã thu hút được 06 dự án đầu tư (trong đó có 01 dự án nước ngoài và 05 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 258,66 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích đất thuê lại 5,18 ha. Các dự án thu hút mới chủ yếu tập trung tại KCN Lộc Sơn và KCN Phú Hội, gồm: Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina, vốn đăng ký 0,2 triệu USD, thuê lại 0,3 ha nhà xưởng tại KCN Lộc Sơn; Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam, vốn đăng ký 26 tỷ đồng, diện tích 0,3128 ha tại KCN Lộc Sơn; Kho Transimex Phú Hội, vốn đăng ký 98,658 tỷ đồng, diện tích 1,29 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV Nhựa Stroman Lâm Đồng, vốn đăng ký 40 tỷ đồng, diện tích 1,3879 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm, vốn đăng ký 14 tỷ đồng, diện tích 1,0887 ha tại KCN Phú Hội; và Nhà máy chế biến nông sản của Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà, vốn đăng ký 80 tỷ đồng, diện tích 1,0981 ha tại KCN Phú Hội. Lũy kế đến nay, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh có 244 dự án đầu tư, trong đó có 58 dự án FDI và 186 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 46.728,75 tỷ đồng và 515,132 triệu USD; diện tích đất đăng ký 727,11 ha, tỷ lệ lấp đầy chung đạt 53,88%. Hiện có 175 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Kết quả sản xuất kinh doanh lũy kế đến ngày 30/6/2026 ước đạt 16.520 tỷ đồng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 353,8 triệu USD; nộp ngân sách ước đạt 949,5 tỷ đồng. Về tình hình từng khu công nghiệp: - KCN Lộc Sơn thu hút được 58 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 48 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,8ha/132,6 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%; - KCN Phú Hội thu hút được 34 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 23 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%; - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%; - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%; - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,7 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%; - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,9 ha/276,9 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%; - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,4 ha/202,3 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%; - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,1 ha/210,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%; - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130,6 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%; - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,4 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%; - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Hoạt động xây dựng duy trì tăng trưởng, song tốc độ chưa thật sự bứt phá so với yêu cầu tăng trưởng cao. Các dự án hạ tầng giao thông, chỉnh trang đô thị, công trình phục vụ du lịch, dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục tạo khối lượng cho ngành; tuy nhiên, vướng mắc về mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, giá vật liệu và thủ tục dự án vẫn là những yếu tố làm chậm tiến độ thi công, nghiệm thu và thanh toán. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ngành xây dựng chia theo loại hình quý II/2026 ước đạt 16.492,3 tỷ đồng, tăng 14,87% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 63 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,38%), tăng 75,11% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 8.935,4 tỷ đồng (54,18%), tăng 16,04% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 176,3 tỷ đồng (1,07%), tăng 19,95% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 7.317,6 tỷ đồng (44,37%), tăng 13,03% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 28.653,6 tỷ đồng, tăng 13,68% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 120,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,42%), tăng 85,67% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 15.741,8 tỷ đồng (54,94%), tăng 14,40% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 352,0 tỷ đồng (1,23%), tăng 12,27% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 12.439,8 tỷ đồng (43,41%), tăng 12,27% so với cùng kỳ. Chia theo loại công trình, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý II/2026 công trình nhà ở đạt 6.578,8 tỷ đồng, tăng 11,55% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 3.476,3 tỷ đồng, tăng 12,52% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 4.400,3 tỷ đồng, tăng 15,69% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.036,9 tỷ đồng, tăng 29,99% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành loại công trình nhà ở đạt 11.554,8 tỷ đồng, tăng 10,92% so cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 5.952,9 tỷ đồng, tăng 11,54% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 7.425,7 tỷ đồng, tăng 13,88%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 3.720,2 tỷ đồng, tăng 26,92% so với cùng kỳ. Theo giá so sánh 2010, giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại hình ước quý II/2026 đạt 13.139,2 tỷ đồng, tăng 9,72% so cùng kỳ. Trong đó, công trình nhà ở đạt 5.167,2 tỷ đồng, tăng 5,88% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 2.730,4 tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ; Công trình kỹ thuật dân dụng 3.456,1 tỷ đồng, tăng 9,81% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 1.785,6 tỷ đồng, tăng 28,31% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh ước đạt 22.924,9 tỷ đồng, tăng 8,76% so với cùng kỳ. Trong đó, công trình nhà ở đạt 9.107,6 tỷ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 4.691,6 tỷ đồng, tăng 5,99% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 5.851,9 tỷ đồng, tăng 8,21% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 3.273,9 tỷ đồng, tăng 25,78% so với cùng kỳ. Kết quả khảo sát doanh nghiệp xây dựng cho thấy tâm lý thận trọng còn rõ nét. Quý II/2026 so với quý I/2026 có 14,5% doanh nghiệp nhận định thuận lợi hơn, 50,8% ổn định và 34,7% khó khăn hơn; chỉ số cân bằng chung là -20,2%. Dự báo quý III/2026, tỷ lệ doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn tăng lên 48%, chỉ số cân bằng chung giảm -35,3%, cho thấy ngành xây dựng cần được hỗ trợ mạnh hơn về mặt bằng, thủ tục, nguồn vật liệu và thanh toán khối lượng. 3. Đầu tư phát triển Đầu tư phát triển tiếp tục là kênh tạo động lực tăng trưởng quan trọng sau khi tỉnh mở rộng không gian phát triển. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá, cơ cấu vốn ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng chủ lực, tập trung vào công nghiệp chế biến, khai khoáng, năng lượng, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và hạ tầng. Tuy nhiên, tốc độ thực hiện một số dự án còn chậm, nhất là nhóm dự án liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và thủ tục đất đai. Trong 6 tháng đầu năm, công tác phân bổ và triển khai vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm, công trình khởi công mới được thực hiện khẩn trương. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện của các dự án còn chậm do vướng mắc trong chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa được xử lý dứt điểm. 3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 964,78 tỷ đồng, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 900,34 tỷ đồng, chiếm 93,32% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 2,11% so với cùng kỳ (trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách ước đạt 410,57 tỷ đồng, tăng 33,01% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 129,45 tỷ đồng, giảm 49,16% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài đạt 14,21 tỷ đồng, giảm 27,47% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết đạt 340,45 tỷ đồng, tăng 15,13% so với cùng kỳ; vốn khác đạt 5,66 tỷ đồng, tăng 79,54% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 64,44 tỷ đồng, chiếm 6,68% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,24% so với cùng kỳ. Quý II/2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.628,92 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.451,39 tỷ đồng, chiếm 93,25% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,90% so với cùng kỳ (trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.122,49 tỷ đồng, tăng 49,08% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 349,27 tỷ đồng, giảm 47,10% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài ước đạt 38,68 tỷ đồng, giảm 28,20% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 925,05 tỷ đồng, tăng 4,67% so với cùng kỳ; vốn khác ước đạt 15,90 tỷ đồng, tăng 85,92% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 177,53 tỷ đồng (chiếm 6,75% tổng số vốn trên địa bàn), tăng 4,77% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.539,56 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 4.233,71 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ, chiếm 93,26% tổng số vốn trên địa bàn (trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.956,99 tỷ đồng, tăng 24,47% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 605,25 tỷ đồng, giảm 46,71% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài ước đạt 68,05 tỷ đồng, giảm 28,28% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 1.576,63 tỷ đồng, tăng 26,42% so với cùng kỳ; vốn khác ước đạt 26,79 tỷ đồng, tăng 77,36% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 305,85 tỷ đồng, chiếm 6,74% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,24% so với cùng kỳ. 3.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn Vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục mở rộng, trong đó vốn ngoài nhà nước giữ vai trò dẫn dắt. Dòng vốn tập trung vào các dự án có khả năng tạo năng lực sản xuất và không gian phát triển mới như Thung lũng Đại dương, Điện phân nhôm Đắk Nông, Nam sông Đa Nhim, các khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2, cùng nhóm dự án chế biến, logistics và nông nghiệp công nghệ cao. Đây là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng trung hạn, nhưng cần tiếp tục theo dõi khả năng chuyển hóa thành khối lượng thực hiện trong năm 2026. Quý II/2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 29.527,20 tỷ đồng, tăng 31,68% so với quý I/2026 và tăng 15,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn nhà nước đạt 4.865,68 tỷ đồng (16,48%), tăng 7,54%; vốn ngoài nhà nước 23.599,76 tỷ đồng (79,69%), tăng 17,03% (vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 12.112,12 tỷ đồng, tăng 15,04%; vốn đầu tư của dân cư đạt 11.487,64 tỷ đồng, tăng 19,20%); vốn FDI đạt 1.061,77 tỷ đồng (3,6%), tăng 11,95%. Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất (22.423,98 tỷ đồng, tăng 16,66%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 13,75% (4.060,46 tỷ đồng, tăng 11,12%), ... Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư toàn xã hội đạt 51.950,24 tỷ đồng, tăng 14,38% so với cùng kỳ năm trước. Vốn nhà nước đạt 8.379,9 tỷ đồng (chiếm 16,13%), tăng 6,95%. Vốn ngoài nhà nước đạt 41.688,83 tỷ đồng (41,78%), tăng 16,16% tiếp tục giữ vai trò chủ lực, huy động hiệu quả nguồn xã hội hóa (vốn của tổ chức, doanh nghiệp đạt 21.705,37 tỷ đồng, tăng 15,15%; vốn của dân cư đạt 19.983,46 tỷ đồng, tăng 17,27%). Vốn FDI đạt 1.881,51 tỷ đồng (3,62%), tăng 11,21%, dòng vốn FDI có sự chọn lọc chiến lược, tập trung vào nông nghiệp công nghệ sinh học, chế biến sâu nông sản, logistics và du lịch sinh thái. Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất 77,1% (40.053,09 tỷ đồng, tăng 16,37%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 12,74% (6.616,59 tỷ đồng, tăng 7,11%), cùng các khoản mục mua sắm tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động và vốn khác đều tăng trưởng. Kết quả trên cho thấy dòng vốn đầu tư tiếp tục mở rộng, cơ cấu chuyển dịch tích cực, đóng góp quan trọng cho phát triển hạ tầng, công nghiệp chế biến chế tạo và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong tháng (từ ngày 15/5-14/6/2026) toàn tỉnh có 376 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 25% so với cùng kỳ năm trước; 48 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 24%; 106 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 6%; 96 doanh nghiệp giải thể, tăng 23%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 2.382 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 58,38% so với cùng kỳ; 556 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 10,76%; 1.191 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 2,03%; 491 doanh nghiệp giải thể, tăng 71,68% (tương ứng 205 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 11.965,5 tỷ đồng, tăng 34,63%. Bình quân một tháng số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao xấp sỉ 6 lần số doanh nghiệp rút lui (490 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại so với gần 82 doanh nghiệp rút lui). Điều này cho thấy niềm tin kinh doanh có cải thiện; tuy nhiên, số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh cũng phản ánh áp lực cạnh tranh, chi phí và khả năng chống chịu của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế. Về thu hút đầu tư (tính từ đầu năm đến ngày 18/6/2026), toàn tỉnh có 31 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 143.886,6 tỷ đồng; 28 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 18/6/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.950 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 916.601 tỷ đồng (trong đó: có 245 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.958 tỷ đồng). * Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm Trong 6 tháng đầu năm 2026, tiến độ triển khai các công trình trọng điểm, dự án đô thị, thương mại và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có nhiều chuyển biến tích cực nhờ sự quyết liệt trong tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục pháp lý. Tuy nhiên, một số dự án vẫn chậm tiến độ do công tác giải phóng mặt bằng kéo dài và tác động của giá nguyên vật liệu xây dựng tăng cao. Đối với các dự án hạ tầng giao thông chiến lược, tỉnh đang tập trung triển khai đồng bộ nhiều dự án quy mô lớn. Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành dài 124,13 km được chia thành 5 dự án thành phần; trong đó tỉnh phụ trách công tác xây dựng đường gom, cầu vượt và thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư với tổng kinh phí khoảng 1.000 tỷ đồng. Dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc dài khoảng 66 km và dự án cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương dài 73,6 km đang hoàn thiện các thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và tái định cư. Riêng dự án Bảo Lộc - Liên Khương còn gặp khó khăn do thủ tục chuyển đổi đất rừng, đất lúa và áp lực tăng giá vật liệu xây dựng. Các dự án giao thông quan trọng khác cũng được triển khai tích cực. Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh với chiều dài 156,5 km đang thực hiện công tác quản lý hiện trạng, khoanh vùng hành lang và chuẩn bị dữ liệu phục vụ công tác đo đạc, kiểm đếm. Dự án đường ven biển ĐT.719B đoạn Phan Thiết - Kê Gà đã hoàn thành khoảng 92% khối lượng, trong đó đoạn dài 17,8 km từ Quốc lộ 1 đến cầu Suối Nhum đã đưa vào khai thác. Dự án nâng cấp Quốc lộ 28B đạt 99% khối lượng giải phóng mặt bằng. Lĩnh vực hạ tầng hàng không ghi nhận những bước tiến quan trọng. Dự án Cảng hàng không Phan Thiết (hạng mục hàng không dân dụng) đã hoàn tất bàn giao toàn bộ mặt bằng sạch, sẵn sàng triển khai thi công. Dự án nâng cấp Cảng hàng không Liên Khương với tổng vốn đầu tư gần 5.000 tỷ đồng đang thực hiện công tác đo đạc, kiểm đếm trên 115 ha, đạt 33,8% khối lượng chuẩn bị mặt bằng. Các dự án thủy lợi tiếp tục được đẩy mạnh nhằm nâng cao năng lực cấp nước phục vụ sản xuất và dân sinh. Dự án hồ chứa nước KaZam đã hoàn thành 91% diện tích giải phóng mặt bằng và đạt khoảng 38% khối lượng xây lắp. Hồ chứa nước Ka Pét đạt 72% khối lượng kiểm đếm, bồi thường và tái định cư. Hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây đạt khoảng 62% giá trị xây dựng, trong khi hệ thống kênh mương hồ Đạ Sị đạt 51% khối lượng thực hiện. Dự án hồ Đắk Gang đã hoàn thành 84,5% diện tích bàn giao mặt bằng và đạt khoảng 28% khối lượng xây lắp. Trong lĩnh vực công nghiệp, Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông với tổng vốn đầu tư trên 28.000 tỷ đồng đã hoàn thành khoảng 82% khối lượng xây lắp và lắp đặt thiết bị. