Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
- 29/10/2026 14:08
I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì. Hoạt động trồng trọt được triển khai theo mùa vụ, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động chăn nuôi tiếp tục phát triển, đàn lợn, đàn gia cầm và sản lượng các sản phẩm chăn nuôi chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng được quan tâm thực hiện. Hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản và sản xuất giống thủy sản ổn định, sản lượng thủy sản tăng so với cùng kỳ năm trước. 1. Trồng trọt 1.1 Cây hàng năm Tính đến ngày 15/10/2026, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm ước đạt 418.280,2 ha, tăng 2,19% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lúa đạt 169.005,7 ha, tăng 1,29%; ngô 60.570 ha, tăng 4,03%; rau các loại 72.743,7 ha, tăng 2,38%; hoa 9.121,4 ha, giảm 0,31%; đậu các loại 15.540 ha, tăng 2,42%; các cây hằng năm còn lại 91.299,4 ha, tăng 2,74%. Diện tích gieo trồng tăng ở hầu hết nhóm cây, nhất là ngô và các cây hằng năm khác; riêng diện tích hoa giảm nhẹ so với cùng kỳ. 1.2. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Toàn tỉnh có 966 công trình và hệ thống công trình thủy lợi, trong đó 540 hồ chứa với tổng dung tích thiết kế khoảng 874 triệu m³. Dung tích nước tại các hồ hiện đạt khoảng 653,15 triệu m³, tương đương 74,7% dung tích thiết kế. Trước tình hình mưa trên diện rộng, các đơn vị quản lý tăng cường theo dõi mực nước và lưu lượng về hồ, chủ động điều tiết, bảo đảm an toàn công trình và vùng hạ du, đồng thời phục vụ nhu cầu cấp nước cho sản xuất. 1.3. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, sâu bệnh trên cây trồng phát sinh cục bộ và được các đơn vị chuyên môn theo dõi, xử lý. So với cùng kỳ, diện tích nhiễm bệnh đạo ôn lá trên lúa, bệnh xoăn lá vi rút trên cà chua và bệnh thán thư trên thanh long tăng; trong khi một số đối tượng gây hại khác giảm. Công tác bảo vệ thực vật tiếp tục tập trung vào các vùng sản xuất cây trồng chủ lực. Tình hình một số đối tượng sâu bệnh như sau: - Cây lúa: Bệnh đạo ôn lá gây hại 1.077 ha, tăng 43 ha so với cùng kỳ năm trước; sâu đục thân gây hại 419 ha, giảm 19 ha; chuột gây hại 591 ha, giảm 24 ha; ốc bươu vàng gây hại 278 ha, giảm 75 ha; rầy nâu gây hại 145 ha, giảm 123 ha; - Cây cà chua: Sâu đục lá Nam Mỹ gây hại 5,5 ha; bệnh xoăn lá virus gây hại 82 ha, tăng 17 ha; - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 1.331 ha, giảm 12 ha; - Cây cà phê: Bọ xít muỗi gây hại 1.759 ha, giảm 252 ha; mọt đục cành gây hại 1.470 ha, giảm 19 ha; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 1.205 ha, giảm 31 ha; bệnh thán thư gây hại 1.537 ha, giảm 56 ha; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 757 ha, tăng 92 ha; bệnh thán thư cành, quả gây hại 552 ha, tăng 257 ha so với cùng kỳ năm trước. 2. Chăn nuôi Chăn nuôi tiếp tục tăng cả về quy mô đàn và sản lượng sản phẩm. Đàn lợn tăng 5,47%, gia cầm tăng 9,09%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng 10 tháng tăng 10,30% và sữa bò tăng 23,86% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, dịch tả lợn châu Phi còn phát sinh tại một số địa phương, trong khi chi phí thức ăn vẫn tạo áp lực đối với cơ sở chăn nuôi. Cụ thể: - Đàn trâu ước đạt 27,2 nghìn con, tăng 1,49% so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi trâu chủ yếu được duy trì tại các hộ có điều kiện tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên và bãi chăn thả; tuy nhiên, khả năng mở rộng quy mô còn hạn chế do diện tích chăn thả thu hẹp và hiệu quả kinh tế chưa cao. - Đàn bò ước đạt 324,5 nghìn con, tăng 3,54%; trong đó, đàn bò sữa đạt 32,5 nghìn con, tăng 3,83% so với cùng kỳ. Quy mô đàn bò duy trì mức tăng ổn định, góp phần bảo đảm nguồn cung sản phẩm chăn nuôi và nguyên liệu cho chế biến sữa. - Đàn lợn ước đạt 1.582 nghìn con, tăng 5,47% so với cùng kỳ. Hoạt động tái đàn và chăn nuôi trang trại được duy trì; tuy nhiên, dịch tả lợn châu Phi vẫn phát sinh tại một số địa phương, ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi và công tác tái đàn. - Đàn gia cầm ước đạt 25,2 triệu con, tăng 9,09% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, đàn gà đạt 16,95 triệu con, tăng 9,21%. Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển nhờ thời gian nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh và nhu cầu tiêu thụ thịt, trứng ổn định. Việc đầu tư chuồng trại, áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học và chủ động phòng, chống dịch bệnh góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. Dù vậy, biến động giá thức ăn và giá bán sản phẩm đầu ra vẫn ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, mở rộng quy mô của người chăn nuôi. - Sản lượng thịt hơi các loại trong tháng ước đạt 31.118 tấn, tăng 9,88% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng đạt 308.573,6 tấn, tăng 10,3%. Sản lượng sữa bò trong tháng ước đạt 9.860 tấn, tăng 20,0%; lũy kế 10 tháng đạt 98.467 tấn, tăng 23,86%. Sản lượng kén tằm trong tháng ước đạt 1.589 tấn, tăng 7,0%; lũy kế 10 tháng đạt 14.052,7 tấn, tăng 7,66%. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng, dịch phát sinh tại 12 xã, phường, với tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 639 con/26,7 tấn. Lũy kế đến ngày 15/10/2026, tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 22.859 con, tương ứng 1.091,3 tấn. Đến nay còn 07 xã có dịch bệnh chưa qua 21 ngày. Công tác giám sát, khoanh vùng và xử lý ổ dịch tiếp tục được triển khai nhằm hạn chế lây lan. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị chuyên môn phối hợp với địa phương khoanh vùng, xử lý ổ dịch, tăng cường giám sát, lấy mẫu quan trắc môi trường và kiểm tra các cơ sở an toàn dịch bệnh. Trong tháng, phân bổ 50.700 liều vắc xin, gồm 3.000 liều Tụ huyết trùng, 40.850 liều lở mồm long móng, 6.850 liều Tam liên và 50 lít hóa chất cho 21 xã, phường để phục vụ công tác tiêm phòng, vệ sinh, tiêu độc khử trùng và phòng, chống dịch bệnh. 3. Sản xuất lâm nghiệp Hoạt động trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng tiếp tục thực hiện theo kế hoạch. Trong tháng, diện tích rừng trồng tập trung đạt 314,9 ha, tăng 3,21% so với cùng kỳ; lũy kế 10 tháng đạt 8.773,9 ha, tăng 4,39%. Số cây xanh trồng trong tháng đạt 161,6 nghìn cây, tăng 3,39%; lũy kế đạt khoảng 10,5 triệu cây, tăng 3,27%. Bên cạnh kết quả trồng rừng, tình trạng vi phạm pháp luật về lâm nghiệp còn diễn biến phức tạp, nhất là các vụ phá rừng trái pháp luật. - Sản lượng gỗ khai thác tháng 10 ước đạt 43.284 m³, tăng 0,68% so với cùng kỳ; lũy kế 10 tháng đạt 406.309 m³, tăng 2,90%. Sản lượng củi khai thác tháng 10 đạt 28.716 ster, tăng 3,59%; lũy kế 292.267,2 ster, tăng 2,07%. Tốc độ tăng sản lượng gỗ tháng 10 thấp hơn mức tăng lũy kế 10 tháng. - Trong tháng (từ ngày 10/9 đến 10/10/2026), ghi nhận 13 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp, giảm 10 vụ so với cùng kỳ; trong đó có 06 vụ phá rừng trái pháp luật, diện tích rừng bị thiệt hại 0,44 ha. Lũy kế 10 tháng có 428 vụ vi phạm, tăng 81 vụ; trong đó 207 vụ phá rừng trái pháp luật, tăng 77 vụ (khoảng 59,2%), diện tích rừng bị thiệt hại 35,8 ha, tăng 11,8 ha. Mặc dù số vụ vi phạm trong riêng tháng 10 giảm, diễn biến lũy kế 10 tháng cho thấy công tác quản lý, bảo vệ rừng vẫn đối mặt nhiều khó khăn. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 446,7 ha, giảm 5,23% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 4.674,9 ha, tăng 0,61% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 4.130,6 ha, tăng 0,09%; diện tích nuôi tôm đạt 473,1 ha, tăng 4,85%). Hoạt động nuôi trồng thủy sản nuôi nội địa tập trung vào nuôi cá ở các xã Đức Linh, Nam Thành, Trà Tân, Cư Jút, Đắk Wil, Nam Dong, Phúc Thọ Lâm Hà, Tân Hà Lâm Hà và nuôi tôm thâm canh ở các Xã Tân Thành, Liên Hương. Hoạt động nuôi cá có giá trị kinh tế cao bằng lồng bè/bể, bồn tập trung ở các xã Phan Rí Cửa, Đồng Kho, đặc khu Phú Quý, xã Nam Đà, Nhân Cơ, phường 3 Bảo Lộc, xã Bảo Thuận, xã Lạc Dương và phường Lang Biang. Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 2.396,5 tấn, giảm 2,11% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 508 tấn, tăng 3,25%); lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 23.667,4 tấn, tăng 0,03% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 4.253 tấn, tăng 4,05%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng, hoạt động khai thác thủy sản diễn ra tương đối thuận lợi do đang vào cuối mùa vụ cá nam, nguồn lợi các loài cá trích, cá cơm, cá nục... vẫn xuất hiện với mật độ cao và liên tục. Điều kiện này tạo thuận lợi cho ngư dân tập trung khai thác tại các vùng biển ven bờ và vùng lộng trong tỉnh. Các đội tàu cá công suất lớn hoạt động khai thác xa bờ tiếp tục được duy trì ổn định; một số nghề khai thác đạt hiệu quả chủ yếu gồm vây rút chì, bẫy mực tuộc và lưới rê. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 24.336,6 tấn, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khai thác biển ước đạt 24.248 tấn, tăng 2,88%); lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 220.446,4 tấn, tăng 4,19% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khai thác biển ước đạt 219.633,5 tấn, tăng 4,04%). Công tác quản lý hoạt động khai thác thủy sản tiếp tục được tăng cường. Các đội tàu khai thác xa bờ được quản lý chặt chẽ; ngư dân thực hiện nghiêm các quy định về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), quy định cấm phát triển nghề lưới kéo dưới mọi hình thức, tuân thủ hạn ngạch số lượng giấy phép khai thác tại vùng khơi theo công bố của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. - Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng điều kiện thời tiết tương đối bất lợi, cùng với giá tôm thương phẩm ở mức thấp, khiến người nuôi chậm thả giống. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh tôm giống nhìn chung vẫn khá thuận lợi; sau thời gian thu hoạch và cải tạo, phơi hồ, người nuôi bắt đầu thả giống vụ mới, góp phần thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ tôm giống. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,2 tỷ post, bằng cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 22,8 tỷ post, tăng 11,83% so với cùng kỳ năm trước. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng khá trong tháng 10, đóng góp tích cực vào hoạt động kinh tế của tỉnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10 tăng 18,90% so với cùng kỳ, cao hơn tốc độ tăng lũy kế 10 tháng (12,53%). Ngành chế biến, chế tạo có mức tăng nổi bật, được hỗ trợ bởi hoạt động mở rộng quy mô sản xuất của một số doanh nghiệp và các dự án, dây chuyền mới đưa vào vận hành. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 2,89% so với tháng trước và tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,33% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 31,06%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,41%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,16%. Tính chung 10 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,36%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 20,42%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,01%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 486.790 m3, tăng 19,49% so với tháng trước và tăng 19,22% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 3.919.233 m3, tăng 19,34% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng khá, gắn với nhu cầu vật liệu phục vụ các dự án xây dựng, hạ tầng và công trình đang triển khai trên địa bàn. - Sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Ước trong tháng đạt 3.130 tấn, tăng 10,97% so với tháng trước và tăng 54,78% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 23.461 tấn, tăng 30,08% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng cao do các doanh nghiệp tập trung sản xuất, chủ động nguồn hàng nhằm phục vụ nhu cầu tăng cao trong các tháng cuối năm. - Rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.701 tấn, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 18,62% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 35.821 tấn, tăng 20,15% so với cùng kỳ năm trước. Tuy chỉ tăng nhẹ so với tháng trước nhưng vẫn tăng khá so với cùng kỳ chủ yếu do một số doanh nghiệp đã đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị, đồng thời mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng các đơn đặt hàng mới và nhu cầu mở rộng xuất khẩu sang một số thị trường. Đặc biệt, sản lượng sầu riêng cấp đông tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 19.125 nghìn lít, giảm 3,28% so với tháng trước nhưng tăng 21,21% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 206.762 nghìn lít, tăng 17,61% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu do các doanh nghiệp tăng cường sản xuất chủ động cho nhu cầu tăng cao trong các tháng cuối năm (đặc biệt là sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng tăng). - Giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 1.082 nghìn đôi, tăng 2,48% so với tháng trước và tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 7.960 nghìn đôi, tăng 57,66% so với cùng kỳ năm trước là do Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam tăng quy mô, mở rộng dây chuyền sản xuất. - Phân bón: Sản lượng sản xuất trong tháng ước đạt 17.431 tấn, tăng 0,13% so với tháng trước nhưng tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 129.025 tấn, tăng 15,82% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước là do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng trong bối cảnh giá nông sản tiếp tục ổn định ở mức cao và có xu hướng mở rộng diện tích (đặc biệt là cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng…). - Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 156,9 nghìn tấn, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 1,94% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.290,5 nghìn tấn, tăng 4,28% so với cùng kỳ năm trước. - Nhôm thỏi: Trong tháng ước đạt 14.120 tấn, lũy kế 10 tháng năm 2026 đạt 34.182 tấn. Sự hình thành sản phẩm nhôm thỏi tiếp tục mở rộng hoạt động chế biến sâu khoáng sản trên địa bàn tỉnh. - Điện sản xuất: Sản lượng trong tháng ước đạt 3.109 triệu kWh, tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 11,28% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 30.353 triệu kWh, tăng 7,82% so với cùng kỳ năm trước. - Điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 691 triệu kWh, tăng 2,17% so với tháng trước và tăng 52,98% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng ước đạt 5.436 triệu kWh tăng 18,78% so với cùng kỳ năm trước. Điện thương phẩm tăng mạnh trong tháng, phản ánh nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt tăng lên, trong đó có nhu cầu của các cơ sở công nghiệp mới đi vào hoạt động (đặc biệt nhà máy điện phân nhôm). 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,82% so với tháng trước và tăng 10,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,06%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,57%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,18%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,67%. Phân theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 7,49% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 14,36%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,24%. Tính chung 10 tháng năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 7,19%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,03%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,64%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,49%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,58%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước phản ánh nhu cầu lao động phục vụ hoạt động, sản xuất kinh doanh cũng như gia tăng đơn đặt hàng, mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp và sự phục hồi của thị trường tiêu thụ. Qua đó góp phần vào tăng trưởng ngành công nghiệp của tỉnh. 1.4. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp Doanh thu của doanh nghiệp công nghiệp trong tháng tăng 4,18% so với tháng trước và 19,42% so với cùng kỳ; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 12,32%. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo có doanh thu tháng 10 tăng 29,19% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 19,63% của 10 tháng. Diễn biến này cùng với kết quả tăng IIP cho thấy hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tiếp tục chuyển biến tích cực trong tháng đầu quý IV. Ngành B (Khai khoáng): Doanh thu trong tháng tăng 20,19% so với tháng trước và 19,65% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 18,14%. Kết quả này chủ yếu nhờ các doanh nghiệp tối ưu hóa công suất vận hành, đẩy mạnh khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường như đá, cát, đất đắp. Ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo): Đây là ngành có mức tăng trưởng doanh thu nổi bật nhất trong các nhóm ngành công nghiệp chủ yếu, với mức tăng 5,95% so với tháng trước, 29,19% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 19,63%. Ngành D (Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí): Doanh thu trong tháng tăng 2,66% so với tháng trước và 12,90% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 8,20%. Hoạt động phát điện và cung ứng điện tiếp tục đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh; sản lượng điện sản xuất tháng 10 tăng 11,28% và điện thương phẩm tăng 52,98% so với cùng kỳ. Ngành E (Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải): Doanh thu tăng 0,79% so với tháng trước và 14,56% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 10,06%. Hoạt động cung cấp nước sạch và dịch vụ môi trường tiếp tục được duy trì, phục vụ nhu cầu sinh hoạt và hoạt động sản xuất, kinh doanh. 1.5. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong 10 tháng năm 2026, hoạt động thu hút đầu tư tại các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai. Toàn tỉnh thu hút 18 dự án đầu tư mới, gồm 04 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và 14 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 814,33 tỷ đồng và 24,84 triệu USD; diện tích đất thuê lại đạt 34,14 ha. Lũy kế đến thời điểm báo cáo, các KCN có 249 dự án còn hiệu lực, trong đó có 57 dự án FDI và 192 dự án trong nước. Tổng vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 45.932 tỷ đồng và 544,962 triệu USD; diện tích đất đăng ký đạt 785,5 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 57,21%. Hiện có 176 doanh nghiệp đang hoạt động trong các KCN. Trong kỳ, 06 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu, bảo dưỡng hạ tầng với tổng giá trị thực hiện 30,37 tỷ đồng; lũy kế từ đầu năm đến thời điểm báo cáo, vốn đầu tư thực hiện đạt 360,79 tỷ đồng, bằng 40,98% kế hoạch năm. Tình hình triển khai tại các KCN cụ thể như sau: - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Thực hiện duy tu cây xanh và hạ tầng KCN, với giá trị đầu tư trong kỳ đạt 0,02 tỷ đồng, bằng 2,44% kế hoạch năm (0,82 tỷ đồng). Lũy kế vốn thực hiện đạt 0,28 tỷ đồng, bằng 33,54% kế hoạch. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Triển khai duy tu cây xanh, dọn dẹp mặt bằng; giá trị đầu tư hạ tầng trong kỳ đạt 0,10 tỷ đồng, lũy kế từ đầu năm đạt 0,42 tỷ đồng. - KCN Hàm Kiệm I: Tiếp tục duy tu cây xanh, hệ thống giao thông, thoát nước và thi công nhà điều hành KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong kỳ đạt 1,75 tỷ đồng, bằng 7,68% kế hoạch năm (22,79 tỷ đồng). Lũy kế vốn thực hiện đạt 10,14 tỷ đồng, bằng 44,50% kế hoạch. - KCN Hàm Kiệm II: Tập trung san lấp mặt bằng, duy tu cây xanh, bảo dưỡng và thi công các tuyến đường nội khu. Theo số liệu báo cáo, giá trị đầu tư hạ tầng tháng 9 đạt 20,00 tỷ đồng, bằng 9,76% kế hoạch năm (205,00 tỷ đồng); lũy kế vốn thực hiện đạt 126,00 tỷ đồng, bằng 61,46% kế hoạch. - KCN Tân Đức: Tiếp tục thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng đối với phần diện tích còn lại; dọn dẹp, san lấp mặt bằng, thi công các tuyến đường D2, D3, D4, N1, N2, N3 và nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng trong kỳ đạt 8,00 tỷ đồng, bằng 1,69% kế hoạch năm (473,00 tỷ đồng). Lũy kế vốn thực hiện đạt 222,05 tỷ đồng, bằng 46,95% kế hoạch. - KCN Tuy Phong: Tiếp tục san lấp mặt bằng và thi công các tuyến đường nội khu. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 9 là 0,50 tỷ đồng. Lũy kế vốn thực hiện dự án từ đầu năm đến thời điểm báo cáo là 1,90 tỷ đồng. Lũy kế vốn đầu tư thực hiện dự án đến thời điểm báo cáo là 262,08/370,00 tỷ đồng đạt 71,35% trên tổng vốn dự án. Về tình hình thu hút đầu tư tại từng KCN, KCN Lộc Sơn hiện có 56 dự án (gồm 09 dự án FDI và 47 dự án trong nước); KCN Phú Hội có 32 dự án (gồm 11 dự án FDI và 21 dự án trong nước); KCN Phan Thiết giai đoạn 2 có 12 dự án (gồm 02 dự án FDI và 10 dự án trong nước). KCN Tâm Thắng thu hút được 49 dự án (trong đó có 05 dự án FDI và 44 dự án trong nước); KCN Nhân Cơ có 01 dự án đầu tư. Trong khi đó, các KCN Tuy Phong, Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2, Phú Bình và Nhân Cơ 2 đang trong quá trình xây dựng, chưa thu hút được dự án đầu tư. 2. Đầu tư phát triển Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước trong tháng đạt 2.513,1 tỷ đồng, tăng 50,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.382,8 tỷ đồng, chiếm 94,82% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 51,14% so với cùng kỳ năm trước (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 742,7 tỷ đồng, tăng 37,59% so với cùng kỳ năm trước; vốn trung ương trong nước ước đạt 888,2 tỷ đồng, tăng 78,2% so với cùng kỳ năm trước; vốn nước ngoài (ODA) đạt 68,22 tỷ đồng, tăng gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm trước; vốn xổ số kiến thiết đạt 669,9 tỷ đồng, tăng 33,64% so với cùng kỳ năm trước; vốn khác đạt 13,8 tỷ đồng, tăng 3 lần so với cùng kỳ năm trước); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 130,3 tỷ đồng (chiếm 5,18% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn), tăng 32,45% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 12.345,2 tỷ đồng, đạt 61,37% so với kế hoạch năm, tăng 25,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 11.250,2 tỷ đồng, tăng 26,43% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 4.612,4 tỷ đồng, tăng 35,95% so với cùng kỳ năm trước; vốn trung ương ước đạt 2.408,2 tỷ đồng, tăng 0,79% so với cùng kỳ năm trước; vốn nước ngoài 205,3 tỷ đồng, tăng 5,51% so với cùng kỳ năm trước; vốn xổ số kiến thiết 3.953,2 tỷ đồng, tăng 36,75% so với cùng kỳ năm trước; vốn khác 71 tỷ đồng, tăng gấp 2,2 lần so với cùng kỳ năm trước); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 1.095 tỷ đồng, tăng 20,07% so với cùng kỳ năm trước. Tiến độ thực hiện vốn tại một số dự án còn chậm, chủ yếu do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, bàn giao mặt bằng thi công chưa đồng bộ, khối lượng thực hiện chưa đủ điều kiện nghiệm thu và hồ sơ thanh toán chưa hoàn thiện. Bên cạnh đó, công tác chuẩn bị đầu tư, ký kết hợp đồng tại một số công trình chưa bảo đảm tiến độ, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công. Trong tháng (từ ngày 15/9 đến 15/10/2026) toàn tỉnh có 260 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 28,37% so với cùng kỳ năm trước; 77 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 35,09%; 92 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 5,75%; 214 doanh nghiệp giải thể, tăng 86,04% (tương ứng 99 doanh nghiệp). Tính chung 10 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 3.489 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước; 793 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 7,45%; 1.558 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 1,27%; 1.657 doanh nghiệp giải thể, tăng 51,44%. Tổng vốn đăng ký thành lập doanh nghiệp đạt 19.853,4 tỷ đồng, tăng 15,2%. Từ đầu năm đến ngày 20/10/2026, có 49 dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp được cấp mới, với tổng vốn đăng ký 175.059,7 tỷ đồng; 56 dự án được điều chỉnh chủ trương hoặc giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế còn 3.018 dự án có hiệu lực với tổng vốn đăng ký 970.939 tỷ đồng, trong đó 247 dự án FDI với vốn đăng ký khoảng 230.001 tỷ đồng. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Trong tháng 10 và 10 tháng năm 2026, hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải tiếp tục tăng so với cùng kỳ. Doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành tăng nhanh hơn bán lẻ hàng hóa, trong khi nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa tiếp tục mở rộng. Những kết quả này phản ánh sự gia tăng hoạt động tiêu dùng và dịch vụ; thị trường hàng hóa cơ bản ổn định, nguồn cung đáp ứng nhu cầu của người dân và du khách. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 18.553,8 tỷ đồng, tăng 3,00% so với tháng trước và tăng 25,63% so với cùng kỳ năm trước; trong đó bán lẻ hàng hóa đạt 11.151,6 tỷ đồng, tăng 3,39% so với tháng trước và tăng 22,57% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.942,7 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 40,07% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.459,5 tỷ đồng, tăng 2,33% so với tháng trước và tăng 21,15% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 169.020,2 tỷ đồng, tăng 19,78% so với cùng kỳ năm trước; trong đó bán lẻ hàng hóa đạt 102.905,6 tỷ đồng, tăng 18,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 34.973 tỷ đồng, tăng 26,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 31.141,6 tỷ đồng, tăng 18,42% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng, tình hình thị trường trên địa bàn tỉnh ổn định, không có nhiều biến động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đa dạng, phong phú, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn cũng như khách du lịch đến tham quan. Trên địa bàn không có hiện tượng găm hàng, tăng giá quá mức để thu lợi bất chính. Hoạt động mua bán, giao thương diễn ra sôi động tại các chợ đầu mối, chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện ích, trung tâm thương mại và trên các sàn thương mại điện tử góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, ổn định thị trường và phát triển tiêu dùng nội địa. Giá cả các mặt hàng thiết yếu được giữ ở mức hợp lý, tương đối ổn định. Riêng đối với mặt hàng xăng dầu nhìn chung các cơ sở kinh doanh đều chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không xuất hiện các điểm nóng vi phạm về đo lường, chất lượng, găm hàng chờ tăng giá, giảm lượng xăng dầu bán ra mà không có lý do chính đáng; nguồn cung xăng dầu đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn, không có hiện tượng khan hiếm. Từ ngày 15/9 đến ngày 14/10/2026, lực lượng Quản lý thị trường đã tiến hành kiểm tra 82 vụ, phát hiện 75 vụ vi phạm, xử lý 72 vụ (03 vụ chuyển kỳ trước sang), đang xử lý 6 vụ, tổng số tiền xử phạt 292 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/10/2026 đã kiểm tra 1.159 vụ; phát hiện và xử lý 1.056 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 7.959 triệu đồng. 2. Giá tiêu dùng (CPI) Giá tiêu dùng tháng 10/2026 tiếp tục tăng so với tháng trước, chủ yếu do diễn biến giá nhiên liệu và dịch vụ giao thông. Trong khi đó, giá một số nhóm hàng, dịch vụ giảm, góp phần hạn chế mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng chung. Diễn biến giá trong tháng có sự khác biệt giữa các nhóm hàng hóa, dịch vụ, phản ánh tác động của cả yếu tố chi phí và nhu cầu thị trường. CPI tháng 10/2026 tăng 0,39% so với tháng trước; tăng 2,15% so với tháng 12/2025 và tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,18% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, nhóm giao thông tăng 2,41%, trong đó giá nhiên liệu tăng 6,02%, là yếu tố tạo áp lực lớn lên CPI tháng 10. Ngược lại, nhóm lương thực giảm 0,10% và nhóm ăn uống ngoài gia đình giảm 0,86%, góp phần kiềm chế mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng. Tính chung 10 tháng năm 2026, biến động CPI chủ yếu chịu tác động từ các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; giao thông và giáo dục. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 09 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,16%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,27%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,68%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,36%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,28%; Giao thông tăng 2,41%; Thông tin và truyền thông tăng 0,11%; Giáo dục tăng 0,09%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,33%. Có 02 nhóm hàng giảm giá: May mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,08%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 3,82%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 01, 08, 15 và 22 tháng 10/2026, tính bình quân chung tháng 10/2026 chỉ số giá nhiên liệu tăng 6,02%. Trong đó mặt hàng xăng tăng 6,54% so tháng trước; giá dầu diezel tăng 0,74%. Giá gas trong tháng tăng 11,33% so với tháng trước, do giá bán lẻ trong nước công ty điều chỉnh tăng theo giá gas thế giới, tăng 66.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 3,47% so với tháng trước, một số loại rau tươi bị ảnh hưởng mưa nhiều làm giảm sản lượng thu hoạch, giá bán thị trường tăng so tháng trước. Trong đó, giá bắp cải tăng 6,56% so với tháng trước; cà chua tăng 2,24%; rau muống tăng 5,07%; đỗ quả tươi tăng 5,35%. - Nguyên nhân giảm: Chỉ số giá lương thực giảm 0,1% so tháng trước, giảm chủ yếu các mặt hàng gạo do nguồn cung tại địa phương cũng như trong nước dồi dào, tác động giá bán thị trường giảm nhẹ so tháng trước. Giá các mặt hàng may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,08% so tháng trước, do nhu cầu mua sắm của người dân tương đối ổn định, các cơ sở kinh doanh triển khai chương trình khuyến mại, giảm giá nhằm kích cầu tiêu dùng. Giá nhóm mặt hàng văn hóa, giải trí và du lịch giảm 3,82% so tháng trước, giảm chủ yếu nhóm du lịch trọn gói giảm 4,39%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,18% so với bình quân cùng kỳ năm trước. * Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 10 tháng năm 2026 CPI bình quân 10 tháng năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là nhóm thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông và giáo dục. Trong đó, nhóm thực phẩm tăng 3,76%, làm CPI chung tăng 0,94 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thực phẩm tươi sống tăng trong các dịp lễ, Tết, đặc biệt là giá thịt lợn tăng 3,82% do nguồn cung chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường; giá thịt chế biến tăng 3,39% và giá mỡ lợn tăng 15,83%. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,56%, làm CPI tăng 0,99 điểm phần trăm, do giá vật liệu xây dựng, giá thuê nhà và giá gas tăng; tính chung 10 tháng năm 2026, giá gas tăng 24,02% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm giao thông tăng 7,17%, góp phần làm CPI tăng 0,82 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 13,67% theo các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu trong nước và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 26,8% do chi phí vận tải tăng cao. Bên cạnh đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,54%, làm CPI tăng 0,38 điểm phần trăm, do giá thực phẩm, gas, thuê mặt bằng và chi phí nhân công tăng. Nhóm giáo dục tăng 5,59%, góp phần làm CPI tăng 0,27 điểm phần trăm, chủ yếu do một số cơ sở giáo dục điều chỉnh tăng học phí. Các nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,23%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,86%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,61%, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp lễ, Tết cùng với chi phí nguyên liệu, sản xuất, vận chuyển và nhân công tăng, góp phần làm chỉ số giá các nhóm hàng này tăng so với cùng kỳ năm trước. Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,14%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian. 3. Hoạt động du lịch Hoạt động du lịch tháng 10 tiếp tục tăng về lượt khách, ngày khách và doanh thu so với cùng kỳ. Trong tháng diễn ra một số sự kiện văn hóa, du lịch trên địa bàn tỉnh, trong đó có Lễ hội Katê và Lễ hội Văn hóa - Du lịch Dinh Thầy Thím, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và thu hút khách tham quan. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.207,3 nghìn lượt, tăng 1,11% so tháng trước và tăng 31,27% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 81,3 nghìn lượt, tăng 0,44% so với tháng trước và tăng 11,74% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 4.085,2 nghìn ngày khách, tăng 1,77% so với tháng trước và tăng 31,36% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 110,2 nghìn lượt khách, tăng 11,5% so với tháng trước và tăng 24,08% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 360,9 nghìn ngày khách, tăng 13,23% so với tháng trước và tăng 28,35% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 20.680,3 nghìn lượt, tăng 20,37% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 743,6 nghìn lượt, tăng 11,14% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 38.340,6 nghìn ngày khách, tăng 22,08% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 10 tháng năm 2026 đạt 1.205 nghìn lượt, tăng 15,32% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 3.856,7 nghìn ngày khách, tăng 18,65% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 796,7 tỷ đồng, tăng 3,22% so với tháng trước và tăng 41,91% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.083,7 tỷ đồng, tăng 2,27% so với tháng trước và tăng 39,92% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 62,4 tỷ đồng, tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 25,51% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 7.086,8 tỷ đồng, tăng 26,09% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 27.320,5 tỷ đồng, tăng 26,22% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 565,7 tỷ đồng, tăng 35,34% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.229,8 tỷ đồng, tăng 1,57% so với tháng trước và tăng 33,99% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 57.514,5 tỷ đồng, tăng 23,71% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.459,5 tỷ đồng, tăng 2,33% so với tháng trước và tăng 21,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 910,6 tỷ đồng, tăng 7,7% so với tháng trước và tăng 11,09% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 196 tỷ đồng, tăng 0,52% so với tháng trước và tăng 19,03% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 198,8 tỷ đồng, tăng 2,06% so với tháng trước và tăng 23,80% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 278,4 tỷ đồng, tăng 0,49% so với tháng trước và tăng 11,95% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.524,2 tỷ đồng, tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 29,81% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 351,4 tỷ đồng, tăng 1,62% so với tháng trước và tăng 22,16% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026, doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 31.141,6 tỷ đồng, tăng 18,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 7.592 tỷ đồng, tăng 10,85% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.765,5 tỷ đồng, tăng 14,08% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.623,6 tỷ đồng, tăng 24,36% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 2.517,5 tỷ đồng, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 14.460,7 tỷ đồng, tăng 24,23% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 3.182,3 tỷ đồng, tăng 14,53% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng, hoạt động vận tải, kho bãi tiếp tục tăng cả về vận chuyển hành khách và hàng hóa. Nhu cầu đi lại, tham quan du lịch cùng hoạt động sản xuất, thương mại và lưu thông hàng hóa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vận tải, kho bãi duy trì hoạt động. Khối lượng vận chuyển và luân chuyển đều tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.296,9 tỷ đồng, tăng 0,51% so với tháng trước và tăng 26,49% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026, doanh thu ước đạt 12.256,9 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.040,5 nghìn HK, tăng 0,35% so với tháng trước và tăng 21,44% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 430.522,6 nghìn HK.Km, tăng 0,54% so với tháng trước và tăng 20,01% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 28.978,3 nghìn HK, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 4.147.785,9 nghìn HK.Km, tăng 17,46% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.476,4 nghìn tấn, tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 29,52% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 359.086,2 nghìn tấn.Km, tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 28,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 21.983,2 nghìn tấn, tăng 21,91% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 3.220.588,1 nghìn tấn.Km, tăng 21,941% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.296,9 tỷ đồng, tăng 0,51% so với tháng trước và tăng 26,49% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 12.256,9 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 4.130,5 tỷ đồng, tăng 26,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 6.084,9 tỷ đồng, tăng 27,08% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.586,5 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 454,9 tỷ đồng, tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 2.779,1 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.580,9 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 198,2 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.700 tỷ đồng, giảm 12,03% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 28.718,9 tỷ đồng, bằng 83,40% kế hoạch năm và tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa ước đạt 26.495,5 tỷ đồng, bằng 81,09% kế hoạch năm và tăng 7,06%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 2.223,4 tỷ đồng, bằng 126,33% kế hoạch năm và tăng 73,75% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 10 tháng năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 3.292 tỷ đồng (bằng 86,55% kế hoạch năm và giảm 1,98% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 1.330,9 tỷ đồng (bằng 96,74% kế hoạch năm và tăng 7,51%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 7.013,1 tỷ đồng (bằng 104,87% kế hoạch năm và tăng 23,72%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 2.599,2 tỷ đồng (bằng 95,21% kế hoạch năm và tăng 1,46%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 3.854,9 tỷ đồng (bằng 52,27% kế hoạch năm và tăng 0,22%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 4.685,3 tỷ đồng (bằng 80,78% kế hoạch năm và tăng 13,75%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 3.629,7 tỷ đồng; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 43.842,5 tỷ đồng, bằng 89,85% kế hoạch năm. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 18.751,8 tỷ đồng, bằng 141,92% kế hoạch năm; chi thường xuyên đạt 25.090,6 tỷ đồng, bằng 82,65% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: Đến 30/9/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 258.498 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 29.223 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 12,75%. Trong đó: huy động bằng đồng Việt Nam đạt 255.941 tỷ đồng (chiếm 99,01% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.557 tỷ đồng, (chiếm 0,99% tổng huy động vốn). Ước đến ngày 31/10/2026, tổng vốn huy động của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 261.000 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 31.724 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 13,84%. Hoạt động tín dụng: Đến 30/9/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 380.860 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 9.876 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,66%. Trong đó: dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 378.621 tỷ đồng (chiếm 99,41% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.238 tỷ đồng (chiếm 0,59% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 268.735 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 112.125 tỷ đồng. Ước đến ngày 31/10/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 383.500 tỷ đồng, so với đầu năm tăng khoảng 12.516 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,37%. Lãi suất tiền gửi: Lãi suất huy động bằng VND bình quân: tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng ở mức 0,17% - 0,49%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,27% - 4,75%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng ở mức 7,51% - 8,27%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng trở lên ở mức 7,54% - 8,11%/năm. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay: Bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở mức 9,09% - 11,08%/năm; cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,17% - 4,93%/năm. Đến ngày 30/9/2026, dư nợ cho vay đối với ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 186.600 tỷ đồng, chiếm 48,99% tổng dư nợ; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 30.500 tỷ đồng, chiếm 8,01% tổng dư nợ; ngành nông lâm thủy sản đạt 163.760 tỷ đồng, chiếm 43,00% tổng dư nợ. Tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn tỉnh được kiểm soát ở mức 1,8% trong tổng dư nợ, không thay đổi so với cuối năm 2025. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã triển khai công tác tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị và kỷ niệm các ngày lễ của đất nước: kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (04/10/1961 - 04/10/2026); 25 năm Ngày toàn dân phòng cháy, chữa cháy (04/10/2001 - 04/10/2026); Festival Hoa Đà Lạt; Ngày Văn hóa Việt Nam; tuyên truyền Tháng cao điểm “Vì người nghèo” năm 2026; đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: Lễ hội Trung thu năm 2026 tại 03 khu vực với chủ đề “ Sắc màu Lâm Đồng - Chung một vầng trăng”, Lễ hội Katê của người Chăm tỉnh Lâm Đồng năm 2026,... Ngoài ra, tính đến ngày 14/10/2026 đã tổ chức 95 suất biểu diễn phục vụ chính trị, 903 buổi chiếu phim, 01 Chương trình Dạ hội Điện ảnh, 03 Tuần phim, 153 buổi tuyên truyền và 02 vở kịch tuyên truyền phục vụ cơ sở, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia thụ hưởng văn hóa. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 11.781 lượt khách, trong đó có 1.893 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng 1.750 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt 441 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên 295 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận 8.514 lượt và Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông 781 lượt khách). Lũy kế từ ngày 01/01 đến 13/10/2026 đã đón 275.297 lượt khách tham quan, trong đó có 20.371 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính 63.293 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt 38.153 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên 7.804 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận 156.058 lượt và Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông 9.989 lượt khách). + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 211 đoàn với 7.437 lượt khách (trong đó có 23 khách quốc tế); phục vụ 23 lễ viếng, báo công, sinh hoạt chuyên đề. Lũy kế từ ngày 01/01 đến 12/10/2026 đã tiếp đón 1.777 đoàn khách tham quan với 130.760 lượt khách (trong đó có 390 khách quốc tế); phục vụ 202 lễ viếng, 10 lễ báo công, 07 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 03 lễ rước đuốc, 04 lễ tuyên dương và 27 sinh hoạt chuyên đề; ngoài ra đã tổ chức triển lãm 04 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật; phối hợp với các báo, đài thực hiện 13 phóng sự. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 05 đoàn với 1.070 lượt khách; lũy kế từ ngày 01/01 đến 14/10/2026 đã đón 18.959 lượt khách đến thăm viếng, học tập, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 199 thẻ (thiếu nhi 44 thẻ), phục vụ 214.407 lượt bạn đọc, luân chuyển 61.856 lượt tài liệu. Lũy kế từ 01/01 đến 10/10/2026 đã cấp mới và gia hạn 6.555 thẻ (thiếu nhi 4.640 thẻ), phục vụ 2.668.216 lượt bạn đọc, luân chuyển 555.406 lượt tài liệu; trưng bày 146.033 bản sách nhân phục vụ độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Trong tháng đã tổ chức Lễ phát động toàn dân tập luyện thể thao "Mỗi người dân lựa chọn ít nhất một môn thể thao phù hợp để tập luyện thường xuyên" năm 2026 và 04 giải thể thao quần chúng (Giải Bóng đá 7 người các Dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng năm 2026; Giải Cờ vua học sinh tỉnh Lâm Đồng năm 2026; Giải chạy Việt dã "DLU Run - 50 năm đổi mới và phát triển"; Giải chạy cộng đồng và gây quỹ từ thiện "UpRace 2026"). - Thể thao thành tích cao: Phối hợp Liên đoàn Quần vợt Việt Nam tổ chức Giải Quần vợt đồng đội nữ quốc tế Billie Jean King Cup nhóm III khu vực Châu Á - Châu Đại Dương; tổ chức Giải Bóng đá Cúp Quốc gia 2026/2027; Giải Bóng đá hạng Nhất Quốc gia 2026/2027. Trong tháng, cử các đội tham gia thi đấu 09 giải thể thao; kết quả đạt được 21 huy chương (06 HCV, 04 HCB, 11 HCĐ), trong đó bao gồm 04 huy chương quốc tế (02 HCV, 02 HCĐ). Lũy kế từ đầu năm đến ngày 13/10/2026 đã tham dự 102 giải thể thao quốc gia và quốc tế, kết quả đạt 722 huy chương (165 HCV, 183 HCB, 374 HCĐ); trong đó bao gồm 01 HCB tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 47 huy chương quốc tế (26 HCV, 09 HCB, 12 HCĐ). 2. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Hoạt động thông tin, tuyên truyền tập trung phổ biến chủ trương, chính sách, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các sự kiện chính trị, văn hóa trên địa bàn. Công tác thông tin cơ sở, truyền thông chính sách và phản ánh tình hình địa phương được duy trì, góp phần nâng cao hiệu quả cung cấp thông tin đến người dân. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Tập trung tham mưu triển khai các nhiệm vụ liên quan đến Chiến lược phát triển lĩnh vực thông tin cơ sở giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 theo Quyết định số 1868/QĐ-TTg ngày 29/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Rà soát hiện trạng, nhu cầu đầu tư, phương án triển khai hệ thống thông tin nguồn và hệ thống truyền thanh cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông để xây dựng giải pháp và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 06 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và triển khai thực hiện Quyết định số 4478/QĐ-UBND ngày 09/9/2026 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Đội liên ngành phòng, chống các hành vi vi phạm trong hoạt động in và lợi dụng hoạt động in để sản xuất hàng giả trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. 3. Giáo dục và đào tạo Hoạt động giáo dục và đào tạo tiếp tục triển khai nhiệm vụ năm học 2026–2027; các cơ sở giáo dục tập trung ổn định tổ chức, bảo đảm điều kiện dạy và học. Toàn tỉnh có 210 trường mầm non, 247 trường tiểu học, 112 trường tiểu học và trung học cơ sở, 149 trường trung học cơ sở, 27 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, 65 trường trung học phổ thông và 13 cơ sở giáo dục khác. Mạng lưới cơ sở giáo dục được duy trì nhằm đáp ứng nhu cầu học tập trên địa bàn tỉnh. Giáo dục nghề nghiệp: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng nghề; 05 trường trung cấp, 30 trung tâm dạy nghề (trong đó: công lập 13 trung tâm); cơ sở dạy nghề khác có 17 cơ sở. Đào tạo nghề hệ cao đẳng cho 130 học viên, trung cấp nghề 1.350 học viên, sơ cấp nghề 4.700 học viên, đào tạo không chính quy 13.349 học viên. Nhìn chung, hoạt động giáo dục, đào tạo được triển khai theo kế hoạch năm học mới. Các cơ sở giáo dục tiếp tục củng cố cơ sở vật chất, bố trí đội ngũ giáo viên và tổ chức dạy học theo chương trình; hoạt động đào tạo nghề duy trì với nhiều trình độ và hình thức đào tạo, góp phần đáp ứng nhu cầu học nghề của người dân. 4. Y tế Trong tháng, ngành y tế tiếp tục giám sát, phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm, tổ chức tiêm chủng và duy trì hoạt động khám, chữa bệnh. Số ca mắc sốt xuất huyết và tay chân miệng tăng so với tháng trước, đặt ra yêu cầu tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch tại địa bàn có nguy cơ cao. Hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được duy trì. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng ghi nhận 1.478 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 177 ca so với tháng trước (1.301 ca) và tăng 219 ca so với cùng kỳ năm trước (1.259 ca). Lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 5.542 ca mắc, tăng 177 ca so với cùng kỳ năm trước (5.365 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 172 ổ dịch, lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026 đã phát hiện xử lý 718 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không phát hiện ca mắc; lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 05 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng ghi nhận 844 ca mắc, tăng 136 ca so với tháng trước và tăng 568 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 4.733 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng ghi nhận 08 ca mắc, giảm 10 ca so với tháng trước và tăng 08 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 118 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.346 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 4.230 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.523 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.563 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.755 trẻ, mũi 2 cho 3.650 trẻ và mũi 3 cho 3.622 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.502 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không có bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 432 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 9 bệnh nhân và chăm sóc tàn tật cho 425 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 215 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 05 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03 BN/100.000 dân; bệnh nhân lao kháng thuốc trong tháng là 05 bệnh nhân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 18 bệnh nhân nhiễm HIV mới, 02 bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 17 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.925 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.800 người, tử vong 1.609 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 506.630 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 41.519 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 240.736 ngày, xét nghiệm cho 683.003 tiêu bản, chẩn đoán 156.988 hình ảnh và phẫu thuật 5.280 trường hợp. Ước 10 tháng đầu năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 4.293.813 lượt người; 357.366 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 2.213.199 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,79 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 86,97%; xét nghiệm cho 6.169.570 tiêu bản; chẩn đoán 1.511.530 hình ảnh và phẫu thuật cho 59.384 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 25 cơ sở thực phẩm, phát hiện 08 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 90,0 triệu đồng. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. Lũy kế 10 tháng đầu năm 2026 xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 188 người mắc và 01 người tử vong. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số và người có công 5.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh, trật tự tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số ổn định; các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo và hỗ trợ phát triển vùng khó khăn tiếp tục được triển khai. Hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng, chăm lo giáo dục, y tế và hỗ trợ đời sống góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt của người dân tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa. Hoạt động văn hóa, thể thao và thông tin cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số được duy trì. Trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa và công trình thể thao; mạng lưới phát thanh, truyền hình, internet tiếp tục được mở rộng, hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin và các hoạt động văn hóa, xã hội. Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Các chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên được thực hiện đầy đủ. Hệ thống trường lớp, phòng học bộ môn, thư viện, thiết bị dạy học, ký túc xá, nhà công vụ giáo viên vùng DTTS không ngừng được mở rộng về số lượng và chất lượng; toàn tỉnh đã xây dựng hệ thống giáo dục dân tộc chuyên biệt với hàng chục trường phổ thông dân tộc nội trú và nhiều trường phổ thông dân tộc bán trú tại các địa bàn khó khăn, bảo đảm hầu hết trẻ em DTTS đều được đến trường, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào DTTS. Hoạt động y tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số được duy trì thông qua mạng lưới khám, chữa bệnh tại cơ sở và chính sách hỗ trợ tiếp cận dịch vụ. Các chương trình chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ tham gia bảo hiểm y tế tiếp tục góp phần giảm khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế của người dân vùng sâu, vùng xa. 5.2. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 288 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; ban hành 80 quyết định điều chỉnh trợ cấp, phụ cấp cho các đối tượng tại các xã, phường, đặc khu trên địa bàn toàn tỉnh; giải quyết chế độ mai táng phí liên thông theo Đề án 06 là 242 hồ sơ và chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền mặt cho 14.535 người có công với cách mạng. Trong 10 tháng đầu năm 2026 đã giải quyết 3.125 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công và chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền mặt cho 14.535/17.971 người với tổng kinh phí hơn 47,52 tỷ đồng. Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sỹ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh có 325.739 người tham gia BHXH, đạt 98,35% kế hoạch năm và tăng 9,14% so với cùng kỳ năm trước; 245.944 người tham gia BHTN, đạt 97,04% kế hoạch và tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước; 3.176.625 người tham gia BHYT, đạt 99,16% kế hoạch và tăng 4,35% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 93,77% dân số. Trong tháng 9/2026, đã giải quyết mới 9.182 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.898 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 275 người; trợ cấp 1 lần cho 2.262 người; chế độ ốm đau cho 5.208 người; chế độ thai sản cho 1.176 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 261 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 1.606 người và hỗ trợ học nghề cho 292 người). Lũy kế đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 89.767 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 17.573 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 1.837 người; trợ cấp 1 lần cho 21.592 người; chế độ ốm đau cho 51.854 người; chế độ thai sản cho 11.455 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 3.029 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 16.308 người và hỗ trợ học nghề cho 1.265 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/9/2026 - 14/10/2026) Trong tháng xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông, giảm 09 vụ so với tháng trước và giảm 22 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 25 người, giảm 12 người so với tháng trước và giảm 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 36 người, giảm 8 người so với tháng trước và giảm 13 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 xảy ra 567 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 175 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 353 người, giảm 26 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 378 người, giảm 188 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng, xảy ra 02 đợt thiên tai, chủ yếu do mưa lớn trên diện rộng, gây thiệt hại tại các địa phương gồm: phường Xuân Hương - Đà Lạt, phường Phan Thiết, phường Đông Gia Nghĩa và các xã Quảng Khê, Hàm Liêm, Hàm Kiệm, Sơn Mỹ, Hàm Thuận, Tân Hội, Hàm Thuận Bắc, Cát Tiên 3, Phan Sơn. Thiên tai làm 10 nhà bị sập, 58 căn nhà bị hư hại, 41 hộ phải di dời, 3.380 căn nhà bị ngập; 2.638 ha lúa bị thiệt hại, 92 ha rau màu bị ảnh hưởng, 296 con gia súc và 2.400 con gia cầm bị cuốn trôi; đồng thời làm hư hỏng 02 cầu dân sinh, 06 tuyến đường giao thông bị ngập, hư hỏng và gây sạt lở tại 10 điểm taluy. Ước tổng giá trị thiệt hại 45,27 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 25/12/2025 đến thời điểm báo cáo, toàn tỉnh xảy ra 26 đợt mưa lớn, kèm theo giông lốc, sét đánh và sạt lở, làm 02 người chết, 04 người bị thương, 18 nhà bị sập, 179 nhà bị hư hại và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác, với tổng giá trị thiệt hại ước khoảng 121,74 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 15/9 đến ngày 14/10/2026) xảy ra 04 vụ cháy nổ, giảm 03 vụ so với tháng trước và giảm 2 vụ so với cùng kỳ năm trước, có 03 người chết, đang thống kê thiệt hại. Lũy kế 10 tháng năm 2026 xảy ra 55 vụ cháy nổ, tăng 11 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 05 người chết và 02 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại hơn 8.979 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ, đã xử phạt 08 triệu đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2026 xảy ra 11 vụ vi phạm, đã xử phạt 1.034,5 triệu đồng (10 tháng năm 2025 xảy ra 19 vụ vi phạm, xử phạt 3.598 triệu đồng). * Đánh giá chung Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tháng 10 và 10 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng phát triển tích cực; hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều ngành, lĩnh vực đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu trong tháng 10 có tốc độ tăng cao, nhất là sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ, cho thấy những tín hiệu tăng tốc của hoạt động kinh tế trong tháng đầu quý IV. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục duy trì ổn định. Diện tích gieo trồng cây hằng năm đạt 418.280,2 ha, tăng 2,19% so với cùng kỳ; hoạt động chăn nuôi phát triển khá, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 10,30%; sản lượng sữa bò tăng 23,86%, kén tằm tăng 7,66%. Hoạt động lâm nghiệp được duy trì; sản lượng thủy sản khai thác đạt 220,4 nghìn tấn, tăng 4,19%. Sản xuất công nghiệp tiếp tục khởi sắc, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10 tăng 18,90% so với cùng kỳ; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 31,06%, cao hơn 10,64 điểm phần trăm so với mức tăng 10 tháng. Một số ngành công nghiệp có mức tăng nổi bật như sản xuất kim loại, sản xuất da và các sản phẩm liên quan, chế biến thực phẩm. Đặc biệt, hoạt động sản xuất nhôm thỏi đạt 14.120 tấn trong tháng 10, góp phần hình thành sản phẩm công nghiệp mới có quy mô lớn, mở rộng hoạt động sản xuất của ngành chế biến, chế tạo. Sản lượng điện sản xuất 10 tháng tăng 7,82%. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục tăng trưởng khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ 10 tháng tăng 19,78% so với cùng kỳ. Hoạt động du lịch duy trì đà phát triển, tổng lượt khách phục vụ tăng 20,37%, trong đó khách quốc tế tăng 15,32%; doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 57.514,5 tỷ đồng, tăng 23,71%. Hoạt động vận tải phát triển tương đối đồng đều ở cả vận tải hành khách và hàng hóa; doanh thu vận tải, kho bãi tăng 23,91%. Hoạt động đầu tư, thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp đạt một số kết quả tích cực. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 10 tháng tăng 25,84% so với cùng kỳ; riêng tháng 10 tăng 50,04%, cho thấy tiến độ thực hiện vốn có chuyển biến trong tháng đầu quý IV. Các khu công nghiệp thu hút 18 dự án đầu tư mới. Toàn tỉnh có 3.489 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 4,90%; 793 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 7,45%; tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 19.853,4 tỷ đồng, tăng 15,20%. Hoạt động thu ngân sách nhà nước và tín dụng tiếp tục được duy trì. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 10 tháng đạt 28.718,9 tỷ đồng, bằng 83,4% kế hoạch năm. Hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 13,84% so với đầu năm, góp phần tạo nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu của nền kinh tế. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội tiếp tục được triển khai thực hiện. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền được tổ chức thường xuyên; công tác giáo dục, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân được duy trì. Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và chính sách bảo hiểm được thực hiện theo quy định. Tình hình tai nạn giao thông có chuyển biến tích cực, 10 tháng giảm 175 vụ so với cùng kỳ; số người chết giảm 26 người và số người bị thương giảm 188 người, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số khó khăn, hạn chế. Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của thời tiết, chi phí đầu vào và nguy cơ dịch bệnh; tình trạng vi phạm pháp luật về lâm nghiệp còn diễn biến phức tạp. Dịch tả lợn châu Phi còn phát sinh tại một số địa phương, ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi và tái đàn. Trong lĩnh vực công nghiệp, mặc dù sản xuất có dấu hiệu tăng tốc nhưng kết quả giữa các ngành và sản phẩm chưa đồng đều. Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực có tiến độ thực hiện thấp so với kế hoạch năm. Hoạt động đầu tư, xây dựng còn gặp khó khăn về giải phóng mặt bằng, thủ tục và tiến độ thi công; vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý mới đạt 61,37% kế hoạch năm, tạo áp lực lớn đối với việc hoàn thành nhiệm vụ trong hai tháng cuối năm. Đối với thương mại, dịch vụ, mặc dù doanh thu tăng khá nhưng tiến độ một số chỉ tiêu còn thấp so với kế hoạch; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 79,69%. Trong lĩnh vực tài chính, tiến độ thực hiện các khoản thu ngân sách chưa đồng đều, nhất là các khoản thu về nhà, đất mới đạt 52,27% kế hoạch. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp còn khó khăn, số doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kỳ. Tốc độ tăng dư nợ tín dụng còn thấp so với mức tăng huy động vốn. Bên cạnh đó, tình hình một số bệnh truyền nhiễm, thiên tai, mưa lớn và sạt lở tiếp tục ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân, sản xuất nông nghiệp và kết cấu hạ tầng tại một số địa phương.THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
Đảng ủy Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ lần thứ VIII
- 22/10/2026 15:28
Sáng ngày 09/10/2026, Đảng ủy Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ lần thứ VIII nhằm đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ quý III, 9 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm quý IV năm 2026. Đồng chí Phạm Quốc Hùng, Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì Hội nghị. Tại Hội nghị, Ban Chấp hành Đảng bộ đã tập trung đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát trong quý III và 9 tháng đầu năm 2026; đồng thời thảo luận, cho ý kiến đối với dự thảo Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quý IV năm 2026 và một số nội dung quan trọng khác. Trong quý III và 9 tháng đầu năm 2026, Đảng ủy Thống kê tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của Ngành. Công tác thu thập, tổng hợp, phân tích và cung cấp thông tin thống kê được triển khai theo kế hoạch; hoàn thành các báo cáo tình hình kinh tế - xã hội định kỳ, báo cáo quý III và 9 tháng đầu năm 2026. Đặc biệt, công tác phân tích, đánh giá tình hình kinh tế - xã hội, dự báo tăng trưởng GRDP được chú trọng, góp phần cung cấp thông tin phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các cuộc điều tra thống kê và công tác rà soát dữ liệu Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tiếp tục được triển khai thực hiện. Cùng với việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, Đảng ủy thường xuyên quan tâm công tác xây dựng Đảng, giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên; duy trì nền nếp sinh hoạt cấp ủy, chi bộ và phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm trong toàn Đảng bộ. Tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên cơ bản ổn định; Đảng bộ đã hoàn thành 100% chỉ tiêu kết nạp đảng viên mới năm 2026. Công tác kiểm tra, giám sát được triển khai theo chương trình, kế hoạch; trong quý III, toàn Đảng bộ đã thực hiện 15 cuộc kiểm tra, giám sát, góp phần nâng cao ý thức chấp hành các quy định của Đảng, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và nâng cao trách nhiệm của tổ chức đảng, đảng viên. Với tinh thần dân chủ, trách nhiệm, Hội nghị đã tập trung thảo luận, đánh giá những kết quả đạt được, đồng thời thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế, khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Các ý kiến thảo luận tập trung vào việc nâng cao chất lượng công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chuyên môn; tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao. Về phương hướng, nhiệm vụ quý IV năm 2026, Hội nghị xác định tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng ủy đối với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, phấn đấu hoàn thành tốt các nhiệm vụ, chỉ tiêu, kế hoạch công tác năm 2026. Trọng tâm là nâng cao chất lượng thông tin thống kê, đẩy mạnh công tác phân tích, đánh giá và dự báo tình hình kinh tế - xã hội, nhất là tăng trưởng GRDP, phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo, điều hành của tỉnh; tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc điều tra thống kê và nhiệm vụ chuyển đổi số của Ngành. Đồng thời, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng; tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, kiểm tra, giám sát; thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên và chuẩn bị các điều kiện để triển khai nhiệm vụ năm 2027. Trên cơ sở các nội dung thảo luận, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ lần thứ VIII đã thống nhất thông qua Nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quý IV năm 2026, làm cơ sở để các cấp ủy, chi bộ trực thuộc tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm và quyết tâm cao, Đảng bộ Thống kê tỉnh Lâm Đồng phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng năm 2026, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của ngành Thống kê trên địa bàn tỉnh. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh hội nghị:Đ/c Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu khai mạc hội nghị
Thống kê tỉnh Lâm Đồng sơ kết công tác quý III, triển khai nhiệm vụ quý IV năm 2026
- 03/10/2026 08:17
Chiều ngày 29/9/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị sơ kết công tác quý III và triển khai nhiệm vụ quý IV năm 2026. Đồng chí Phạm Quốc Hùng, Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì hội nghị. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, với sự tham dự của các đồng chí Phó Trưởng Thống kê tỉnh, lãnh đạo và công chức các phòng nghiệp vụ, Thống kê cơ sở Đà Lạt và 15 điểm cầu Thống kê cơ sở trên địa bàn tỉnh. Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác quý III, nhìn nhận những tồn tại, hạn chế và xác định các nhiệm vụ trọng tâm trong quý IV nhằm hoàn thành kế hoạch công tác năm 2026. Trong quý III, ngành Thống kê Lâm Đồng đã chủ động triển khai các nhiệm vụ theo kế hoạch của Cục Thống kê và yêu cầu của địa phương. Công tác thu thập, tổng hợp và cung cấp thông tin thống kê kinh tế - xã hội được thực hiện đúng tiến độ, bảo đảm các báo cáo thống kê tháng, quý phục vụ kịp thời công tác lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành của Tỉnh ủy, UBND tỉnh. Công tác điều tra thống kê tiếp tục được chú trọng, thực hiện theo phương án và tiến độ quy định. Đặc biệt, trong quý III, toàn ngành đã triển khai hai cuộc điều tra lớn, có nội dung chuyên môn phức tạp, gồm: Điều tra nhu cầu và mức độ hài lòng của người sử dụng thông tin thống kê năm 2026; Điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026. Bên cạnh đó, hoạt động nắm bắt tình hình kinh tế - xã hội tại địa bàn, thu thập, kiểm tra thông tin đầu vào và phối hợp giữa các phòng nghiệp vụ với Thống kê cơ sở tiếp tục được tăng cường. Chất lượng phân tích, cung cấp và giải trình số liệu thống kê từng bước được nâng lên, góp phần đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ công tác quản lý, điều hành của địa phương. Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng, Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh ghi nhận và biểu dương những nỗ lực, tinh thần trách nhiệm của công chức, người lao động toàn ngành trong thực hiện nhiệm vụ quý III và 9 tháng đầu năm 2026. Bên cạnh những kết quả đạt được, đồng chí cũng lưu ý một số vấn đề cần tiếp tục khắc phục, nhất là chất lượng thông tin đầu vào, việc rà soát mẫu điều tra, công tác nắm bắt tình hình thực tế tại địa bàn và chất lượng phân tích, dự báo trong các báo cáo thống kê. Đề cập đến nhiệm vụ những tháng cuối năm, đồng chí Trưởng Thống kê tỉnh nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng số liệu ngay từ cơ sở, tăng cường kiểm tra, giám sát trong quá trình thu thập thông tin. Đặc biệt, các báo cáo thống kê không chỉ dừng lại ở việc tổng hợp số liệu mà cần đi sâu phân tích nguyên nhân các biến động kinh tế - xã hội, gắn kết chặt chẽ giữa số liệu thống kê với tình hình thực tế tại địa phương, qua đó nâng cao chất lượng thông tin phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành. Đối với Thống kê cơ sở, đồng chí yêu cầu tiếp tục phát huy vai trò nắm bắt, phản ánh kịp thời tình hình kinh tế - xã hội tại địa bàn; tăng cường phối hợp với chính quyền các xã, phường, đặc khu trong thu thập, kiểm tra và cung cấp thông tin thống kê. Đồng thời, chú trọng nghiên cứu, hướng dẫn và phối hợp triển khai nhiệm vụ tính tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp xã, bảo đảm thống nhất về phương pháp và nguồn thông tin. Một nội dung đáng chú ý khác được đề cập tại hội nghị là tăng cường hoạt động làm việc trực tiếp tại cơ sở. Theo đó, lãnh đạo Thống kê tỉnh sẽ tổ chức làm việc theo từng cụm xã, phường nhằm nắm bắt tình hình thực tế, kiểm tra việc triển khai nhiệm vụ, hướng dẫn nghiệp vụ và kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Qua đó, tăng cường sự gắn kết giữa Thống kê tỉnh với Thống kê cơ sở và chính quyền địa phương, góp phần nâng cao chất lượng thông tin thống kê từ cơ sở. Hội nghị cũng đề cập đến việc nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá thi đua, bảo đảm khách quan, thực chất, gắn với chất lượng, tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ của từng đơn vị, từng công chức. Với những kết quả đạt được trong quý III và các nhiệm vụ đã được xác định cho quý IV, ngành Thống kê Lâm Đồng tiếp tục tập trung nâng cao chất lượng điều tra, tổng hợp, phân tích và dự báo; tăng cường nắm bắt tình hình thực tế tại địa bàn, phấn đấu hoàn thành kế hoạch công tác năm 2026, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu cung cấp thông tin thống kê phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh của Hội nghị:Đ/c Phạm Quốc Hùng – Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu chỉ đạo tại hội nghị
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
- 02/10/2026 07:33
Trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới tiếp tục có những diễn biến ảnh hưởng đến hoạt động thương mại, đầu tư và thị trường hàng hóa; kinh tế trong nước duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng. Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, kinh tế - xã hội trong tháng Chín, quý III và 9 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng phát triển tích cực. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định; sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng; hoạt động vận tải, thương mại, dịch vụ và du lịch duy trì mức tăng khá; thu ngân sách đạt kết quả tích cực; các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm và triển khai theo kế hoạch. Kết quả thực hiện cụ thể trên các lĩnh vực như sau: I. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý III/2026 ước tăng 9,65% so với cùng kỳ, tính chung 9 tháng năm 2026 ước tăng 8,51% so với cùng kỳ. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,9%, đóng góp 1,29%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,64%, đóng góp 2,77%; khu vực dịch vụ tăng 9,49%, đóng góp 4,01%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp vẫn duy trì tăng trưởng tương đối ổn định. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 9 tháng năm 2026 tăng 5,04% so với cùng kỳ, đóng góp 1,12 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 4,48% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,08%, đóng góp 0,13 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng cao, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 9 tháng năm 2026 tăng 10,62% so với cùng kỳ, đóng góp 2,18 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp khai khoáng; công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng lần lượt 17,76% và 19,07%, đóng góp 0,11 và 1,08 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,94%, đóng góp 0,96 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,44%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm. Ngành xây dựng tăng 10,72%, đóng góp 0,59 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch vẫn giữ mức tăng trưởng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 9 tháng năm 2026 tăng 9,49% so với cùng kỳ. Đóng góp của một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm trong nền kinh tế như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 11,97% so với cùng kỳ, đóng góp 1,18 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 14,76%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 12,52%, đóng góp 0,82 điểm phần trăm; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,42%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm. Cùng với đó, một số ngành dịch vụ công cũng có mức tăng khá cao như: hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 15,67%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 9,58%. II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2026 duy trì ổn định và phát triển. Hoạt động trồng trọt cơ bản thuận lợi, diện tích cây hàng năm và diện tích cây lâu năm tiếp tục được duy trì. Chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn vật nuôi chủ lực và sản lượng thịt hơi tăng so với cùng kỳ năm trước. Công tác phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được triển khai thường xuyên; mặc dù dịch tả lợn Châu Phi vẫn phát sinh tại một số địa phương nhưng đã được kiểm soát. Hoạt động thủy sản cơ bản ổn định, nuôi trồng thủy sản được duy trì, sản lượng khai thác thủy sản tăng khá so với cùng kỳ năm trước, sản xuất giống thủy sản, nhất là tôm giống, tiếp tục được duy trì, gắn với kiểm dịch, kiểm soát chất lượng và đáp ứng nhu cầu sản xuất của người nuôi. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 9 tháng năm 2026 ước đạt 255.165,7 ha, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Cây lương thực diện tích ước đạt 143.025,7 ha, tăng 1,92%; sản lượng lương thực ước đạt 930.408,8 tấn, tăng 3,04% (cây lúa diện tích đạt 104.805,7 ha, tăng 1,22%; sản lượng đạt 670.142,1 tấn, tăng 2,46%. Cây bắp diện tích đạt 38.220 ha, tăng 3,89%; sản lượng đạt 260.266,7 tấn, tăng 4,58%). Cây rau diện tích đạt 60.743,7 ha, tăng 2,1%. Cây hoa diện tích đạt 8.121,4 ha, tăng 1,81%. Cây đậu các loại diện tích đạt 10.300 ha, tăng 0,5%. Diện tích cây hàng năm còn lại đạt 32.974,9 ha, tăng 4,16%. Vụ Hè thu toàn tỉnh đã thực hiện trồng mới, chuyển đổi khoảng 4.157,9 ha cây trồng kém hiệu quả sang trồng các loại cây có hiệu quả cao hơn. Diện tích gieo trồng vụ Hè thu ước đạt 148.753,2 ha, tăng 3,23% so với vụ Hè thu năm trước. Trong đó: cây lúa diện tích đạt 49.400 ha, tăng 2,42%; sản lượng đạt 297.000 tấn, tăng 3,05%; năng suất đạt 60,12 tạ/ha, tăng 0,37 tạ/ha. Cây ngô diện tích đạt 31.663,9 ha, tăng 2,87%; sản lượng đạt 212.000 tấn, tăng 3,31%; năng suất đạt 66,95 tạ/ha, tăng 0,29 tạ/ha. Rau các loại diện tích đạt 34.108,8 ha, tăng 4,09%; sản lượng đạt 1.034.990 tấn, tăng 4,52%; năng suất đạt 303,44 tạ/ha, tăng 1,25 tạ/ha. Hoa các loại diện tích đạt 3.902 ha, tăng 4,48%; sản lượng đạt 1.441.688 nghìn cành/bông, tăng 3,66%; năng suất đạt 369,47 nghìn cành/bông/1ha, giảm 2,93 nghìn cành/bông/ha. 1.2. Cây lâu năm Sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2026 duy trì và phát triển tương đối ổn định, cơ cấu cây trồng tiếp tục có sự chuyển dịch theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Diện tích một số cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, dâu tằm có xu hướng mở rộng diện tích; trong khi một số loại cây trồng có hiệu quả kinh tế thấp hơn như cao su, điều, thanh long, chè đang từng bước được điều chỉnh quy mô sản xuất, thanh lý và thay thế những vườn cây già cỗi sang các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn. Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 638.205,2 ha, tăng 0,34% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể một số cây chính sau: - Cây cà phê: Cây cà phê hiện chưa bước vào vụ thu hoạch. Lâm Đồng là vùng sản xuất cà phê lớn nhất cả nước, với quy mô diện tích lớn, sản xuất ổn định và cà phê được xác định là một trong những cây trồng chủ lực, có vai trò chiến lược đối với ngành trồng trọt của tỉnh. Tổng diện tích cây cà phê ước đạt 335.178,5 ha, tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước (tăng chủ yếu ở các xã: Di Linh, Gia Hiệp, Đinh Trang Thượng); - Cây cao su: Diện tích ước đạt 73.505 ha, giảm 2,48%; sản lượng 9 tháng năm 2026 ước đạt 75.390 tấn, tăng 3,99% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cao su có xu hướng giảm, chủ yếu do loại bỏ những diện tích cao su già cỗi, năng suất thấp. Tuy nhiên, năng suất khai thác tiếp tục được cải thiện góp phần nâng cao sản lượng các vùng chuyên canh; - Cây điều: Diện tích ước đạt 45.765,2, giảm 8,74%; sản lượng 9 tháng năm 2026 ước đạt 36.183,9 tấn, giảm 7,48% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích và sản lượng điều có xu hướng giảm trong bối cảnh tỉnh đang đẩy mạnh nông nghiệp công nghệ cao, cấp mã số vùng trồng và ưu tiên phát triển các ngành hàng xuất khẩu có giá trị cao. Một phần diện tích điều đang từng bước được chuyển đổi sang các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn như sầu riêng và dâu tằm, phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh; - Cây tiêu: Diện tích ước đạt 38.609,4 ha, tăng 2,55%; sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2026 ước đạt 95.230,6 tấn, tăng 6,81% so với cùng kỳ năm trước. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao (khoảng 148.000–151.000 đồng/kg), tạo động lực để người trồng tiêu tăng cường đầu tư, chăm sóc và phục hồi vườn cây. Bên cạnh đó, điều kiện sản xuất tương đối thuận lợi, nguồn nước tưới cơ bản được bảo đảm, tình hình sâu bệnh được kiểm soát, góp phần giúp cây tiêu sinh trưởng, phát triển ổn định và duy trì năng suất; - Cây sầu riêng: Diện tích ước đạt 47.325,4 ha, tăng 7,01% so với cùng kỳ năm trước (diện tích tăng chủ yếu tại các địa bàn có điều kiện thổ nhưỡng phù hợp, trong đó tập trung tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 2, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai 3, Cát Tiên 3, Di Linh và Gia Hiệp). Sản lượng 9 tháng năm 2026 ước đạt 337.404 tấn, tăng 15,49%. Sản lượng tăng khá cao chủ yếu do diện tích sầu riêng bước vào thời kỳ cho thu hoạch ngày càng lớn; đồng thời, người dân tăng cường áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong chăm sóc, thâm canh, nhất là đối với các vườn trồng thuần, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Dự báo trong thời gian tới cây sầu riêng tăng cường đầu tư thâm canh và mở rộng vùng chuyên canh; - Cây thanh long: Diện tích ước đạt 24.481,4 ha, giảm 5,12%; sản lượng ước 9 tháng năm 2026 ước đạt 445.855 tấn, giảm 4,45% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô diện tích thanh long tiếp tục được điều chỉnh giảm so với giai đoạn phát triển nhanh trước đây. Mặc dù thanh long có lợi thế về quy mô sản xuất và sản lượng, nhưng diện tích lớn cũng tạo áp lực đối với thị trường tiêu thụ khi khả năng tiêu thụ không tăng tương ứng; - Cây chè: Diện tích chè ước đạt 9.100 ha, giảm 1,96% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích chè giảm chủ yếu tại khu vực Bảo Lộc và các vùng lân cận do một số hộ dân từng bước chuyển đổi các vườn chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống, hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, bơ, chanh dây,... Sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2026 ước đạt 90.434 tấn, giảm 2,51% so với cùng kỳ năm trước; - Cây dâu tằm: Diện tích dâu ước đạt 11.341 ha, tăng 1,11%; sản lượng 9 tháng năm 2026 ước đạt 255.440 tấn, tăng 4,36% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu nhờ việc đẩy mạnh thay thế các giống dâu cũ bằng những giống có năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt và phù hợp với điều kiện thổ như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05. Bên cạnh đó giá kén tằm ổn định (khoảng 185.000 đồng - 200.000 đồng/kg), tạo động lực để người dân tăng cường đầu tư chăm sóc, mở rộng diện tích, qua đó góp phần nâng cao năng suất và sản lượng ngành dâu tằm. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Toàn tỉnh hiện có 966 công trình thủy lợi, trong đó có 526 hồ chứa với tổng dung tích khoảng 859 triệu m3; các công trình thủy lợi đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, công nghiệp, du lịch và các ngành kinh tế khác của tỉnh. Tính đến ngày 13/9/2026, tổng diện tích sản xuất nông nghiệp được tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện đạt 193.567 ha (đạt 44,5%). 1.4. Tình hình dịch bệnh Công tác dự báo, phòng chống sâu bệnh hại trên cây trồng được chú trọng thực hiện từ sớm, từ xa thường xuyên trong từng tháng. Trong 9 tháng năm 2026, dịch hại trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt, hầu hết gây hại ở mức độ nhẹ, cụ thể: - Cây lúa: Bệnh đạo ôn lá gây hại 1.776 ha; sâu đục thân gây hại 659 ha (giảm 786 ha so cùng kỳ năm trước); ốc bươu vàng gây hại 1.116 ha; rầy nâu gây hại 464 ha; - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.164 ha (108 ha nhiễm nặng). Hiện tượng biến dạng dính gai sần vỏ gây hại 3.700 ha trên diện tích trồng sầu riêng giai đoạn trái non, cận thu hoạch tại các xã Đạ Huoai, Đạ Huoai 1, Đạ Huoai 2, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 1, Đạ Tẻh 2, Cát Tiên, Cát Tiên 1, Cát Tiên 2; - Cây cà phê: Bệnh khô cành, khô quả gây hại 2.968 ha; rệp sáp gây hại 1.543 ha; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.931 ha; bệnh thán thư gây hại 3.043 ha; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha; bệnh thán thư cành, quả gây hại 773 ha; - Cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus gây hại 103 ha, bệnh mốc sương gây hại 131 ha. 1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục được quan tâm, chú trọng. Toàn tỉnh hiện có khoảng 110.700 ha sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao (trong đó, diện tích ứng dụng nông nghiệp thông minh đạt khoảng 1.400 ha); đã công nhận 16 vùng sản xuất trồng trọt ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt. Công tác đào tạo, tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ, khuyến nông tiếp tục được đẩy mạnh và mang lại hiệu quả tích cực. Công tác thông tin tuyên truyền khuyến nông tiếp tục được quan tâm thực hiện thường xuyên. Sản xuất an toàn bền vững tiếp tục được đẩy mạnh; trong quý III/2026, toàn tỉnh phát triển mới 725 ha diện tích sản xuất nông nghiệp đạt các tiêu chuẩn an toàn, bền vững; lũy kế 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh có thêm 1.309 ha được cấp mới các chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng, nâng tổng diện tích sản xuất được chứng nhận an toàn, bền vững lên 155.100 ha. Trong 9 tháng năm 2026 thực hiện các đề tài, mô hình mới trong sản xuất nông, lâm, thủy sản gắn với chương trình phát triển khoa học - công nghệ, đã thực hiện hoàn thành 07 mô hình chuyển tiếp từ năm trước và thực hiện mới 13 mô hình, đến nay đã nghiệm thu 02 mô hình (mô hình nuôi vịt thương phẩm hướng thịt an toàn sinh học, hiệu quả kinh tế tăng 18% so với ngoài mô hình, nông hộ thu về khoảng 6-7 triệu đồng/mô hình 500 con; mô hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng hai giai đoạn, sau 90 ngày nuôi, nuôi tôm đạt cỡ 40-50 con/kg, tỷ lệ sống đạt 82%). 1.6. Chương trình xây dựng nông thôn mới Trong 9 tháng năm 2026, tỉnh tiếp tục tập trung triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại tiếp tục được quan tâm, tập trung củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp trên địa bàn. Toàn tỉnh hiện có 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp đang hoạt động theo luật Hợp tác xã năm 2023 (với 45 HTX thành viên và 874 HTX nông nghiệp); có 1.290 Tổ hợp tác và 1.410 trang trại đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tiếp tục được tập trung triển khai, góp phần tổ chức lại sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng cường kết nối giữa sản xuất với thị trường. Đến nay, toàn tỉnh có 428 chuỗi liên kết (với 47.590 hộ tham gia liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm); tổng diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85.000 ha, sản lượng khoảng 920.000 tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt khoảng 2.230.000 con, sản lượng đạt khoảng 210.000 tấn/năm. Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tiếp tục được triển khai, góp phần phát triển sản phẩm đặc trưng, nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm địa phương. Đến nay, toàn tỉnh có 894 sản phẩm OCOP còn thời hạn Giấy chứng nhận (trong đó có 88 sản phẩm 4 sao và 806 sản phẩm 3 sao), với 506 chủ thể tham gia Chương trình. 2. Chăn nuôi Trong 9 tháng năm 2026, chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định, tổng đàn các loại vật nuôi chủ lực đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất được duy trì trong điều kiện nhu cầu tiêu dùng trong nước tương đối ổn định, một số sản phẩm có giá bán thuận lợi, tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp duy trì sản xuất, tái đàn và đầu tư mở rộng quy mô. Xu hướng chăn nuôi trang trại, tập trung, liên kết với doanh nghiệp và ứng dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học ngày càng được đẩy mạnh. Tuy nhiên, các chi phí đầu vào như giá thức ăn chăn nuôi, con giống, thuốc thú y, các chi phí điện, nước, lao động, vận chuyển vẫn ở mức cao; nguy cơ dịch bệnh trên đàn vật nuôi vẫn còn tiềm ẩn, ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả chăn nuôi. So với cùng kỳ năm trước, toàn tỉnh có 27,5 nghìn con trâu, tăng 2,15%; có 325 nghìn con bò, tăng 4% (đàn bò sữa có 32,5 nghìn con, tăng 4,23%); có 1.580 nghìn con lợn, tăng 5,4%; có 25 triệu con gia cầm, tăng 9,56% (trong đó gà các loại 16,95 triệu con, chiếm 67,8% trong tổng đàn gia cầm, tăng 9,23%). Sản lượng thịt hơi các loại trong tháng ước đạt 32.660 tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2026 đạt 92.186,2 tấn, tăng 7,23%; 9 tháng năm 2026 đạt 277.455,6 tấn, tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong quý III/2026, bệnh DTLCP phát sinh 49 hộ, cơ sở tại 27 thôn của 10 xã, phường với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 8.990 con/401.958 kg. Lũy kế đến ngày 12/9/2026, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 23.067 con/1.102.637 kg. Đến nay còn 05 xã có dịch bệnh chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Tổ chức kiểm tra tình hình dịch bệnh DTLCP tại các địa phương có dịch nêu trên. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện các biện pháp an toàn sinh học, chủ động phòng, chống dịch bệnh, hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan DTLCP. Đối với các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, tiếp tục thực hiện giám sát, tiêm phòng và các biện pháp phòng bệnh theo quy định. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, tỉnh tiếp tục chỉ đạo các địa phương, đơn vị tập trung triển khai thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng; tăng cường các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp; đồng thời đẩy mạnh công tác khôi phục và phát triển rừng. Diện tích rừng tập trung (trồng mới) trong tháng ước đạt 1.333,3 ha, tăng 4,0% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2026 ước đạt 4.233 ha, tăng 3,68%. Lũy kế 9 tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới ước đạt 8.459 ha, tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây xanh ước đạt 10,4 triệu cây, tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước. - Trong tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 44.578 m3, tăng 1,75% so với cùng kỳ năm trước, quý III/2026 ước đạt 129.736 m3, tăng 1,89%; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 363.03 m3, tăng 3,17%. Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 28.053 ster, tăng 1,89%; quý III/2026 ước đạt 83.470 ster, tăng 1,74%; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 263.551 ster, tăng 1,91%. - Tổng số vụ vị phạm lâm luật trong tháng (từ ngày 10/8 đến ngày 10/9/2026) là 35 vụ, trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 26 vụ, diện tích thiệt hại do phá rừng trái pháp luật 5,1 ha. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 15 vụ (trong đó phá rừng tăng 17 vụ; diện tích rừng bị thiệt hại tăng 2 ha). Lũy kế 9 tháng năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/9/2026), tổng số vụ vi phạm là 416 vụ, trong đó: phá rừng 201 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 35,4 ha. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 92 vụ (phá rừng tăng 81 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 12,5 ha). 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Thủy sản nuôi nội địa tập trung vào nuôi cá ở các xã Đức Linh, Nam Thành, Trà Tân, Cư Jút, Đắk Wil, Nam Dong, Phúc Thọ Lâm Hà, Tân Hà Lâm Hà và nuôi tôm thâm canh ở các Xã Tân Thành, Liên Hương; lồng bè/bể, bồn nuôi cá có giá trị cao tập trung ở các xã Phan Rí Cửa, Đồng Kho, đặc khu Phú Quý, xã Nam Đà, Nhân Cơ, phường 3 Bảo Lộc, xã Bảo Thuận, xã Lạc Dương và phường Lang Biang. Trong 9 tháng năm 2026, tỉnh đã chỉ đaọ các địa phương tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra, giám sát môi trường và chú ý phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi thủy sản; tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 401,2 ha, giảm 0,27% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 4.228,2 ha, tăng 1,27% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 3.750,6 ha, giảm 1,44%; diện tích nuôi tôm đạt 418,9 ha, tăng 4,85%). Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 2.483,2 tấn, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 505 tấn, tăng 3,48%); quý III/2026 ước đạt 7.380,9 tấn, giảm 0,05%; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 21.270,9 tấn, tăng 0,28% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 3.745 tấn, tăng 4,16%). - Khai thác thủy sản: Từ đầu năm đến nay, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới ít, tạo điều kiện cho hoạt động khai thác thủy sản trên biển. Ngư dân chủ động bám biển, duy trì hoạt động khai thác mặc dù giá nhiên liệu có thời điểm tăng; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dồi dào góp phần nâng cao hiệu quả khai thác. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng biển ven bờ và vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đặc khu Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 25.154 tấn, tăng 5,31% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khai thác biển ước đạt 25.042 tấn, tăng 5,07%); quý III/2026 ước đạt 75.858,8 tấn, tăng 5,83% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 196.116,9 tấn, tăng 4,34% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khai thác biển ước đạt 195.392,6 tấn, tăng 4,2%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Hoạt động sản xuất tôm giống trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì, gắn với công tác kiểm dịch, kiểm soát chất lượng và phân tích, xét nghiệm mẫu. Trong tháng điều kiện thời tiết tương đối bất lợi do mưa ngâu, cùng với giá tôm thương phẩm ở mức thấp, khiến người nuôi chậm thả giống. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh tôm giống nhìn chung vẫn khá thuận lợi; sau thời gian thu hoạch và cải tạo, phơi hồ, người nuôi bắt đầu thả giống vụ mới, góp phần thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ tôm giống. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,4 tỷ post, tăng 11,67% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 20,6 tỷ post, tăng 13,26% so với cùng kỳ năm trước. III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng, quý III và 9 tháng năm 2026 đạt mức tăng trưởng tích cực đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Giá trị công nghiệp của tỉnh được tiếp thêm động lực từ các dự án mới đi vào hoạt động. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành. Các nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động thu hút đầu tư của các khu công nghiệp đạt được những kết quả khả quan, tạo nền tảng vững chắc cho kinh tế địa phương phát triển. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 23,92% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2026 giảm 2,47% so với quý trước và tăng 17,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 17,51%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 24,67%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 13,92%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,75%. Tính chung 9 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,1%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,42%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,86%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,28%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng, sản lượng sản xuất ước đạt 458.020 m³, tăng 0,56% so với tháng trước và tăng 16,85% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 1.137.513 m³, tăng 16,92% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 3.483.084 m³, tăng 18,57% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng 9 tháng năm 2026 tăng khá cao chủ yếu do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để đáp ứng nhu cầu phục vụ các công trình xây dựng, trong bối cảnh tỉnh đang tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các hạng mục, công trình xây dựng trên địa bàn. - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 2.825 tấn, giảm 3,95% so với tháng trước nhưng tăng 33,15% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 8.210 tấn, tăng 34,31% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 sản lượng ước đạt 20.337 tấn, tăng 24,46% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu do các doanh nghiệp tập trung sản xuất, chủ động nguồn hàng phục vụ nhu cầu trong những tháng tiếp theo, trong điều kiện tỉnh đang có xu hướng ưu tiên phát triển công nghiệp tại khu vực ven biển phía Nam, góp phần tăng cường kết nối liên vùng giữa Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.831 tấn, giảm 7,71% so với tháng trước nhưng tăng 33,93% so với cùng kỳ. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 11.215 tấn, tăng 31,61% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 32.285 tấn, tăng 19,15% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả tăng trưởng chủ yếu do một số doanh nghiệp đã đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị, đồng thời mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng các đơn đặt hàng mới và nhu cầu xuất khẩu sang một số thị trường. Đặc biệt, sản lượng sầu riêng cấp đông tăng mạnh so với cùng kỳ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao. - Đồ uống các loại: Sản lượng trong tháng ước đạt 17.956 nghìn lít, tăng 5,58% so với tháng trước và tăng 8,49% so với cùng kỳ. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 61.229 nghìn lít, tăng 14,54% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 185.819 nghìn lít, tăng 16,33% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm đồ uống, đặc biệt là rượu vang, đang có xu hướng gia tăng. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng sản lượng ước đạt 1.141 nghìn đôi, tăng 3,54% so với tháng trước và tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 3.185 nghìn đôi, tăng 97,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 6.963 nghìn đôi, tăng 52,84% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này chủ yếu do các doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ những tháng đầu năm và duy trì được tốc độ sản xuất cao. Bên cạnh đó, Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam mở rộng dây chuyền sản xuất, góp phần nâng công suất và sản lượng của ngành. - Sản phẩm phân bón: Sản lượng sản xuất trong tháng ước đạt 18.678 tấn, tăng 12,14% so với tháng trước và tăng 36,69% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 47.430 tấn, tăng 11,29% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 112.863 tấn, tăng 16,35% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng do các doanh nghiệp chủ động nguồn hàng, chuẩn bị cho mùa vụ sản xuất nông nghiệp năm 2026. Trong khi đó, giá nông sản tiếp tục duy trì ở mức cao, thúc đẩy nhu cầu đầu tư phân bón, nhất là đối với các loại cây trồng lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 156,7 nghìn tấn, tăng 10,51% so với tháng trước và tăng 11,15% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 380,19 nghìn tấn, tăng 9,35% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 1.137,3 nghìn tấn, tăng 1,71% so với cùng kỳ năm trước. - Sản phẩm nhôm thỏi: Đây là sản phẩm nhôm thỏi đầu tiên được sản xuất tại Việt Nam. Sự kiện công bố sản phẩm nhôm thỏi đầu tiên vào ngày 26/7/2026 tại Khu công nghiệp Nhân Cơ, tỉnh Lâm Đồng là dấu mốc quan trọng, mở ra hướng phát triển mới cho ngành công nghiệp luyện kim trong nước. Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 14.540 tấn; quý III/2026 ước đạt 20.551 tấn. - Sản phẩm điện sản xuất: Sản lượng điện sản xuất trong tháng ước đạt 2.899 triệu kWh, tăng 0,59% so với tháng trước và tăng 18,52% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 9.067 triệu kWh, tăng 16,68% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 27.102 triệu kWh, tăng 8,75% so với cùng kỳ năm trước. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng sản lượng điện thương phẩm ước đạt 674 triệu kWh, tăng 19,91% so với tháng trước và tăng 53,57% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng ước đạt 1.736 triệu kWh, tăng 28,24% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 4.743 triệu kWh, tăng 14,97% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này diễn ra trong bối cảnh các chương trình khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả được đẩy mạnh, ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp ngày càng được nâng cao; đồng thời, nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh và doanh nghiệp đã sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời để tự sản xuất, tự tiêu dùng. Tuy nhiên, sản lượng điện thương phẩm vẫn tăng so với quý trước và cùng kỳ, chủ yếu do Nhà máy điện phân nhôm đi vào hoạt động, làm gia tăng đáng kể nhu cầu tiêu thụ điện thương phẩm. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 2,23% so với tháng trước và tăng 10,98% so cùng kỳ năm trước do Công ty TNHH luyện kim nhôm Trần Hồng Quân đã đi vào hoạt động từ cuối tháng 7/2026, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,81%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,75%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,86%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,20%. Phân theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 10,28% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 14,76%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,96%. Tính chung 9 tháng năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 7,1%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,29%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,53%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,56%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,56%. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 3,52% so với tháng trước và tăng 25,24% so với cùng kỳ năm trước; 9 tháng năm 2026 chỉ số tiêu thụ tăng 6,16% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá cao trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 49,23%; sản xuất đồ uống tăng 16,47%; chế biến gỗ tăng 4,46%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 18,99%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 4,82%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 37,58%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 24,62%; sản xuất kim loại tăng 19,22%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 61,64%. Tuy nhiên có 1 số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: ngành dệt giảm 19,05%; sản xuất trang phục giảm 30,52%... Nhìn chung chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng tăng so với cùng kỳ năm trước cho thấy tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp đang trong thời gian tăng trưởng tích cực, cũng như các sản phẩm doanh nghiệp sản xuất đã đáp ứng tốt nhu cầu, thị hiếu của khách hàng. 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 9,3% so với tháng trước và giảm 37,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ như: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 30,17%; sản xuất chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 39,02%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 27,92%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 72,3%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 37,05%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 43,94%, sản xuất kim loại giảm 56,11%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 29,01%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng như sản xuất đồ uống tăng 115,28%, sản xuất từ giấy và sản phẩm từ giấy tăng 9,6%... 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Sản xuất kinh doanh quý III/2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 38,46% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 18,18% đánh giá khó khăn hơn và 43,36% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi. Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước 50% có chiều hướng thuận lợi; 50% có chiều hướng không thay đổi. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 35,29% có chiều hướng thuận lợi; 45,38% có chiều hướng không thay đổi và 19,33% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 56,25% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 25% có chiều hướng không thay đổi và 18,75% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý III/2026, có 51,79% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 25% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 42,86% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 8,93% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 23,21% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 1,79% cho rằng thiếu năng lượng; 32,14% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 21,43% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 21,43% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 16,07% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 7,14% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 21,43% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 7,14% lý do khác. 1.7. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp Trong quý III/2026, doanh thu của các doanh nghiệp ngành công nghiệp tỉnh Lâm Đồng tăng 3,78% so với quý trước và tăng 25,01% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể tình hình các nhóm ngành như sau: Ngành B (Khai khoáng): Doanh thu tăng 8,09% so với quý trước và 20,09% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 17,87% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu ngành khai khoáng có sự tăng trưởng cao so với cùng kỳ là nhờ các đơn vị khai thác tối ưu hóa công suất vận hành, đáp ứng kịp thời nhu cầu nguyên vật liệu từ các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm trên địa bàn. Ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo): Doanh thu tăng 31,79% so với quý trước và 39,13% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng tăng 20,6% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trên nhờ sự tăng trưởng của nhóm chế biến nông sản, thực phẩm và nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng phục vụ các dự án giao thông trọng điểm. Các chính sách hỗ trợ kịp thời đã giúp doanh nghiệp khơi thông nguồn vốn và ổn định chuỗi cung ứng, khẳng định vai trò then chốt trong việc tạo ra giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp tỉnh. Ngành D (Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí): Doanh thu giảm 10,15% so với quý trước và tăng 16,71% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 8,27% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng nhằm đáp ứng nhu cầu điện năng phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Ngành tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng và hỗ trợ trực tiếp cho các ngành sản xuất khác trên địa bàn. Ngành E (Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải): Doanh thu tăng 7,36% so với quý trước và 14,14% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 9,91% so với cùng kỳ năm trước. Sự gia tăng này đảm bảo cung ứng nước sạch phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất ngày càng mở rộng. Các đơn vị ngành nước và môi trường đã chủ động bảo trì hạ tầng, tối ưu hóa công nghệ xử lý nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và kiểm soát tốt các chỉ tiêu vệ sinh môi trường. 1.8. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong 9 tháng năm 2026, đã thu hút được 18 dự án đầu tư (trong đó có 04 dự án nước ngoài và 14 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 814,33 tỷ và 24,84 triệu USD, diện tích đất thuê lại 34,14 ha[1]. Lũy kế đến nay, các KCN trên địa bàn tỉnh có 249 dự án còn hiệu lực, gồm 57 dự án FDI và 192 dự án trong nước; tổng vốn đăng ký đạt hơn 45.932 tỷ đồng và 544,962 triệu USD, diện tích đất đăng ký 785,50 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 57,21%. Hiện nay trong các KCN có 176 doanh nghiệp đi vào hoạt động. Doanh thu hoạt động sản xuất - kinh doanh ước thực hiện 9 tháng năm 2026 đạt 23.662,24 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 498,89 triệu USD; nộp ngân sách đạt 1.425,10 tỷ đồng. - KCN Lộc Sơn thu hút được 58 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 48 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,8ha/132,60 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%. - KCN Phú Hội thu hút được 34 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 23 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn 6 nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,7 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,90 ha/276,90 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,40 ha/202,30 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,10 ha/210,80 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,40 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Trong quý III/2026, hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục được thúc đẩy trong bối cảnh các chính sách hỗ trợ đầu tư được triển khai, tiến độ giải ngân vốn được đẩy nhanh và các khó khăn, vướng mắc của dự án từng bước được tháo gỡ. Tỉnh tập trung triển khai các công trình, dự án hạ tầng trọng điểm, năng lượng, công nghiệp và hạ tầng thương mại; trong đó, đã tháo gỡ khó khăn cho 179/365 dự án, tạo điều kiện để các dự án tiếp tục hoàn thiện thủ tục và tổ chức thi công trong thời gian tới. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ngành xây dựng chia theo loại hình quý III/2026 ước đạt 19.458,1 tỷ đồng, tăng 18,24% so cùng kỳ năm trước, với mức tăng cao là do trong quý có các dự án nhà máy xỉ titan Sông Bình, nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông, các dự án Trường nội trú liên cấp, nâng cấp sân bay và các tuyến đường cao tốc, giao thông trong tỉnh. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 71,1 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,37%), tăng 51,36% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 10.689 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 54,93%), tăng 1,58% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu tăng ở các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 164,4 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,84%), giảm 21,31% so với cùng kỳ năm trước; loại hình kinh tế khác ước đạt 8.533,6 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 43,86%), tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước. Ước 9 tháng năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 48.640,6 tỷ đồng, tăng 16,75% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 193 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,4%), tăng 72,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 26.818 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 55,14%), tăng 18,92% so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 516,9 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 1,06%), tăng 1,44% so với cùng kỳ năm trước; loại hình kinh tế khác ước đạt 21.112,7 tỷ đồng, chủ yếu khu vực hộ dân cư (chiếm tỷ trọng 43,4%), tăng 14,19% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo loại công trình, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý III/2026 công trình nhà ở đạt 7.333,5 tỷ đồng, tăng 8,27% so với cùng kỳ năm trước; công trình nhà không để ở đạt 4.031,6 tỷ đồng, tăng 17,27% so với cùng kỳ năm trước; công trình kỹ thuật dân dụng 5.486,2 tỷ đồng, tăng 21,41% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu các dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc, Cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương, Cao tốc Nha Trang - Đà Lạt; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.606,8 tỷ đồng, tăng 50,93% so với cùng kỳ năm trước do trong quý có dự án đường dây điện của tập đoàn EVN thi công qua địa bàn tỉnh, giải phóng chuẩn bị mặt bằng các tuyến cao tốc, Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam. Ước 9 tháng năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành loại công trình nhà ở đạt 19.004,1 tỷ đồng, tăng 10,55% so cùng kỳ năm trước; công trình nhà không để ở đạt 9.776,8 tỷ đồng chủ yếu sửa chữa, nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Liên Khương, tăng 11,42% so với cùng kỳ năm trước; công trình kỹ thuật dân dụng 13.038,8 tỷ đồng, tăng 18,11%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 6.821 tỷ đồng, tăng 46,42% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả khảo sát cho thấy hoạt động SXKD của doanh nghiệp xây dựng quý III/2026 còn khó khăn, với 21,4% doanh nghiệp đánh giá thuận lợi hơn, 46,2% ổn định và 32,4% khó khăn hơn quý trước; chỉ số cân bằng đạt -11%. Sang quý IV/2026, triển vọng có cải thiện nhẹ, chỉ số cân bằng dự báo -10,4%, trong đó 21,4% doanh nghiệp kỳ vọng hoạt động thuận lợi hơn. Chi phí đầu vào tiếp tục gây áp lực, với 41,6% doanh nghiệp ghi nhận chi phí sản xuất tăng, riêng chi phí nguyên vật liệu tăng ở 46,2% doanh nghiệp. Khả năng tiếp cận vốn còn khó khăn khi 30,6% doanh nghiệp đánh giá vay vốn khó hơn. Tuy nhiên, 27,7% doanh nghiệp dự báo số hợp đồng xây dựng mới tăng trong quý IV/2026. Doanh nghiệp chủ yếu kiến nghị 50,3% hỗ trợ nguyên vật liệu; 35,8% công khai, minh bạch đấu thầu và 33,5% cắt giảm thủ tục hành chính. 3. Đầu tư phát triển Thu hút nguồn lực vào các trụ cột chiến lược như du lịch chất lượng cao, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, khai khoáng và năng lượng tái tạo được sự chỉ đạo quyết liệt từ UBND tỉnh. Nhờ quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn và cải cách thủ tục hành chính, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 9 tháng năm 2026 ước đạt 84.104,76 tỷ đồng, tăng 12,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng năm 2026, công tác triển khai hạ tầng trọng điểm và phân bổ vốn khởi công mới trên địa bàn tỉnh ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, tiến độ chung vẫn bị chững lại do các điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, trùng lấn quy hoạch bô-xít và năng lực hạn chế của một số chủ đầu tư, nhà thầu. Trước tình hình đó, tỉnh đã quyết liệt triển khai các giải pháp tháo gỡ ngay từ đầu năm nhằm khơi thông nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công. 3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước trong tháng đạt 1.824,1 tỷ đồng, tăng 26,13% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.648,9 tỷ đồng, chiếm 90,39% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 29,03% so với cùng kỳ năm trước (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 640 tỷ đồng, tăng 28,26% so với cùng kỳ năm trước; vốn trung ương ước đạt 391,7 tỷ đồng, tăng 24,97%; vốn nước ngoài 25,9 tỷ đồng, giảm 4,32%; vốn xổ số kiến thiết 579,5 tỷ đồng, tăng 33,41%; vốn khác 11,9 tỷ đồng, tăng 2,86 lần); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 175,2 tỷ đồng, chiếm 9,61% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 4,16% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 9.624,4 tỷ đồng, đạt 47,85% so với kế hoạch năm, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 8.611,2 tỷ đồng, tăng 17,61% so với cùng kỳ năm trước (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 3.770,3 tỷ đồng, tăng 32,15% so với cùng kỳ năm trước; vốn trung ương ước đạt 1.459,2 tỷ đồng, giảm 22,83%; vốn nước ngoài 133,1 tỷ đồng, giảm 17,88%; vốn xổ số kiến thiết 3.193,3 tỷ đồng, tăng 33,63%; vốn khác 55,3 tỷ đồng, tăng gấp 2,1 lần); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 1.013,2 tỷ đồng, tăng 24,54% so với cùng kỳ năm trước. 3.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn Trong Quý III/2026, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ước đạt 34.192,3 tỷ đồng, tăng 23,35% so với quý trước và tăng 14,66% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động đầu tư có mức tăng trưởng cao sau giai đoạn hoàn thiện thủ tục đầu năm. Tốc độ tăng trưởng tích cực trong Quý III/2026 chủ yếu nhờ thời tiết mùa khô thuận lợi cho thi công xây dựng, cùng với sự quyết liệt của tỉnh trong đôn đốc, tháo gỡ khó khăn về mặt bằng. Động lực phát triển tập trung lớn ở các dự án hạ tầng giao thông, đô thị trọng điểm và hạ tầng các khu công nghiệp trên địa bàn. Trong đó, vốn nhà nước ước đạt 8.285,4 tỷ đồng, tăng 18,09% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 24,23% trong tổng nguồn vốn; vốn Trung ương quản lý đạt 2.307,2 tỷ đồng, giảm 0,03%, vốn địa phương quản lý đạt 5.978,3 tỷ đồng. Vốn ngoài nhà nước ước đạt 24.810,4 tỷ đồng, tăng 13,8% và chiếm 72,56% tổng vốn (vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 13.904,4 tỷ đồng, tăng 14,76%, vốn đầu tư của dân cư đạt 10.906 tỷ đồng, tăng 12,59%). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ước đạt 1.096,5 tỷ đồng, tăng 9,44% so với cùng kỳ và chiếm 3,21% tổng vốn đầu tư. Lũy kế 9 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ước đạt 84.104,8 tỷ đồng, tăng 12,09% so với cùng kỳ năm trước. Vốn nhà nước ước đạt 16.986,6 tỷ đồng, tăng 7,75%, chiếm 20,2% tổng nguồn vốn toàn xã hội (vốn Trung ương quản lý đạt 5.462,7 tỷ đồng, giảm 2,61%, vốn địa phương quản lý đạt 11.523,9 tỷ đồng, tăng 13,48%). Vốn ngoài nhà nước tiếp tục giữ vai trò là động lực tăng trưởng chính, có quy mô lớn nhất trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, ước đạt 64.276,1 tỷ đồng, tăng 13,58% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 76,42% tổng nguồn vốn (vốn của tổ chức, doanh nghiệp đạt 33.863,3 tỷ đồng, tăng 9,18%, vốn của dân cư đạt 30.412,9 tỷ đồng, tăng 18,92%). Nguồn vốn ngoài nhà nước có sự phát triển mạnh, thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế sâu vào các ngành công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao và du lịch. Dòng vốn thực hiện toàn xã hội được duy trì ở mức cao nhờ tiến độ của các dự án: Thung lũng Đại dương, Điện phân nhôm Đắk Nông, Nam sông Đa Nhim, các KCN, cùng nhóm nhà máy chế biến Mebi Farm, Hli Ecohub Nam Hà và Zircon Sông Bình. Song song đó, nguồn vốn trong nhân dân tăng trưởng ổn định, tập trung tái đầu tư vào nông nghiệp giá trị cao và dịch vụ du lịch quy mô nhỏ. Đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), 9 tháng năm 2026 ước đạt 2.842 tỷ đồng, tăng 6,15% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 3,38% tổng nguồn vốn. Mặc dù chiếm tỷ trọng không cao trong cơ cấu vốn toàn xã hội, dòng vốn FDI trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì bảo đảm chất lượng và đúng định hướng dòng vốn xanh, có sự chọn lọc chiến lược, tập trung vào nông nghiệp công nghệ sinh học, chế biến sâu nông sản, logistics và du lịch sinh thái. Tiến độ thực hiện các dự án chuyển biến tích cực nhờ địa phương chủ động tháo gỡ thủ tục hành chính. Trong tháng (từ ngày 15/8-15/9/2026), toàn tỉnh có 222 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 37,29% so với cùng kỳ năm trước; 53 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 3,64%; 70 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 7,89%; 265 doanh nghiệp giải thể, tăng 1,85 lần (tương ứng tăng 172 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm trước). Số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh chủ yếu do từ đầu tháng 7/2026, Cơ quan Đăng ký kinh doanh phối hợp với Cơ quan Thuế triển khai “Chiến dịch làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”, trong đó hướng dẫn, đôn đốc các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm nhưng chưa thực hiện thủ tục giải thể theo quy định hoàn tất hồ sơ giải thể. Do đó, số doanh nghiệp giải thể trong kỳ tăng cao, một phần phản ánh quá trình xử lý, chuẩn hóa dữ liệu doanh nghiệp và không hoàn toàn phản ánh tình trạng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong kỳ. Tính chung 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 3.231 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 8,28%; 719 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 4,96%; 1.474 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 1,86%; 1.446 doanh nghiệp giải thể, tăng 1,65 lần (tương ứng tăng 900 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm trước). Tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 16.939,5 tỷ đồng, tăng 10,2%. Nhìn chung, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tiếp tục tăng, cho thấy hoạt động gia nhập và tái gia nhập thị trường vẫn được duy trì. Về thu hút đầu tư (tính từ đầu năm đến ngày 17/9/2026) toàn tỉnh có 45 dự án đầu tư được cấp mới, với tổng vốn đăng ký 174.576,72 tỷ đồng; 48 dự án được điều chỉnh chủ trương đầu tư hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 17/9/2026, toàn tỉnh có 2.964 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư 947.016 tỷ đồng, trong đó có 246 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 224.968 tỷ đồng. Kết quả trên cho thấy hoạt động thu hút đầu tư tiếp tục được quan tâm, tạo thêm nguồn lực cho phát triển sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. * Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm Trong 9 tháng năm 2026, tiến độ thực hiện các công trình hạ tầng trọng điểm, dự án đô thị, thương mại và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, nhất là về thủ tục đầu tư và giải phóng mặt bằng. Hoạt động xây dựng, lắp đặt diễn ra khá sôi động; khối lượng thực hiện tại nhiều dự án chuyển tiếp cơ bản bám sát tiến độ và kế hoạch đề ra. Bên cạnh những kết quả tích cực, một số dự án vẫn còn chậm tiến độ do vướng mắc kéo dài trong công tác giải phóng mặt bằng và xu hướng tăng giá nguyên, nhiên vật liệu xây dựng đầu vào. Các chủ đầu tư đang tập trung đẩy nhanh thi công, chủ động tối ưu hóa quy trình và tranh thủ điều kiện thời tiết thuận lợi để tăng khối lượng thực hiện. Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành: Dự án có tổng chiều dài 124,13 km, đi qua hai tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, được chia thành 5 dự án thành phần, quy mô 4 làn xe, tốc độ thiết kế 100 - 120 km/h. Trên địa bàn tỉnh Đắk Nông (cũ) triển khai 2 hợp phần, gồm: Dự án thành phần 2 - Đầu tư xây dựng đường gom và cầu vượt, sơ bộ mức đầu tư khoảng 338 tỷ đồng từ ngân sách địa phương; Dự án thành phần 4 - Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, tổng mức đầu tư khoảng 662 tỷ đồng. Tính đến ngày 19/7/2026, dự án đã có 772,6 ha/916,27 ha mặt bằng sạch, đạt 84,3%. Dự án xây dựng tuyến đường bộ cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc: Dự án có tổng chiều dài khoảng 66 km, trong đó đoạn qua Lâm Đồng dài 55 km, tổng mức đầu tư hơn 18.000 tỷ đồng, thực hiện theo hình thức PPP. Kế hoạch vốn năm 2026 được phân bổ 1.320 tỷ đồng để triển khai tuyến cao tốc chính và 02 tiểu dự án tái định cư, bồi thường tại xã Lộc Thắng và xã Đạ Oai. Đến ngày 08/8/2026, đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với 909 hộ, tổng kinh phí hơn 1.095 tỷ đồng, diện tích 240,97 ha, đạt 95,7% số hộ cần phê duyệt và gần 60% diện tích cần thu hồi. Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương theo phương thức đối tác công tư (giai đoạn 1): Dự án có chiều dài 73,6 km, tổng mức đầu tư 17.718 tỷ đồng theo hình thức PPP. Năm 2026, dự án được phân bổ 3.110 tỷ đồng cho tuyến chính và 02 khu tái định cư tại xã Gung Ré, Hòa Ninh. Đến ngày 08/8/2026, toàn dự án đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho 2.451 hộ, với tổng kinh phí hơn 3.164,978 tỷ đồng, diện tích 545,361 ha, đạt 97% số hộ và 87,8% diện tích cần phê duyệt. Dự án cải thiện môi trường đô thị các thành phố loại 2 - Hợp phần tỉnh Đắk Nông cũ: Dự án có tổng mức đầu tư 1.499 tỷ đồng, kế hoạch vốn năm 2026 được phân bổ 62,5 tỷ đồng, tập trung triển khai 02 hợp phần gồm cải thiện hạ tầng đô thị thích ứng biến đổi khí hậu và hỗ trợ tăng cường năng lực thể chế. Các gói thầu xây lắp mạng lưới đường ống thu gom nước thải sinh hoạt và cải tạo hệ thống thoát nước trục chính đã được triển khai đồng loạt. Khối lượng hoàn thành lũy kế của các hợp phần chính ước đạt trên 75% giá trị hợp đồng. Dự án Cảng hàng không Phan Thiết (hạng mục hàng không dân dụng) và Khu đô thị sân bay Phan Thiết: Hạng mục hàng không dân dụng có công suất thiết kế 2 triệu hành khách/năm, tổng mức đầu tư khoảng 3.800 tỷ đồng. Đến nay, đơn vị đã hoàn thiện và nộp hồ sơ thẩm duyệt phòng cháy, chữa cháy; đồng thời tập trung nhân lực, máy móc triển khai thi công theo kế hoạch. Các hạng mục đang thực hiện gồm phát quang, san nền khu vực nhà ga, đài kiểm soát và các công trình phụ trợ; phát quang, bóc hữu cơ và đắp nền khu vực đường lăn, sân đỗ máy bay. Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh: Đoạn tuyến qua địa bàn tỉnh dài 156,5 km, quy mô đường đôi, khổ đường 1.435 mm, tốc độ thiết kế 350 km/h, sử dụng vốn ngân sách nhà nước chủ đạo. Quy hoạch gồm 02 nhà ga (Phan Rí và Phan Thiết), 04 trạm bảo dưỡng, diện tích giải phóng mặt bằng khoảng 1.046,4 ha. Hiện nay, 7 khu tái định cư phục vụ dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam qua địa bàn Lâm Đồng, chủ yếu ở khu vực phía Đông Nam tỉnh thuộc các xã, phường gồm Bình Thuận, Hàm Kiệm, Tân Lập, Hàm Liêm, Hồng Sơn, Lương Sơn và Bắc Bình, đã giao 100% mặt bằng. Dự án đường trục ven biển ĐT.719B đoạn Phan Thiết - Kê Gà: Công tác giải phóng mặt bằng đến nay đạt khoảng 84,8%; khối lượng thi công đạt khoảng 70% giá trị hợp đồng. Trong đó, đoạn từ Quốc lộ 1 đến cầu Suối Nhum dài khoảng 17,8 km đã hoàn thành và đưa vào khai thác. Hiện còn khoảng 3,88 km qua khu vực khai thác titan của Công ty TNHH Thương mại Tân Quang Cường và một hộ dân tại nút giao ĐT.719B - ĐT.719 chưa bàn giao mặt bằng. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công mới đạt 1.906/28.436 triệu đồng, tương đương 6,7% kế hoạch năm. Dự án đầu tư nâng cấp 04 tuyến Quốc lộ 28B: Dự án có tổng mức đầu tư 1.435 tỷ đồng, tổng chiều dài 68 km, trong đó đoạn qua Bình Thuận cũ dài 51 km và Lâm Đồng cũ dài 17 km. Các đơn vị thi công đã cơ bản hoàn thành phần nền đường và hệ thống thoát nước tại các đoạn bằng phẳng; chỉ còn một số vị trí cục bộ liên quan đến di dời hạ tầng kỹ thuật như đường dây điện, viễn thông. Hiện đang khảo sát 11 vị trí dự kiến đầu tư xây dựng trạm dừng, nghỉ trên Quốc lộ 28B. Dự án hồ chứa nước KaZam: Dự án có tổng mức đầu tư 495,5 tỷ đồng. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư vùng lòng hồ và đầu mối đã hoàn thành 91% diện tích. Khối lượng thi công xây lắp trên thực địa đạt khoảng 38% tổng giá trị hợp đồng. Trong đó, hạng mục đập đất đầu mối đã hoàn thành đắp đê quai phân lũ; công tác đào móng và xử lý chống thấm nền đập đạt 75% khối lượng. Riêng hợp phần cống lấy nước dưới đập và tràn xả lũ đang được tập trung đổ bê tông thân công trình nhằm bảo đảm tiến độ và an toàn trước mùa lũ. Dự án hồ chứa nước Ka Pét: Dự án có tổng mức đầu tư 874,09 tỷ đồng. Tính đến tháng 9/2026, công tác kiểm đếm phục vụ bồi thường, hỗ trợ tái định cư đã đạt 72% khối lượng công việc. Dự án hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây, Đạ Sị: Đối với hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây, hồ chứa có dung tích hơn 13 triệu m³, khi hoàn thành sẽ bảo đảm nước tưới ổn định cho hơn 1.400 ha đất nông nghiệp. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng dọc hành lang tuyến đã hoàn thành 100%; khối lượng xây lắp ước đạt 62% giá trị xây dựng. Đối với hệ thống kênh mương hồ Đạ Sị, hệ thống phục vụ hồ chứa có dung tích thiết kế 23,5 triệu m³. Công tác giải phóng mặt bằng dọc hành lang các tuyến kênh đã thực hiện bồi thường, bàn giao 7,4 km, đạt 79,5% mặt bằng sạch; sản lượng thi công thực tế ước đạt 51% giá trị dự án. Dự án hồ Đắk Gang: Dự án có tổng vốn đầu tư 1.082 tỷ đồng, dung tích thiết kế khoảng 15 triệu m³, phục vụ cấp nước tưới cho 2.000 - 2.500 ha cây trồng. Tính đến tháng 9/2026, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng vùng lòng hồ và cụm đầu mối đã bàn giao 142 ha/168 ha, đạt 84,5%. Khối lượng xây lắp hoàn thành lũy kế ước đạt 28% giá trị hợp đồng. Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông: Dự án có tổng mức đầu tư hơn 28.000 tỷ đồng, công suất thiết kế 450.000 tấn nhôm nguyên chất/năm, chia thành 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn 150.000 tấn/năm, sử dụng trực tiếp nguồn alumin từ Nhà máy Alumin Nhân Cơ. Dự án Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2: Đối với Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, dự án có quy mô 1.070 ha, tập trung thu hút các dự án thứ cấp thuộc các ngành năng lượng, vật liệu xây dựng, điện tử, chế tạo máy. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng đạt trên 85% diện tích; khối lượng thi công xây lắp ngoài hiện trường đối với các trục giao thông chính và hạ tầng kỹ thuật đạt khoảng 25% khối lượng phân kỳ 1. Đối với Khu công nghiệp Sơn Mỹ 2, dự án có quy mô 1.225 ha, phát triển theo mô hình khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ hiện đại. Tính đến tháng 9/2026, công tác chuẩn bị đầu tư cơ bản hoàn thiện; hoạt động tại hiện trường chủ yếu tập trung vào chuẩn bị mặt bằng kỹ thuật, khảo sát địa chất chi tiết cho các phân khu chức năng và xây dựng hàng rào ranh giới bảo vệ diện tích đất công đã được bàn giao đợt đầu. Dự án Khu đô thị mới Nam sông Đa Nhim: Dự án có quy mô sử dụng đất 153,65 ha, tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 11.800 tỷ đồng, vị trí gần Cảng hàng không Liên Khương và trục kết nối cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương. Trong 9 tháng năm 2026, dự án đang tập trung thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, chưa phát sinh khối lượng xây lắp thực địa. Tiến độ dự án chịu ảnh hưởng bởi quy trình xác định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường còn nhiều phức tạp, đồng thời nhà đầu tư thận trọng trong cân đối dòng vốn thực hiện theo các quy định mới về đất đai. Dự án Khu công nghiệp Tân Đức: Dự án có tổng vốn đầu tư 1.200 tỷ đồng, thực hiện trên tổng diện tích quy hoạch 300 ha. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng đã cơ bản hoàn thành, đạt trên 97%. Nhìn chung, trong 9 tháng năm 2026, hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh có chuyển biến tích cực, đặc biệt tại các dự án giao thông, thủy lợi, đô thị và khu công nghiệp quy mô lớn. Nhiều dự án đã đạt tỷ lệ giải phóng mặt bằng và khối lượng xây lắp khá cao, tạo điều kiện chuyển mạnh từ giai đoạn hoàn thiện thủ tục sang thi công thực địa. Tuy nhiên, tiến độ giữa các dự án chưa đồng đều; một số công trình vẫn chịu tác động bởi công tác giải phóng mặt bằng, xác định giá đất, di dời hạ tầng kỹ thuật và biến động giá nguyên, nhiên vật liệu. Đây tiếp tục là những yếu tố cần được tập trung tháo gỡ để bảo đảm tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư trong những tháng cuối năm 2026. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Tình hình thương mại của tỉnh trong 9 tháng năm 2026 hoạt động tương đối ổn định. Sức mua của người dân tăng so với cùng kỳ năm trước; hàng hóa dồi dào luôn đáp ứng nhu cầu người dân, giá bán trên thị trường tương đối ổn định, không xảy ra biến động khan hiếm thị trường làm tăng giá đột biến. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và nhiều lễ hội khác đã thu hút nhiều du khách. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định và tiếp tục tăng cường phục vụ cho người dân và du khách. Các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.921,7 tỷ đồng, tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 25,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.698,9 tỷ đồng, tăng 1,46% so với tháng trước và tăng 21,62% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.842 tỷ đồng, tăng 0,74% so với tháng trước và tăng 36,48% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.380,8 tỷ đồng, tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 24,37% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 53.095,2 tỷ đồng, tăng 6,26% so với quý trước và tăng 23,06% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong đó: ước tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 31.657,2 tỷ đồng, tăng 3,52% so với quý trước và tăng 21,31% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 11.438,8 tỷ đồng, tăng 12,16% so với quý trước và tăng 29,16% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 9.999,2 tỷ đồng, tăng 8,83% so với quý trước và tăng 22,04% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 150.375 tỷ đồng, tăng 19,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 91.667,4 tỷ đồng, tăng 17,48% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 31.025,5 tỷ đồng, tăng 24,76% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 27.682,1 tỷ đồng, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Công tác quản lý thị trường tiếp tục được tăng cường, tập trung kiểm tra, kiểm soát buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, kinh doanh xăng dầu và các mặt hàng thiết yếu. Trong tháng, lực lượng chức năng đã kiểm tra 64 vụ, phát hiện và xử lý 50 vụ, xử phạt hành chính 259,11 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/9/2026, đã kiểm tra 1.077 vụ, phát hiện và xử lý 984 vụ, chiếm 91,4% số vụ kiểm tra, với tổng số tiền xử phạt 7,89 tỷ đồng, bình quân khoảng 8 triệu đồng/vụ xử lý. Kết quả cho thấy công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm được thực hiện thường xuyên, góp phần tăng cường kỷ cương và ổn định thị trường. 2. Giá cả 2.1. Giá tiêu dùng (CPI) Thị trường hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong tháng 9/2026 cơ bản ổn định, nguồn cung các mặt hàng thiết yếu được bảo đảm. Tuy nhiên, việc giá xăng dầu tăng khá mạnh, cùng với nhu cầu tiêu dùng, đi lại và dịch vụ tăng trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 02/9 và thời điểm bắt đầu năm học mới đã tạo áp lực tăng giá đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ. - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2026 tăng 0,41% so với tháng trước, tăng 1,75% so với tháng 12/2025 và tăng 3,79% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý III/2026, CPI tăng 3,96%; bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này cho thấy mặt bằng giá tiếp tục chịu áp lực tăng, song mức tăng trong tháng chủ yếu tập trung ở một số nhóm có biến động lớn, đặc biệt là giao thông. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 08 nhóm tăng giá và 03 nhóm giảm giá. Tác động tăng CPI rõ nhất đến từ nhóm giao thông tăng 3,80%, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 8,49%. Các nhóm còn lại tăng ở mức thấp hơn, gồm: thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,33%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,18%; giáo dục tăng 0,15%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; thông tin và truyền thông tăng 0,01%. Ở chiều ngược lại, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,16%, qua đó góp phần kiềm chế mức tăng CPI chung; may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,06%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%. Nguyên nhân chủ yếu làm CPI tăng trong tháng là giá xăng dầu được điều chỉnh qua các kỳ điều hành ngày 03, 10, 17 và 24/9/2026. Bình quân tháng, chỉ số giá nhiên liệu tăng 8,49%, trong đó giá xăng tăng 9,24% và dầu diesel tăng 4,52% so với tháng trước. Bên cạnh đó, bước vào năm học 2026-2027, một số cơ sở giáo dục ngoài công lập điều chỉnh học phí, làm giá dịch vụ giáo dục tăng 0,18%. Yếu tố góp phần làm giảm áp lực tăng giá chủ yếu đến từ nhóm lương thực và rau xanh. Giá lương thực giảm 0,19% do lúa hè thu bước vào kỳ thu hoạch, nguồn cung tăng, kéo giá một số loại gạo giảm. Giá rau tươi, khô và chế biến giảm 1,79% do nhiều loại rau vào vụ thu hoạch, nguồn cung tại địa phương dồi dào; trong đó giá bắp cải giảm 5,37%, cà chua giảm 5,47% và rau muống giảm 1,49%. - Bình quân quý III/2026, CPI tăng 3,96% so với cùng kỳ năm 2025. Áp lực tăng giá tập trung ở một số nhóm có quyền số và mức tăng tương đối lớn. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,77%, làm CPI chung tăng khoảng 1,07 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thực phẩm và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng. Nhóm giao thông tăng 8,01%, làm CPI tăng khoảng 0,91 điểm phần trăm, chủ yếu do biến động giá nhiên liệu và chi phí vận tải. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,88%, tác động làm CPI tăng khoảng 0,87 điểm phần trăm do giá điện, nước, chất đốt, vật liệu xây dựng và chi phí sửa chữa, bảo dưỡng nhà ở tăng. Bên cạnh đó, giá các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác; văn hóa, giải trí và du lịch; giáo dục; thiết bị và đồ dùng gia đình; đồ uống và thuốc lá; may mặc, mũ nón và giày dép đều tăng so với cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, giá lương thực giảm 0,93%, góp phần hạn chế mức tăng CPI trong quý, chủ yếu do nguồn cung gạo và một số mặt hàng lương thực được bảo đảm trong thời kỳ thu hoạch. - Tính chung 9 tháng năm 2026, CPI tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu hình thành từ bốn nhóm hàng hóa, dịch vụ có tác động lớn là thực phẩm; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; giao thông; giáo dục. Trong đó, giá thực phẩm tăng 4,04%, làm CPI chung tăng khoảng 1,01 điểm phần trăm; đáng chú ý, giá thịt lợn tăng 4,14% và thịt gia cầm tăng 2,59%, do chi phí chăn nuôi còn ở mức cao, nguồn cung một số thời điểm hạn chế trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng vào các dịp Lễ, Tết. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,65%, làm CPI chung tăng khoảng 1,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá vật liệu xây dựng, giá thuê nhà và chất đốt tăng; riêng giá gas tăng 20,80% do chịu tác động của giá gas thế giới. Nhóm giao thông tăng 6,25%, làm CPI chung tăng khoảng 0,71 điểm phần trăm; trong đó giá nhiên liệu tăng 11,5% và dịch vụ giao thông công cộng tăng 26,9%, phản ánh tác động trực tiếp và lan tỏa của chi phí nhiên liệu đến hoạt động vận tải. Nhóm giáo dục tăng 6,23%, làm CPI chung tăng khoảng 0,30 điểm phần trăm, chủ yếu do một số cơ sở giáo dục ngoài công lập điều chỉnh học phí theo năm học. Dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,78%, làm CPI tăng khoảng 0,40 điểm phần trăm, do chi phí nguyên liệu thực phẩm, gas, mặt bằng và nhân công tăng. Ngoài ra, giá lương thực tăng 1,31%, làm CPI chung tăng khoảng 0,07 điểm phần trăm; các nhóm đồ uống và thuốc lá, may mặc, mũ nón và giày dép, thiết bị và đồ dùng gia đình lần lượt tăng 3,29%, 1,99% và 3,58%. Riêng nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,17%, góp phần làm CPI chung giảm khoảng 0,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá một số dòng điện thoại thế hệ cũ tiếp tục giảm. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2026 giảm 1,03% so với quý trước; tăng 8,76% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 8,78%; sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 4,93% và sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,24%. Tính bình quân chỉ số giá 9 tháng năm 2026 tăng 8,04% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: trong đó tăng cao nhất là nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,91%; tiếp đến là nhóm sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 6%; nhóm sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng thấp 3,41%. Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào dùng cho sản xuất quý III/2026 giảm 4,68% so với quý trước; tăng 6,48% so với cùng kỳ năm trước; trong 7 nhóm sản phẩm chính có 6 nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: nhóm sản phẩm từ khai khoáng tăng 14,29%; nguyên vật liệu khác tăng 8,77%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,13%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,61%; sản phẩm xây dựng tăng 5,47%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 3,94%; riêng nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản giảm 2,44%. Tính bình quân chỉ số giá 9 tháng năm 2026 tăng 8,28% so cùng kỳ năm trước; trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 2%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 17,14%; nguyên vật liệu khác tăng 9,22%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,72%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,61%; sản phẩm xây dựng tăng 5,41%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,08%. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý III/2026 giảm 2,95% so với quý trước; tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 21,74%; nhóm sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,18%; nhóm sản phẩm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 3,25% so với cùng kỳ năm trước. Tính bình quân 9 tháng năm 2026, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 3,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 20,30%, chủ yếu do giá quặng kim loại và tinh quặng kim loại tăng 22,09% và nhóm sản phẩm khai khoáng khác tăng 19,45%; nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,69%, trong đó một số nhóm tăng khá như chế biến thực phẩm tăng 8,38%, đồ uống tăng 9,66%, hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 9,46%, sản phẩm từ cao su và plastic tăng 31,67%; nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,25%. Nhìn chung, giá sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng chủ yếu do biến động giá nguyên, nhiên vật liệu, nhiên liệu, chi phí vận chuyển, nhân công và tỷ giá; tuy nhiên, trong quý III/2026 áp lực tăng giá có xu hướng giảm khi nguồn cung nguyên liệu ổn định hơn, giá nhiên liệu hạ nhiệt và một số doanh nghiệp thực hiện giảm giá để kích cầu. 3. Hoạt động du lịch Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi động, gắn với nhiều sự kiện văn hóa, thể thao, lễ hội, vui chơi, giải trí và các chương trình xúc tiến, quảng bá, kích cầu du lịch. Nổi bật trong tháng là Lễ hội Trung thu năm 2026 được tổ chức tại 03 khu vực với chủ đề “Sắc màu Lâm Đồng - Chung một vầng trăng” và Lễ khai mạc Đại hội Thể dục thể thao tỉnh ngày 12/9/2026 với chủ đề “Lâm Đồng Hội tụ - Bứt phá - Vươn tầm”, thu hút hơn 2.000 người tham gia. Bên cạnh đó, trong các dịp lễ, tết và cuối tuần, các địa phương, doanh nghiệp du lịch đẩy mạnh các chương trình tour, khuyến mại, kích cầu, xúc tiến và quảng bá du lịch; chú trọng đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút du khách. Thời tiết thuận lợi, giao thông được cải thiện cùng với việc tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch đã góp phần tạo sức hút đối với du khách, thúc đẩy hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.179,9 nghìn lượt, tăng 0,29% so tháng trước và tăng 30,96% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 80,9 nghìn lượt, tăng 3,59% so với tháng trước và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 4.000,5 nghìn ngày khách, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 32,27% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 98,5 nghìn lượt khách, tăng 1,22% so với tháng trước và tăng 13,03% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 316,1 nghìn ngày khách, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 15,72% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 lượt khách ước đạt 6.583,2 lượt khách, tăng 9,17% so với quý trước và tăng 23,27% so với quý cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 12.042,4 nghìn ngày khách, tăng 8,68% so với quý trước và tăng 24,97% so với quý cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 lượt khách quốc tế ước đạt 291,1 nghìn lượt khách, giảm 5,21% so với quý trước và tăng 11,78% so với quý cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 934,1 nghìn ngày khách, giảm 4,32% so với quý trước và tăng 14,03% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt gần 18.470 nghìn lượt, tăng 19,17% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 662,2 nghìn lượt, tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 34.241,7 nghìn ngày khách, tăng 21,01% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 9 tháng năm 2026 đạt 1.094,6 nghìn lượt, tăng 14,48% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 3.493,2 nghìn ngày khách, tăng 17,64% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 770,9 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 38,87% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.007,5 tỷ đồng, tăng 0,68% so với tháng trước và tăng 36% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 63,6 tỷ đồng, tăng 6,05% so với tháng trước và tăng 30,97% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 2.305,2 tỷ đồng, tăng 15,75% so với quý trước và tăng 28,62% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 8.950,7 tỷ đồng, tăng 11,34% so với quý trước và tăng 29,25% so với quý cùng kỳ năm trước; hoạt động lữ hành hỗ trợ du lịch ước đạt 182,9 tỷ đồng, tăng 8,82% so với quý trước và tăng 31,48% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 6.289,1 tỷ đồng, tăng 24,32% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 24.229,3 tỷ đồng, tăng 24,63% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 507,1 tỷ đồng, tăng 37,7% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.112,4 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 33,78% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 ước đạt 18.313,2 tỷ đồng, tăng 8,33% so với quý trước và tăng 25,66% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 51.263,7 tỷ đồng, tăng 22,51% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.380,8 tỷ đồng, tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 24,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 844,9 tỷ đồng, tăng 7,72% so với tháng trước và tăng 11,53% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 193,8 tỷ đồng, tăng 1,47% so với tháng trước và tăng 20,58% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 189,8 tỷ đồng, tăng 5,91% so với tháng trước và tăng 25,76% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 267,9 tỷ đồng, tăng 2,68% so với tháng trước và tăng 12,97% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.539,7 tỷ đồng, giảm 4,56% so với tháng trước và tăng 37% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 344,7 tỷ đồng, tăng 1,25% so với tháng trước và tăng 19,65% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 9.999,2 tỷ đồng, tăng 22,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.396,1 tỷ đồng, tăng 11,08% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 563,9 tỷ đồng, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 532,7 tỷ đồng, tăng 29,68% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 789,1 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 4.697,7 tỷ đồng, tăng 30,13% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác đạt 1.019,6 tỷ đồng, tăng 19,13% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông ước đạt 192,9 tỷ đồng, tăng 0,62% so với quý trước và tăng 14% so với quý cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 654,4 tỷ đồng, tăng 1,25% so với quý trước và tăng 7,59% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 27.682,1 tỷ đồng, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 6.680,8 tỷ đồng, tăng 10,81% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.568,3 tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.419,7 tỷ đồng, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 2.230 tỷ đồng, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 12.953,6 tỷ đồng, tăng 23,77% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 2.829,8 tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì mức tăng khá, nhờ nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách gia tăng cùng với sự phục hồi của hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ và du lịch. Nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tăng đã góp phần thúc đẩy khối lượng vận chuyển và doanh thu toàn ngành. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng 9/2026 ước đạt 1.289,1 tỷ đồng, tăng 1,29% so với tháng trước và tăng 24,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý III/2026, doanh thu ước đạt 3.848,2 tỷ đồng, tăng 25,23%; lũy kế 9 tháng năm 2026 đạt 10.958,7 tỷ đồng, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy hoạt động vận tải tiếp tục là một trong những lĩnh vực dịch vụ duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong 9 tháng đầu năm. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.995,2 nghìn HK, tăng 0,68% so với tháng trước và tăng 21,07% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 423.913,2 nghìn HK.Km, tăng 1,21% so với tháng trước và tăng 19,62% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 lượt khách vận chuyển ước đạt 8.980,2 nghìn HK, tăng 17,27% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.274.750,2 nghìn HK.Km, tăng 16,1% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 25.903,2 nghìn HK, tăng 17,01% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 3.712.952,6 nghìn HK.Km, tăng 17,04% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.455,6 nghìn tấn, tăng 1,01% so với tháng trước và tăng 25,3% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 358.989,5 nghìn tấn.Km, tăng 1,21% so với tháng trước và tăng 25,06% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 khối lượng vận chuyển ước đạt 7.227,3 nghìn tấn, tăng 27,79% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.057.587,5 nghìn tấn.Km, tăng 27,66% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 19.488 nghìn tấn, tăng 20,9% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.861.725,9 nghìn tấn.Km, tăng 21,21% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.289,1 tỷ đồng, tăng 1,29% so với tháng trước và tăng 24,6% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 ước đạt 3.848,2 tỷ đồng, tăng 25,23% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 10.958,7 tỷ đồng, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.710,5 tỷ đồng, tăng 26,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 5.420,6 tỷ đồng, tăng 26,63% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.423 tỷ đồng, tăng 13,76% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 404,6 tỷ đồng, tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 2.446,8 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.251,2 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 195,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.395,5 tỷ đồng, tăng 5,97% so với cùng kỳ năm trước; ước quý III/2026 đạt 7.125 tỷ đồng, bằng 20,69% kế hoạch năm và tăng 43,17% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 25.913 tỷ đồng bằng 75,25% kế hoạch năm và tăng 12,87% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 23.846 tỷ đồng, bằng 72,98% kế hoạch năm và tăng 9,31%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 2.067 tỷ đồng, bằng 117,44% kế hoạch năm và tăng 80,97% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa trong 9 tháng năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.150 tỷ đồng (bằng 82,82% kế hoạch năm và tăng 2,61% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.228 tỷ đồng (bằng 89% kế hoạch năm và tăng 14%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 6.166 tỷ đồng (bằng 92,2% kế hoạch năm và tăng 29,89%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 2.293 tỷ đồng (bằng 83,99% kế hoạch năm và giảm 0,34%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 3.540 tỷ đồng (bằng 48% kế hoạch năm và tăng 2,97%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.116 tỷ đồng (bằng 70,97% kế hoạch năm và tăng 11,02%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.602,7 tỷ đồng, giảm 23,27% so với cùng kỳ năm trước; ước quý III/2026 đạt 12.219,3 tỷ đồng, lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 38.008 tỷ đồng (bằng 77,89% kế hoạch, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 15.892,1 tỷ đồng, tăng 62,72% so với cùng kỳ năm trước; chi thường xuyên ước đạt 22.098,4 tỷ đồng, tăng 0,63% so với cùng kỳ năm trước. 3. Hoạt động tín dụng Tính đến 31/8/2026, công tác huy động vốn của các TCTD (Tổ chức tín dụng) trên địa bàn tỉnh đạt 254.521 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 25.245 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 11,01%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 252.077 tỷ đồng (chiếm 99,04% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.444 tỷ đồng, (chiếm 0,96% tổng huy động vốn). Ước đến 30/9/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 257.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 28.224 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 12,31%. Hoạt động tín dụng: Đến 31/8/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 378.619 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 7.635 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,06%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 376.366 tỷ đồng (chiếm 99,4% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.253 tỷ đồng (chiếm 0,6% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 267.033 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 111.586 tỷ đồng. Ước đến 30/9/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 380.600 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 9.616 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,59%. Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của NHTM trong tỉnh ở mức 0,18% - 0,48%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,35% - 4,75%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 7,44% -8,14%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 7,45% - 8,22%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay mới ở mức 9,19% - 11,76%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,07% - 4,76%/năm. Dư nợ cho vay: Đến 31/8/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 182.779 tỷ đồng, chiếm 48,28% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.906 tỷ đồng, chiếm 8,69% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 162.934 tỷ đồng, chiếm 43,03% tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dự nợ tín dụng là 1,67%. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Tập trung thực hiện công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: tuyên truyền cổ động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026; tuyên truyền chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930-03/02/2026); tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031; tuyên truyền, phát động Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng; kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Đà Lạt (03/4/1975-03/4/2026), Ngày giải phóng Phan Thiết (19/4/1975-19/4/2026); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch); Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026); 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886-01/5/2026); 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026); 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945-19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2026);… đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. -Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: chương trình bắn pháo hoa nổ tầm thấp đón giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; chương trình văn nghệ phục vụ cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031; các hoạt động văn nghệ kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886-01/5/2026); 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026); 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945-19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2026); chương trình văn nghệ phục vụ tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026 với chủ đề “Lâm Đồng - Bản giao hưởng xanh”; chương trình âm nhạc đường phố phục vụ tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026; chương trình văn nghệ phục vụ: Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2026, Lễ hội Cầu ngư các vạn chài phường Phan Thiết năm 2026, Lễ hội Nghinh ông năm 2026, Lễ hội Trung thu năm 2026 tại 03 khu vực với chủ đề “Sắc màu Lâm Đồng - Chung một vầng trăng”…. Ngoài ra, đến nay đã tổ chức 92 suất biểu diễn phục vụ chính trị; thực hiện 02 vở kịch tuyên truyền; 06 đợt phim; 03 Tuần phim; 01 Chương trình Dạ hội Điện ảnh, 823 buổi chiếu phim và 117 buổi tuyên truyền phục vụ cơ sở. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 24.012 lượt khách, trong đó có 1.374 lượt khách quốc tế; lũy kế từ ngày 01/01 đến 12/9/2026 đã đón 263.516 lượt khách tham quan, trong đó có 18.397 lượt khách quốc tế; thực hiện 21 cuộc trưng bày, triển lãm chuyên đề; sưu tầm 290 hiện vật, hình ảnh, tư liệu phục vụ công tác trưng bày. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 175 đoàn với 12.261 lượt khách (trong đó có 35 khách quốc tế); phục vụ 17 lễ viếng, báo công và 01 lễ rước đuốc Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026. Lũy kế từ ngày 01/01 đến 12/9/2026 đã tiếp đón 1.682 đoàn khách tham quan với 123.323 lượt khách (trong đó có 367 khách quốc tế); phục vụ: 189 lễ viếng, 10 báo công, 06 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 03 lễ rước đuốc, 04 lễ tuyên dương và 27 sinh hoạt chuyên đề; tổ chức triển lãm 04 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật; phối hợp với các báo, đài thực hiện 12 phóng sự. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 05 đoàn với 1.809 lượt khách; lũy kế từ ngày 01/01 đến ngày 12/9/2026 đã đón 17.889 lượt khách đến thăm viếng, học tập, trải nghiệm. Ngoài ra đã tổ chức 02 triển lãm ảnh, sưu tầm 06 hiện vật phục vụ trưng bày và phối hợp tổ chức thành công Giải leo núi “Hành trình về Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận” lần thứ I. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 150 thẻ (thiếu nhi 50 thẻ), phục vụ 611.495 lượt bạn đọc, luân chuyển 18.193 lượt tài liệu. Ngoài ra đã tổ chức tổ chức cuộc thi “Giới thiệu sách trực tuyến” lần thứ I năm 2026. Lũy kế từ 01/01 đến 07/9/2026 đã cấp mới và gia hạn 6.356 thẻ (thiếu nhi 4.596 thẻ), phục vụ 2.453.809 lượt bạn đọc, luân chuyển 493.550 lượt tài liệu, trưng bày 145.764 tài liệu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức thành công Đại hội TDTT tỉnh Lâm Đồng với chủ đề: “Lâm Đồng Hội tụ - Bứt phá - Vươn tầm”, thu hút 47 đoàn với 3.109 vận động viên tham gia. Trong 9 tháng năm 2026, phong trào tập luyện TDTT quần chúng trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú, đa dạng; nhiều sự kiện thể thao phong trào được tổ chức với quy mô lớn như: Chạy việt dã, Bơi lội, Cầu lông, Quần vợt, Golf, Đua xe đạp, Pickleball, Bóng chuyền bãi biển,... thu hút đông đảo người dân tham gia; bên cạnh đó, thể thao học đường được quan tâm, phương pháp giáo dục thể chất được đổi mới; hệ thống cơ sở vật chất thể thao cơ sở được cải tạo, nâng cấp và đầu tư xây dựng đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia tập luyện, thi đấu và rèn luyện sức khỏe. - Thể thao thành tích cao: Trong tháng, cử các đội tham gia thi đấu các giải quốc gia và quốc tế; kết quả đạt được 134 huy chương (43 HCV, 37 HCB, 54 HCĐ), trong đó có 30 huy chương quốc tế (19 HCV, 7 HCB, 4 HCĐ). Lũy kế từ ngày 01/1 đến ngày 12/9/2026 đã tham gia 93 giải thể thao quốc gia và quốc tế; kết quả đạt 701 huy chương (159 HCV, 179 HCB, 363 HCĐ), trong đó có 01 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 43 huy chương quốc tế (24 HCV, 9 HCB, 10 HCĐ). 2. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Được triển khai chủ động, bám sát nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền các sự kiện lớn của tỉnh: tuyên truyền Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026; Lễ hội Trung thu; các hoạt động chuẩn bị cho Festival Hoa Đà Lạt lần thứ XI năm 2026 và mục tiêu tăng trưởng kinh tế của tỉnh; ngoài ra đã ban hành Quyết định quy định về quản lý đại lý Internet, điểm truy nhập Internet công cộng không cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên địa bàn tỉnh và phối hợp cung cấp thông tin theo yêu cầu của địa phương về các vụ việc trên không gian mạng. Từ đầu năm 2026 đến nay đã thực hiện đăng tải khoảng 7.400 tin, bài; tổ chức 09 cuộc giao ban báo chí, 04 cuộc họp báo, qua đó góp phần định hướng dư luận, tạo đồng thuận xã hội và phục vụ mục tiêu tăng trưởng “02 con số” năm 2026 của tỉnh Lâm Đồng. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Tổ chức hướng dẫn các xã, phường, đặc khu triển khai đầu tư, mở rộng hệ thống truyền thanh cấp xã theo quy định của Thông tư 24/2025/TT-BVHTTDL. Ngoài ra đã xây dựng Quyết định của UBND tỉnh về ban hành Quy chế quản lý hoạt động thông tin đối ngoại trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; triển khai Kế hoạch thông tin đối ngoại năm 2026 và Kế hoạch triển khai Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong 9 tháng năm 2026 đã cấp 32 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh, 02 giấy phép tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm và 01 giấy xác nhận thay đổi thông tin đăng ký hoạt động in. 3. Giáo dục và đào tạo Trong tháng tập trung nguồn lực để triển khai năm học 2026-2027. Tỉnh chủ động sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục, đưa các trường phổ thông nội trú liên cấp tại xã biên giới vào hoạt động, bảo đảm các điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, sách giáo khoa phục vụ năm học mới. Lễ khai giảng năm học 2026-2027 được tổ chức trang trọng, vui tươi, an toàn vào sáng ngày 05/9/2026 tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh. Thực hiện chủ trương của Trung ương về sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; kết quả, toàn tỉnh đã giảm mạnh số lượng cơ sở giáo dục công lập từ 1.453 trường (tính đến 01/7/2025) xuống còn 823 trường (tính đến 30/8/2026); tổng số cơ sở giáo dục giảm là 630 trường, tỷ lệ giảm là 43,36%. Hiện nay toàn tỉnh có 210 trường mầm non, 247 trường tiểu học, 112 trường tiểu học và trung học cơ sở, 149 trường trung học cơ sở, 27 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, 65 trường trung học phổ thông và 13 cơ sở giáo dục khác. Về công tác nhân sự, bên cạnh việc sắp sếp tinh gọn quy mô trường học, số lượng “Hiệu trưởng” các trường cũng đã giảm từ 1.385 người xuống còn 825 người; số lượng “Phó Hiệu trưởng” giảm từ 2.143 người xuống còn 1.696 người; số lượng kế toán, văn thư và thủ quỹ giảm từ 2.339 người xuống còn 1.659 người. Trong tổng số “Hiệu trưởng” và “Phó Hiệu trưởng” giảm đã bố trí chuyển làm giáo viên là 949 người; hiện nay đã và đang giải quyết nghỉ theo chế độ sau sắp xếp 578 người. Giáo dục nghề nghiệp: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng nghề; 05 trường trung cấp, 30 trung tâm dạy nghề (trong đó: công lập 13 trung tâm); cơ sở dạy nghề khác có 17 cơ sở. Đào tạo nghề hệ cao đẳng cho 130 học viên, trung cấp nghề 1.350 học viên, sơ cấp nghề 4.700 học viên, đào tạo không chính quy 13.349 học viên. Nhìn chung, công tác giáo dục và đào tạo cơ bản được triển khai đúng tiến độ, bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ đề ra; công tác chỉ đạo, điều hành chủ động, kịp thời; các nhiệm vụ năm học mới được triển khai đồng bộ. Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn về nguồn lực, cơ sở vật chất, đội ngũ và tổ chức thực hiện cần tiếp tục tập trung tháo gỡ để bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026 và thực hiện hiệu quả nhiệm vụ năm học 2026-2027. 4. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 1.301 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 163 ca so với tháng trước (1.138 ca) và giảm 263 ca so với cùng kỳ năm trước (1.564 ca). Lũy kế từ đầu năm đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 4.064 ca mắc, giảm 42 ca so với cùng kỳ năm trước (4.106 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 185 ổ dịch, lũy kế đến ngày 31/8/2026 đã phát hiện xử lý 546 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 2 ca mắc; lũy kế từ đầu năm đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 05 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 708 ca mắc, tăng 283 ca so với tháng trước và tăng 501 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 3.889 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 18 ca mắc, tăng 09 ca so với tháng trước và giảm 15 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 110 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.771 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.652 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.698 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.576 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.720 trẻ, mũi 2 cho 3.765 trẻ và mũi 3 cho 3.884 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.675 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.ong thán - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không có bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 432 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 9 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 425 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý là 03 người (03 người tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 160 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 04 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03 BN/100.000 dân; bệnh nhân lao kháng thuốc trong tháng là 06 bệnh nhân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 20 bệnh nhân nhiễm HIV mới, không có bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 10 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.907 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.798 người, tử vong 1.592 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 429.766 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 39.620 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 240.898 ngày, xét nghiệm cho 655.210 tiêu bản, chẩn đoán 149.804 hình ảnh và phẫu thuật 6.255 trường hợp. Ước 9 tháng năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 4.024.182 lượt người; 322.728 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.984.872 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,08 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 83,9%; xét nghiệm cho 5.515.451 tiêu bản; chẩn đoán 1.265.455 hình ảnh và phẫu thuật cho 48.184 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 41 cơ sở thực phẩm, phát hiện 05 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 47 triệu đồng. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. Lũy kế 9 tháng năm 2026 xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 188 người mắc và 01 người tử vong. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; nhiều mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi đã đạt và vượt kế hoạch đề ra; công tác giảm nghèo, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn có nhiều chuyển biến; nhiều dự án hỗ trợ sinh kế, giải quyết việc làm đã phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân; đời sống vật chất, tinh thần của người đồng bào DTTS từng bước được cải thiện. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; chú trọng triển khai thực hiện các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Tỷ lệ thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng đạt 90%; 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet; nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin vùng đồng bào DTTS. Tỷ lệ thôn có đội văn hóa, văn nghệ (câu lạc bộ) truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất lượng đạt 48%. - Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Hệ thống cơ sở vật chất, trường học, phòng học, thư viện, thiết bị dạy học, ký túc xá, nhà công vụ giáo viên từng bước được đầu tư; qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào DTTS. Tỷ lệ học sinh mẫu giáo 5 tuổi đến trường đạt 99,87%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi tiểu học đến trường đạt 97,3%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi trung học cơ sở đến trường đạt 96,97%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi trung học phổ thông đến trường đạt 70,08%; tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên đọc thông viết thạo đạt 90,3%. Chính sách hỗ trợ chi phí học tập cho học sinh, sinh viên DTTS theo Nghị quyết số số 43/2026/NQ-HĐND ngày 27/7/2026 2 của HĐND tỉnh được thực hiện đầy đủ, đúng quy định. - Hệ thống y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh BHYT và phòng chống dịch bệnh dịch tại tuyến y tế cơ sở vùng sâu, vùng xa được triển khai chủ động. Đến nay, tỷ lệ đồng bào DTTS tham gia bảo hiểm y tế đạt 94,84%; tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế hoặc có sự hỗ trợ của nhân viên y tế đạt 71%; tỷ lệ phụ nữ mang thai được thăm khám định kỳ (ít nhất 4 lần trong thai kỳ) đạt 77%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 15,8%, đạt theo kế hoạch. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. - Phật giáo: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng tổ chức Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 tại chùa Phật Ân, phường Phan Thiết, đăng ký bổ nhiệm chức việc Ban Trị sự GHPGVN tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031; ban hành quyết định thành lập chùa Linh Quy Pháp Ấn tại xã Bảo Lâm 3 và chấp thuận chủ trương xây dựng 03 cơ sở Phật giáo trên địa bàn tỉnh. - Công giáo: Giáo phận Ban Mê Thuột tổ chức các cuộc lễ Tĩnh huấn hiền mẫu, lễ khánh thành nhà thờ; lễ công bố quyết định thành lập giáo xứ Giáo xứ Xuân Tình, xã Đắk Sắk; thực hiện phong phẩm linh mục cho 08 phó tế; thuyên chuyển địa bàn hoạt động tôn giáo 12 linh mục; thuyên chuyển và đăng ký bổ nhiệm 10 linh mục làm quản xứ, phó xứ trên địa bàn tỉnh. Giáo phận Đà Lạt tổ chức các cuộc lễ (Lễ đặt đá xây dựng nhà thờ Giáo xứ Xà Lùng, xã Hoà Ninh; kỷ niệm 90 năm thành lập Giáo xứ Bảo Lộc; thánh lễ mừng Thánh Têrêsa Calcutta - Bổn mạng Ban Bác ái xã hội, tại Giáo xứ Ka La, xã Bảo Thuận và lễ mừng Thánh Monica - Bổn mạng Giới Hiền mẫu Giáo hạt Đà Lạt tại giáo xứ Chính Tòa, phường Xuân Hương - Đà Lạt). Tòa Giám mục Giáo phận Phan Thiết thuyên chuyển 29 linh mục và đăng ký bổ nhiệm 02 linh mục làm quản xứ 02 giáo xứ trong Giáo phận. Các giáo xứ, hội dòng, đan viện, tu đoàn, cộng đoàn tổ chức các hoạt động như: Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ mời 02 người nước ngoài vào hoạt động tôn giáo tại Lâm Đồng; Cộng đoàn Don Bosco K’Long, xã Hiệp Thạnh mở 03 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo. - Tin lành: Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đề nghị thành lập 04 tổ chức tôn giáo trực thuộc (Chi hội Đạ Ty, xã Phú Sơn Lâm Hà; Chi hội Đạ Long 1, xã Đam Rông 4; Chi hội Dà Blu, xã Hiệp Thạnh; Chi hội Chi Rông, xã Đức Trọng) và tổ chức lễ thành lập 05 Chi hội. Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh Lâm Đồng tổ chức Bồi linh cho giáo phẩm và tín hữu tại Nhà thờ Chi hội Tin Lành Đà Lạt và Nhà thờ Chi hội Tin Lành Bảo Lộc. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 285 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng theo quy định. Trong 9 tháng năm 2026 đã giải quyết 2.837 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công và chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền mặt cho 14.446/18.220 người với tổng kinh phí hơn 46,99 tỷ đồng. Công tác chăm lo đời sống cho người có công cách mạng được thực hiện hiệu quả. Hiện nay, tỉnh Lâm Đồng có 18.226 đối tượng là người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng, với tổng kinh phí chi trả khoảng 62,0 tỷ đồng/tháng. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh tổ chức thăm, tặng quà tết theo Quyết định số 01/QĐ-CTN ngày 05/01/2026 của Chủ tịch nước 27.201 suất với tổng số tiền hơn 8,3 tỷ đồng; thăm tặng quà theo Nghị quyết số 92/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 của HĐND tỉnh Lâm Đồng 65.234 suất với tổng kinh phí hơn 83,8 tỷ đồng; thăm tặng quà của Chủ tịch nước nhân dịp Kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh- Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026) cho 25.833 người với tổng kinh phí 7,89 tỷ đồng; thăm tặng quà theo Nghị quyết số 92/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh nhân dịp Kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026) cho 28.765 người với tổng kinh phí hơn 40,80 tỷ đồng. Ngoài ra đã tổ chức 04 đợt điều dưỡng tập trung đối với người có công với cách mạng cho 425 lượt người; ban hành Quyết định điều dưỡng tại nhà đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với 3.745 người, tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng. Chương trình hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học: tính đến ngày 09/9/2026 đã hoàn thành xây mới 30 căn nhà, đang xây dựng 8 căn nhà, hoàn thành sửa chữa 45/45 căn nhà. Tổng số căn đã và đang xây dựng, sửa chữa là 83/83 căn với tổng 2.452 ngày công. Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sỹ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. Tính đến ngày 12/8/2026, tỉnh Lâm Đồng đã hoàn thành việc lấy mẫu tại 11 Nghĩa trang Liệt sĩ trên địa bàn tỉnh; tổng số mộ cần lấy mẫu 4.776 mộ, trong đó mộ lấy được mẫu 3.625 mộ, mộ không lấy được mẫu 1.151 mộ. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Tính đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 323.377 người tham gia BHXH, đạt 97,66% kế hoạch năm và tăng 10,56% so với cùng kỳ năm trước; 243.619 người tham gia BHTN, đạt 96,12% kế hoạch và tăng 8,78%; 3.146.012 người tham gia BHYT, đạt 98,21% kế hoạch và tăng 4,07% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 92,87% dân số. Trong tháng 8/2026, đã giải quyết mới 10.654 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.352 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 281 người; trợ cấp 1 lần cho 2.771 người; chế độ ốm đau cho 5.988 người; chế độ thai sản cho 1.293 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 321 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.139 người và hỗ trợ học nghề cho 213 người). Lũy kế đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 80.585 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 15.675 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 1.562 người; trợ cấp 1 lần cho 19.330 người; chế độ ốm đau cho 46.646 người; chế độ thai sản cho 10.279 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 2.768 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 14.702 người và hỗ trợ học nghề cho 973 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/8 - 14/9/2026) Trong tháng xảy ra 62 vụ tai nạn giao thông, tăng 13 vụ so với tháng trước và giảm 38 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 37 người, tăng 8 người so với tháng trước và giảm 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 44 người, tăng 4 người so với tháng trước và giảm 32 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 514 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 153 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 328 người, giảm 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 342 người, giảm 175 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: (từ ngày 25/8 đến 24/9/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ thiên tai do mưa lớn gây ngập; thiên tai đã làm 73 căn nhà bị hư hại, 1.897 căn nhà bị ngập, 444 con gia cầm bị cuốn trôi, 2.891 ha cây trồng các loại bị ngập, 03 ha lúa và 12 ha hoa màu bị thiệt hại, 15 cầu dân sinh bị hư hỏng, 46 tuyến đường giao thông bị hư hỏng, 23 điểm sạt lở taluy; ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 38,47 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 24 vụ thiên tai làm 01 người chết, 04 người bị thương; 08 nhà bị sập hoàn toàn, 121 nhà bị hư hại, 296 căn nhà hư hỏng nhẹ, 2.009 căn nhà bị ngập, 213 hộ được di dời; có 13,6 ha lúa sạ bị hỏng, 301 ha lúa bị ảnh hưởng nhẹ, 12,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 69,6 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng, 4.131 ha cây trồng các loại bị ngã đổ, ngập úng; 14 con gia súc bị cuốn trôi, khoảng 70.444 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 14,1 ha nhà kính, nhà lưới bị hư hỏng; 03 tàu cá bị chìm; đổ, gãy 18 cột điện; 42 điểm sạt bị lở taluy; 50 tuyến đường bị hư hỏng, ngập lụt; 24 cầu cống bị sạt lở và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 76,47 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/8-15/9/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ cháy nổ, tăng 03 vụ so với tháng trước và tăng 04 vụ so với cùng kỳ năm trước; ước thiệt hại 2.801 triệu đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 51 vụ cháy nổ, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 02 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại 8.979,4 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 02 vụ, đã xử phạt 30 triệu đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 10 vụ vi phạm, đã xử phạt 1.026,5 triệu đồng (9 tháng năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Trong 9 tháng năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. GRDP ước tăng 8,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,9%; công nghiệp - xây dựng tăng 10,64%; dịch vụ tăng 9,49%. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định, nhiều sản phẩm chủ lực tăng khá; sản lượng lương thực tăng 3,04%, chè tăng 13,07%, sản lượng thịt hơi tăng 10,34%, sữa bò tăng 24,3%. Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,02%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,42%. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 19,03%, số khách du lịch tăng 19,17%, doanh thu du lịch tăng 22,51%. Thu ngân sách nhà nước đạt 26.315,8 tỷ đồng, bằng 76,42% dự toán năm và tăng 14,63% so với cùng kỳ. Hoạt động đầu tư phát triển tiếp tục được quan tâm và có chuyển biến tích cực. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 84.104,8 tỷ đồng, tăng 12,09% so với cùng kỳ; vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 9.624,4 tỷ đồng, tăng 18,30%. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư vẫn cần được đẩy nhanh trong những tháng cuối năm; một số lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại và du lịch còn gặp khó khăn, cần tiếp tục có giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được bảo đảm, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm, 100% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế. Công tác an sinh xã hội, lao động, việc làm và các chính sách đối với người dân tiếp tục được triển khai. Bên cạnh đó, thiên tai, cháy nổ và một số vấn đề về môi trường vẫn còn diễn biến đáng lưu ý, cần tiếp tục chủ động phòng ngừa và tăng cường công tác quản lý, xử lý. Nhìn chung, kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2026 của tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phát triển theo hướng tích cực, các khu vực kinh tế duy trì tăng trưởng; trong đó công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ và du lịch tiếp tục là những động lực quan trọng của tăng trưởng. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định; thu ngân sách đạt kết quả khá; các lĩnh vực văn hóa - xã hội, y tế, bảo hiểm và an sinh xã hội được bảo đảm. Bên cạnh đó, tiến độ thực hiện đầu tư và giải ngân vốn còn chậm, một số hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp khó khăn. Trong quý IV/2026, cần tiếp tục tập trung thúc đẩy sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư; hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy tiêu dùng, thương mại, dịch vụ và du lịch; tăng cường quản lý thu ngân sách, đồng thời bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân và giữ vững an ninh, trật tự, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG [1] Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina (vốn 0,20 triệu USD, thuê lại 0,30 ha nhà xưởng) tại KCN Lộc Sơn. Nhà máy sản xuất trang phục lót xuất khẩu Quadrille Tân Đức của Công ty TNHH Quadrille Việt Nam, vốn đầu tư 2,50 triệu USD, diện tích 1,50 ha. Dự án nhà máy sản xuất sản phẩm hạt Mellow Nut Tân Đức, vốn đầu tư 5 triệu USD, diện tích 2 ha tại KCN Tân Đức. Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam của Công ty TNHH May mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam, vốn đầu tư 26 tỷ đồng, diện tích 0,31 ha tại Khu công nghiệp Lộc Sơn. Kho Transimex Phú Hội của Công ty Cổ phần Transimex Logistics, vốn đầu tư 98,658 tỷ đồng, diện tích 1,29 ha tại Khu công nghiệp Phú Hội. Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV Nhựa Stroman Lâm Đồng, vốn đầu tư 40 tỷ đồng, diện tích 1,39 ha tại Khu công nghiệp Tâm Thắng. Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm của Công ty TNHH Trường Phát Tâm, vốn đầu tư 14 tỷ đồng, diện tích 1,09 ha tại Khu công nghiệp Phú Hội. Nhà máy chế biến nông sản của Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà, vốn đầu tư 80 tỷ đồng, diện tích thuê lại 1,10 ha tại Khu công nghiệp Lộc Sơn. Nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng và cho thuê nhà xưởng, kho Trung Tây Nguyên của Công ty TNHH Trung Tây Nguyên, vốn đầu tư 32,77 tỷ đồng, diện tích thuê đất 0,95 ha tại Khu công nghiệp Phú Hội. Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi và thủy sản của Công ty TNHH Thiên Trường Group, vốn đầu tư 120 tỷ đồng, diện tích thuê đất 1,29 ha tại KCN Lộc Sơn. Nhà máy sản xuất bê tông thương phẩm và vật liệu xây dựng của Công ty cổ phần xây dựng Gia Hiệp Phát, vốn đầu tư 15 tỷ đồng, diện tích 4,33 ha tại KCN Phú Hội. Nhà máy sản xuất rượu công nghiệp của Công ty TNHH MTV Phát triển Đại Bình, vốn đầu tư 40 tỷ đồng, diện tích 1,94 ha tại KCN Lộc Sơn. Nhà máy Lô cao su Phan Thiết của Công ty TNHH Hàn Việt Lô cao su Phan Thiết, vốn đầu tư 60 tỷ đồng, diện tích 5 ha tại KCN Hàm Kiệm 1. Nhà máy chế biến tơ lụa của Công ty cổ phần Tơ lụa Hà Bảo, vốn đầu tư 43,90 tỷ đồng, diện tích 0,56 ha tại KCN Lộc Sơn. Nhà máy sản xuất nhựa Đồng Tâm của Công ty TNHH MTV Sản xuất Thương mại nhựa Đồng Tâm, vốn đầu tư 8 tỷ đồng, diện tích 0,28 ha tại KCN Hàm Kiệm II. Nhà xưởng cho thuê giai đoạn 1 của Công ty cổ phần Sonadezi Bình Thuận, vốn đầu tư 156 tỷ đồng, diện tích 4,26 ha tại KCN Tân Đức. Nhà máy rang - xay chế biến Cà phê Quốc Lộc của Công ty TNHH Quốc Lộc - Đà Lạt tự nhiên, vốn đầu tư 80 tỷ đồng, diện tích 0,38 ha tại KCN Phú Hội.