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1 đạt trên 85% công tác giải phóng mặt bằng và khoảng 25% khối lượng hạ tầng kỹ thuật giai đoạn 1. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 2 cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị đầu tư và đang triển khai các hạng mục kỹ thuật ban đầu. Khu công nghiệp Tân Đức đã hoàn thành trên 97% công tác giải phóng mặt bằng. Đối với các dự án phát triển đô thị, Khu đô thị mới Nam sông Đa Nhim quy mô 153,65 ha với tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 11.800 tỷ đồng hiện đang tập trung thực hiện công tác giải phóng mặt bằng. Dự án cải thiện môi trường đô thị tại khu vực Đắk Nông cũ đã triển khai đồng loạt các gói thầu xây lắp và đạt trên 75% giá trị hợp đồng. Nhìn chung, các dự án trọng điểm của tỉnh đang được triển khai theo hướng tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kết cấu hạ tầng, mở rộng không gian đô thị, thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tới. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh trong tháng, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Sức mua tăng, nguồn cung hàng hóa ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá bán trên thị trường tương đối ổn định, không xảy ra biến động khan hiếm làm tăng giá đột biến. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, nhiều hoạt động văn hoá, thể thao và nhiều lễ hội khác đã thu hút nhiều du khách. Dịch vụ lữ hành tiếp tục tăng cường; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hoá trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.324,4 tỷ đồng, tăng 3,51% so với tháng trước và tăng 23,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: uớc tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 10.305,5 tỷ đồng, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 20,99% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.938,4 tỷ đồng, tăng 14,46% so với tháng trước và tăng 38,03% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.080,6 tỷ đồng, tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 15,92% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 50.295,5 tỷ đồng, tăng 20,21% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 30.655,7 tỷ đồng, tăng 18,44% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 10.451,8 tỷ đồng, tăng 24,67% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 9.188,1 tỷ đồng, tăng 21,36% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 97.606,7 tỷ đồng, tăng 17,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 60.083,8 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 19.840 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Công tác quản lý thị trường được tăng cường, tập trung vào xăng dầu, gạo, vật liệu xây dựng, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và gian lận thương mại. Trong tháng, lực lượng chức năng kiểm tra 153 vụ, phát hiện 124 vụ vi phạm, xử lý 112 vụ với tổng số tiền xử phạt 864,5 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/6/2026, đã kiểm tra 798 vụ, phát hiện 741 vụ vi phạm, xử lý 720 vụ; số tiền xử phạt 5.741,4 triệu đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 2.013,4 triệu đồng. Kết quả này góp phần ổn định thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và môi trường kinh doanh lành mạnh. 2. Giá cả 2.1. Giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm chịu tác động đan xen: một mặt, nguồn cung hàng hóa cơ bản ổn định và điều hành giá xăng dầu góp phần hạn chế biến động đột biến; mặt khác, giá nhà ở, điện nước, vật liệu xây dựng, thực phẩm, giao thông và giáo dục tăng đã tạo áp lực lên mặt bằng giá chung. Vì vậy, kiểm soát giá, nhất là nhóm hàng thiết yếu và chi phí đầu vào, tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới. Trong tháng CPI giảm 0,19% so với tháng trước, tăng 0,60% so với tháng 12/2025 và tăng 4,01% so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm chủ yếu do nhóm giao thông giảm mạnh 4,51%, trong đó giá xăng giảm 10,05%, dầu diesel giảm 10,62% và dầu hỏa giảm 18,73% theo các kỳ điều hành giá nhiên liệu trong tháng. Bên cạnh đó, giá sách giáo khoa giảm 1,49% làm nhóm giáo dục giảm 0,09%. Tuy nhiên, nhiều nhóm hàng vẫn tăng giá như hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,62%, văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,77%, nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng tăng 0,15% do nhu cầu tiêu dùng mùa hè và chi phí đầu vào tăng. Bình quân quý II/2026, CPI tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu đến từ nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,33%, làm CPI chung tăng 1,31 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 9,39%, đóng góp 1,07 điểm phần trăm do giá nhiên liệu tăng 19,02% và giá dịch vụ vận tải hành khách tăng 37,1%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,76%, nhóm giáo dục tăng 7,20% do điều chỉnh học phí tại một số cơ sở giáo dục ngoài công lập. Trong khi đó, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,32%, góp phần kiềm chế đà tăng CPI nhờ các chương trình giảm giá thiết bị công nghệ và điện thoại di động. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng tác động lớn đến CPI gồm: nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,04%, làm CPI chung tăng 1,08 điểm phần trăm; thực phẩm tăng 4,58%, đóng góp 1,14 điểm phần trăm; giao thông tăng 5,38%, làm CPI tăng 0,61 điểm phần trăm; giáo dục tăng 7,18%, góp phần tăng 0,34 điểm phần trăm. Ngoài ra, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, đồ uống và thuốc lá tăng 3,3%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,49%. Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,27%, góp phần giảm áp lực tăn giá. Nhìn chung, mặt bằng giá 6 tháng đầu năm 2026 chịu tác động chủ yếu từ chi phí nguyên vật liệu đầu vào, giá nhiên liệu, giá nhà ở, vật liệu xây dựng và việc điều chỉnh học phí tại một số cơ sở giáo dục. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất  Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2026 tăng 5,93% so cùng kỳ năm trước và 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 5,59%; sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 7,21% và sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,76%. Chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước, trong đó tăng cao nhất là nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,47%; tiếp đến là nhóm sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 6,55%; nhóm sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng thấp 3,49%.  Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào dùng cho sản xuất quý II/2026 tăng 11,72% so với cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 1,93%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,85%; nguyên vật liệu khác tăng 14,61%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,29%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,33%; sản phẩm xây dựng tăng 6,9%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,47%. Tính bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 9,19% so cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 4,3%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,6%; nguyên vật liệu khác tăng 9,44%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 4,04%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,62%; sản phẩm xây dựng tăng 5,37%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,66%. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý II/2026 tăng 1,01% so với quý trước; tăng 3,9% so với quý cùng kỳ năm trước. Tính bình quân chỉ số giá 6 tháng đầu năm 2026 tăng 3,85% so với cùng kỳ năm năm trước, trong đó: nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 19,59% so với cùng kỳ năm trước (nhờ nhóm sản phẩm quặng kim loại và tinh quặng kim loại, nhóm nhóm sản phẩm khai khoáng khác); nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,95% (hầu hết sản phẩm đều tăng giá); nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,28% (do những tháng đầu năm công ty cổ phần thủy điện Trung Nam, Đăk R'tih áp dụng theo đơn giá điện mùa khô; bên cạnh đó sản lượng điện phát ra của công ty cổ phần thủy điện Đa Nhim - àm Thuận - Đa Mi cao hơn giá hợp đồng, tác động làm tăng chỉ số giá nhóm thủy điện; ngoài ra giá điện mặt trời biến động theo tỷ giá đồng Đô la Mỹ); nhóm nước tự nhiên khai thác, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,79% (do lượng nước tiêu thụ tăng tác động lên giá nước sản xuất; bên cạnh đó chi phí nhân công, giá nhiên liệu và chi phí vận hành tăng nên một số công ty điều chỉnh tăng giá dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu). 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, tỉnh Lâm Đồng sôi động với nhiều sự kiện văn hóa và thể thao quy mô lớn, nổi bật là Hội thao Quân sự, võ thuật và thể thao Công an nhân dân (từ ngày 17-24/6/2026) thu hút khoảng 1.500 vận động viên tham gia thi đấu các môn: bắn súng, võ thuật, vượt vật cản, bóng đá nam 7 người và Pickleball. Giải Thể thao học sinh phổ thông toàn quốc (từ ngày 20-30/6/2026); Chương trình kích cầu du lịch nội tỉnh diễn ra xuyên suốt trong tháng và kéo dài đến cuối năm 2026 hưởng ứng mùa du lịch hè, tỉnh triển khai chương trình “Người Lâm Đồng đi du lịch Lâm Đồng - Khám phá quê hương, kết nối yêu thương”, với nhiều chuỗi trải nghiệm, khám phá thiên nhiên, văn hóa và kết nối các vùng miền trên toàn tỉnh. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.166,7 nghìn lượt, tăng 11,25% so tháng trước và tăng 20,65% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 73,5 nghìn lượt, tăng 7,14% so với tháng trước và tăng 7,43% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.997,7 nghìn ngày khách, tăng 12,21% so với tháng trước và tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 115 nghìn lượt khách, tăng 10,36% so với tháng trước và tăng 34,66% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 369,5 nghìn ngày khách, tăng 11,97% so với tháng trước và tăng 40,98% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 lượt khách phục vụ đạt 6.138,6 nghìn lượt, tăng 17,03% so với quý cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 212,2 nghìn lượt, tăng 10,55 % so với quý cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 11.311,4 nghìn ngày khách, tăng 19,17% so với quý cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế quý II/2026 ước đạt 328,7 nghìn lượt khách, tăng 15,74% so với quý cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế phục vụ ước đạt 1.047,2 nghìn ngày khách, tăng 20,51% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 11.995 nghìn lượt, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 428 nghìn lượt, tăng 13,91% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 22.430 nghìn ngày khách, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 825 nghìn lượt, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.630 nghìn ngày khách, tăng 22,32% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 769 tỷ đồng, tăng 18,46% so với tháng trước và tăng 30,39% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.110 tỷ đồng, tăng 13,73% so với tháng trước và tăng 39,95% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 59,4 tỷ đồng, tăng 3,64% so với tháng trước và tăng 44,03% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 2.033,6 tỷ đồng, tăng 19,33% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 8.249,3 tỷ đồng, tăng 25,7% so với quý cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 168,8 tỷ đồng; tăng 44,7% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt gần 4.026 tỷ đồng, tăng 23,25% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 15.498 tỷ đồng, tăng 23,75% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 325 tỷ đồng, tăng 41,8% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.098,5 tỷ đồng, tăng 12,21% so với tháng trước và tăng 24,7% so với cùng kỳ. Quý II/2026 doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 17.264,2 tỷ đồng, tăng 19,92% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 33.310 tỷ đồng, tăng 22,15% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.080,6 tỷ đồng, tăng 0,38% so với tháng trước và tăng 15,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 726,4 tỷ đồng, tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 10,45% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 166,1 tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 6,03% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148,4 tỷ đồng, giảm 9,27% so với tháng trước và tăng 24,73% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 249,3 tỷ đồng, tăng 7,42% so với tháng trước và tăng 19,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.472,9 tỷ đồng, giảm 1,15% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 317,4 tỷ đồng, tăng 3,54% so với tháng trước và tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 9.172,9 tỷ đồng, tăng 21,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.137,9 tỷ đồng, tăng 13,23%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 497,3 tỷ đồng, tăng 8,06%; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 460,6 tỷ đồng, tăng 27,04%; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 720,3 tỷ đồng, tăng 14,71%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 4.444 tỷ đồng, tăng 30,23%; doanh thu dịch vụ khác đạt 927,9 tỷ đồng, tăng 13,24%; doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông ước đạt 191,2 tỷ đồng, tăng 11,27%; doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 640 tỷ đồng, tăng 11,64%. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 4.284,9 tỷ đồng, tăng 10,67%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 995,5 tỷ đồng, tăng 10,09%; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 892 tỷ đồng, tăng 21,51%; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.439,8 tỷ đồng, tăng 15,31%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 8.266,2 tỷ đồng, tăng 20,57%; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.804,5 tỷ đồng, tăng 10,36%. 5. Hoạt động vận tải Do nhu cầu đi lại của người dân và khách du lịch đến Đà Lạt, Phan Thiết và các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh tăng trong tháng đầu tiên của mùa hè; đồng thời hoạt động vận chuyển nông sản, vật liệu xây dựng và hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh diễn ra sôi động để phục vụ cho các công trình đang thi công. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông kết nối giữa Lâm Đồng với các tỉnh khu vực lân cận ngày càng thuận lợi, góp phần thúc đẩy hoạt động logistics, kho bãi và doanh thu ngành vận tải tăng so với cùng kỳ. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.274,7 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 27,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 ước đạt 3.669,4 tỷ đồng, tăng 25,25% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.168 nghìn HK, tăng 6,67% so với tháng trước và tăng 25,15% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 457.748,3 nghìn HK.Km, tăng 6,96% so với tháng trước và tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 lượt khách vận chuyển ước đạt 8.850,3 nghìn HK, tăng 19,19% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.277.743,4 nghìn HK.Km, tăng 20,08% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 17.098 nghìn HK, tăng 18,09% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 2.466.897 nghìn HK.Km, tăng 18,92% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.232,9 nghìn tấn, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 24,11% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 328.108,6 nghìn tấn.Km, tăng 5,10% so với tháng trước và tăng 24,51% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 khối lượng vận chuyển ước đạt 6.280 nghìn tấn, tăng 19,62% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 924.781,3 nghìn tấn.Km, tăng 20,27% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 12.274,5 nghìn tấn, tăng 17,30% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.806.168 nghìn tấn.Km, tăng 17,85% so với cùng kỳ năm trước - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.274,6 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 27,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 ước đạt 3.669,4 tỷ đồng, tăng 25,25% so với cùng quý năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.465 tỷ đồng, tăng 28,05% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.465 tỷ đồng, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 939,7 tỷ đồng, tăng 13,54% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 263,3 tỷ đồng, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt đạt 91,4 nghìn tấn trong đó xuất cảng 81,4 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 10 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.373 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.250 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 123 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước quý II/2026 đạt 7.446,7 tỷ đồng, bằng 21,63% kế hoạch năm và giảm 6,91% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 18.623,9 tỷ đồng bằng 54,08% kế hoạch năm và tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 17.320,4 tỷ đồng, bằng 53,01% kế hoạch năm và tăng 8,71%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.303,5 tỷ đồng, bằng 74,06% kế hoạch năm và tăng 55,69% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa trong 6 tháng đầu năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 2.490 tỷ đồng (bằng 65,46% kế hoạch năm và tăng 6,57% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 873 tỷ đồng (bằng 63,27% kế hoạch năm và tăng 11,10%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 4.856 tỷ đồng (bằng 72,61% kế hoạch năm và tăng 53,37%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 1.600 tỷ đồng (bằng 58,61% kế hoạch năm và tăng 0,34%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 2.220 tỷ đồng (bằng 30,10% kế hoạch năm và giảm 17,39%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 3.087 tỷ đồng (bằng 53,22% kế hoạch năm và tăng 9,89%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước quý II/2026 đạt 11.826,7 tỷ đồng, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 25.309,5 tỷ đồng (bằng 51,87% kế hoạch, tăng 0,36% so với cùng kỳ), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 9.051,8 tỷ đồng, giảm 2,91% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 16.138,6 tỷ đồng, tăng 0,40% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động tín dụng Tính đến 31/5/2026, công tác huy động vốn của các TCTD (Tổ chức tín dụng) trên địa bàn tỉnh đạt 240.469 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 11.193 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4,88%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 237.670 tỷ đồng (chiếm 98,84% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.799 tỷ đồng, (chiếm 1,16% tổng huy động vốn). Ước đến 30/6/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 243.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 13.728 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 5,99%. Hoạt động tín dụng: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 374.447 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.463 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,93%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 371.780 tỷ đồng (chiếm 99,29% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.667 tỷ đồng (chiếm 0,71% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 264.635 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 109.812 tỷ đồng. Ước đến 30/6/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 382.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 11.016 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,97%. Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của NHTM trong tỉnh ở mức 0,18% - 0,40%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,31% - 4,74%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 7,22% -8,01%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 7,43% - 7,92%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay mới ở mức 9% - 10,51%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,17% - 4,52%/năm. Dư nợ cho vay: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 184.967 tỷ đồng, chiếm 49,4% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.253 tỷ đồng, chiếm 8,61% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 157.227 tỷ đồng, chiếm 41,99% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.759 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Tập trung thực hiện công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: tuyên truyền cổ động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026; tuyên truyền chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026); tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền, phát động Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng; kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Đà Lạt (03/4/1975 - 03/4/2026), Ngày giải phóng Phan Thiết (19/4/1975 - 19/4/2026); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch); Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026); 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); kỷ niệm 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026),… đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh.- Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: chương trình bắn pháo hoa nổ tầm thấp đón giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; chương trình văn nghệ phục vụ cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031; các hoạt động văn nghệ kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886-01/5/2026); kỷ niệm 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026),... Ngoài ra, đến nay đã tổ chức 69 buổi biểu diễn phục vụ chính trị, biểu diễn doanh thu với số tiền 433.657.200 đồng; xây dựng mới 11 chương trình nghệ thuật; tổ chức 05 đợt phim, 01 tuần phim, 96 buổi biểu diễn văn nghệ, 505 buổi chiếu phim, 05 buổi triển lãm tranh lưu động, 40 buổi tuyên truyền xe loa và 01 vở kịch tuyên truyền phục vụ cơ sở. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng:+ Bảo tàng tỉnh: Trong tháng đón 13.900 lượt khách, trong đó có 656 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 2.642 lượt; di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.778 lượt; di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 221 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 6.392 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 867 lượt). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã đón 160.323 lượt khách, trong đó có 13.721 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 43.717 lượt; di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 31.050 lượt; di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 6.528 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 71.227 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 7.801 lượt). Ngoài ra đã tổ chức tổ chức 12 cuộc triển lãm chuyên đề và lưu động; đồng thời tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng tại các tuyến, điểm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông và chuẩn bị các điều kiện tham dự Hội thảo mạng lưới Công viên địa chất Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 9 năm 2026 (APGN 2026) của Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Langkawi, Malaysia. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Trong tháng tiếp đón 11.230 lượt khách đến tham quan; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã tiếp đón 66.476 lượt khách (trong đó có 237 khách quốc tế). Ngoài ra đã thực hiện 08 phóng sự chuyên đề; chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh; trưng bày triển lãm 95 hình ảnh với chuyên đề: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc”; trưng bày triển lãm 130 ảnh chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh với những chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng với tên gọi “Dục Thanh nhớ Bác”,... và tổ chức nhiều hoạt động văn hóa phục vụ người dân, du khách. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 1.367 lượt khách; luỹ kế 6 tháng đầu năm 2026 đã đón 12.657 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 133 thẻ (19 thẻ thiếu nhi), phục vụ 126.257 lượt bạn đọc, luân chuyển 67.568 lượt tài liệu, trưng bày 1.647 bản sách. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, đã cấp mới và gia hạn 5.590 thẻ (4.225 thẻ thiếu nhi), phục vụ 1.397.901 lượt bạn đọc, luân chuyển 442.082 lượt tài liệu, trưng bày 143.073 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức và phối hợp tổ chức: Giải Pickleball tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; giải chạy bộ “Vietnam Highlands Trail - Lâm Đồng”; giải chạy Chinh phục thử thách lần thứ 3 “Prenn Trail Summit”; giải đua thuyền truyền thống Phan Thiết mở rộng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; giải Võ thuật Cổ truyền tỉnh Lâm Đồng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; lễ phát động đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; tháng hoạt động thể dục, thể thao cho mọi người và “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân - Vì an ninh Tổ quốc” năm 2026; lễ hội các môn thể thao địa hình phối hợp Di Linh năm 2026 “Di Linh out door festival 2026”; giải Việt Nam FesTrival 3 môn phối hợp Lâm Đồng năm 2026; giải Siêu Marathon Đà Lạt ULtra Trail 2026; lễ khai mạc hè, phát động bơi an toàn phòng, chống đuối nước năm 2026; lớp tập huấn bơi an toàn, phòng, chống đuối nước trẻ em trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2026 (KV1); hội thi bơi, cứu đuối tỉnh Lâm Đồng năm 2026; giải cúp các CLB Yoga tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026; giải chạy “Dalat Music Night Run 2026”. - Thể thao thành tích cao: Trong 6 tháng đầu năm, tỉnh đã cử 778 vận động viên tham gia 44 giải thể thao quốc gia, quốc tế. Kết quả đã đạt được 254 huy chương (45 HCV, 70 HCB, 139 HCĐ); trong đó có 01 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 09 huy chương quốc tế (03 HCV, 1 HCB, 5 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Trong tháng tập trung triển khai công tác chuẩn bị tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, nhất là việc rà soát cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự phục vụ kỳ thi; xây dựng phương án bảo đảm an ninh, an toàn, phòng chống gian lận thi cử và các điều kiện phục vụ tổ chức kỳ thi trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên cập nhật các thông tin liên quan đến việc tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẵng. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, toàn tỉnh có 91 điểm thi được bố trí tại các xã, phường, đặc khu; toàn tỉnh có 1.845 phòng thi với 41.309 thí sinh đăng ký dự thi (trong đó có 39.594 thí sinh đang học lớp 12 tại các trường THPT, GDTX và 1.715 thí sinh tự do). Kỳ thi THPH năm 2026 (từ ngày 11-12/6/2026) được diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Theo kế hoạch, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ công bố điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào ngày 01/7/2026. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 526 cơ sở giáo dục mầm non với 10.662 nhóm, lớp và 155.054 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (289 trường đạt chuẩn quốc gia) với 10.382 lớp và 327.349 học sinh; 366 trường trung học cơ sở (234 trường đạt chuẩn quốc gia) với 6.238 lớp và 248.983 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (52 trường chuẩn quốc gia) với 2.876 lớp và 116.160 học sinh. Toàn tỉnh có 78 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN), gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó: 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm, nhất là phòng, chống dịch bệnh do vi rút Ebola; tiếp tục thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 174 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 05 ca so với tháng trước (169 ca) và giảm 99 ca so với cùng kỳ năm trước (273 ca), không có trường hợp tử vong. Lũy kế từ đầu năm đến 31/5/2026, toàn tỉnh có 1.155 ca mắc; ước 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.766 ca mắc. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 30 ổ dịch, Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã phát hiện xử lý 155 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 593 ca mắc, giảm 156 ca so với tháng trước và tăng 207 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 2.709 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 23 ca mắc, tăng 13 ca so với tháng trước và giảm 218 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 76 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.877 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.337 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.220 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.277 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.818 trẻ, mũi 2 cho 3.834 trẻ và mũi 3 cho 7.228 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.651 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 03 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân. Số bệnh nhân tăng thêm trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân chuyển về cư trú lại). Bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 186 bệnh nhân (05 bệnh nhân /100.000 dân); bệnh nhân lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 BN/100.000 dân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 09 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 03 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.827 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.790 người, tử vong 1.577 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 429.377 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.813 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 223.477 ngày, xét nghiệm cho 584.145 tiêu bản, chẩn đoán 130.951 hình ảnh và phẫu thuật 6.168 trường hợp. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 2.524.114 lượt người; 204.599 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.256.544 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,01 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 80,0%; ước xét nghiệm cho 3.318.303 tiêu bản; chẩn đoán 756.752 hình ảnh và phẫu thuật cho 32.742 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 119 cơ sở thực phầm, phát hiện 18 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 142,5 triệu đồng (trong đó: 02 đoàn kiểm tra tại 62 cơ sở theo kế hoạch kiểm tra liên ngành Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2026). Trong tháng không xảy ra ngộ độc thực phẩm; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (do ăn bánh mì tại phường Phan Thiết) làm 97 người mắc, không có tử vong. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tuyên truyền kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền chuỗi hoạt động “Chào mùa Du lịch hè năm 2026”,... đồng thời thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Đã ban hành Kế hoạch số 6842/KH-UBND ngày 14/5/2026 về thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên đại bàn tỉnh Lâm Đồng; đồng thời triển khai thuê phần mềm giám sát thông tin trên không gian mạng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã cấp 13 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 02 giấy phép tổ chức hội chợ triển lãm xuất bản phẩm. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu tiếp tục được quan tâm đầu tư, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy, qua đó góp phần nâng cao điều kiện sinh hoạt, học tập và chăm sóc sức khỏe người dân. - Kết quả giải ngân Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS: Tổng kế hoạch vốn giao thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2025, kéo dài sang năm 2026 thực hiện 1.140.892,89 triệu đồng (gồm: vốn đầu tư phát triển 725.335,61 triệu đồng và vốn sự nghiệp 415.557,28 triệu đồng); kết quả đến tháng 6/2026 đã giải ngân 871.158,59 triệu đồng, đạt 76,36% kế hoạch (trong đó: vốn đầu tư: 560.268,49 triệu đồng, vốn sự nghiệp: 290.890,1 triệu đồng). Hiện nay các xã và các đơn vị được giao chủ đầu tư đang khẩn trương triển khai thực hiện và giải ngân theo kế hoạch. - Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất cho vùng đồng bào DTTS và miền núi: Đã triển khai cho 991 hộ dân đăng ký nhu cầu hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất bắp lai, lúa nước năm 2026 với diện tích là 5.916,15 ha; tổ chức 12 lớp tập huấn, tư vấn kỹ thuật sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và quy trình thâm canh bắp lai, lúa nước cho hơn 800 lượt hộ dân; tiếp tục thực hiện cung ứng dịch vụ công ích sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định, gồm: vận chuyển và cung ứng 15 tấn lúa giống, 10 tấn bắp giống, 500 tấn phân bón; hỗ trợ tiêu thụ 3.500 tấn bắp lai thương phẩm và 10 tấn mủ cao su,… qua đó đảm bảo cung ứng giống, vật tư và các yếu tố đầu vào thiết yếu, góp phần giúp hộ đồng bào DTTS ổn định đời sống và phát triển sản xuất; từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế hộ, nâng cao thu nhập và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo được thực hiện hiệu quả; công tác giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện kịp thời, đúng quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và bộ thủ tục hành chính, qua đó đáp ứng nhu cầu chính đáng của các tổ chức, cá nhân theo các tôn giáo. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh chấp thuận thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc 25 trường hợp; chia tách tổ chức tôn giáo trực thuộc 01 trường hợp; chấp thuận các tổ chức tôn giáo bổ nhiệm 25 chức việc; mở 22 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo; sự cần thiết và quy mô xây dựng công trình tôn giáo trong khuôn viên 08 trường hợp; xác nhận tiếp nhận thông báo phong phẩm chức sắc 80 trường hợp của các tôn giáo; thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung 01; thuyên chuyển địa bàn hoạt động tôn giáo 27 chức sắc,… Nhìn chung, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt các quy định của pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa và phong tục, tập quán của đồng bào, địa phương, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy các giá trị văn hóa tôn giáo và ổn định đời sống tinh thần của người dân. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 324 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chuẩn bị kế hoạch triển khai các hoạt động kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026) và triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. Công tác chăm lo đời sống cho người có công cách mạng được thực hiện hiệu quả. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh tổ chức thăm, tặng quà tết theo Quyết định số 01/QĐ-CTN ngày 05/01/2026 của Chủ tịch nước 27.201 suất với tổng số tiền hơn 8,3 tỷ đồng; thăm tặng quà theo Nghị quyết số 92/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 của HĐND tỉnh Lâm Đồng 65.234 suất với tổng kinh phí hơn 83,8 tỷ đồng. Đã giải quyết cho 18.315 đối tượng hưởng trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng với tổng kinh phí gần 46,3 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay, tỉnh phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 đối tượng (47 căn xây mới, 40 căn sửa chữa); tổ chức 04 đợt điều dưỡng tập trung đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ tại Trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công Khánh Hòa, Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng với 425 lượt người; ban hành Quyết định điều dưỡng tại nhà đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với 3.745 người, tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng và giải quyết 1.875 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Thực hiện chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền cho đối tượng người có công với cách mạng 13.802 người với tổng kinh phí 182,24 tỷ đồng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết tháng 5 năm 2026, toàn tỉnh có 317.946 người tham gia BHXH, tăng 1,10% so với tháng trước; có 240.259 người tham gia BHTN, tăng 0,85%; số người tham gia BHYT là 3.110.300 người, tăng 1,17% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 91,81% dân số. Trong tháng đã giải quyết mới 10.864 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.248 người (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 213 người; trợ cấp 1 lần cho 2.600 người; chế độ ốm đau cho 6.172 người; chế độ thai sản cho 1.437 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 442 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.106 người và hỗ trợ học nghề cho 142 người). Lũy kế đến ngày 31/5/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 47.218 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 7.332 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 735 người; trợ cấp 1 lần cho 11.131 người; chế độ ốm đau cho 27.313 người; chế độ thai sản cho 6.270 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 1.769 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 6.967 người và hỗ trợ học nghề cho 365 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/5 - 14/6/2026) Trong tháng xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, tăng 13 vụ so với tháng trước và giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 40 người, tăng 13 người so với tháng trước và bằng cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 41 người, tăng 23 người so với tháng trước và giảm 14 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 345 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 89 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 223 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 230 người, giảm 121 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 26/5-23/6/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 vụ thiên tai do mưa kèm theo dông lốc; thiên tai đã làm 02 người bị thương, 06 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 02 căn nhà bị hư hỏng, 0,6 ha lúa mới gieo xạ bị vùi lấp, 03 tàu cá bị chìm, 01 trụ sở trường học tốc mái, 02 căn phòng làm việc (tại trụ sở UBND phường Hàm Thắng) bị tốc mái hoàn toàn và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 21,595 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ thiên tai làm 01 người chết, 02 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 11 căn nhà bị hư hỏng, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 0,6 ha lúa mới gieo xạ bị vùi lấp, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại là 29,5 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/5-15/6/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy nổ, giảm 07 vụ so với tháng trước và bằng so với cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 248,5 triệu đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 39 vụ cháy, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 02 người bị thương; có 30 vụ đã được thống kê thiệt hại với số tiền là 2.975 triệu đồng, 09 vụ đang thống kê thiệt hại. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra (tháng 6/2025 xảy ra 04 vụ vi phạm và xử phạt 600 triệu đồng). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 15 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 415,0 triệu đồng (6 tháng đầu năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phục hồi, duy trì tăng trưởng khá và có chuyển biến rõ hơn trong quý II. GRDP 6 tháng ước tăng 7,90% so với cùng kỳ, riêng quý II tăng 9,22%, cao hơn quý I, cho thấy tác động tích cực của các giải pháp chỉ đạo, điều hành. Nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ đỡ ổn định; công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch và vận tải đều tăng, tạo nền tảng quan trọng cho mục tiêu phát triển cả năm. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là khu vực giữ vai trò ổn định nền kinh tế. Diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng so với cùng kỳ; một số cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, rau, hoa duy trì quy mô sản xuất lớn; chăn nuôi phát triển khá, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng tăng 9,69%; sản lượng sữa tăng 25,96%. Sản xuất thủy sản tăng 2,99%; sản xuất tôm giống tăng 10,01%. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông, sản xuất an toàn bền vững, liên kết sản xuất và Chương trình OCOP tiếp tục được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng và khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng khá, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chủ yếu. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm tăng 9,60%. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ như đá các loại, thủy sản chế biến, rau quả chế biến, đồ uống, giày dép, phân bón, gạch xây dựng, bê tông trộn sẵn, điện thương phẩm. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm so với cùng kỳ, cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm có chuyển biến tích cực. Hoạt động xây dựng và đầu tư phát triển tiếp tục được thúc đẩy. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 14,38%; trong đó vốn ngoài nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ lực, tăng 16,16%. Một số dự án hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, đô thị, hàng không, thủy lợi và công nghiệp quy mô lớn tiếp tục được triển khai, tạo nền tảng cho tăng trưởng các quý tiếp theo và trung hạn. Thương mại, dịch vụ và du lịch tăng khá trong 6 tháng đầu năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng 17,33%. Hoạt động du lịch tiếp tục đóng vai trò động lực của khu vực dịch vụ, với tổng lượt khách phục vụ đạt gần 12 triệu lượt, tăng 18,08%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 22,15%. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng khá, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa, du lịch và sản xuất kinh doanh. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt kết quả tích cực, tổng thu 6 tháng đạt tăng 11,06% so với cùng kỳ; trong đó thu nội địa tăng 8,71%. Hoạt động tín dụng tiếp tục bảo đảm vốn cho nền kinh tế; huy động vốn đến cuối tháng 6 ước tăng 5,99% so với cuối năm 2025. Tình hình đăng ký doanh nghiệp có tín hiệu tích cực, 6 tháng đầu năm số doanh nghiệp thành lập mới tăng 58,38%; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 10,76%; số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao hơn nhiều so với số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, bảo tồn di sản được tổ chức, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và phục vụ đời sống tinh thần của Nhân dân. Công tác giáo dục tập trung hoàn thành nhiệm vụ năm học, chuẩn bị và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 an toàn, nghiêm túc. Ngành y tế chủ động giám sát, phòng chống dịch bệnh, duy trì công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Các chính sách đối với người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tiếp tục được triển khai, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đời sống dân cư. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm vẫn còn một số vấn đề cần chú ý. Tăng trưởng giữa các khu vực kinh tế chưa thật sự đồng đều. Một số ngành, lĩnh vực có quy mô lớn tuy duy trì mức tăng so với cùng kỳ nhưng tốc độ tăng chưa tương xứng với yêu cầu tăng trưởng cao của cả năm. Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi, nhiều sản phẩm chủ yếu tăng khá; tuy nhiên, mức tăng của một số sản phẩm còn thấp, chưa đồng đều giữa các nhóm ngành. Trong lĩnh vực xây dựng và đầu tư phát triển, giá trị sản xuất xây dựng và vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục tăng, song tiến độ thực hiện một số công trình, dự án trọng điểm còn phụ thuộc nhiều vào công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, thủ tục đầu tư và biến động giá nguyên vật liệu xây dựng. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 6 tháng đạt 22,57% kế hoạch năm, cho thấy khối lượng cần thực hiện trong các tháng cuối năm còn lớn. Trong lĩnh vực nông nghiệp, mặc dù sản xuất cơ bản ổn định, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro do dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, biến động giá vật tư đầu vào, chi phí vận chuyển và thời tiết bất thường. Một số cây trồng như điều, chè giảm diện tích hoặc sản lượng so với cùng kỳ; dịch tả lợn Châu Phi còn phát sinh tại một số địa bàn; tình hình vi phạm lâm luật, phá rừng và cháy rừng tăng so với cùng kỳ. Thiên tai, mưa dông, lốc, cháy nổ, tai nạn giao thông, bệnh tay chân miệng và một số dịch bệnh truyền nhiễm vẫn cần được theo dõi chặt chẽ, không để phát sinh thành điểm nóng ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   03/07/2026 16:33

Tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, chi phí đầu vào chịu áp lực tăng, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục tập trung chỉ đạo phục hồi sản xuất, thúc đẩy đầu tư, thương mại, dịch vụ, du lịch và bảo đảm an sinh xã hội. Nhìn chung, kinh tế - xã hội duy trì đà tăng trưởng khá; quý II có chuyển biến tích cực hơn quý I, song một số lĩnh vực vẫn tăng chưa tương xứng với kịch bản điều hành, nhất là xây dựng, một số sản phẩm công nghiệp, vận tải hành khách, thu nhà đất và tiến độ chuyển hóa vốn đầu tư thành khối lượng thực hiện. Tình hình cụ thể như sau: I. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý II/2026 tăng trưởng tích cực, ước tăng 9,22% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 6 tháng đầu năm 2026, GRDP tăng 7,90%. Kết quả này cho thấy đà phục hồi và phát triển của nền kinh tế tiếp tục được củng cố, trong đó cả ba khu vực kinh tế đều duy trì mức tăng khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,05%, đóng góp 1,18 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,43%, đóng góp 2,30 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,17%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp 4,00 điểm phần trăm. Đối với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản xuất nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng, duy trì tăng trưởng ổn định trong bối cảnh còn chịu tác động của thời tiết, thị trường và dịch bệnh. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,15% so với cùng kỳ, đóng góp 1,00 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành lâm nghiệp tăng 4,54%, tuy nhiên do chiếm tỷ trọng thấp nên đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,49%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng khá, trong đó công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,81% so với cùng kỳ, đóng góp 1,72 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Đáng chú ý, công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao, lần lượt đạt 17,67% và 16,76%, đóng góp tương ứng 0,10 và 0,98 điểm phần trăm. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,09%, đóng góp 0,62 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,58%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ tiếp tục phục hồi mạnh trong 6 tháng đầu năm 2026. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ tăng 9,17% so với cùng kỳ, nhờ hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ tiêu dùng tiếp tục khởi sắc. Trong đó, ngành bán buôn và bán lẻ tăng 11,34%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm; vận tải, kho bãi tăng 14,81%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 13,40%, đóng góp 0,93 điểm phần trăm; thông tin và truyền thông tăng 7,35%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm. Một số ngành dịch vụ khác cũng đạt mức tăng khá góp phần củng cố xu hướng phục hồi và mở rộng của khu vực dịch vụ. II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò ổn định của nền kinh tế. Trồng trọt duy trì nhịp tăng nhờ thời tiết cơ bản thuận lợi, nguồn nước phục vụ sản xuất được bảo đảm; chăn nuôi tăng khá, nhất là lợn và gia cầm; thủy sản khai thác và sản xuất tôm giống tiếp tục phát huy lợi thế. Tuy nhiên, khu vực này vẫn chịu sức ép từ chi phí vật tư, nhiên liệu, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi và biến động giá một số nông sản chủ lực. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm - Kết quả sản xuất vụ Đông xuân: Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 106.482 ha, tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cây lương thực ước đạt 61.950 ha, tăng 1,02% (lúa diện tích ước đạt 55.400 ha, tăng 0,16%, năng suất ước đạt 66,79 tạ/ha, tăng 0,65 tạ/ha; sản lượng ước đạt 370.000 tấn, tăng 1,14%; ngô diện tích ước đạt 6.550 ha, tăng 9,0%, năng suất ước đạt 74,81 tạ/ha, tăng 2,14 tạ/ha; sản lượng ước đạt 49.000 tấn, tăng 12,21%). Đã chuyển đổi 3.987,6 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng các cây ngắn ngày khác góp phần nâng hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm nước tưới và hạn chế sâu bệnh. - Tiến độ sản xuất vụ hè thu: Mùa mưa đến sớm, lượng mưa phân bổ tương đối đều tạo điều kiện để nông dân xuống giống sớm. Ước đến ngày 15/6/2025 toàn tỉnh xuống giống vụ Hè thu đạt 45.501 ha, tăng 6,65% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lúa diện tích đạt 9.495 ha, tăng 3,14%; ngô diện tích đạt 8.830 ha, giảm 1,84%). 1.2. Cây lâu năm Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 635.258 ha, tăng 0,54% so với cùng kỳ. Cơ cấu cây lâu năm tiếp tục dịch chuyển theo hướng nâng tỷ trọng cây có giá trị kinh tế cao như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, dâu tằm; trong khi một số cây hiệu quả thấp hoặc già cỗi như điều, chè tiếp tục giảm diện tích. Một số cây chủ lực có diễn biến như sau: - Cây cà phê: Diện tích hiện có 329.488 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tỉa cành, làm cỏ,...; - Cây cao su: Diện tích hiện ước đạt 75.375 ha, tăng 2,94%; - Cây điều: Diện tích ước đạt 45.715 ha, giảm 7,6%. Diện tích điều tiếp tục có xu hướng giảm so với cùng kỳ do người dân chuyển sang trồng mới các loại cây có hiệu quả kinh tế vượt trội hơn như cà phê, sầu riêng, chanh leo, dâu tằm,…; - Cây sầu riêng: Diện tích ước đạt 44.246 ha, tăng 4,25%; sản lượng tăng cao so với cùng kỳ do diện tích cho thu hoạch tăng; - Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có 37.673 ha, tăng 1,31% so với cùng kỳ năm trước; hiện đã hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026, sản lượng thu hoạch ước đạt 94.193 tấn, tăng 5,65%. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao trong những tháng đầu năm 2026, đây là động lực giúp người nông dân tái đầu tư và chăm sóc vườn cây tốt hơn; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.851 ha, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 345.655 tấn, tăng 0,88%. “Đề án phát triển bền vững cây thanh long đến năm 2030” tạo định hướng rõ ràng phát triển cây thanh long theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm. Thanh long Lâm Đồng đã được Liên minh châu Âu EU bảo hộ chỉ dẫn địa lý và thương hiệu được bảo hộ tại nhiều quốc gia, xu hướng tiêu dùng nông sản sạch, truy xuất nguồn gốc tiếp tục mở ra cơ hội xuất khẩu; - Cây chè: Diện tích hiện ước đạt 48.331 tấn, giảm 4,02%. Diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...; - Cây dâu tằm: Diện tích hiện ước đạt 147.790 tấn, tăng 4,46%. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. 2. Chăn nuôi Chăn nuôi tiếp tục là điểm sáng của khu vực nông nghiệp. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với cùng kỳ, nguồn cung thịt, trứng, sữa cơ bản bảo đảm cho thị trường. Sản lượng thịt hơi các loại tháng 6 ước đạt 23.525,1 tấn, tăng 11,96%; quý II đạt 92.044,9 tấn, tăng 9,54%; lũy kế 6 tháng đạt 185.269 tấn, tăng 9,69%. Kết quả này chủ yếu nhờ chăn nuôi trang trại, liên kết với doanh nghiệp và công tác phòng, chống dịch bệnh được chú trọng. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,5 nghìn con, tăng 0,28% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tương đối ổn định nhờ người dân tận dụng các vùng chăn thả và nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,4 nghìn con, tăng 2,87% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 31,0 nghìn con, tăng 0,58%). Quy mô đàn bò tiếp tục tăng nhờ công tác cải tạo giống, mở rộng diện tích đồng cỏ, tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp và duy trì các chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt đối với chăn nuôi bò sữa. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.541,5 nghìn con, tăng 5,43% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.259,4 nghìn con, tăng 5,48%). Quy mô đàn lợn tăng khá nhờ chăn nuôi trang trại phát triển, các mô hình liên kết sản xuất với doanh nghiệp tiếp tục được mở rộng, công tác phòng chống dịch bệnh được tăng cường và giá lợn hơi duy trì ở mức có lợi cho người chăn nuôi. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ lợn thịt của các doanh nghiệp chế biến, cơ sở giết mổ và thị trường trong nước tăng, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm chăn nuôi. Trước triển vọng thị trường thuận lợi, nhiều doanh nghiệp và trang trại đã chủ động tăng quy mô đàn, tái đàn và đầu tư mở rộng sản xuất, góp phần thúc đẩy tổng đàn lợn trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước (Công ty TNHH Việt Hoàng T&T tăng từ 7,07 nghìn con lên 23 nghìn con; Công ty TNHH Bách Minh tăng từ 4,1 nghìn con lên 6,57 nghìn con; Công ty TNHH Khang Thọ, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam - Chi nhánh Lâm Đồng, Công ty Chăn nuôi Duy Ngọc Đạ Huoai đều có quy mô đàn tăng từ 0,5 đến dưới 2,0 nghìn con so với cùng kỳ năm trước). - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 23.600 nghìn con, tăng 8,69% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.337 nghìn con, chiếm 69,22% trong tổng đàn gia cầm, tăng 8,46%). Quy mô đàn gia cầm tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, khả năng thích ứng linh hoạt với thị trường, cùng với việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong 6 tháng đầu năm 2026 diện tích trồng rừng ước đạt 4.226 ha, tăng 5,2%; diện tích trồng cây phân tán ước đạt 5,6 triệu cây, tăng 3,36% so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 233.289 m3, tăng 3,89%; sản lượng củi khai thác đạt 180.081 ste, tăng 1,98%. Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong 6 tháng đầu năm 2026 (tính đến ngày 10/6/2026) là 300 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 136 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 22,7 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 42 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 34 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 5,9 ha). Công tác phòng, chống cháy rừng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã triển khai thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô năm 2026, tập trung theo dõi và thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn các xã, phường; cập nhật kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát, xác định các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao trên địa bàn; tổ chức trực và canh gác tại các khu rừng có nguy cơ cháy rừng cao khi dự báo cháy rừng cấp III, IV, V. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,7 ha.. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.873,4 ha, tăng 1,43% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 2.581,6 ha, tăng 1,25%; diện tích nuôi tôm đạt 269,1 ha, tăng 3,46%). Sản lượng nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13.890 tấn, tăng 0,45% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 2.311,2 tấn, tăng 4,95%) - Khai thác thủy sản: Những tháng đầu năm, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền bám biển hoạt động khai thác ổn định; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho một số nghề như lưới kéo, vây rút chì, lưới rê, mành. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, đảo Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.113,5 tấn, tăng 3,29% (sản lượng khai thác biển đạt 119.700,2 tấn, tăng 3,19%). Sản xuất giống thủy sản: Trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,2 tỷ post, tăng 10,01%. 5. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông vào sản xuất Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác đào tạo, tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ, khuyến nông tiếp tục được đẩy mạnh và mang lại hiệu quả tích cực; Công tác thông tin tuyên truyền khuyến nông tiếp tục được quan tâm thực hiện thường xuyên. Sản xuất an toàn bền vững tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh; diện tích sản xuất được chứng nhận an toàn bền vững ngày càng được mở rộng; đến nay, toàn tỉnh hiện có trên 154.375 ha được chứng nhận sản xuất an toàn bền vững (trong đó, diện tích VietGAP, GlobalGAP đạt 23.800 ha, diện tích hữu cơ đạt 4.075 ha, diện tích cà phê chứng nhận 4C, UTZ/Rainforest… đạt 126.500 ha). 6. Chương trình xây dựng nông thôn mới Trong 6 tháng đầu năm 2026, tập trung triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Toàn tỉnh hiện có 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp đang hoạt động theo Luật HTX năm 2023 với 45 HTX thành viên và 959 HTX nông nghiệp với 19.582 thành viên (trong đó 166 HTX ngừng hoạt động); có 1.290 Tổ hợp tác (các Tổ hợp tác hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi) và 1.448 trang trại (trong đó, có 1.410 trang trại đang hoạt động, 38 trang trại ngừng hoạt động). Hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh với 428 chuỗi liên kết, thu hút 47.590 hộ tham gia; diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85 nghìn ha, sản lượng khoảng 920 nghìn tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt 2.230 nghìn con, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Chương trình OCOP tiếp tục được triển khai hiệu quả với 936 sản phẩm còn hạn chứng nhận, trong đó có 88 sản phẩm 4 sao và 848 sản phẩm 3 sao, với 526 chủ thể tham gia. III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh ước tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 duy trì đà tăng trưởng khá. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương. Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp tỉnh. Sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,02%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 16,92%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,05%. * Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 6 tháng đầu năm 2026 - Sản phẩm đá xây dựng: ước đạt 2.136.985 m3, tăng 19,15% so với cùng kỳ. Tăng mạnh so với cùng kỳ do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang chỉ đạo tập trung giải ngân vốn đầu tư công cũng như các hạng mục công trình xây dựng khác đang đầu tư tại tỉnh. - Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: ước đạt 12.183 tấn, tăng 19,12% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp tập trung sản xuất khi mùa khai thác thủy hải sản đang thuận lợi, chủ động nguồn hàng cho các tháng tiếp theo. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: ước đạt 21.431 tấn, tăng 15,38% so với cùng kỳ, một số doanh nghiệp đã đưa được sản phẩm vào siêu thị và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua một số nước trong khu vực ASEAN. - Đồ uống các loại: ước đạt 124.131 nghìn lít, tăng 16,80% so với cùng kỳ, các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: ước đạt 3.799 nghìn đôi, tăng 29,21% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm và đến nay vẫn duy trì tốc độ tăng đáng kể. - Sản phẩm phân bón: ước đạt 65.614 tấn, tăng 20,65% so với cùng kỳ nguyên nhân do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng để chuẩn bị cho mùa vụ 2026. - Sản phẩm Ôxit nhôm: ước đạt 789,9 nghìn tấn tăng 2,53% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: ước đạt 18.079 triệu kwh, tăng 5,26% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: ước đạt 3.016 triệu kwh, tăng 8,93% so với sùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. * Chỉ số sử dụng lao động: Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,96%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,48%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,22%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,38%. Chỉ số sử dụng lao động tăng cho thấy các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất, nhất là trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, lao động trong khai khoáng và cung cấp nước, xử lý rác thải còn giảm; đồng thời kết quả khảo sát doanh nghiệp cho thấy khó tuyển dụng lao động theo yêu cầu vẫn là một trong những khó khăn đáng chú ý, cần được theo dõi trong thời gian tới. * Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 11,77% so với tháng trước và tăng 12,35% so với cùng kỳ; lũy kế quý II/2026 chỉ số tiêu thụ giảm 1,43% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 30,45%; sản xuất đồ uống tăng 28,25%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 36,73%; chế biến gỗ tăng 48,89%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 76,47%; in và sao chép bản ghi các loại tăng 26,13%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 11,15%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 17,99%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 8,63%; sản xuất kim loại tăng 3,08%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 88,93%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: ngành dệt giảm 5,73%; sản xuất trang phục giảm 45,18%... Chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng là tín hiệu tích cực, nhưng quý II vẫn giảm 1,43% so với cùng kỳ, phản ánh sức mua và đơn hàng chưa đồng đều giữa các ngành. Các ngành thực phẩm, đồ uống, da giày, gỗ, giấy, hóa chất, cao su - plastic tăng tiêu thụ; ngược lại, dệt và sản xuất trang phục còn giảm, cho thấy rủi ro thị trường đang chịu ảnh hưởng của những biến động chưa tích cực từ tình hình kinh tế thế giới. * Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 14,52% so với tháng trước và giảm 21,4% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 23,29%; sản xuất đồ uống giảm 26,68%; dệt giảm 77,93%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 29,52%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 56,35%… Ngược lại những ngành tăng như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 54,23%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 9,66%. * Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Sản xuất kinh doanh quý II/2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 32,14% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 21,43% đánh giá khó khăn hơn và 46,43% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi. Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước 12,5% có chiều hướng thuận lợi; 75% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 31,03% có chiều hướng thuận lợi; 45,69% có chiều hướng không thay đổi và 23,28% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 50% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 37,5% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý II/2026, có 50,94% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 26,42% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 35,85% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 7,55% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 22,64% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 5,66% cho rằng thiếu năng lượng; 33,96% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 28,3% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 20,75% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 20,75% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 9,43% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 20,75% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 3,77% lý do khác. * Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã thu hút được 06 dự án đầu tư (trong đó có 01 dự án nước ngoài và 05 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 258,66 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích đất thuê lại 5,18 ha. Các dự án thu hút mới chủ yếu tập trung tại KCN Lộc Sơn và KCN Phú Hội, gồm: Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina, vốn đăng ký 0,2 triệu USD, thuê lại 0,3 ha nhà xưởng tại KCN Lộc Sơn; Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam, vốn đăng ký 26 tỷ đồng, diện tích 0,3128 ha tại KCN Lộc Sơn; Kho Transimex Phú Hội, vốn đăng ký 98,658 tỷ đồng, diện tích 1,29 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV Nhựa Stroman Lâm Đồng, vốn đăng ký 40 tỷ đồng, diện tích 1,3879 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm, vốn đăng ký 14 tỷ đồng, diện tích 1,0887 ha tại KCN Phú Hội; và Nhà máy chế biến nông sản của Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà, vốn đăng ký 80 tỷ đồng, diện tích 1,0981 ha tại KCN Phú Hội. Lũy kế đến nay, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh có 244 dự án đầu tư, trong đó có 58 dự án FDI và 186 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 46.728,75 tỷ đồng và 515,132 triệu USD; diện tích đất đăng ký 727,11 ha, tỷ lệ lấp đầy chung đạt 53,88%. Hiện có 175 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Kết quả sản xuất kinh doanh lũy kế đến ngày 30/6/2026 ước đạt 16.520 tỷ đồng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 353,8 triệu USD; nộp ngân sách ước đạt 949,5 tỷ đồng. 2. Xây dựng Hoạt động xây dựng duy trì tăng trưởng, song tốc độ chưa thật sự bứt phá so với yêu cầu tăng trưởng cao. Các dự án hạ tầng giao thông, chỉnh trang đô thị, công trình phục vụ du lịch, dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục tạo khối lượng cho ngành; tuy nhiên, vướng mắc về mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, giá vật liệu và thủ tục dự án vẫn là những yếu tố làm chậm tiến độ thi công, nghiệm thu và thanh toán. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ngành xây dựng chia theo loại hình quý II/2026 ước đạt 16.492,3 tỷ đồng, tăng 14,87% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 63 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,38%), tăng 75,11% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 8.935,4 tỷ đồng (54,18%), tăng 16,04% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 176,3 tỷ đồng (1,07%), tăng 19,95% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 7.317,6 tỷ đồng (44,37%), tăng 13,03% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 28.653,6 tỷ đồng, tăng 13,68% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 120,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,42%), tăng 85,67% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 15.741,8 tỷ đồng (54,94%), tăng 14,40% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 352,0 tỷ đồng (1,23%), tăng 12,27% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 12.439,8 tỷ đồng (43,41%), tăng 12,27% so với cùng kỳ. Chia theo loại công trình, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý II/2026 công trình nhà ở đạt 6.578,8 tỷ đồng, tăng 11,55% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 3.476,3 tỷ đồng, tăng 12,52% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 4.400,3 tỷ đồng, tăng 15,69% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.036,9 tỷ đồng, tăng 29,99% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành loại công trình nhà ở đạt 11.554,8 tỷ đồng, tăng 10,92% so cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 5.952,9 tỷ đồng, tăng 11,54% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 7.425,7 tỷ đồng, tăng 13,88%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 3.720,2 tỷ đồng, tăng 26,92% so với cùng kỳ. Kết quả khảo sát doanh nghiệp xây dựng cho thấy tâm lý thận trọng còn rõ nét. Quý II/2026 so với quý I/2026 có 14,5% doanh nghiệp nhận định thuận lợi hơn, 50,8% ổn định và 34,7% khó khăn hơn; chỉ số cân bằng chung là -20,2%. Dự báo quý III/2026, tỷ lệ doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn tăng lên 48%, chỉ số cân bằng chung giảm -35,3%, cho thấy ngành xây dựng cần được hỗ trợ mạnh hơn về mặt bằng, thủ tục, nguồn vật liệu và thanh toán khối lượng. 3. Đầu tư phát triển Đầu tư phát triển tiếp tục là kênh tạo động lực tăng trưởng quan trọng sau khi tỉnh mở rộng không gian phát triển. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá, cơ cấu vốn ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng chủ lực, tập trung vào công nghiệp chế biến, khai khoáng, năng lượng, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và hạ tầng. Tuy nhiên, tốc độ thực hiện một số dự án còn chậm, nhất là nhóm dự án liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và thủ tục đất đai. Trong 6 tháng đầu năm, công tác phân bổ và triển khai vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm, công trình khởi công mới được thực hiện khẩn trương. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện của các dự án còn chậm do vướng mắc trong chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa được xử lý dứt điểm. 3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.539,56 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 4.233,71 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ, chiếm 93,26% tổng số vốn trên địa bàn (trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.956,99 tỷ đồng, tăng 24,47% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 605,25 tỷ đồng, giảm 46,71% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài ước đạt 68,05 tỷ đồng, giảm 28,28% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 1.576,63 tỷ đồng, tăng 26,42% so với cùng kỳ; vốn khác ước đạt 26,79 tỷ đồng, tăng 77,36% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 305,85 tỷ đồng, chiếm 6,74% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,24% so với cùng kỳ. 3.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn Vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục mở rộng, trong đó vốn ngoài nhà nước giữ vai trò dẫn dắt. Dòng vốn tập trung vào các dự án có khả năng tạo năng lực sản xuất và không gian phát triển mới như Thung lũng Đại dương, Điện phân nhôm Đắk Nông, Nam sông Đa Nhim, các khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2, cùng nhóm dự án chế biến, logistics và nông nghiệp công nghệ cao. Đây là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng trung hạn, nhưng cần tiếp tục theo dõi khả năng chuyển hóa thành khối lượng thực hiện trong năm 2026. Sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư toàn xã hội đạt 51.950,24 tỷ đồng, tăng 14,38% so với cùng kỳ năm trước. Vốn nhà nước đạt 8.379,9 tỷ đồng (chiếm 16,13%), tăng 6,95%. Vốn ngoài nhà nước đạt 41.688,83 tỷ đồng (41,78%), tăng 16,16% tiếp tục giữ vai trò chủ lực, huy động hiệu quả nguồn xã hội hóa (vốn của tổ chức, doanh nghiệp đạt 21.705,37 tỷ đồng, tăng 15,15%; vốn của dân cư đạt 19.983,46 tỷ đồng, tăng 17,27%). Vốn FDI đạt 1.881,51 tỷ đồng (3,62%), tăng 11,21%, dòng vốn FDI có sự chọn lọc chiến lược, tập trung vào nông nghiệp công nghệ sinh học, chế biến sâu nông sản, logistics và du lịch sinh thái. Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất 77,1% (40.053,09 tỷ đồng, tăng 16,37%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 12,74% (6.616,59 tỷ đồng, tăng 7,11%), cùng các khoản mục mua sắm tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động và vốn khác đều tăng trưởng. Kết quả trên cho thấy dòng vốn đầu tư tiếp tục mở rộng, cơ cấu chuyển dịch tích cực, đóng góp quan trọng cho phát triển hạ tầng, công nghiệp chế biến chế tạo và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 2.382 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 58,38% so với cùng kỳ; 556 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 10,76%; 1.191 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 2,03%; 491 doanh nghiệp giải thể, tăng 71,68% (tương ứng 205 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 11.965,5 tỷ đồng, tăng 34,63%. Bình quân một tháng số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao xấp sỉ 6 lần số doanh nghiệp rút lui (490 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại so với gần 82 doanh nghiệp rút lui). Điều này cho thấy niềm tin kinh doanh có cải thiện; tuy nhiên, số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh cũng phản ánh áp lực cạnh tranh, chi phí và khả năng chống chịu của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế. Về thu hút đầu tư (tính từ đầu năm đến ngày 18/6/2026), toàn tỉnh có 31 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 143.886,6 tỷ đồng; 28 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 18/6/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.950 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 916.601 tỷ đồng (trong đó: có 245 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.958 tỷ đồng). IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Sức mua tăng, nguồn cung hàng hóa ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá bán trên thị trường tương đối ổn định, không xảy ra biến động khan hiếm làm tăng giá đột biến. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, nhiều hoạt động văn hoá, thể thao và nhiều lễ hội khác đã thu hút nhiều du khách. Dịch vụ lữ hành tiếp tục tăng cường; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hoá trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Sáu tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 97.606,7 tỷ đồng, tăng 17,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 60.083,8 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 19.840 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. 2. 2. Giá cả 2.1. Giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm chịu tác động đan xen: một mặt, nguồn cung hàng hóa cơ bản ổn định và điều hành giá xăng dầu góp phần hạn chế biến động đột biến; mặt khác, giá nhà ở, điện nước, vật liệu xây dựng, thực phẩm, giao thông và giáo dục tăng đã tạo áp lực lên mặt bằng giá chung. Vì vậy, kiểm soát giá, nhất là nhóm hàng thiết yếu và chi phí đầu vào, tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới. Trong tháng CPI giảm 0,19% so với tháng trước, tăng 0,60% so với tháng 12/2025 và tăng 4,01% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý II/2026, CPI tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng tác động lớn đến CPI gồm: nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,04%, làm CPI chung tăng 1,08 điểm phần trăm; thực phẩm tăng 4,58%, đóng góp 1,14 điểm phần trăm; giao thông tăng 5,38%, làm CPI tăng 0,61 điểm phần trăm; giáo dục tăng 7,18%, góp phần tăng 0,34 điểm phần trăm. Ngoài ra, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, đồ uống và thuốc lá tăng 3,3%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,49%. Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,27%, góp phần giảm áp lực tăn giá. Nhìn chung, mặt bằng giá 6 tháng đầu năm 2026 chịu tác động chủ yếu từ chi phí nguyên vật liệu đầu vào, giá nhiên liệu, giá nhà ở, vật liệu xây dựng và việc điều chỉnh học phí tại một số cơ sở giáo dục. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất  Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2026 tăng 5,93% so cùng kỳ năm trước và 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 5,59%; sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 7,21% và sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,76%. Chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước, trong đó tăng cao nhất là nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,47%; tiếp đến là nhóm sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 6,55%; nhóm sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng thấp 3,49%.  Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào dùng cho sản xuất quý II/2026 tăng 11,72% so với cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 1,93%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,85%; nguyên vật liệu khác tăng 14,61%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,29%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,33%; sản phẩm xây dựng tăng 6,9%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,47%. Tính bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 9,19% so cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 4,3%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,6%; nguyên vật liệu khác tăng 9,44%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 4,04%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,62%; sản phẩm xây dựng tăng 5,37%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,66%. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý II/2026 tăng 1,01% so với quý trước; tăng 3,9% so với quý cùng kỳ năm trước. Tính bình quân chỉ số giá 6 tháng đầu năm 2026 tăng 3,85% so với cùng kỳ năm năm trước, trong đó: nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 19,59% so với cùng kỳ năm trước (nhờ nhóm sản phẩm quặng kim loại và tinh quặng kim loại, nhóm nhóm sản phẩm khai khoáng khác); nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,95% (hầu hết sản phẩm đều tăng giá); nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,28% (do những tháng đầu năm công ty cổ phần thủy điện Trung Nam, Đăk R'tih áp dụng theo đơn giá điện mùa khô; bên cạnh đó sản lượng điện phát ra của công ty cổ phần thủy điện Đa Nhim - àm Thuận - Đa Mi cao hơn giá hợp đồng, tác động làm tăng chỉ số giá nhóm thủy điện; ngoài ra giá điện mặt trời biến động theo tỷ giá đồng Đô la Mỹ); nhóm nước tự nhiên khai thác, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,79% (do lượng nước tiêu thụ tăng tác động lên giá nước sản xuất; bên cạnh đó chi phí nhân công, giá nhiên liệu và chi phí vận hành tăng nên một số công ty điều chỉnh tăng giá dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu). 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, tỉnh Lâm Đồng sôi động với nhiều sự kiện văn hóa và thể thao quy mô lớn, nổi bật là Hội thao Quân sự, võ thuật và thể thao Công an nhân dân (từ ngày 17-24/6/2026) thu hút khoảng 1.500 vận động viên tham gia thi đấu các môn: bắn súng, võ thuật, vượt vật cản, bóng đá nam 7 người và Pickleball. Giải Thể thao học sinh phổ thông toàn quốc (từ ngày 20-30/6/2026); Chương trình kích cầu du lịch nội tỉnh diễn ra xuyên suốt trong tháng và kéo dài đến cuối năm 2026 hưởng ứng mùa du lịch hè, tỉnh triển khai chương trình “Người Lâm Đồng đi du lịch Lâm Đồng - Khám phá quê hương, kết nối yêu thương”, với nhiều chuỗi trải nghiệm, khám phá thiên nhiên, văn hóa và kết nối các vùng miền trên toàn tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 11.995 nghìn lượt, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 428 nghìn lượt, tăng 13,91% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 22.430 nghìn ngày khách, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 825 nghìn lượt, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.630 nghìn ngày khách, tăng 22,32% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt gần 4.026 tỷ đồng, tăng 23,25% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 15.498 tỷ đồng, tăng 23,75% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 325 tỷ đồng, tăng 41,8% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 33.310 tỷ đồng, tăng 22,15% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong 6 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 4.284,9 tỷ đồng, tăng 10,67%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 995,5 tỷ đồng, tăng 10,09%; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 892 tỷ đồng, tăng 21,51%; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.439,8 tỷ đồng, tăng 15,31%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 8.266,2 tỷ đồng, tăng 20,57%; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.804,5 tỷ đồng, tăng 10,36%.   5. Hoạt động vận tải Do nhu cầu đi lại của người dân và khách du lịch đến Đà Lạt, Phan Thiết và các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh tăng trong tháng đầu tiên của mùa hè; đồng thời hoạt động vận chuyển nông sản, vật liệu xây dựng và hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh diễn ra sôi động để phục vụ cho các công trình đang thi công. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông kết nối giữa Lâm Đồng với các tỉnh khu vực lân cận ngày càng thuận lợi, góp phần thúc đẩy hoạt động logistics, kho bãi và doanh thu ngành vận tải tăng so với cùng kỳ. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.274,7 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 27,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 ước đạt 3.669,4 tỷ đồng, tăng 25,25% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong 6 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 17.098 nghìn HK, tăng 18,09% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 2.466.897 nghìn HK.Km, tăng 18,92% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong 6 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 12.274,5 nghìn tấn, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.806.168 nghìn tấn.Km, tăng 17,85% so với cùng kỳ năm trước - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.465 tỷ đồng, tăng 28,05% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.465 tỷ đồng, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 939,7 tỷ đồng, tăng 13,54% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 263,3 tỷ đồng, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.373 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.250 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 123 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 18.623,9 tỷ đồng bằng 54,08% kế hoạch năm và tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 17.320,4 tỷ đồng, bằng 53,01% kế hoạch năm và tăng 8,71%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.303,5 tỷ đồng, bằng 74,06% kế hoạch năm và tăng 55,69% so với cùng kỳ năm trước.   Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa trong 6 tháng đầu năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 2.490 tỷ đồng (bằng 65,46% kế hoạch năm và tăng 6,57% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 873 tỷ đồng (bằng 63,27% kế hoạch năm và tăng 11,10%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 4.856 tỷ đồng (bằng 72,61% kế hoạch năm và tăng 53,37%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 1.600 tỷ đồng (bằng 58,61% kế hoạch năm và tăng 0,34%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 2.220 tỷ đồng (bằng 30,10% kế hoạch năm và giảm 17,39%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 3.087 tỷ đồng (bằng 53,22% kế hoạch năm và tăng 9,89%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 25.309,5 tỷ đồng (bằng 51,87% kế hoạch, tăng 0,36% so với cùng kỳ), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 9.051,8 tỷ đồng, giảm 2,91% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 16.138,6 tỷ đồng, tăng 0,40% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động tín dụng Tính đến 31/5/2026, công tác huy động vốn của các TCTD (Tổ chức tín dụng) trên địa bàn tỉnh đạt 240.469 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 11.193 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4,88%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 237.670 tỷ đồng (chiếm 98,84% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.799 tỷ đồng, (chiếm 1,16% tổng huy động vốn). Ước đến 30/6/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 243.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 13.728 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 5,99%. Hoạt động tín dụng: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 374.447 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.463 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,93%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 371.780 tỷ đồng (chiếm 99,29% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.667 tỷ đồng (chiếm 0,71% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 264.635 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 109.812 tỷ đồng. Ước đến 30/6/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 382.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 11.016 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,97%. Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của NHTM trong tỉnh ở mức 0,18% - 0,40%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,31% - 4,74%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 7,22% -8,01%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 7,43% - 7,92%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay mới ở mức 9% - 10,51%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,17% - 4,52%/năm. Dư nợ cho vay: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 184.967 tỷ đồng, chiếm 49,4% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.253 tỷ đồng, chiếm 8,61% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 157.227 tỷ đồng, chiếm 41,99% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.759 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa Trong 6 tháng đầu năm 2026, các hoạt động tuyên truyền, cổ động, văn hóa, văn nghệ được triển khai đồng bộ, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị và các ngày lễ lớn của đất nước, địa phương; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân. Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản tiếp tục được quan tâm. 1.2. Hoạt động thể thao Trong 6 tháng đầu năm 2026, phong trào thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục phát triển sôi nổi với nhiều giải đấu và sự kiện quy mô cấp tỉnh, khu vực được tổ chức Thể thao thành tích cao tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Trong 6 tháng đầu năm, tỉnh đã cử 778 vận động viên tham gia 44 giải thể thao cấp quốc gia và quốc tế, giành 254 huy chương, gồm 45 Huy chương Vàng, 70 Huy chương Bạc và 139 Huy chương Đồng; trong đó có 01 Huy chương Bạc tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 09 huy chương quốc tế (gồm 03 Huy chương Vàng, 01 Huy chương Bạc và 05 Huy chương Đồng). 2. Giáo dục và đào tạo Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành Giáo dục tập trung chuẩn bị và tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 bảo đảm an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế; chủ động rà soát cơ sở vật chất, nhân sự, phương án bảo đảm an ninh, an toàn và phòng, chống gian lận thi cử. Toàn tỉnh bố trí 91 điểm thi với 1.845 phòng thi, có 41.309 thí sinh đăng ký dự thi, gồm 39.594 học sinh lớp 12 và 1.715 thí sinh tự do. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 526 cơ sở giáo dục mầm non với 155.054 trẻ; 564 trường tiểu học (289 trường đạt chuẩn quốc gia) với 327.349 học sinh; 366 trường trung học cơ sở (234 trường đạt chuẩn quốc gia) với 248.983 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (52 trường đạt chuẩn quốc gia) với 116.160 học sinh. Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp tiếp tục được duy trì với 78 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, gồm 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp, 28 trung tâm giáo dục nghề nghiệp, 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp và 11 cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác. Đồng thời, ngành tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, phổ cập giáo dục, giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng trường chuẩn quốc gia, giáo dục STEM/STEAM, đổi mới quản trị trường học và triển khai tuyển sinh đầu cấp năm học 2026-2027. 3. Y tế Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành Y tế tiếp tục tăng cường giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các bệnh truyền nhiễm; chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là dịch bệnh do vi rút Ebola; đồng thời bảo đảm đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư y tế và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh phục vụ Nhân dân. Ước 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ghi nhận 1.766 ca sốt xuất huyết, đã xử lý 155 ổ dịch; 02 ca sốt rét; 2.709 ca tay chân miệng và 76 ca sởi. Công tác tiêm chủng mở rộng được duy trì với 3.877 trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ, 4.220 trẻ được tiêm vắc xin sởi - rubella (MR) và 3.651 phụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván. Chương trình phòng, chống bệnh phong tiếp tục duy trì đạt các tiêu chí loại trừ của Bộ Y tế; toàn tỉnh đang quản lý 437 bệnh nhân phong. Công tác phòng, chống lao được triển khai tại 100% xã, phường, đặc khu; trong tháng phát hiện 186 bệnh nhân lao mới và 05 bệnh nhân lao kháng thuốc. Trong tháng phát hiện 09 ca nhiễm HIV mới, có 03 trường hợp tử vong do AIDS; lũy kế toàn tỉnh có 4.827 người nhiễm HIV, 1.790 người chuyển sang AIDS và 1.577 người tử vong. Công tác khám, chữa bệnh tiếp tục đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Ước 6 tháng đầu năm 2026, các cơ sở y tế đã khám cho 2.524.114 lượt người, điều trị nội trú 204.599 lượt bệnh nhân với 1.256.544 ngày điều trị, công suất sử dụng giường bệnh đạt 80,0%; thực hiện 3.318.303 xét nghiệm, 756.752 lượt chẩn đoán hình ảnh và 32.742 ca phẫu thuật. Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm được tăng cường. Trong 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm làm 97 người mắc, không có trường hợp tử vong. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tuyên truyền kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền chuỗi hoạt động “Chào mùa Du lịch hè năm 2026”,... đồng thời thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Đã ban hành Kế hoạch số 6842/KH-UBND ngày 14/5/2026 về thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên đại bàn tỉnh Lâm Đồng; đồng thời triển khai thuê phần mềm giám sát thông tin trên không gian mạng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã cấp 13 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 02 giấy phép tổ chức hội chợ triển lãm xuất bản phẩm. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tiếp tục ổn định; các chính sách an sinh xã hội, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được triển khai hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống, bảo tồn bản sắc văn hóa và cải thiện điều kiện học tập, chăm sóc sức khỏe của người dân. Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi, tổng kế hoạch vốn giai đoạn 2021-2025 kéo dài sang năm 2026 là 1.140.892,89 triệu đồng; đến tháng 6/2026 đã giải ngân 871.158,59 triệu đồng, đạt 76,36% kế hoạch, gồm 560.268,49 triệu đồng vốn đầu tư phát triển và 290.890,10 triệu đồng vốn sự nghiệp. Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất tiếp tục được triển khai với 991 hộ đăng ký hỗ trợ sản xuất 5.916,15 ha bắp lai và lúa nước; tổ chức 12 lớp tập huấn cho hơn 800 lượt hộ dân. Đồng thời, đã cung ứng 15 tấn lúa giống, 10 tấn bắp giống, 500 tấn phân bón và hỗ trợ tiêu thụ 3.500 tấn bắp lai thương phẩm, 10 tấn mủ cao su, góp phần bảo đảm nguồn vật tư đầu vào, nâng cao thu nhập và thúc đẩy giảm nghèo bền vững trong vùng đồng bào DTTS và miền núi. 5.2. Chính sách tôn giáo Trong 6 tháng đầu năm 2026, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định; các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo được triển khai hiệu quả, công tác giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện kịp thời, đúng quy định, đáp ứng nhu cầu chính đáng của các tổ chức, cá nhân theo tôn giáo. Tỉnh đã chấp thuận 25 trường hợp thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc, 01 trường hợp chia tách tổ chức tôn giáo, 25 trường hợp bổ nhiệm chức việc, 22 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo, 08 trường hợp xây dựng công trình tôn giáo, 80 trường hợp tiếp nhận thông báo phong phẩm chức sắc, 01 thông báo bổ sung danh mục hoạt động tôn giáo và 27 trường hợp thuyên chuyển địa bàn hoạt động tôn giáo. Nhìn chung, các chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ chấp hành tốt quy định của pháp luật, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và ổn định đời sống tinh thần của Nhân dân. 5.3. Chính sách người có công Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác chăm lo người có công với cách mạng tiếp tục được quan tâm thực hiện. Tỉnh đã giải quyết 1.875 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công; riêng trong tháng giải quyết 324 hồ sơ và tích cực chuẩn bị các hoạt động kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026), triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã tặng 27.201 suất quà theo Quyết định của Chủ tịch nước với tổng kinh phí hơn 8,3 tỷ đồng và 65.234 suất quà theo Nghị quyết của HĐND tỉnh với tổng kinh phí hơn 83,8 tỷ đồng. Thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng cho 18.315 người có công với kinh phí gần 46,3 tỷ đồng; đồng thời chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt cho 13.802 người với tổng kinh phí 182,24 tỷ đồng. Bên cạnh đó, tỉnh đã phê duyệt hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 đối tượng là con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học (gồm 47 căn xây mới và 40 căn sửa chữa); tổ chức điều dưỡng tập trung cho 425 lượt người và điều dưỡng tại nhà cho 3.745 người, với tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết tháng 5 năm 2026, toàn tỉnh có 317.946 người tham gia BHXH, tăng 1,10% so với tháng trước; có 240.259 người tham gia BHTN, tăng 0,85%; số người tham gia BHYT là 3.110.300 người, tăng 1,17% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 91,81% dân số. Tính đến ngày 31/5/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 47.218 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 7.332 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 735 người; trợ cấp 1 lần cho 11.131 người; chế độ ốm đau cho 27.313 người; chế độ thai sản cho 6.270 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 1.769 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 6.967 người và hỗ trợ học nghề cho 365 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/5 - 14/6/2026) Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 345 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 89 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 223 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 230 người, giảm 121 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ thiên tai làm 01 người chết, 02 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 11 căn nhà bị hư hỏng, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 0,6 ha lúa mới gieo xạ bị vùi lấp, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại là 29,5 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 39 vụ cháy, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 02 người bị thương; có 30 vụ đã được thống kê thiệt hại với số tiền là 2.975 triệu đồng, 09 vụ đang thống kê thiệt hại. - Vi phạm môi trường: Trong 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 15 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 415,0 triệu đồng (6 tháng đầu năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phục hồi, duy trì tăng trưởng khá và có chuyển biến rõ hơn trong quý II. GRDP 6 tháng ước tăng 7,90% so với cùng kỳ, riêng quý II tăng 9,22%, cao hơn quý I, cho thấy tác động tích cực của các giải pháp chỉ đạo, điều hành. Nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ đỡ ổn định; công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch và vận tải đều tăng, tạo nền tảng quan trọng cho mục tiêu phát triển cả năm. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là khu vực giữ vai trò ổn định nền kinh tế. Diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng so với cùng kỳ; một số cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, rau, hoa duy trì quy mô sản xuất lớn; chăn nuôi phát triển khá, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng tăng 9,69%; sản lượng sữa tăng 25,96%. Sản xuất thủy sản tăng 2,99%; sản xuất tôm giống tăng 10,01%. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông, sản xuất an toàn bền vững, liên kết sản xuất và Chương trình OCOP tiếp tục được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng và khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng khá, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chủ yếu. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm tăng 9,60%. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ như đá các loại, thủy sản chế biến, rau quả chế biến, đồ uống, giày dép, phân bón, gạch xây dựng, bê tông trộn sẵn, điện thương phẩm. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm so với cùng kỳ, cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm có chuyển biến tích cực. Hoạt động xây dựng và đầu tư phát triển tiếp tục được thúc đẩy. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 14,38%; trong đó vốn ngoài nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ lực, tăng 16,16%. Một số dự án hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, đô thị, hàng không, thủy lợi và công nghiệp quy mô lớn tiếp tục được triển khai, tạo nền tảng cho tăng trưởng các quý tiếp theo và trung hạn. Thương mại, dịch vụ và du lịch tăng khá trong 6 tháng đầu năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng 17,33%. Hoạt động du lịch tiếp tục đóng vai trò động lực của khu vực dịch vụ, với tổng lượt khách phục vụ đạt gần 12 triệu lượt, tăng 18,08%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 22,15%. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng khá, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa, du lịch và sản xuất kinh doanh. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt kết quả tích cực, tổng thu 6 tháng đạt tăng 11,06% so với cùng kỳ; trong đó thu nội địa tăng 8,71%. Hoạt động tín dụng tiếp tục bảo đảm vốn cho nền kinh tế; huy động vốn đến cuối tháng 6 ước tăng 5,99% so với cuối năm 2025. Tình hình đăng ký doanh nghiệp có tín hiệu tích cực, 6 tháng đầu năm số doanh nghiệp thành lập mới tăng 58,38%; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 10,76%; số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao hơn nhiều so với số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, bảo tồn di sản được tổ chức, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và phục vụ đời sống tinh thần của Nhân dân. Công tác giáo dục tập trung hoàn thành nhiệm vụ năm học, chuẩn bị và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 an toàn, nghiêm túc. Ngành y tế chủ động giám sát, phòng chống dịch bệnh, duy trì công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Các chính sách đối với người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tiếp tục được triển khai, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đời sống dân cư. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm vẫn còn một số vấn đề cần chú ý. Tăng trưởng giữa các khu vực kinh tế chưa thật sự đồng đều. Một số ngành, lĩnh vực có quy mô lớn tuy duy trì mức tăng so với cùng kỳ nhưng tốc độ tăng chưa tương xứng với yêu cầu tăng trưởng cao của cả năm. Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi, nhiều sản phẩm chủ yếu tăng khá; tuy nhiên, mức tăng của một số sản phẩm còn thấp, chưa đồng đều giữa các nhóm ngành. Trong lĩnh vực xây dựng và đầu tư phát triển, giá trị sản xuất xây dựng và vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục tăng, song tiến độ thực hiện một số công trình, dự án trọng điểm còn phụ thuộc nhiều vào công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, thủ tục đầu tư và biến động giá nguyên vật liệu xây dựng. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 6 tháng đạt 22,57% kế hoạch năm, cho thấy khối lượng cần thực hiện trong các tháng cuối năm còn lớn. Trong lĩnh vực nông nghiệp, mặc dù sản xuất cơ bản ổn định, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro do dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, biến động giá vật tư đầu vào, chi phí vận chuyển và thời tiết bất thường. Một số cây trồng như điều, chè giảm diện tích hoặc sản lượng so với cùng kỳ; dịch tả lợn Châu Phi còn phát sinh tại một số địa bàn; tình hình vi phạm lâm luật, phá rừng và cháy rừng tăng so với cùng kỳ. Thiên tai, mưa dông, lốc, cháy nổ, tai nạn giao thông, bệnh tay chân miệng và một số dịch bệnh truyền nhiễm vẫn cần được theo dõi chặt chẽ, không để phát sinh thành điểm nóng ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh./. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

Thống kê tỉnh Lâm Đồng sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026, triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026
  •   01/07/2026 17:04

Chiều ngày 29/6/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026, triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Đồng chí Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì hội nghị. Tham dự hội nghị có các đồng chí Phó Trưởng Thống kê tỉnh; lãnh đạo, công chức các phòng nghiệp vụ; Thống kê cơ sở Đà Lạt và kết nối trực tuyến đến 15 điểm cầu Thống kê cơ sở trên địa bàn tỉnh. Tại hội nghị, các đại biểu đã đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2026 của ngành Thống kê Lâm Đồng. Trong bối cảnh yêu cầu thông tin phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành ngày càng cao, toàn Ngành đã chủ động triển khai đồng bộ các nhiệm vụ công tác; bảo đảm hoàn thành đầy đủ, đúng thời hạn các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội tháng, quý, phục vụ kịp thời Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các cơ quan liên quan. Công tác điều tra thống kê tiếp tục được thực hiện theo đúng phương án, kế hoạch và tiến độ đề ra. Đáng chú ý, ngành Thống kê Lâm Đồng đã hoàn thành Tổng điều tra kinh tế năm 2026 ở cả giai đoạn 1 và giai đoạn 2; được Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương đánh giá, xếp loại Giỏi. Công tác phân tích, tổng hợp, cung cấp và giải trình số liệu tiếp tục được chú trọng, từng bước nâng cao chất lượng, góp phần khẳng định vai trò của ngành Thống kê là cơ quan cung cấp thông tin kinh tế - xã hội khách quan, kịp thời và tin cậy. Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng ghi nhận, biểu dương tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực của công chức, người lao động trong toàn Ngành. Đồng chí nhấn mạnh, những kết quả đạt được trong quý II và 6 tháng đầu năm 2026 là cơ sở quan trọng để ngành Thống kê Lâm Đồng tiếp tục nâng cao chất lượng tham mưu, phục vụ tốt hơn yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Về nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026, Trưởng Thống kê tỉnh yêu cầu các phòng nghiệp vụ và các Thống kê cơ sở tiếp tục bám sát chương trình công tác của Cục Thống kê và nhiệm vụ chính trị của địa phương; chủ động rà soát tiến độ, nâng cao chất lượng từng khâu công việc, nhất là trong điều tra, tổng hợp, phân tích và cung cấp thông tin thống kê. Đối với công tác điều tra thống kê, cần tăng cường kiểm tra, giám sát quy trình thu thập thông tin, bảo đảm số liệu trung thực, đầy đủ, hạn chế sai sót ngay từ cơ sở. Đối với công tác báo cáo, cần chú trọng hơn chất lượng phân tích, nhận định và dự báo; số liệu phải chính xác, kịp thời, có khả năng giải trình rõ ràng. Đồng thời, việc quản lý, theo dõi nhiệm vụ trên hệ thống Taskgov phải được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, xem đây là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của công chức, đơn vị. Bên cạnh đó, toàn Ngành cần tăng cường bám sát địa bàn, chủ động phối hợp với các sở, ngành, địa phương trong thu thập, kiểm tra, xử lý và khai thác thông tin thống kê; kịp thời nắm bắt những vấn đề phát sinh từ thực tiễn để tham mưu sát, đúng và hiệu quả hơn. Hội nghị kết thúc trong tinh thần thống nhất cao, thể hiện quyết tâm của toàn ngành Thống kê Lâm Đồng trong việc tiếp tục đổi mới phương pháp làm việc, nâng cao chất lượng số liệu, chất lượng phân tích và hiệu quả phục vụ. Những kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm cùng với định hướng nhiệm vụ rõ ràng cho 6 tháng cuối năm là nền tảng quan trọng để ngành Thống kê Lâm Đồng hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao trong năm 2026. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh của Hội nghị:Đ/c Phạm Quốc Hùng – Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu chỉ đạo tại hội nghị

Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội thảo khảo sát nhu cầu thông tin thống kê phục vụ xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã
  •   26/06/2026 14:24

Sáng ngày 24/6/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược và Dữ liệu thống kê - Cục Thống kê (Bộ Tài chính) tổ chức Hội thảo khảo sát nhu cầu thông tin thống kê phục vụ xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã. Hội thảo do đồng chí Dương Thị Kim Nhung - Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược và Dữ liệu thống kê, Cục Thống kê và đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh đồng chủ trì. Tham dự Hội thảo có đại diện lãnh đạo, công chức được giao nhiệm vụ tổng hợp, báo cáo và cung cấp thông tin thống kê của các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh; đại diện lãnh đạo UBND và công chức được phân công làm đầu mối công tác thống kê của 02 phường (Xuân Trường - Đà Lạt và LangBiang - Đà Lạt); lãnh đạo, công chức các phòng chuyên môn thuộc Thống kê tỉnh và các đơn vị có liên quan. Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Dương Thị Kim Nhung nhấn mạnh vai trò quan trọng của thông tin thống kê trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh yêu cầu quản lý nhà nước ngày càng cao, nhất là sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, thông tin, số liệu thống kê cần bảo đảm trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, chính xác, thống nhất và có khả năng kiểm chứng. Đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh Lâm Đồng cho rằng, cùng với số liệu do ngành Thống kê thu thập, điều tra, tổng hợp theo quy định, thông tin chuyên ngành do các sở, ban, ngành cung cấp là nguồn dữ liệu quan trọng để rà soát, đối chiếu, phân tích tình hình thực tế theo từng ngành, lĩnh vực; phục vụ biên soạn các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của tỉnh, nhất là GRDP hằng quý, hằng năm và các chỉ tiêu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh. Tại Hội thảo, các đại biểu được nghe báo cáo về công tác tham mưu, tổ chức, chỉ đạo, phân công thực hiện Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã từ khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; bối cảnh sau nhập tỉnh; kết quả tham mưu, tổ chức triển khai; cơ chế phối hợp giữa Thống kê tỉnh với các sở, ban, ngành, giữa Thống kê cơ sở với UBND cấp xã; những khó khăn, hạn chế và nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới. Hội thảo cũng tập trung trao đổi về việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê theo Quyết định số 1842/QĐ-UBND ngày 24/10/2025 của UBND tỉnh Lâm Đồng về ban hành biểu mẫu báo cáo thống kê và phân công thực hiện thu thập thông tin thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh. Đây là cơ sở quan trọng để các cơ quan, đơn vị thực hiện việc cung cấp thông tin, số liệu thống kê theo đúng nội dung, biểu mẫu, kỳ báo cáo, thời hạn và trách nhiệm được phân công. Trên cơ sở dự thảo Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã, các đại biểu đã trao đổi, thảo luận, góp ý về nhu cầu thông tin thống kê phục vụ quản lý, điều hành theo ngành, lĩnh vực và địa bàn; đồng thời nêu một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thu thập, tổng hợp, cập nhật, rà soát, thuyết minh và giải trình số liệu. Các ý kiến tập trung vào yêu cầu bảo đảm tính khả thi của chỉ tiêu, tính thống nhất của nguồn số liệu, trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan cung cấp thông tin và cơ quan Thống kê. Qua thảo luận, Thống kê tỉnh đề nghị các sở, ban, ngành tiếp tục rà soát danh mục biểu mẫu báo cáo thuộc trách nhiệm của đơn vị; nghiên cứu, góp ý cụ thể đối với dự thảo Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã; phân công rõ đầu mối thực hiện; gửi báo cáo đúng nội dung, đúng biểu mẫu, đúng thời hạn và cập nhật đầy đủ trên phần mềm theo dõi báo cáo thống kê. Phát biểu bế mạc Hội thảo, đồng chí Dương Thị Kim Nhung đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự phối hợp của các cơ quan, đơn vị tham dự Hội thảo. Đồng chí đề nghị các sở, ban, ngành tiếp tục xác định việc cung cấp thông tin, số liệu cho cơ quan Thống kê là nhiệm vụ thường xuyên trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước; đồng thời tăng cường phối hợp với Thống kê tỉnh trong quá trình cung cấp, rà soát, giải trình và hoàn thiện số liệu. Hội thảo khảo sát nhu cầu thông tin thống kê phục vụ xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã là hoạt động thiết thực nhằm ghi nhận yêu cầu thông tin từ thực tiễn quản lý, điều hành của địa phương; góp phần hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê theo hướng khả thi, thống nhất, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Qua đó, từng bước nâng cao chất lượng công tác báo cáo, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê, phục vụ tốt hơn công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh tại Hội thảo: Đ/c Dương Thị Kim Nhung - Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược và Dữ liệu thống kê, Cục Thống kê và đ/c Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh đồng chủ trì Hội thảo           Đ/c Dương Thị Kim Nhung - Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược và Dữ liệu thống kê, Cục Thống kê phát biểu tại Hội thảoĐ/c Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu tại Hội thảo