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
- 02/09/2026 15:11
I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung chăm sóc, gieo trồng Vụ Hè thu; nhờ chủ động nguồn nước, đẩy mạnh cơ giới hóa và sử dụng giống ngắn ngày, chất lượng cao nên tiến độ sản xuất bảo đảm kế hoạch. Chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn gia súc, gia cầm được duy trì, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát tốt. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào công tác trồng rừng đúng kế hoạch; đồng thời tăng cường quản lý bảo vệ rừng và triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống cháy rừng. Hoạt động khai thác, nuôi trồng và sản xuất giống thủy sản đạt kết quả tích cực, lợi thế tôm giống tiếp tục được giữ vững. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tính đến ngày 15/8/2026, tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm ước đạt 254.344,9 ha, tăng 2,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: diện tích gieo trồng lúa ước đạt 104.800 ha, tăng 1,21% (diện tích gieo trồng lúa Vụ Hè thu ước đạt 49.400 ha, tăng 2,42%); diện tích gieo trồng ngô ước đạt 38.220 ha, tăng 3,89%; diện tích gieo trồng rau ước đạt 60.000 ha, tăng 3,54%; diện tích gieo trồng hoa ước đạt 8.050 ha, tăng 2,98%; diện tích gieo trồng đậu các loại ước đạt 10.300 ha, tăng 0,5%; diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm còn lại ước đạt 32.974,9 ha, tăng 4,17%. 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, trong đó các cây trồng chủ lực tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh. Hiện tại phần lớn diện tích các cây trồng đang bước vào giai đoạn nuôi quả, đây là thời điểm then chốt quyết định năng suất cuối vụ nên người dân đang tích cực chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Tính đến ngày 15/8/2026, tổng dung tích nước tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh ước đạt 461,47 triệu m3, bằng 50,8% dung tích thiết kế, tăng 7,34 triệu m3 so với tháng trước. Trong tháng, trên địa bàn tinh tiếp tục xuất hiện mưa trên diện rộng nhưng lượng mưa không phân bố đồng đều giữa các khu vực. Công tác quản lý, bảo đảm an toàn công trình và kết cấu hạ tầng thủy lợi tiếp tục được tăng cường; triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn đập, hồ chứa và vùng hạ du trong mùa mưa, lũ; đôn đốc việc quản lý, sử dụng, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi; đồng thời kiểm tra, rà soát hiện trạng các công trình thủy lợi bị hư hỏng đột xuất trên địa bàn để xử lý kịp thời. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, công tác bảo vệ thực vật được tăng cường, tình hình dự báo sâu bệnh định kỳ, thường xuyên đã kịp thời phát hiện và xử lý các đối tượng gây hại trên cây trồng, đặc biệt là các cây trồng chủ lực của tỉnh như lúa, rau, hoa, chè, cà phê,... hạn chế thiệt hại trên diện rộng. Vì vậy, trong tháng sâu bệnh gây hại trên các loại cây trồng không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cây trồng. 2. Chăn nuôi Trong tháng, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, quy mô đàn vật nuôi đều tăng so với cùng kỳ nhờ nhu cầu tiêu dùng tương đối ổn định, giá một số sản phẩm chăn nuôi thuận lợi, các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn và mở rộng quy mô; tuy nhiên, tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi vẫn tiềm ẩn nguy cơ, chi phí thức ăn, con giống, thuốc thú y vẫn ở mức cao đã ảnh hưởng đến hiệu quản sản xuất. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 30.434 tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 246.349 tấn, tăng 11,36%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27,2 nghìn con, tăng 1,30% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô đàn trâu tăng nhẹ, chủ yếu do một số hộ chăn nuôi ổn định, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có và bãi chăn thả. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp, hiệu quả kinh tế của chăn nuôi trâu chưa thực sự hấp dẫn so với các vật nuôi khác. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 320,2 nghìn con, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước (trong đó đàn bò sữa 32,5 nghìn con, tăng 4,53%). Quy mô đàn bò tăng do nhu cầu thị trường đối với thịt bò và sữa tương đối ổn định, một số cơ sở tiếp tục duy trì quy mô và đầu tư cải tạo đàn. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.542 nghìn con, tăng 5,36% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.253,8 nghìn con, tăng 4,93%). Quy mô đàn lợn tăng chủ yếu do các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn, mở rộng quy mô sản xuất sau thời gian thị trường có tín hiệu thuận lợi; mô hình chăn nuôi trang trại, liên kết với doanh nghiệp tiếp tục được duy trì (trong tháng, có 02 doanh nghiệp chăn nuôi lợn đầu tư mới và mở rộng quy mô: Công ty TNHH chăn nuôi Trần Nguyễn, quy mô 3.600 con lợn nái và Trang trại chăn nuôi Quảng Phú của Công ty TNHH MTV Nông trại Cao Nguyên Quảng Phú 1 phát triển đàn lợn giống, lợn thịt thương phẩm với sản lượng xuất trại khoảng 60.000 con lợn thịt và duy trì quy mô 15.000 con lợn nái sinh sản). Việc áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học giúp hạn chế thiệt hại do dịch bệnh. Tuy nhiên, nguy cơ dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn, cùng với giá thức ăn chăn nuôi và chi phí phòng, chống dịch ở mức cao nên một số hộ nhỏ lẻ còn thận trọng trong việc tái đàn. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 24.600 nghìn con, tăng 9,28% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.620 nghìn con, chiếm 67,56% trong tổng đàn gia cầm, tăng 9,34%). Đây là nhóm vật nuôi có tốc độ tăng cao nhờ nhu cầu tiêu dùng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, nhu cầu tiêu dùng thịt và trứng tương đối ổn định, cùng với việc chủ động phòng, chống dịch bệnh và áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn giúp người nuôi mạnh dạn tái đàn. Tuy nhiên giá thức ăn chăn nuôi và giá sản phẩm đầu ra biến động vẫn ảnh hưởng đến quyết định mở rộng sản xuất của một bộ phận hộ chăn nuôi. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh trên đàn vật nuôi tiếp tục diễn biến phức tạp; dịch bệnh đã phát sinh tại 12 xã, phường trên địa bàn tỉnh, đã tiêu hủy 639 con/26,7 tấn. Lũy kế từ 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 22.859 con lợn mắc bệnh với tổng trọng lượng 1.091,3 tấn tại 51 hộ/cơ sở thuộc 34 thôn của 20 xã, phường; đến nay còn 07 xã có ổ dịch chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi như: Tai xanh, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, cúm gia cầm không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng, tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị chuyên môn phối hợp với địa phương khoanh vùng, xử lý ổ dịch, tăng cường giám sát, lấy mẫu quan trắc môi trường và kiểm tra các cơ sở an toàn dịch bệnh. Đã phân bổ 50.700 liều vắc xin (gồm 3.000 liều tụ huyết trùng, 40.850 liều lở mồm long móng, 6.850 liều tam liên) và 50 lít hóa chất cho 21 xã, phường, phụ vụ công tác tiêm phòng, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng và phòng, chống dịch bệnh. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, hoạt động trồng rừng được triển khai theo kế hoạch; diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 1.284 ha, tăng 3,82% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 7.126 ha, tăng 4,52%. Diện tích trồng cây phân tán tháng 8/2026 ước đạt 1,6 triệu cây, tăng 3,13% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 8,8 triệu cây, tăng 3,3%. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.859 m3, tăng 2,03% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 318.447 m3, tăng 3,37%. - Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 27.405 ste, tăng 1,59% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 235.498 ste, tăng 1,91%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/7/2026 - 10/8/2026) là 31 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 16 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 3,3 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 17 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 11 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 0,7 ha). Lũy kế 8 tháng năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/8/2026), tổng số vụ vi phạm là 381 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 175 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 30,2 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 77 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 64 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 10,4 ha). - Công tác phòng, chống cháy rừng: Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được triển khai đồng bộ. Các hoạt động trọng tâm gồm phát dọn đường băng cản lửa, tập trung theo dõi, thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn cấp xã, phường; cập nhật kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát, xác định các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao; đồng thời tổ chức trực và canh gác tại các khu vực có nguy cơ cháy rừng cấp III, IV và V theo quy định. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng; lũy kế 8 tháng năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,6 ha. 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, các địa phương tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra, giám sát môi trường, phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi thủy sản. Tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Diện tích nuôi trồng ước đạt 457,8 ha, tăng 1,10% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 3.827,0 ha, tăng 1,43% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 3.410,6 ha, tăng 1,18%; diện tích nuôi tôm đạt 369,7 ha, tăng 4,22%). Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 2.454,5 tấn, giảm 0,67% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 490,2 tấn, tăng 2,02%); lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 18.777,7 tấn, tăng 0,29% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 3.230 tấn, tăng 3,95%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng, hoạt động khai thác trên ngư trường biển, các đội tàu khai thác xa bờ được quản lý chặt chẽ, thực thi nghiêm pháp luật về khai thác IUU; thực hiện nghiêm quy định cấm phát triển nghề lướt kéo dưới mọi hình thức, tuân thủ hạn ngạch số lượng giấy phép khai thác tại vùng khơi. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 24.958 tấn, tăng 5,35% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 24.858 tấn, tăng 5,15%); lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 170.372,4 tấn, tăng 3,84% (sản lượng khai thác biển đạt 169.760,1 tấn, tăng 3,71%). - Sản xuất giống thủy sản: Hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc thả nuôi, sản xuất tôm giống ước đạt 2,4 tỷ post, tăng 17,65% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 18,1 tỷ post, tăng 12,85%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Trong tháng, toàn ngành tập trung sản xuất các đơn hàng đã ký kết nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương; nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp tỉnh. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 7,09% so với tháng trước và tăng 19,14% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 15,93% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 20,33%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 18,73%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,71%. Tính chung 8 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 10,60% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,16%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,31%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 6,78%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,61%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 427.535 m3, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 15,79% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.997.128 m3, tăng 19,36% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng tương xứng trong điều kiện tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo quyết liệt đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung mọi nguồn lực, giải pháp thu hút các dự án đầu tư triển khai trên địa bàn tỉnh, theo đó các doanh nghiệp ngành khai khoáng đã nắm bắt và chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.909 tấn, tăng 6,11% so với tháng trước và tăng 34,86% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 28.211 tấn, tăng 18,64% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu hơn so với năm trước và chủ động nguồn hàng cho các tháng sắp tới, các sản phẩm sầu riêng cấp đông tăng sản lượng sản xuất do nhu cầu tăng. - Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Ước trong tháng đạt 2.525 tấn, tăng 4,73% so với tháng trước và tăng 49,85% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 17.094 tấn, tăng 24,99% so với cùng kỳ. Sản phẩm thủy sản chế biến là một trong những sản phẩm thế mạnh của tỉnh Lâm Đồng, hiện nay đã và đang được các doanh nghiệp tận dụng lợi thế để phát triển và trong thời gian tới hi vọng sẽ ngày càng khởi sắc hơn do đây là vùng có cơ sở hạ tầng, giao thông thuận tiện và tỉnh cũng đang có xu hướng dịch chuyển ưu tiên phát triển ngành công nghiệp vùng ven biển phía Nam nhằm kết nối liên vùng Tây Nguyên với Duyên hải Nam Trung Bộ. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 17.721 nghìn lít, tăng 2,76% so với tháng trước và tăng 13,83% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 168.576 nghìn lít, tăng 17,83% so với cùng kỳ, nguyên nhân là các do doanh nghiệp tăng cường sản xuất các sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao; sản phẩm bia đóng chai giảm so với tháng trước một phần do nhu cầu giảm và do sự điều tiết sản xuất tại các Chi nhánh. - Sản phẩm giày, dép: Ước trong tháng sản lượng đạt 837 nghìn đôi, giảm 8,70% so với tháng trước và tăng 67,24% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 5.557 nghìn đôi, tăng 40,52% so với cùng kỳ là do Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam mở rộng dây chuyền sản xuất. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 14.446 tấn, tăng 12,85% so với tháng trước và tăng 4,30% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 91.975 tấn, tăng 12,11% so với cùng kỳ; nguyên nhân là do các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất phục vụ mùa sản xuất nông nghiệp năm 2026 trong điều kiện giá nông sản tiếp tục ổn định ở mức cao nên nhu cầu phân bón đầu tư cho nông nghiệp ngày càng tăng (đặc biệt là cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng…). - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 119,25 nghìn tấn, tăng 1,05% so với tháng trước và tăng 18,55% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 958,04 nghìn tấn, tăng 2,83% so với cùng kỳ. - Sản phẩm nhôm thỏi: Công ty luyện kim Trần Hồng Quân đã đi vào sản xuất trong tháng 7 khoảng 600 tấn, ước tính tháng 8/2026 sản xuất 2.500 tấn. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.309 triệu kwh, tăng 6,38% so với tháng trước và tăng 18,46% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 24.629 triệu kwh, tăng 6,65% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 525 triệu kwh, tăng 5,10% so với tháng trước và tăng 13,66% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng ước đạt 4.031 triệu kwh tăng 9,36% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do song song với sự phát triển của ngành chế biến chế tạo (đặc biệt sự kiện công bố sản phẩm nhôm thỏi đầu tiên của Việt Nam tại Khu công nghiệp Nhân cơ) khối lượng điện thương phẩm tiêu thụ phục vụ trong ngành này tăng đáng kể; tuy nhiên tốc độ không quá cao là do các đơn vị sản xuất cũng như người tiêu dùng có ý thức tiết kiệm điện cũng như hưởng ứng việc sử dụng năng lượng xanh (lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu). 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,56% so với tháng trước và tăng 9,61% so cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,44%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,06%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,12%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,29%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 9,55% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 13,05%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,07%. Tính chung 8 tháng năm 2026, Chỉ số sử dụng lao động tăng 6,63%; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,33%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,96%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,53%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,25%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp Trong tháng, doanh thu của các doanh nghiệp ngành công nghiệp tỉnh Lâm Đồng tăng 6,47% so với tháng trước và tăng 15,41% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 8,25% so với cùng kỳ năm trước, doanh thu ngành công nghiệp tăng trưởng ổn định, đóng góp quan trọng vào kết quả tăng trưởng kinh tế. Ngành B (Khai khoáng): Doanh thu tăng 2,00% so với tháng trước và tăng 18,92% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 17,45% so với cùng kỳ. Doanh thu ngành khai khoáng có sự tăng trưởng cao so với cùng kỳ là nhờ các đơn vị khai thác tối ưu hóa công suất vận hành, đáp ứng kịp thời nhu cầu nguyên vật liệu từ các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm trên địa bàn. Ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo): Doanh thu tăng 4,67% so với tháng trước và tăng 22,30% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 13,11% so với cùng kỳ. Doanh thu tăng trưởng cao nhờ việc phát huy tối đa lợi thế nguồn nguyên liệu nông sản và khai khoáng tại chỗ để đẩy mạnh chế biến sâu, kết hợp cùng sự xuất hiện của các sản phẩm mới như: nhôm thỏi, phanh xe cơ giới,… từ các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ kịp thời của tỉnh đã giúp doanh nghiệp khơi thông nguồn vốn và ổn định chuỗi cung ứng góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp tỉnh. Ngành D (Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí): Doanh thu tăng 7,86% so với tháng trước và tăng 11,34% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 5,51% so với cùng kỳ. Mức tăng trong tháng nhằm đáp ứng nhu cầu điện năng phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Ngành tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng và hỗ trợ trực tiếp cho các ngành sản xuất khác trên địa bàn. Ngành E (Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải): Doanh thu tăng 2,22% so với tháng trước và tăng 7,29% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 8,23% so với cùng kỳ. Mức tăng trưởng của ngành nhằm đảm bảo cung ứng nước sạch phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất ngày càng mở rộng. Các đơn vị ngành nước và môi trường đã chủ động bảo trì hạ tầng, tối ưu hóa công nghệ xử lý nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và kiểm soát tốt các chỉ tiêu vệ sinh môi trường. 1.5. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong tháng (từ ngày 15/7 - 15/8/2026), tỉnh Lâm Đồng đã thu hút được 04 dự án vào các KCN trên địa bàn tỉnh (vốn đầu tư 5 triệu USD và 244 tỷ đồng, diện tích đất thuê là 6,92 ha). Lũy kế 8 tháng năm 2026, đã thu hút được 17 dự án đầu tư (trong đó có 03 dự án nước ngoài và 14 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 814,3 tỷ đồng và 7,7 triệu USD, diện tích đất thuê 27,96 ha. Hiện nay, trong các KCN có 175 doanh nghiệp đi vào hoạt động; công tác đầu tư hạ tầng các KCN được các chủ đầu tư quan tâm triển khai. Trong tháng, có 5 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị 10,32/881,57 tỷ đồng đạt 1,17% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026. Cụ thể: - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Chủ đầu tư duy tu cây xanh. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,02/0,82 tỷ đồng đạt 2,44% kế hoạch năm 2026. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, dọn dẹp mặt bằng. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,10 tỷ đồng. - KCN Hàm Kiệm I: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, duy tu giao thông, hệ thống thoát nước, tiếp tục thi công nhà điều hành KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,2/22,79 tỷ đồng đạt 0,88% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm II: Chủ đầu tư san lấp mặt bằng KCN; duy tu cây xanh trong KCN; duy tu và thi công các tuyến đường trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 4/205 tỷ đồng đạt 1,95% kế hoạch năm 2026. - KCN Tân Đức: Chủ đầu tư tiếp tục đền bù giải tỏa KCN những diện tích đất còn lại; dọn dẹp và thi công san lấp mặt bằng KCN, thi công các tuyến đường trong KCN (D2, D3, D4, N1, N2, N3), nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 7 là 6/473 tỷ đồng đạt 1,27% kế hoạch năm 2026. - KCN Lộc Sơn: Thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phú Hội: Thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Tâm Thắng: Thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Nhân Cơ: Thu hút được 01 dự án. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Tỉnh Lâm Đồng đang bước vào giai đoạn tăng tốc với hàng loạt dự án hạ tầng và chính sách quản lý mới. Trong tháng 8 năm 2026 tình hình giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục tăng tốc với sự chỉ đạo quyết liệt trong việc gắn trách nhiệm cán bộ với kết quả giải ngân vốn đầu tư công để đánh giá, phân loại cán bộ lãnh đạo. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư của các xã, phường và đặc khu đến ngày 13/8/2026 ghi nhận mức cao như: phường Phan Thiết đạt 73,7%; xã Tuy Phong đạt 71,75%; xã Phan Sơn đạt 68,17%. Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng về hạ tầng (như việc mở lại sân bay Liên Khương) và các khu công nghiệp trọng điểm (Sơn Mỹ), xu hướng đầu tư trong những tháng cuối năm 2026 được dự báo sẽ tăng tốc mạnh mẽ nhằm hoàn thành kế hoạch năm 2026. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước trong tháng đạt 1.578,8 tỷ đồng, tăng 26,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.376,2 tỷ đồng, chiếm 87,16% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 28,37% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 592,7 tỷ đồng, tăng 38,73% so với cùng kỳ; vốn trung ương trong nước ước đạt 251,5 tỷ đồng, tăng 2,63% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 19,9 tỷ đồng, giảm 18,60% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 503 tỷ đồng, tăng 35,37% so với cùng kỳ; vốn khác 9,2 tỷ đồng, tăng 2,41 lần so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 202,6 tỷ đồng, chiếm 12,84% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 14,34% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 7.721,4 tỷ đồng, đạt 38,39% so với kế hoạch năm, tăng 15,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 6.853,2 tỷ đồng, tăng 13,39% so với cùng kỳ (trong đó: vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 3.083,3 tỷ đồng, tăng 30,98% so với cùng kỳ; vốn trung ương trong nước ước đạt 1.048,6 tỷ đồng, giảm 33,59% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 105,6 triệu đồng, giảm 21,76% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến 2 thiết 2.573,9 tỷ đồng, tăng 31,64% so với cùng kỳ; vốn khác 42,7 tỷ đồng, tăng 91,51% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 868,2 tỷ đồng, tăng 34,53% so với cùng kỳ. Trong tháng (từ ngày 17/7-17/8/2026) toàn tỉnh có 282 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 54,29% so với cùng kỳ; 38 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 35,59%; 63 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 22,22%; 533 doanh nghiệp giải thể, tăng 4,85 lần (tương ứng 442 doanh nghiệp). Nguyên nhân từ đầu tháng 7 năm 2026 đến nay, Cơ quan Đăng ký kinh doanh đang phối hợp với Cơ quan Thuế triển khai thực hiện “Chiến dịch làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”. Cơ quan thuế và cơ quan Đăng ký kinh doanh thực hiện các biện pháp nghiệm vụ, hướng dẫn các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ nhiều năm nhưng chưa làm thủ tục giải thể theo quy định của Luật doanh nghiệp. Tính chung 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 3.017 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 13,94% so với cùng kỳ; 666 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 4,88%; 1.405 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 2,43%; 1.185 doanh nghiệp giải thể, tăng 1,58 lần (tương ứng 726 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 15.886,8 tỷ đồng, tăng 17,06%. Về thu hút đầu tư (tính đến ngày 19/8/2026), toàn tỉnh có 41 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 165.994,2 tỷ đồng; 39 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 19/8/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.960 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 938.711 tỷ đồng (trong đó: có 246 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.968 tỷ đồng). III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Trong tháng, hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh cơ bản duy trì ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đi lại của người dân, đồng thời phục vụ hiệu quả lượng khách du lịch trong mùa cao điểm hè. Hàng hóa trên thị trường dồi dào, đa dạng, cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân và khách du lịch. Hoạt động du lịch tiếp tục diễn ra sôi động, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng. Dịch vụ lữ hành duy trì ổn định; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống, dịch vụ vui chơi, giải trí tăng cường hoạt động và nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân và du khách. Hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa cơ bản thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương và vận chuyển hàng hóa trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt, vận tải đường thủy duy trì ổn định, phục vụ thuận lợi nhu cầu đi lại của người dân và du khách đến đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 18.030,8 tỷ đồng, tăng 3,36% so với tháng trước và tăng 22,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ước tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 10.589 tỷ đồng, tăng 1,69% so với tháng trước và tăng 20,84% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 4.058,8 tỷ đồng, tăng 7,29% so với tháng trước và tăng 32,75% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.383 tỷ đồng, tăng 4,12% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 132.755,8 tỷ đồng, tăng 18,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 81.012 tỷ đồng, tăng 17,02% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 27.428,5 tỷ đồng, tăng 24,37% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 24.315,2 tỷ đồng, tăng 17,32% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng, lực lượng Quản lý thị trường tiếp tục tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, tập trung phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu; đồng thời đẩy mạnh đấu tranh với các hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và tăng cường kiểm soát đối với các mặt hàng gạo, vật liệu xây dựng. Công tác theo dõi cung - cầu và giá bán xăng dầu được thực hiện thường xuyên, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các dấu hiệu bất thường, như tăng giá không hợp lý, gián đoạn nguồn cung hoặc ngừng bán hàng không đúng quy định, góp phần bảo đảm thị trường hoạt động ổn định, minh bạch và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trong tháng, lực lượng chức năng đã kiểm tra 104 vụ, phát hiện 85 vụ vi phạm và xử lý 91 vụ (trong đó có 7 vụ chuyển từ kỳ trước) với tổng số tiền thu nộp ngân sách nhà nước đạt 714,6 triệu đồng (trong đó tiền xử phạt vi phạm hành chính 673,25 triệu đồng). Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/8/2026, lực lượng chức năng đã kiểm tra 1.013 vụ, xử lý 934 vụ, với tổng số tiền xử phạt 7.631,6 triệu đồng. Kết quả trên cho thấy công tác quản lý, kiểm soát thị trường tiếp tục được triển khai quyết liệt, chủ động và có trọng tâm, góp phần giữ ổn định thị trường, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. 2. Giá tiêu dùng (CPI) Trong tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân cơ bản ổn định. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa và dịch vụ vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố như chi phí sản xuất, chi phí vận tải, nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ, cùng với diễn biến giá cả trên thị trường thế giới biến động, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,68% so với tháng trước, tăng 1,34% so với tháng 12/2025 và tăng 4,33% so với cùng kỳ. Bình quân 8 tháng năm 2026, CPI tăng 4,31% so với cùng kỳ. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính các nhóm hàng đều tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,04%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,33%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,16%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,53%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,68%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; Giao thông tăng 4,28%; Thông tin và truyền thông tăng 0,21%; Giáo dục tăng 0,07%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,36%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,39%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,04% so tháng trước, do giá nguyên vật liệu chế biến, giá gas, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng. Đồng thời trong tháng du lịch hè tăng nên nhu cầu ăn uống bên ngoài tăng. Giá gas trong tháng tăng 5,41% so với tháng trước, do giá bán lẻ trong nước công ty điều chỉnh tăng 29.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 06, 13 và 20 tháng 8/2026, tính bình quân chung tháng 8/2026 chỉ số giá nhiên liệu tăng 9,26%. Trong đó mặt hàng xăng tăng 9,53% so tháng trước; giá dầu diezel tăng 22,17%. - Nguyên nhân giảm: Giá lương thực giảm 0,68% so tháng trước, giảm chủ yếu các mặt hàng gạo do đang vào mùa thu hoạch lúa hè thu, nguồn cung dồi dào nên giá bán thị trường giảm so tháng trước. Giá rau tươi, khô và chế biến giảm 0,57% so với tháng trước, một số loại rau tươi đang vào kỳ thu hoạch nên nguồn cung tại địa phương dồi dào, giá bán thị trường giảm so tháng trước. Trong đó, giá bắp cải giảm 0,7% so với tháng trước; cà chua giảm 1,17%; đỗ quả tươi giảm 0,5%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2026 tăng 4,31% so với bình quân cùng kỳ năm 2025. * Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 8 tháng năm 2026 CPI bình quân 8 tháng năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu duy trì xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông và giáo dục. Trong đó, nhóm lương thực tăng 1,85%, làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm, chủ yếu do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp, gạo tẻ ngon tăng cao trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán. Nhóm thực phẩm tăng 4,25%, góp phần làm CPI tăng 1,06 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thịt lợn, thịt gia cầm tăng trong bối cảnh nguồn cung còn hạn chế, nhu cầu tiêu dùng tăng cao và chi phí chăn nuôi duy trì ở mức cao. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,77%, làm CPI tăng 1,03 điểm phần trăm, do giá vật liệu xây dựng và giá thuê nhà tăng; giá gas trong nước tăng 18,75% theo diễn biến giá gas thế giới. Bên cạnh đó, nhóm giao thông tăng 5,55%, góp phần làm CPI tăng 0,63 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 9,96% theo các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước và giá dịch vụ vận tải hành khách tăng 26,76%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,86%, làm CPI tăng 0,41 điểm phần trăm, do giá lương thực, thực phẩm, gas, thuê mặt bằng và nhân công tăng. Nhóm giáo dục tăng 7,04%, góp phần làm CPI tăng 0,34 điểm phần trăm do một số cơ sở giáo dục điều chỉnh học phí; các nhóm đồ uống và thuốc lá, may mặc, mũ nón, giày dép và thiết bị, đồ dùng gia đình cũng tăng do nhu cầu tiêu dùng cao cùng với chi phí nguyên vật liệu, sản xuất và vận chuyển tăng. Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,21%, góp phần kiềm chế mức tăng CPI 0,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá các dòng điện thoại thế hệ cũ giảm khi doanh nghiệp triển khai các chương trình khuyến mại, giảm giá và kích cầu tiêu dùng. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, hoạt động du lịch bước vào mùa sôi động với hàng loạt lễ hội, sự kiện văn hóa, thể thao, ẩm thực và xúc tiến thương mại, góp phần thu hút du khách và quảng bá hình ảnh địa phương với sự kết nối biển xanh, cao nguyên, nông nghiệp công nghệ cao và văn hóa bản địa. Điểm nhấn là thông điệp “Hành trình kết nối Biển - Hoa - Đại ngàn”, khai thác lợi thế không gian du lịch mới sau sáp nhập tỉnh, tạo điều kiện để du khách kết hợp nghỉ dưỡng biển, khám phá cao nguyên, trải nghiệm văn hóa và thưởng thức đặc sản trong cùng một hành trình. Chuỗi hoạt động nổi bật gồm Ngày hội Du lịch - Mua sắm - Giao lưu ẩm thực Việt, Festival Khinh khí cầu, Festival Ẩm thực, Lễ hội Hoa - Rau - Quả, chương trình LamDong Night và các hoạt động giao lưu văn hóa. Du lịch thể thao tiếp tục được khai thác, tiêu biểu là Lam Dong TriFactor 2026 diễn ra từ ngày 14 - 16/8 tại phường Tiến Thành, góp phần quảng bá cảnh quan và phát triển du lịch trải nghiệm. Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Liên Khương mở cửa trở lại sau nâng cấp, tạo thuận lợi cho kết nối và thu hút du khách, kỳ vọng tạo thêm động lực tăng trưởng cho ngành du lịch. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.344,5 nghìn lượt, tăng 5,15% so tháng trước và tăng 26,75% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 81,5 nghìn lượt, tăng 4,07% so với tháng trước và tăng 9,44% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ ước đạt 4.269,1 nghìn ngày khách, tăng 5,01% so với tháng trước và tăng 28,18% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 98,8 nghìn lượt khách, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 13,49% so với cùng kỳ; ngày khách phục vụ ước đạt 317,4 nghìn ngày khách, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 16,59% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 16.460,9 nghìn lượt, tăng 18,98% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày đạt 584,7 nghìn lượt, tăng 12,13% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ đạt 30.533,6 nghìn ngày khách, tăng 20,82% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế lũy kế 8 tháng năm 2026 đạt 997,5 nghìn lượt, tăng 14,8% so với cùng kỳ; ngày khách quốc tế đạt 3.182,6 nghìn ngày khách, tăng 18,04% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 813,8 tỷ đồng, tăng 5,99% so với tháng trước và tăng 30,66% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.184 tỷ đồng, tăng 7,72% so với tháng trước và tăng 33,33% so với cùng kỳ; du lịch lữ hành ước đạt 61 tỷ đồng, tăng 2,74% so với tháng trước và tăng 31,06% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 5.565,4 tỷ đồng, tăng 23,57% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 21.418,5 tỷ đồng, tăng 24,31% so với cùng kỳ; dịch vụ lữ hành đạt 444,6 tỷ đồng, tăng 39,04% so với cùng kỳ. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.516,4 tỷ đồng, tăng 6,44% so với tháng trước và tăng 29,8% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 45.588,8 tỷ đồng, tăng 22,31% so với cùng kỳ. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.383 tỷ đồng, tăng 4,12% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 780,5 tỷ đồng, tăng 1,78% so với tháng trước và tăng 10,87% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 183,2 tỷ đồng, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 13,12% so với cùng kỳ ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 170,2 tỷ đồng, tăng 3,95% so với tháng trước và tăng 23,52% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 264,4 tỷ đồng, tăng 1,58% so với tháng trước và tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.644,8 tỷ đồng, tăng 6,48% so với tháng trước và tăng 22,71% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 339,9 tỷ đồng, tăng 1,64% so với tháng trước và tăng 18,41% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 24.315,2 tỷ đồng, tăng 17,32% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 5.831,9 tỷ đồng, tăng 10,63% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.366,7 tỷ đồng, tăng 11,82% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.220,9 tỷ đồng, tăng 22,83% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.965,7 tỷ đồng, tăng 16,15% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 11.445,5 tỷ đồng, tăng 22,52% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác đạt 2.484,5 tỷ đồng, tăng 12,78% so với cùng kỳ. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng, hoạt động vận tải, kho bãi tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, gắn với nhu cầu đi lại, vận chuyển hành khách và hàng hóa ngày càng tăng. Hoạt động du lịch, dịch vụ, sản xuất và kinh doanh trên địa bàn ổn định, cùng với nhu cầu vận chuyển phục vụ xây dựng, tiêu thụ nông sản và cung ứng hàng hóa thiết yếu tăng, đã góp phần thúc đẩy doanh thu vận tải trong tháng. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.300,9 tỷ đồng, tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 26,79% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2026, doanh thu ước đạt 9.697,8 tỷ đồng, tăng 23,83% so với cùng kỳ, cho thấy hoạt động vận tải tiếp tục đáp ứng tốt nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại trên địa bàn. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.012,5 nghìn HK, tăng 0,08% so với tháng trước và tăng 16,48% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 432.639,5 nghìn HK.Km, tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 16,61% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 22.945,7 nghìn HK, tăng 16,69% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 3.302.829,9 nghìn HK.Km, tăng 17,21% so với cùng kỳ. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.361,8 nghìn tấn, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 26,04% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 347.165,8 nghìn tấn.Km, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 26,48% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 16.963,4 nghìn tấn, tăng 19,8% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.495.190,7 nghìn tấn.Km, tăng 20,31% so với cùng kỳ. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.300,9 tỷ đồng, tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 26,79% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 9.697,8 tỷ đồng, tăng 23,83% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.341,7 tỷ đồng, tăng 27,86% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 4.741,9 tỷ đồng, tăng 26,11% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.261,4 tỷ đồng, tăng 13,75% so với cùng kỳ; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 352,8 tỷ đồng, tăng 1,08% so với cùng kỳ. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.097,7 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.928,2 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 169,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.397,7 tỷ đồng, tăng 29,95% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước thực hiện 23.940 tỷ đồng, bằng 69,52% kế hoạch năm và tăng 15,67% so với cùng kỳ, trong đó: thu nội địa ước thực hiện 22.130 tỷ đồng, bằng 67,73% kế hoạch năm và tăng 12,43%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 1.810 tỷ đồng, bằng 102,84% kế hoạch năm và tăng 78,54% so với cùng kỳ. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 8 tháng năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 2.900 tỷ đồng (bằng 76,24% kế hoạch năm và tăng 3,19% so với cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 1.143 tỷ đồng (bằng 82,84% kế hoạch năm và tăng 16,32%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 6.055 tỷ đồng (bằng 90,54% kế hoạch năm và tăng 46,3%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 2.095 tỷ đồng (bằng 76,74% kế hoạch năm và tăng 0,31%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 3.225 tỷ đồng (bằng 43,73% kế hoạch năm và tăng 1,66%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 3.765 tỷ đồng (bằng 64,91% kế hoạch năm và tăng 12,19%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 4.983,2 tỷ đồng, lũy kế 8 tháng năm 2026 ước 35.474,8 tỷ đồng, bằng 72,7% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 14.764,4 tỷ đồng, bằng 111,74% kế hoạch năm; chi thường xuyên 20.693,3 tỷ đồng, bằng 68,17% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: Đến 31/7/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 251.517 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 22.241 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 9,7%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 248.690 tỷ đồng (chiếm 98,88% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.827 tỷ đồng, (chiếm 1,12% tổng huy động vốn). Ước đến 31/8/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 253.700 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 24.424 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 10,65%. Hoạt động tín dụng: Đến 31/7/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 377.440 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 6.456 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,74%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 375.159 tỷ đồng (chiếm 99,4% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.281 tỷ đồng (chiếm 0,6% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 266.510 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 110.930 tỷ đồng. Ước đến 31/8/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 379.300 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 8.316 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,24%. Lãi suất tiền gửi: Lãi suất huy động bằng VND bình quân: tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng ở mức 0,17% - 0,49%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,28% - 4,74%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng ở mức 7,43% - 8,09%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng trở lên ở mức 6,87% - 7,63%/năm. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay: Bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở mức 9,09% - 11,69%/năm; cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,34% - 4,8%/năm. Dư nợ cho vay: Đến 31/7/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 183.976 tỷ đồng, chiếm 48,74% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.540 tỷ đồng, chiếm 8,62% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 160.924 tỷ đồng, chiếm 42,64% tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn tỉnh được kiểm soát ở mức 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng, không thay đổi so với cuối năm 2025. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã triển khai công tác tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị và kỷ niệm các ngày lễ của đất nước: kỷ niệm 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026); đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc biệt chào mừng kỷ niệm 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026); tổ chức triển lãm chuyên đề "Hội An - Từ ký ức đấu tranh cách mạng đến Di sản Văn hóa Thế giới" tại Di tích quốc gia Nhà lao Thiếu nhi Đà Lạt; Lễ hội Cầu ngư các vạn chài phường Phan Thiết năm 2026 với chủ đề “Giữ gìn bản sắc văn hóa biển - Cầu quốc thái dân an - Ngư dân vươn khơi thắng lợi”; tổ chức chương trình âm nhạc đường phố,… Ngoài ra, đã tổ chức 08 buổi biểu diễn phục vụ chính trị; 09 buổi biểu diễn văn nghệ phục vụ cơ sở; 107 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở; tổ chức Tuần phim Ấn Độ và chiếu phim miễn phí phục vụ nhân dân; bên cạnh đó tổ chức biểu diễn doanh thu đạt 55 triệu đồng. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 37.760 lượt khách, trong đó có 1.455 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 7.513 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 1.676 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 235 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 27.971 lượt; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 365 lượt). Lũy kế từ ngày 01/01 đến 13/8/2026 đã đón 239.504 lượt khách tham quan, trong đó có 17.023 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 58.125 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 37.118 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 7.076 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 128.394 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 8.791 lượt khách). + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 211 đoàn với 20.399 lượt khách (trong đó có 34 khách quốc tế); phục vụ 30 lễ viếng, báo công. Lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 12/8/2026) đã tiếp đón 1.478 đoàn khách tham quan với 111.062 lượt khách (trong đó có 332 khách quốc tế); phục vụ: 186 lễ viếng, 10 báo công, 06 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 02 lễ rước đuốc, 04 lễ tuyên dương và 24 sinh hoạt chuyên đề; tổ chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh); tham gia triển lãm chuyên đề “Lan tỏa - Di sản văn hóa Hồ Chí Minh” tại Khu Di tích Quốc gia Đặc biệt Kim Liên, tỉnh Nghệ An; thực hiện 09 phóng sự tại Di tích Dục Thanh. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 15 đoàn với 1.518 lượt khách; lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 13/8/2026) đã đón 16.080 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 256 thẻ (thiếu nhi 129 thẻ), phục vụ 159.081 lượt bạn đọc, luân chuyển 15.798 lượt tài liệu, sưu tầm 716 tin bài về Lâm Đồng, trưng bày 801 tài liệu. Ngoài ra đã tổ chức các hoạt động phục vụ hè cho các em thiếu nhi, chương trình “Sách đến mọi nhà” với hình thức xe sách lưu động, chương trình giao lưu - trao tặng 500 quyển các tác phẩm thuộc bộ sách “Khi trẻ là tác giả”. Lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 14/8/2026) đã cấp mới và gia hạn 6.206 thẻ (thiếu nhi 4.546 thẻ), phục vụ 1.842.314 lượt bạn đọc, luân chuyển 475.357 lượt tài liệu, trưng bày 144.964 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức và phối hợp tổ chức Giải ba môn phối hợp “Lam Dong Tri Factor 2026”; Giải Bơi phong trào đường đua xanh tỉnh Lâm Đồng năm 2026; tổ chức chuỗi sự kiện thể thao “Sports Festival” năm 2026 (Giải vô địch Triathlon trẻ và U23 quốc gia năm 2026; Giải Quần vợt quốc tế ITF Masters Tour 2026; Giải Golf cảnh sát các nước Asean mở rộng năm 2026; Giải Golf công an nhân dân mở rộng - lần thứ 2; cúp bắn súng mùa hạ 2026; Giải Chạy "Hành trình 81 năm - Vì An ninh Tổ Quốc"; Giải Đua xe đạp CLB phong trào toàn quốc năm 2026; Giải Pickleball công an nhân dân khu vực phía Nam mở rộng lần thứ nhất năm 2026; Giải Bóng chuyền bãi biển Nữ Quốc tế năm 2026; Giải Quần vợt bãi biển). - Thể thao thành tích cao: Trong tháng, cử đoàn tham gia 18 giải thể thao; kết quả đạt được 108 huy chương (25 HCV, 21 HCB, 62 HCĐ), trong đó có 4 huy chương quốc tế (2 HCV, 1 HCB, 1 HCĐ). Lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 15/8/2026) đã tham gia 80 giải thể thao quốc gia, quốc tế; kết quả đã đạt 567 huy chương (116 HCV, 142 HCB, 309 HCĐ), trong đó có 01 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 13 huy chương quốc tế (05 HCV, 02 HCB, 06 HCĐ). 2. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đồng thời triển khai công tác truyền thông Chương trình mục tiêu quốc gia Phòng chống ma tuý năm 2026; cập nhật, hoàn thiện cơ sở dữ liệu và công khai thông tin về văn phòng đại diện, cơ quan thường trú, phóng viên thường trú, phóng viên tác nghiệp của các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh và xây dựng Không gian tham vấn trực tuyến Diễn đàn tham vấn các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2040. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Triển khai hệ thống truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông; triển khai xây dựng Đề án Thiết lập và vận hành hiệu quả hệ thống thông tin hai chiều giữa Nhà nước và người dân. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 11 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh; tổ chức kiểm tra, rà soát cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” 3. Giáo dục và đào tạo Trong tháng tập trung rà soát hệ thống cơ sở vật chất chuẩn bị phục vụ năm học mới 2026-2027; tiến hành sửa chữa những hạng mục hư hỏng, xuống cấp, đảm bảo an toàn, đầy đủ nhằm phục vụ cho công tác dạy và học cho năm học mới. Hiện nay đang triển khai tổ chức biên soạn, thẩm định tài liệu giáo dục địa phương để đưa vào sử dụng từ năm học 2026-2027 theo quy định; phối hợp với đơn vị xuất bản triển khai thực hiện bộ sách giáo khoa thống nhất từ năm học 2026-2027 để phát hành và cung ứng kịp thời cho năm học mới. Năm học 2026-2027, các trường trung học phổ thông (THPT) chuyên trên địa bàn tỉnh tổ chức tuyển sinh 1.294 chỉ tiêu vào lớp 10; xét tuyển trường phổ thông dân tộc nội trú 1.030 học sinh; công tác phê duyệt kết quả chỉ tiêu tuyển sinh các trường THPT 114/114 trường với số lượng 44.814/44.898 học sinh. Hệ thống trường chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh được quan tâm xây dựng nhằm chuẩn hóa cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và đổi mới phương pháp dạy học, góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục địa phương theo các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Hiện nay, toàn tỉnh có 1.011/1.431 trường mầm non và phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia (chiếm tỉ lệ 70,65%), trong đó có 741/1.032 trường phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia (chiếm tỉ lệ 71,8%). 4. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm, nhất là phòng - chống dịch bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng, bệnh dại trên người; tăng cường công tác truyền thông phòng, chống bệnh tay chân miệng, sốt xuất huyết và vận động tiêm chủng phòng bệnh quai bị; thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 1.090 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 634 ca so với tháng trước (456 ca) và tăng 194 ca so với cùng kỳ năm trước (896 ca); có 01 trường hợp tử vong. Lũy kế từ ngày 01/01-31/7/2026, toàn tỉnh có 2.715 ca mắc, tăng 173 ca so với cùng kỳ năm trước (2.542 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 137 ổ dịch, lũy kế đến ngày 31/7/2026 đã phát hiện xử lý 361 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 2 ca mắc; lũy kế từ ngày 01/01- 31/7/2026, toàn tỉnh có 03 ca mắc bệnh sốt rét (không tính 01 ca của tháng 12/2025). - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 425 ca mắc, tăng 33 ca so với tháng trước và tăng 211 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ ngày 01/01-31/7/2026, toàn tỉnh có 3.181 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 09 ca mắc, giảm 05 ca so với tháng trước và giảm 31 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ ngày 01/01-31/7/2026, toàn tỉnh có 92 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.870 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.453 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.744 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.830 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.593 trẻ, mũi 2 cho 3.693 trẻ và mũi 3 cho 3.642 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.619 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không có bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 435 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 9 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 422 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý là 01 người (01 người tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 183 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số 05 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng 04 BN/100.000 dân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 21 bệnh nhân nhiễm HIV mới, 03 bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 04 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.887 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.798 người, tử vong 1.582 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 389.589 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 39.727 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 120.259 ngày, xét nghiệm cho 749.938 tiêu bản, chẩn đoán 304.646 hình ảnh và phẫu thuật 4.322 trường hợp. Ước 8 tháng năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 3.375.230 lượt người; 283.312 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.739.374 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,03 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 85,50%; xét nghiệm cho 4.880.784 tiêu bản; chẩn đoán 1.177.839 hình ảnh và phẫu thuật cho 41.377 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 106 cơ sở thực phẩm, phát hiện 16 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 109,5 triệu đồng. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (do ngộ độc thực phẩm trong bánh mì, xã Nam Ban - Lâm Hà) làm 84 người mắc, không có tử vong. Lũy kế 8 tháng năm 2026 xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 188 người mắc, có 01 người tử vong. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi tiếp tục được Nhà nước quan tâm triển khai. Cơ sở hạ tầng phục vụ đồng bào và vùng khó khăn tiếp tục được đầu tư xây dựng, bản sắc văn hóa truyền thống được gìn giữ và phát huy, qua đó từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng; 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet; nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin vùng đồng bào DTTS. - Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Công tác xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và vùng sâu, vùng xa được triển khai tích cực để năm học 2026 - 2027 đưa vào sử dụng; hệ thống cơ sở vật chất, phòng học, phòng học bộ môn, thư viện, thiết bị dạy học, ký túc xá, nhà công vụ giáo viên từng bước được đầu tư; qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào DTTS. - Hệ thống y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Các cơ sở khám chữa bệnh bảo đảm thường trực cấp cứu, chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, phương tiện; công tác phòng, khám chữa bệnh được triển khai đến tận vùng sâu, vùng xa phục vụ người dân. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. - Phật giáo: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng chuẩn bị nhân sự Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031; ban hành quyết định thành lập chùa Linh Quy Pháp Ấn, xã Bảo Lâm 3; đề nghị thành lập 12 Ban Quản trị cơ sở tự viện trên địa bàn tỉnh; đăng ký bổ nhiệm 03 chức sắc làm trụ trì; chấp thuận chủ trương xây dựng 03 cơ sở Phật giáo trên địa bàn tỉnh; chùa Pháp Hoa, phường Bắc Gia Nghĩa, tổ chức lễ khai mạc Khóa tu mùa hè năm 2026 với chủ đề “Lắng nghe để hiểu - Nhìn lại để thương”; Phân ban Gia đình Phật tử (Khu vực III) tổ chức Lễ khai mạc Liên trại Huấn luyện Anoma - Ni Liên- Tuyết Sơn năm 2026 tại Tịnh xá Đức Niệm, phường Nam Gia Nghĩa. - Công giáo: Giáo phận Giáo phận Đà Lạt tổ chức Thánh lễ ban Bí tích và thêm sức cho các em thiếu nhi tại các Giáo xứ trong Giáo phận Đà Lạt, tổ chức “Ngày hội Giáo lý viên 2026 - Khơi dậy tinh thần người môn đệ thừa sai” tại Giáo xứ La Vang, phường 2 - Bảo Lộc; Toà Giám mục Giáo phận Phan Thiết mời 37 người nước ngoài (01 Hồng y, 04 Linh mục, 06 Chủng sinh, 09 giới trẻ, 12 thiếu niên, 05 người hướng dẫn) đến Việt Nam tham quan một số cơ sở tôn giáo thuộc Giáo phận Phan Thiết; Cộng đoàn Don Bosco K’Long, xã Hiệp Thạnh mở 04 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo, thu hút 135 người tham dự. - Tin lành: Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đăng ký người được bổ nhiệm làm chức việc 03 trường hợp và đề nghị thành lập 03 tổ chức tôn giáo trực thuộc (Chi hội Đạ Long 1, xã Đam Rông 4; Chi hội Dà Blu, xã Hiệp Thạnh; Chi hội Chi Rông, xã Đức Trọng); Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo tại phường Tiến Thành. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 329 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; giải quyết 231 hồ sơ về chế độ mai táng phí liên thông theo Đề án 06. Thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng theo quy định; đã giải quyết cho 14.480 đối tượng nhận trợ cấp không dùng tiền mặt qua tài khoản cá nhân. Lũy kế 8 tháng năm 2026 đã giải quyết 2.473 hồ sơ chế độ chính sách cho người có công với cách mạng; chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền mặt cho 14.480 người có công với tổng kinh phí 45,49 tỷ đồng. Tính đến ngày 12/8/2026, toàn tỉnh đã hoàn thành xây mới 27 căn nhà, đang xây dựng 11 nhà, hoàn thành sửa chữa 44 nhà, đang tiến hành sửa chữa 01 nhà cho các đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Tính đến ngày 31/7/2026, toàn tỉnh có 320.202 người tham gia BHXH, đạt 96,68% kế hoạch năm và tăng 10,14% so với cùng kỳ năm trước; 241.166 người tham gia BHTN, đạt 95,15% kế hoạch và tăng 8,01%; 3.144.162 người tham gia BHYT, đạt 98,15% kế hoạch và tăng 4,16%. Tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 92,81% dân số. Trong tháng 7/2026, đã giải quyết mới 11.470 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 3.004 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 300 người; trợ cấp 1 lần cho 2.813 người; chế độ ốm đau cho 6.609 người; chế độ thai sản cho 1.395 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 353 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.770 người và hỗ trợ học nghề cho 234 người). Lũy kế đến ngày 31/7/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 69.931 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 13.323 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 1.281 người; trợ cấp 1 lần cho 16.559 người; chế độ ốm đau cho 40.658 người; chế độ thai sản cho 8.986 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 2.447 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 12.563 người và hỗ trợ học nghề cho 760 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/7/2026 - 14/8/2026) Trong tháng xảy ra 49 vụ tai nạn giao thông, giảm 9 vụ so với tháng trước và giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 29 người, giảm 10 người so với tháng trước, tương đương so với cùng kỳ; số người bị thương 40 người, tăng 12 người so với tháng trước và giảm 6 người so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 452 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 115 vụ so với cùng kỳ; số người chết 291 người, tương đương so với cùng kỳ; số người bị thương 298 người, giảm 143 người so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 25/7 - 24/8/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ thiên tai do mưa lớn kèm theo lốc xoáy; thiên tai đã làm 02 người bị thương, 35 căn nhà bị tốc mái, 706,8 ha cây trồng các loại bị ảnh hưởng, xói lở 60,0 mét đường, 10 cột điện bị gẫy đổ, 6,4 ha nhà kính - nhà lưới bị ảnh hưởng và hư hỏng nhiều tài sản khác; ước thiệt hại 8,3 tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 20 vụ thiên tai làm 01 người chết, 04 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 48 căn nhà bị tốc mái hư hỏng, 214 căn bị ảnh hưởng nhẹ, 02 căn phòng làm việc bị tốc mái hoàn toàn, 10,6 ha lúa sạ bị ngập, 971,5 ha lúa bị ảnh hưởng nhẹ, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 52,4 ha rau màu bị ảnh hưởng nhẹ, 211,9 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm, 15 cột điện- trụ đèn bị đổ và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 38 tỷ đồng. - Cháy nổ: Từ ngày 16/7-15/8/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy nổ, tăng 03 vụ so với tháng trước và giảm 01 vụ so với cùng kỳ năm trước. Đang thống kê thiệt hại. Lũy kế 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 44 vụ cháy, tăng 09 vụ so với cùng kỳ năm trước, có 02 người chết và 02 người bị thương. Trong đó có 30 vụ đã được thống kê với số tiền thiệt hại gần 3 tỷ đồng, 14 vụ đang thống kê thiệt hại. - Vi phạm môi trường: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng xảy ra 05 vụ vi phạm môi trường, bị xử phạt tổng số tiền là 581,5 triệu đồng, lý do xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật ra môi trường (gồm có: Công ty Cổ phần Đầu tư Lan Anh Đà Lạt - phường Xuân Hương - Đà Lạt, bị xử phạt 70 triệu đồng; Công ty Cổ phần Thiên Nhân - phường Xuân Hương - Đà Lạt, bị xử phạt 70 triệu đồng; Công ty Cổ phần đầu tư IDJ Việt Nam - chủ đầu tư dự án tổ hợp khách sạn nghỉ dưỡng khu du lịch Apec Mandala Wyndham Mũi Né, bị xử phạt 270 triệu đồng; Công ty TNHH Khu công nghiệp Đông Hà - xã Trà Tân, bị xử phạt 15 triệu đồng; Cơ sở sửa xe ô tô của Ông Trần Chí Thuận - phường Hàm Thắng, bị xử phạt 156,5 triệu đồng). Lũy kế 8 tháng năm 2026, xảy ra 8 vụ vi phạm, tổng số tiền bị xử phạt là 996,5 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước giảm 10 vụ (8 tháng năm 2025: 18 vụ vi phạm, số tiền xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Nhìn chung, trong tháng 8 và 8 tháng năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, các động lực tăng trưởng chủ yếu có chuyển biến tích cực và tương đối đồng đều giữa công nghiệp, dịch vụ, đầu tư và tiêu dùng. Sản xuất công nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng, chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2026 tăng 10,6% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, sản phẩm nhôm thỏi của Công ty luyện kim Trần Hồng Quân đã đi vào sản xuất từ tháng 7/2026 sản lượng khoảng 600 tấn; ước tháng 8/2026 đạt khoảng 2.500 tấn, góp phần bổ sung năng lực sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp và tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm. Hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch và vận tải tiếp tục sôi động; lượt khách du lịch ước đạt 16,46 triệu lượt, tăng 18,98%, doanh thu du lịch tăng 22,31% so với cùng kỳ. Đầu tư công được đẩy mạnh, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tăng 15,43%; thu ngân sách nhà nước tăng 15,67%, bằng 69,52% kế hoạch năm. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định, trong đó sản lượng thịt hơi các loại tăng 11,36%, sản lượng gỗ khai thác tăng 3,37% và sản lượng thủy sản tăng 3,42% so với cùng kỳ. Hoạt động sản xuất, kinh doanh có sự cải thiện, tuy nhiên vẫn còn một số yếu tố cần lưu ý như dịch tả lợn Châu Phi phải tiêu hủy 22.859 con lợn; vi phạm lâm luật xảy ra 381 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 30,2 ha; số doanh nghiệp giải thể tăng 1,58 lần so với cùng kỳ. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, an sinh, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa và thể thao tiếp tục được quan tâm, góp phần ổn định đời sống nhân dân. Tuy nhiên, thiên tai còn diễn biến phức tạp; 8 tháng năm 2026 xảy ra 20 đợt, làm 01 người chết, 04 người bị thương, ảnh hưởng gần 1.247 ha cây trồng, tổng thiệt hại khoảng 38 tỷ đồng. Trong những tháng cuối năm, cần tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất mới, nhất là các dự án công nghiệp, nhanh chóng ổn định và nâng công suất; đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công; thúc đẩy thương mại, dịch vụ và du lịch; đồng thời tăng cường kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ rừng và chủ động ứng phó với thiên tai, qua đó tạo nền tảng hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026./. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tập huấn Điều tra thu thập thông tin lập bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026
- 14/08/2026 15:29
Từ ngày 10 đến 13/8/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tập huấn Điều tra thu thập thông tin lập Bảng cân đối liên ngành và biên soạn hệ số chi phí trung gian năm 2026. Ông Phạm Quốc Hùng, Trưởng Thống kê tỉnh Lâm Đồng, chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có lãnh đạo Thống kê tỉnh, giám sát viên cấp tỉnh, đại diện lãnh đạo, công chức các Thống kê cơ sở và các điều tra viên. Hội nghị có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị cho một cuộc điều tra chuyên đề quy mô lớn, có nội dung nghiệp vụ sâu, liên quan đến nhiều nhóm đối tượng và lĩnh vực của nền kinh tế. Kết quả điều tra là nguồn thông tin đầu vào thiết yếu để lập Bảng cân đối liên ngành, biên soạn hệ số chi phí trung gian, hoàn thiện Hệ thống tài khoản quốc gia và nâng cao chất lượng các chỉ tiêu thống kê kinh tế vĩ mô. Bảng cân đối liên ngành phản ánh mối quan hệ giữa sản xuất, sử dụng sản phẩm và sự liên kết giữa các ngành trong nền kinh tế. Thông qua kết quả điều tra, cơ quan thống kê có cơ sở xác định sát hơn cơ cấu chi phí đầu vào, chi phí trung gian và giá trị tăng thêm của các hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đây là nền tảng quan trọng để nâng cao độ tin cậy của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp; phục vụ phân tích cơ cấu kinh tế, đánh giá mức độ liên kết và tác động lan tỏa giữa các ngành, đồng thời cung cấp căn cứ khoa học cho công tác hoạch định và điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Phát biểu khai mạc, ông Phạm Quốc Hùng nhấn mạnh chất lượng của Bảng cân đối liên ngành và hệ số chi phí trung gian phụ thuộc trực tiếp vào mức độ đầy đủ, chính xác, trung thực và thống nhất của thông tin thu thập từ cơ sở. Vì vậy, giảng viên cần truyền đạt những nội dung cốt lõi, gắn lý thuyết với thực hành và các tình huống thực tế; học viên phải nghiên cứu kỹ phương án, nắm chắc nghiệp vụ, thành thạo công cụ điều tra điện tử để bảo đảm tổ chức thực hiện thống nhất, hiệu quả tại địa bàn. Tại Hội nghị, các đại biểu được phổ biến phương án điều tra, quy trình tổ chức thực hiện và nghiệp vụ thu thập thông tin đối với từng nhóm đối tượng. Nội dung tập huấn tập trung vào phương pháp, quy trình thu thập thông tin đối với doanh nghiệp ngoài lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm; đơn vị hành chính, sự nghiệp và hiệp hội; cơ sở sản xuất, kinh doanh cá thể phi nông, lâm nghiệp và thủy sản; hộ sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; hộ dân cư điều tra chi tiêu dùng cuối cùng; đơn vị vô vị lợi. Các đại biểu cũng được hướng dẫn lập biểu tổng hợp trung gian và biểu tổng hợp phục vụ lập Bảng cân đối liên ngành. Đây là nội dung đòi hỏi sự thống nhất cao về cách hiểu, phương pháp ghi chép, kiểm tra và tổng hợp thông tin; qua đó bảo đảm dữ liệu được thu thập có thể sử dụng đồng bộ trong toàn bộ quy trình biên soạn. Một nội dung trọng tâm của Hội nghị là hướng dẫn sử dụng trang web điều tra và phần mềm CAPI. Bên cạnh việc giới thiệu chức năng, quy trình sử dụng, các đại biểu trực tiếp thực hành thao tác trên từng loại phiếu; cập nhật, kiểm tra và xử lý thông tin trên hệ thống. Những tình huống có thể phát sinh trong quá trình triển khai thực tế được đưa ra trao đổi, thảo luận và giải đáp kịp thời, giúp học viên nâng cao khả năng xử lý công việc tại địa bàn. Kết luận Hội nghị, ông Phạm Quốc Hùng đề nghị các đơn vị tiếp tục nghiên cứu kỹ tài liệu, chủ động thực hành trên hệ thống và kịp thời trao đổi với giám sát viên cấp tỉnh khi phát sinh vướng mắc. Các Thống kê cơ sở cần tổ chức thực hiện đúng phương án, đúng quy trình; bảo đảm thông tin thu thập đầy đủ, chính xác, kịp thời; đồng thời tăng cường kiểm tra, rà soát chất lượng phiếu trước khi hoàn thành. Ông nhấn mạnh: “Chất lượng cuộc điều tra được quyết định từ chất lượng của từng thông tin thu thập tại cơ sở”. Sau 4 ngày làm việc nghiêm túc, thiết thực và hiệu quả, Hội nghị đã hoàn thành các nội dung theo kế hoạch, tạo sự thống nhất về nghiệp vụ và phương pháp tổ chức thực hiện. Kết quả tập huấn là bước chuẩn bị quan trọng để Thống kê tỉnh Lâm Đồng triển khai đồng bộ cuộc điều tra năm 2026, góp phần cung cấp nguồn dữ liệu tin cậy cho biên soạn Bảng cân đối liên ngành, hệ số chi phí trung gian và công tác thống kê kinh tế vĩ mô./. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNGMột số hình ảnh của Hội nghị:Ông Phạm Quốc Hùng, Trưởng Thống kê tỉnh Lâm Đồng phát biểu tại Hội nghịToàn cảnh Hội nghịCác giảng viên tập huấn các phiếu điều tra, trang web và phần mềm CAPI
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
- 02/08/2026 21:06
I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng vụ Hè thu theo đúng khung vụ; nhờ chủ động nguồn nước, đẩy mạnh cơ giới hóa và sử dụng giống ngắn ngày, chất lượng cao nên tiến độ sản xuất bảo đảm kế hoạch. Chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn gia súc, gia cầm được duy trì. Hoạt động lâm nghiệp tập trung thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026; đồng thời tăng cường quản lý bảo vệ rừng và triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống cháy rừng. Hoạt động khai thác thủy sản đạt kết quả tích cực, sản lượng khai thác đều tăng so với cùng kỳ; công tác kiểm tra, kiểm soát, phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp tiếp tục được tăng cường. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tính đến ngày 15/7/2026, tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm ước đạt 244.974,9 ha, tăng 2,02% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng tăng ở hầu hết các loại cây trồng, trong đó: diện tích gieo trồng lúa ước đạt 104.800 ha, tăng 1,21% (diện tích gieo trồng lúa vụ Hè thu ước đạt 49.400 ha, tăng 2,42%); diện tích gieo trồng ngô ước đạt 32.200 ha, tăng 4,61%; diện tích gieo trồng rau ước đạt 58.000 ha, tăng 2,21%; diện tích gieo trồng hoa ước đạt 7.750 ha, tăng 1,48%; diện tích gieo trồng đậu các loại ước đạt 9.250 ha, tăng 0,67%; diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm còn lại ước đạt 32.974,9 ha, tăng 2,34%. 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định. Thời tiết đầu mùa mưa với lượng mưa cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh trưởng của cây trồng; giá nhiều nông sản chủ lực, đặc biệt là cà phê và sầu riêng duy trì ở mức cao, tạo động lực để nông dân đầu tư thâm canh, chăm sóc và tái đầu tư sản xuất. Diện tích sản xuất theo các tiêu chuẩn chất lượng và hướng phát triển bền vững tiếp tục được mở rộng; nhiều vùng nguyên liệu đã hình thành chuỗi liên kết với doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Cụ thể một số loại cây chính như sau: - Cây cà phê: Diện tích cà phê hiện có 329.992 ha, tăng 1,09% so với cùng kỳ; hiện cây cà phê đang trong giai đoạn nuôi trái; giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tăng cường đầu tư chăm sóc, bón phân,...; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.378 ha, tăng 1,95% so với cùng kỳ. Trong thời gian tới, diện tích cao su trồng mới dự kiến tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do người dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư; - Cây điều: Diện tích điều hiện có 45.765,2 ha, giảm 8,74% so với cùng kỳ. Mặc dù vẫn là một trong những cây công nghiệp lâu năm của tỉnh, cây điều không còn nằm trong nhóm cây được ưu tiên mở rộng diện tích. Trong bối cảnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao, cấp mã số vùng trồng và đẩy mạnh các ngành hàng xuất khẩu có giá trị cao, diện tích điều có xu hướng chuyển đổi sang các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn như cà phê, sầu riêng, chanh leo, dâu tằm,…; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.256 ha, tăng 2,13% so với cùng kỳ; hiện một số vùng đang thu hoạch, một số vùng tiếp tục trong giai đoạn nuôi trái. Giá sầu riêng duy trì ở mức khá đã khuyến khích người sản xuất đầu tư thâm canh, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm; - Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có 37.761,9 ha, tăng 0,01% so với cùng kỳ; hiện đã hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao (khoảng 148.000 - 151.000 đồng/kg) trong những tháng đầu năm 2026, đây là động lực giúp người nông dân tái đầu tư và chăm sóc vườn cây; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.866 ha, giảm 0,21% so với cùng kỳ; cây sinh trưởng tương đối ổn định, tuy nhiên chi phí sản xuất tăng do xử lý ra hoa trái vụ. Giá thanh long duy trì ở mức trung bình khá, góp phần ổn định sản xuất; người dân đang định hướng phát triển tập trung vào nâng cao năng suất, chất lượng thông qua mở rộng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP thay vì mở rộng diện tích;… 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Tính đến ngày 15/7/2026, tổng dung tích nước tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh ước đạt 454,13 triệu m3, bằng 51,45% dung tích thiết kế, tăng 10,18 triệu m3 so với cùng kỳ, cơ bản đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất trên địa bàn. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, tình hình dịch bệnh trên cây trồng biến động không đáng kể. Công tác bảo vệ thực vật được tăng cường, tình hình dự báo sâu bệnh định kỳ, thường xuyên đã kịp thời phát hiện và xử lý các đối tượng gây hại trên cây trồng, đặc biệt là các cây trồng chủ lực của tỉnh như lúa, rau, hoa, chè, cà phê,... hạn chế thiệt hại trên diện rộng. Việc áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) tiếp tục được mở rộng. 2. Chăn nuôi Trong tháng, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định và phát triển theo hướng tích cực. Công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai thường xuyên; các cơ sở chăn nuôi thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng, tiêm phòng theo quy định, góp phần kiểm soát dịch bệnh, bảo đảm an toàn sản xuất và duy trì ổn định quy mô đàn vật nuôi. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 30.646 tấn, tăng 10% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 215.915 tấn, tăng 11,68%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27 nghìn con, tăng 0,75% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tương đối ổn định nhờ người dân tận dụng các vùng chăn thả và nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 320 nghìn con, tăng 2,99% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 32,5 nghìn con, tăng 4,84%). Quy mô đàn bò tiếp tục tăng nhờ công tác cải tạo giống, mở rộng vùng nguyên liệu thức ăn, phát triển diện tích trồng cỏ và duy trì liên kết tiêu thụ giữa doanh nghiệp với người chăn nuôi, góp phần tạo đầu ra tương đối ổn định. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.541,3 nghìn con, tăng 5,4% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.253,9 nghìn con, tăng 5%). Quy mô đàn lợn tăng khá nhờ giá lợn hơi duy trì ở mức có lợi, khuyến khích người chăn nuôi tái đàn; nhiều doanh nghiệp và trang trại tiếp tục đầu tư mở rộng quy mô, áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học và kiểm soát tốt dịch bệnh. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 24.500 nghìn con, tăng 8,89% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.500 nghìn con, chiếm 67,35% trong tổng đàn gia cầm, tăng 8,91%). Đây là nhóm vật nuôi có tốc độ tăng cao nhờ nhu cầu tiêu dùng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, giá bán thuận lợi, cùng với việc áp dụng hiệu quả các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, chủ động phòng chống dịch bệnh. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh phát sinh tại 07 xã, phường trên địa bàn tỉnh, đã tiêu hủy 5.979 con/293,37 tấn. Lũy kế từ 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 22.220 con lợn mắc bệnh với tổng trọng lượng 1.064,6 tấn; đến nay còn 07 xã có ổ dịch chưa qua 21 ngày. - Bệnh Dịch tả loài nhai lại nhỏ (PPR) phát sinh trên đàn dê tại xã Tân Minh, đã tiêu hủy 21 con/345kg. - Các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi như: Dại, tai xanh, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, cúm gia cầm không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả; thực hiện tiêu độc, khử trùng môi trường chăn nuôi và kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển động vật, sản phẩm động vật (đã phân bổ bổ sung 7.300 liều vắc xin và 92 lít hóa chất cho các địa phương để tổ chức tiêm phòng, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng môi trường). Công tác tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh hoc và khai báo dịch bệnh được đẩy mạnh. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, diện tích trồng rừng ước đạt 1.615,4 ha, tăng 3,31% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 5.841,4 ha, tăng 4,67%. Diện tích trồng cây phân tán trong tháng ước đạt 1,6 triệu cây, tăng 3,27% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 7,2 triệu cây, tăng 3,34%. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.299 m3, tăng 4,94% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 275.588 m3, tăng 3,58%. - Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 28.012 ste, tăng 1,74% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 208.093,2 ste, tăng 1,95%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/6 - 10/7/2026) là 50 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật 23 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 4,2 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 18 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 19 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 3,9 ha). Lũy kế 7 tháng năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/7/2026), tổng số vụ vi phạm 350 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật 159 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 27,0 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 60 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 43 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 9,8 ha). - Công tác phòng, chống cháy rừng: Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được triển khai đồng bộ. Các hoạt động trọng tâm gồm phát dọn đường băng cản lửa, theo dõi, thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng tại các địa phương; cập nhật thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao; đồng thời tổ chức trực và canh gác tại các khu vực có nguy cơ cháy rừng cấp III, IV và V theo quy định. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng; lũy kế 7 tháng năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,7 ha. 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh ổn định; các địa phương tập trung chăm sóc diện tích nuôi hiện có, tăng cường quản lý môi trường nuôi và chủ động phòng, chống dịch bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho thủy sản sinh trưởng, phát triển. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 495,8 ha, tăng 1,75% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 3.369,2 ha, tăng 1,48% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 3.016,6 ha, tăng 1,23%; diện tích nuôi tôm đạt 318,9 ha, tăng 3,82%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.433,2 tấn, tăng 0,33% so với cùng kỳ (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 439,2 tấn, tăng 0,92%); lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 16.323,2 tấn, tăng 0,43% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 2.741,4 tấn, tăng 4,30%) - Khai thác thủy sản: Từ đầu năm đến nay, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho ngư dân duy trì và mở rộng khai thác. Sản lượng một số nghề như lưới kéo, vây rút chì, lưới rê, mành và các nghề khai thác ven bờ tiếp tục đạt khá. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng ven bờ, vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, đảo Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 25.156 tấn, tăng 4,37% so với cùng kỳ (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 25.057 tấn, tăng 4,17%); lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 145.414,1 tấn, tăng 3,58% (sản lượng khai thác biển đạt 144.901,8 tấn, tăng 3,46%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, nhu cầu con giống tăng sau thời gian thu hoạch và cải tạo ao nuôi để bước vào vụ mới, tạo điều kiện cho sản xuất và tiêu thụ tôm giống. Dự ước trong tháng, sản lượng tôm giống đạt 2,5 tỷ post, tăng 24,99% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 15,7 tỷ post, tăng 12,15%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp tháng 7 tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành. Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước giảm 3,99% so với tháng trước và tăng 18,69% so với cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,44%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 21,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 17,65%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,62%. Tính chung 7 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 10,48% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 19,12%, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,25%, sản xuất và phân phối điện tăng 6,77%, cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,96%. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến gắn với chế biến sâu, đặc biệt là chế biến nông sản từ các vùng nguyên liệu cà phê, chè, rau, hoa, trái cây và cây công nghiệp, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Bên cạnh đó, chuỗi bauxite - alumin - nhôm tiếp tục khẳng định vai trò là ngành công nghiệp mũi nhọn với tiềm năng tạo đột phá tăng trưởng, trong khi ngành điện, đặc biệt là cụm nhiệt điện Vĩnh Tân, tiếp tục giữ vai trò là động lực quan trọng, bảo đảm nguồn năng lượng phục vụ sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 396.848 m3, tăng 8,78% so với tháng trước và tăng 14,44% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.542.419 m3, tăng 19,12% so với cùng kỳ. Việc tăng đáng kể so với tháng trước và so với cùng kỳ là do tỉnh quyết liệt đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung mọi nguồn lực, giải pháp thu hút các dự án đầu tư triển khai trên địa bàn tỉnh, theo đó các doanh nghiệp ngành khai khoáng đã nắm bắt và chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng. - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.194 tấn, chỉ tăng 0,59% so với tháng trước và tăng 22,85% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 14.352 tấn, tăng 18,68% so với cùng kỳ. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.523 tấn, giảm 12,73% so với tháng trước và tăng 17,77% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 24.141 tấn, tăng 16,07% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm so với tháng trước là do các sản phẩm hạt điều chủ yếu tập trung trong 6 tháng đầu năm vào mùa thu hoạch, bắt đầu giảm từ đầu quý 3 khi hết mùa thu hoạch; tuy nhiên so với cùng kỳ và cộng dồn vẫn tăng cao là do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu hơn so với năm trước và chủ động nguồn hàng cho các tháng sắp tới, các sản phẩm sầu riêng cấp đông tăng sản lượng sản xuất do nhu cầu tăng. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 28.291 nghìn lít, giảm 8,5% so với tháng trước và tăng 34,6% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 161.901 nghìn lít, tăng 19,18% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do các doanh nghiệp tăng cường sản xuất các sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao; tuy nhiên sản phẩm bia đóng chai và nước tinh khiết giảm so với tháng trước do nhu cầu tiêu thụ giảm. - Sản phẩm giày, dép: Sản lượng trong tháng ước đạt 930 nghìn đôi, tăng 11,18% so với tháng trước và tăng 81,28% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 4.733 nghìn đôi, tăng 37,04% so với cùng kỳ là do Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam mở rộng dây chuyền sản xuất. - Sản phẩm phân bón: Sản lượng sản xuất ước đạt 12.700 tấn, tăng 5,75% so với tháng trước nhưng giảm 5,99% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 77.428 tấn, tăng 14,79% so với cùng kỳ; do các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất phục vụ mùa sản xuất nông nghiệp năm 2026 trong điều kiện giá nông sản tiếp tục ổn định ở mức cao nên nhu cầu phân bón đầu tư cho nông nghiệp ngày càng tăng (đặc biệt là cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng…). - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 122 nghìn tấn, tăng 9,23% so với tháng trước và tăng 6,83% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 842,772 nghìn tấn, tăng 1,42% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Sản lượng trong tháng ước đạt 3.243 triệu kwh, giảm 7,65% so với tháng trước và tăng 17,31% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 21.453 triệu kwh, tăng 6,55% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng sản lượng ước đạt 489 triệu kwh, tăng 4,68% so với tháng trước và tăng 7,88% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 3.495 triệu kwh tăng 8,4% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do song song với sự phát triển của ngành chế biến chế tạo thì khối lượng điện thương phẩm tiêu thụ phục vụ trong ngành này cũng tăng theo; tuy nhiên tốc độ không quá cao là do các đơn vị sản xuất cũng như người tiêu dùng có ý thức tiết kiệm điện cũng như hưởng ứng việc sử dụng năng lượng xanh (lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu). 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng giảm 1,75% so với tháng trước và tăng 5,07% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,84%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,19%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,70%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,95%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 8,83% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 6,03%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 0,86%. Tính chung 7 tháng năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,76%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,46%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,01%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,7%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,04%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp Doanh thu sản xuất công nghiệp trong tháng giảm 1,6% so với tháng trước do ảnh hưởng của hoạt động điều tiết vận hành hệ thống năng lượng; tuy nhiên vẫn tăng 17,48% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2026, doanh thu toàn ngành tăng 7,9% so với cùng kỳ, cho thấy khu vực công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các chính sách hỗ trợ sản xuất, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, góp phần củng cố năng lực sản xuất, ổn định chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp. Theo nhóm ngành, doanh thu ngành khai khoáng tăng 7,46% so với tháng trước và tăng 15,87% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 16,81%, chủ yếu nhờ các doanh nghiệp nâng cao công suất khai thác, đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chính với doanh thu tăng 6% so với tháng trước, tăng 20,44% so với cùng kỳ và lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 11,62%, nhờ sự phát triển của chế biến nông sản, thực phẩm và sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ đầu tư công. Trong khi đó, doanh thu ngành sản xuất và phân phối điện giảm 6,05% so với tháng trước do công tác bảo trì, điều tiết vận hành nhưng vẫn tăng 15,75% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 5,79%, tiếp tục giữ vai trò bảo đảm an ninh năng lượng cho sản xuất và đời sống. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng nhẹ 0,73% so với tháng trước và tăng 13,81% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 8,54%, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và góp phần nâng cao chất lượng môi trường trên địa bàn. 1.5. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Hoạt động thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục đạt kết quả tích cực. Trong tháng (15/6 - 15/7/2026), các khu công nghiệp thu hút thêm 02 dự án với tổng vốn đăng ký 2,5 triệu USD và 43,9 tỷ đồng, diện tích thuê đất 2,06 ha. Lũy kế 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh thu hút 13 dự án đầu tư (02 dự án FDI và 11 dự án trong nước), đạt 76,47% kế hoạch về số dự án; tổng vốn đăng ký đạt 570,3 tỷ đồng và 2,7 triệu USD, diện tích thuê đất 21,04 ha. Đến nay, các khu công nghiệp có 251 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 55.211,5 tỷ đồng và 517,6 triệu USD; tỷ lệ lấp đầy đạt 55,73%, tạo nền tảng quan trọng để phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư và giải quyết việc làm trên địa bàn. Cùng với công tác thu hút đầu tư, hạ tầng các khu công nghiệp tiếp tục được quan tâm hoàn thiện. Hiện có 175 doanh nghiệp đang hoạt động trong các khu công nghiệp; trong tháng, 6/14 khu công nghiệp triển khai đầu tư xây dựng và duy tu hạ tầng với giá trị thực hiện 22,07 tỷ đồng, đạt 2,5% kế hoạch vốn năm 2026. Các hạng mục tập trung vào san lấp mặt bằng, xây dựng giao thông nội bộ, hệ thống thoát nước, xử lý nước thải và duy tu hạ tầng kỹ thuật, góp phần nâng cao năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư mới và từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng các khu công nghiệp của tỉnh. Cụ thể: - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Chủ đầu tư duy tu cây xanh. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,02/0,82 tỷ đồng đạt 2,44% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm I: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, duy tu giao thông trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,15/22,79 tỷ đồng đạt 0,66% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm II: Chủ đầu tư san lấp mặt bằng KCN; duy tu cây xanh trong KCN; duy tu và thi công các tuyến đường trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 10,5/205 tỷ đồng đạt 5,12% kế hoạch năm 2026. - KCN Sông Bình: Chủ đầu tư duy tu cây xanh trong KCN; tiếp tục thi công các tuyến đường giao thông (đường D1, D3, N4, N6) trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,15/59,07 tỷ đồng đạt 0,25% kế hoạch năm 2026. - KCN Tuy Phong: Chủ đầu tư triển khai thi công hệ thống thoát nước mưa tuyến D2 và các tuyến giao thông. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,25 tỷ đồng. - KCN Tân Đức: Chủ đầu tư tiếp tục đền bù giải tỏa KCN những diện tích đất còn lại; dọn dẹp và thi công san lấp mặt bằng KCN, thi công các tuyến đường trong KCN (D2, D3, D4, N1, N2, N3), nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 11/473 tỷ đồng đạt 2,33% kế hoạch năm 2026. Tình hình thu hút các dự án đầu tư tại các khu công nghiệp: - KCN Lộc Sơn: Thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phú Hội: Thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết: Giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Tâm Thắng: Thu hút được 49 dự án đầu tư (05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Nhân Cơ: Thu hút được 01 dự án. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 7 có cải thiện so với cùng kỳ, nhưng tiến độ lũy kế vẫn chậm so với yêu cầu. Các dự án hạ tầng giao thông, thủy lợi và khu công nghiệp đang bước vào giai đoạn thi công, song vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thủ tục đất đai, vật liệu xây dựng và năng lực tổ chức thực hiện tiếp tục ảnh hưởng đến khối lượng đầu tư. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.308,5 tỷ đồng, tăng 20,97% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.048,4 tỷ đồng, chiếm 80,11% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn và tăng 15,61% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 462 tỷ đồng, tăng 30,3% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 193,1 tỷ đồng, giảm 1,85%; vốn nước ngoài 15,9 tỷ đồng, tăng 1,31%; vốn xổ số kiến thiết 371,1 tỷ đồng, tăng 10,29%; vốn khác 6,3 tỷ đồng, tăng 85,01%); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 260,2 tỷ đồng, chiếm 19,8% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn và tăng 48,79% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 6.068,5 tỷ đồng, đạt 30,17% so với kế hoạch năm, tăng 11,55% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 5.310,5 tỷ đồng, tăng 6,81% so với cùng kỳ (vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 2.432,5 tỷ đồng, tăng 26,25% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 804,5 tỷ đồng, giảm 39,62%; vốn nước ngoài ước đạt 84,3 tỷ đồng, giảm 23,8%; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 1.955,9 tỷ đồng, tăng 23,51%; vốn khác ước đạt 33,2 tỷ đồng, tăng 79,41%); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 758 tỷ đồng, tăng 61,91% so với cùng kỳ. Được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, tình hình thực hiện các dự án hạ tầng trọng điểm như giao thông, thủy lợi, và các khu công nghiệp đẩy nhanh tiến độ, tích cực triển khai thực hiện. Các dự án dự kiến khởi công mới được khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, phân bổ nguồn vốn. Trong tháng (từ ngày 15/6-14/7/2026) toàn tỉnh có 360 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 34,66% so với cùng kỳ; 75 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,32%; 163 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,41%; 162 doanh nghiệp giải thể, tăng 92,86%. Tính chung 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 2.732 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 34,52% so với cùng kỳ; 628 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 9,03%; 1.342 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 1,47%; 642 doanh nghiệp giải thể, tăng 74,46% (tương ứng 274 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 14.685,6 tỷ đồng, tăng 38,46%. Về thu hút đầu tư (tính đến ngày 15/7/2026), toàn tỉnh có 38 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 165.975,4 tỷ đồng; 33 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 15/7/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.957 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 938.690 tỷ đồng (trong đó: có 246 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.968 tỷ đồng). III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Tình hình thương mại của tỉnh trong tháng hoạt động tương đối ổn định. Ngoài việc cung cấp hàng hóa nhu cầu thiết yếu cho người dân, các cơ sở kinh doanh còn tăng lượng hàng hóa phục vụ cho du khách nên sức mua tăng so với cùng kỳ. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, dịp này đang vào mùa cao điểm du lịch hè đã thu hút nhiều du khách đến du lịch và nghỉ dưỡng. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định và tiếp tục tăng cường phục vụ cho người dân và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.647,4 tỷ đồng, tăng 3,82% so với tháng trước và tăng 24,81% so với cùng kỳ. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.467,7 tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 22,63% so với cùng kỳ; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.967,9 tỷ đồng, tăng 7,67% so với tháng trước và tăng 32,98% so với cùng kỳ; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.211,9 tỷ đồng, tăng 4,26% so với tháng trước và tăng 22,59% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 114.927,3 tỷ đồng, tăng 18,08% so với cùng kỳ. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 70.477,9 tỷ đồng, tăng 16,56% so với cùng kỳ; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 23.554,6 tỷ đồng, tăng 24% so với cùng kỳ; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 20.894,8 tỷ đồng, tăng 16,93% so với cùng kỳ. 1.2. Công tác quản lý thị trường Công tác quản lý thị trường được tăng cường, tập trung vào xăng dầu, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và gian lận thương mại. Trong tháng, lực lượng chức năng kiểm tra 111 vụ, phát hiện 101 vụ vi phạm, xử lý 123 vụ (22 vụ chuyển từ kỳ trước sang) với tổng số tiền xử phạt 1.176,2 triệu đồng (trong đó: xử phạt hành chính 1.129,2 triệu đồng); trị giá hàng hóa xử phạt 609,3 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/7/2026, đã kiểm tra 909 vụ, xử lý 843 vụ, số tiền xử phạt 6.917 triệu đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 6.735 triệu đồng. Kết quả này góp phần ổn định thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và môi trường kinh doanh lành mạnh. 2. Giá tiêu dùng (CPI) Trong tháng Bảy và 7 tháng năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân cơ bản ổn định. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa và dịch vụ vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố như chi phí sản xuất, chi phí vận tải, nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ, cùng với diễn biến giá cả trên thị trường thế giới biến động, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,05% so với tháng trước, tăng 0,65% so với tháng 12/2025 và tăng 3,74% so với cùng kỳ. Bình quân 7 tháng năm 2026, CPI tăng 4,3% so với cùng kỳ. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 08 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,75%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,73%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,53%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,13%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,13%; Thông tin và truyền thông tăng 0,28%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,35%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,42%. Có 03 nhóm hàng giảm giá: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,22%; Giao thông giảm 1,78%; Giáo dục giảm 0,49%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,75% so tháng trước, do giá nguyên vật liệu chế biến, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng. Đồng thời trong tháng 7 mùa du lịch hè nhu cầu ăn uống bên ngoài tăng. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,45% do nhu cầu xây dựng tăng cùng với chi phí đầu vào tăng nên giá một số mặt hàng vật liệu xây dựng như: sắt, thép, xi măng và giá nhân công xây dựng tăng theo. Tháng này là thời điểm học sinh nghỉ hè, nhu cầu du lịch tăng dẫn tới chỉ số giá nhóm du lịch trọn gói tăng 1,77%. Mức lương cơ sở tăng 190.000 đồng/tháng từ ngày 01/7/2026 theo Nghị định số 161/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026, theo đó chỉ số giá nhóm bảo hiểm y tế tăng 8,12% so với tháng trước. - Nguyên nhân giảm: Giá gas trong tháng giảm 11,26% so với tháng trước, do giá bán lẻ trong nước điều chỉnh giảm 66.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 01, 02, 09, 16 và 23 tháng 7/2026, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng xăng giảm 4,04% so tháng trước; giá dầu diezel giảm 9,19%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 4,3% so với bình quân cùng kỳ năm 2025. * Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 7 tháng năm 2026 CPI bình quân 7 tháng năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu duy trì xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông và giáo dục. Trong đó, nhóm thực phẩm tăng 4,37%, làm CPI chung tăng 1,09 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thịt lợn và thịt gia cầm tăng khi nguồn cung còn hạn chế trong khi nhu cầu tiêu dùng cao vào các dịp lễ, Tết. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,85%, góp phần làm CPI tăng 1,04 điểm phần trăm do giá vật liệu xây dựng và giá thuê nhà tăng; giá gas trong nước cũng tăng 16,13% theo xu hướng giá gas thế giới. Bên cạnh đó, nhóm giao thông tăng 5,15%, làm CPI tăng 0,59 điểm phần trăm do giá nhiên liệu tăng và giá dịch vụ vận tải hành khách điều chỉnh theo chi phí đầu vào. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, làm CPI tăng 0,41 điểm phần trăm; nhóm giáo dục tăng 7,10%, góp phần làm CPI tăng 0,34 điểm phần trăm do một số cơ sở giáo dục điều chỉnh học phí. Ngoài ra, giá đồ uống, thuốc lá; may mặc, giày dép và thiết bị, đồ dùng gia đình cũng tăng do chi phí nguyên vật liệu, sản xuất và vận chuyển tăng. Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,24%, góp phần kiềm chế mức tăng CPI nhờ giá các dòng điện thoại đời cũ giảm do các chương trình khuyến mại và kích cầu của doanh nghiệp. 3. Hoạt động du lịch Mùa hè 2026, du lịch Lâm Đồng diễn ra sôi động với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao và lễ hội được tổ chức trên nhiều địa bàn, tạo sức hút đối với người dân và du khách. Nổi bật là chương trình “Hoài niệm trăm năm 2”, Âm nhạc đường phố, Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết, Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh Đế Quân xuất du, Ngày hội Du lịch, Mua sắm và Giao lưu ẩm thực Việt,… Các hoạt động không chỉ góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc trưng mà còn quảng bá hình ảnh Lâm Đồng, đa dạng về không gian, sản phẩm và trải nghiệm du lịch. Tiếp nối đà sôi động của mùa hè, Tháng Du lịch Lâm Đồng 2026 được tổ chức với nhiều sự kiện quy mô lớn như Lễ công bố mở lại Cảng Hàng không quốc tế Liên Khương, Diễn đàn Du lịch Quốc gia, Lễ hội Hoa - Rau - Quả, Festival Ẩm thực, Festival Khinh khí cầu và Drone Show, Gala quốc tế “LamDong Night”, Ngày Văn hóa - Du lịch Lâm Đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, việc Cảng Hàng không quốc tế Liên Khương dự kiến hoạt động trở lại từ giữa tháng 8 sẽ mở rộng kết nối với các trung tâm kinh tế, du lịch trong nước và quốc tế, tạo điều kiện thu hút khách, xúc tiến đầu tư và thúc đẩy du lịch Lâm Đồng tăng tốc trong những tháng cuối năm 2026. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt đạt 2.324,7 nghìn lượt, tăng 12,93% so tháng trước và tăng 27,3% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 80,9 nghìn lượt, tăng 14,77% so với tháng trước và tăng 13,44% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ ước đạt 4.234,5 nghìn ngày khách, tăng 12,41% so với tháng trước và tăng 29,05% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 96,5 nghìn lượt khách, tăng 3,23% so với tháng trước và tăng 11,88% so với cùng kỳ; ngày khách phục vụ ước đạt 310,1 nghìn ngày khách, tăng 3,86% so với tháng trước và tăng 13,25% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 14.211,5 nghìn lượt, tăng 18,58% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày đạt 505,9 nghìn lượt, tăng 13,16% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ đạt 26.433,7 nghìn ngày khách, tăng 20,47% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế lũy kế 7 tháng năm 2026 đạt 899,9 nghìn lượt, tăng 15,1% so với cùng kỳ; ngày khách quốc tế đạt 2.869,2 nghìn ngày khách, tăng 18,37% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 810,5 tỷ đồng, tăng 11,51% so với tháng trước và tăng 31,93% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.091,9 tỷ đồng, tăng 6,63% so với tháng trước và tăng 32,97% so với cùng kỳ; du lịch lữ hành ước đạt 65,4 tỷ đồng, tăng 11,57% so với tháng trước và tăng 48,6% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 4.794,4 tỷ đồng, tăng 23,54% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 18.370,5 tỷ đồng, tăng 23,78% so với cùng kỳ; dịch vụ lữ hành đạt 389,6 tỷ đồng, tăng 42,61% so với cùng kỳ. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.385,9 tỷ đồng, tăng 11,27% so với tháng trước và tăng 28,12% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 39.336,4 tỷ đồng, tăng 21,96% so với cùng kỳ. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.211,9 tỷ đồng, tăng 4,26% so với tháng trước và tăng 22,59% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 767,4 tỷ đồng, tăng 5,68% so với tháng trước và tăng 10,32% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 176,7 tỷ đồng, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 13,15% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 147,1 tỷ đồng, tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 20,48% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 258,2 tỷ đồng, tăng 3,13% so với tháng trước và tăng 17,37% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.529,2 tỷ đồng, tăng 4,55% so với tháng trước và tăng 33,48% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 333,4 tỷ đồng, tăng 3,19% so với tháng trước và tăng 18,75% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 20.894,8 tỷ đồng, tăng 16,93% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 5.052 tỷ đồng, tăng 10,61% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.181 tỷ đồng, tăng 11,37% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.034,1 tỷ đồng, tăng 20,77% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.699,1 tỷ đồng, tăng 15,69% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 9.785,1 tỷ đồng, tăng 22,29% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác đạt 2.143,6 tỷ đồng, tăng 11,89% so với cùng kỳ. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ sản xuất, kinh doanh, thương mại và dịch vụ phát triển ổn định, làm gia tăng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách. Đồng thời, hệ thống hạ tầng giao thông ngày càng được đầu tư, nâng cấp và kết nối đồng bộ đã nâng cao hiệu quả khai thác, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng hoạt động và gia tăng doanh thu. Trong tháng doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 1.316,5 tỷ đồng, tăng 5,14% so với tháng trước và tăng 30,05% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2026 doanh thu ước đạt 8.427,1 tỷ đồng, tăng 23,82% so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng tăng trưởng bền vững của lĩnh vực vận tải, đáp ứng tốt nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.106,5 nghìn HK, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 19,59% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 445.767,3 nghìn HK.Km, tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 19,65% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 20.029,5 nghìn HK, tăng 17,29% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 2.883.969,7 nghìn HK.Km, tăng 17,86% so với cùng kỳ. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.370,6 nghìn tấn, tăng 6,83% so với tháng trước và tăng 30,12% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 348.453 nghìn tấn.Km, tăng 6,86% so với tháng trước và tăng 30,57% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 14.631,4 nghìn tấn, tăng 19,09% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.152.591,4 nghìn tấn.Km, tăng 19,62% so với cùng kỳ. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.316,5 tỷ đồng, tăng 5,14% so với tháng trước và tăng 30,05% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 8.427,1 tỷ đồng, tăng 23,82% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.909,3 tỷ đồng, tăng 28,16% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 4.107,1 tỷ đồng, tăng 25,89% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.100 tỷ đồng, tăng 13,65% so với cùng kỳ; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 310,6 tỷ đồng, tăng 1,77% so với cùng kỳ. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 1.749,3 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.584,8 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 164,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.455,4 tỷ đồng, tăng 17,89% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước thực hiện 21.233 tỷ đồng, bằng 61,66% kế hoạch năm và tăng 12,63% so với cùng kỳ, trong đó: thu nội địa ước thực hiện 19.618 tỷ đồng, bằng 60,04% kế hoạch năm và tăng 9,51%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 1.615 tỷ đồng, bằng 91,76% kế hoạch năm và tăng 72,08% so với cùng kỳ. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 7 tháng năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 2.700 tỷ đồng (bằng 70,99% kế hoạch năm và tăng 2,6% so với cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 1.040 tỷ đồng (bằng 75,38% kế hoạch năm và tăng 12,21%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 5.399,6 tỷ đồng (bằng 80,74% kế hoạch năm và tăng 46,63%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 1.799,4 tỷ đồng (bằng 65,91% kế hoạch năm và giảm 2,60%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 2.759,3 tỷ đồng (bằng 37,41% kế hoạch năm và giảm 4,54%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 3.400 tỷ đồng (bằng 58,62% kế hoạch năm và tăng 10,26%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 4.455,5 tỷ đồng, lũy kế 7 tháng năm 2026 ước 30.244,2 tỷ đồng, bằng 61,98% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 12.907,4 tỷ đồng, bằng 97,69% kế hoạch năm; chi thường xuyên 17.323 tỷ đồng, bằng 57,06% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: Đến 30/6/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 247.439 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 18.163 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 7,92%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 244.626 tỷ đồng (chiếm 98,86% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.813 tỷ đồng, (chiếm 1,14% tổng huy động vốn). Ước đến 31/7/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 250.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 20.724 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 9,04%. Hoạt động tín dụng: Đến 30/6/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 377.423 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 6.440 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,74%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 375.332 tỷ đồng (chiếm 99,45% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.091 tỷ đồng (chiếm 0,55% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 267.009 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 110.414 tỷ đồng. Ước đến 31/7/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 379.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 8.516 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,3%. Lãi suất tiền gửi: Lãi suất huy động bằng VND bình quân: tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng ở mức 0,3% - 0,4%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,2% - 4,6%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng ở mức 7% - 7,9%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng trở lên ở mức 7% - 7,7%/năm. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay: Bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở mức 9,1% - 10,5%/năm; cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,3% - 5,3%/năm. Dư nợ cho vay: Đến 30/6/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 185.476 tỷ đồng, chiếm 49,14% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.513 tỷ đồng, chiếm 8,62% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 159.434 tỷ đồng, chiếm 42,24% tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn tỉnh được kiểm soát ở mức 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng, không thay đổi so với cuối năm 2025. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thay mới và trang trí pano, khẩu hiệu phục vụ công tác tuyên các nhiệm vụ chính trị và chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc biệt chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); phục vụ tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026 với chủ đề “Lâm Đồng - Bản giao hưởng xanh”; chương trình âm nhạc đường phố phục vụ Nhân dân và du khách hưởng ứng sự kiện tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026 vào thứ 7 hàng tuần; chương trình nghệ thuật phục vụ Lễ khánh thành dự án Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa; chương trình “Hoài Niệm Trăm Năm 2” tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng gồm các hoạt động khai mạc triển lãm bộ sưu tập “Hương thơm phương Nam”, ra mắt bộ ấn phẩm quảng bá Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng và trình diễn nghệ thuật thời trang áo dài. Ngoài ra, trong tháng đã tổ chức 07 buổi biểu diễn phục vụ chính trị; 01 tuần phim; 15 buổi biểu diễn văn nghệ và 75 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở. Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến 14/7/2029), các đơn vị trên địa bàn tỉnh đã thực hiện 186 buổi biểu diễn văn nghệ (biểu diễn về cơ sở 180 buổi); tổ chức 580 buổi chiếu phim, 05 đợt phim, 02 tuần phim và 01 vở kịch tuyên truyền “Ngày Mai Tươi Sáng”. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 30.716 lượt khách, trong đó có 1.140 lượt khách quốc tế (Trong đó: Nhà trưng bày chính: 5.164 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.332 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 209 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 21.562 lượt; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 449 lượt). Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 13/7/2026) đã đón 201.744 lượt khách tham quan, trong đó có 15.568 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 50.612 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 35.442 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 6.841 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 100.423 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 8.426 lượt khách). + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 192 đoàn với 15.756 lượt khách (trong đó có 47 khách quốc tế); phục vụ 32 lễ viếng, 01 báo công, 01 tuyên dương, 01 kết nạp Đảng, 02 sinh hoạt chuyên đề. Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 10/7/2026) đã tiếp đón 1.267 đoàn khách tham quan với 90.663 lượt khách (trong đó có 298 khách nước ngoài); phục vụ: 169 lễ viếng, 09 báo công, 06 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 02 lễ rước đuốc và 10 sinh hoạt chuyên đề; tổ chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 12 đoàn với 1.292 lượt khách; lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 14/7/2026) đã đón 14.562 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 360 thẻ (thiếu nhi 192 thẻ), phục vụ 285.332 lượt bạn đọc, luân chuyển 14.477 lượt tài liệu, trưng bày 990 bản sách và 02 mô hình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị. Ngoài ra đã tổ chức các hoạt động phục vụ hè cho các em thiếu nhi trên địa bàn với các hoạt động “Hè vui đọc sách - Viết cảm nhận sách”, “Thi đọc sách nhanh và phát triển tư duy”, “Vẽ tranh theo chủ đề”,... Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 14/7/2026), Thư viện tỉnh cấp mới và gia hạn 5.950 thẻ (thiếu nhi 4.417 thẻ), phục vụ 1.683.233 lượt bạn đọc, luân chuyển 459.559 lượt tài liệu và trưng bày 144.063 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Phối hợp với Uỷ ban Olympic Việt Nam tổ chức Chương trình thể thao cộng đồng tại Phường Phan Thiết; phối hợp với Hiệp hội Thể thao Công an Nhân dân Việt Nam tổ chức Liên hoan khiêu vũ Thể thao Quốc tế Cúp CAND mở rộng; tổ chức Giải Vô địch Triathlon trẻ và U23 quốc gia năm 2026. Ngoài ra đã tổ chức các môn Bóng đá 11 người, Võ thuật Cổ truyền, Bóng chuyền 6 người, Cầu lông trong khuôn khổ Đại hội thể dục thể thao tỉnh. - Thể thao thành tích cao: Trong tháng, cử các đoàn tham gia 11 giải thể thao, đạt 123 huy chương (28 HCV, 31 HCB, 64 HCĐ). Tính đến thời điểm ngày 15/7/2026, đã tham dự 62 giải thể thao quốc gia và quốc tế, kết quả đạt được 459 huy chương (91 HCV, 121 HCB, 247 HCĐ), trong đó có 1 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 9 huy chương quốc tế (3 HCV, 1 HCB, 5 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Hoạt động giáo dục duy trì ổn định. Đã tổ chức thành công kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 nghiêm túc, an toàn và đúng quy chế. Kết quả, toàn tỉnh có 39.082/39.652 thí sinh được công nhận tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 98,56% (trong đó hệ THPT đạt 99,18%, hệ GDTX đạt 91,05%); toàn tỉnh có 49/131 đơn vị đạt tỷ lệ tốt nghiệp 100%. Đến nay, tỉnh đã triển khai thực hiện và hiệu quả chương trình giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên, phổ cập giáo dục và xóa mù chữ; đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục cho mọi đối tượng, nhất là các đối tượng là người dân tộc thiểu số, người sống vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trẻ mồ côi, trẻ em không nơi nương tựa, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo. Tính đến ngày 10/7/2026, toàn tỉnh có 947/1.433 trường công lập đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 66,09%. 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; tiếp tục thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 409 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 221 ca so với tháng trước (188 ca) và giảm 58 ca so với cùng kỳ (467 ca); không có trường hợp tử vong. Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 1.578 ca mắc, giảm 68 ca so với cùng kỳ (1.646 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 69 ổ dịch; lũy kế đến ngày 30/6/2026 đã phát hiện xử lý 224 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 392 ca mắc, giảm 201 ca so với tháng trước và giảm 165 ca so với cùng kỳ. Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 2.757 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 14 ca mắc, giảm 09 ca so với tháng trước và giảm 69 ca so với cùng kỳ. Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 83 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 4.054 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.540 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.273 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.329 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.836 trẻ, mũi 2 cho 3.765 trẻ và mũi 3 cho 4.329 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.992 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng có 01 bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 436 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 422 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý là 02 người (01 người tử vong và 01 người chuyển đi nơi khác). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 188 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 05 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 BN/100.000 dân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 39 bệnh nhân nhiễm HIV mới, 05 bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 01 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.866 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.795 người, tử vong 1.578 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 804.038 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 67.251 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 396.235 ngày, xét nghiệm cho 1.130.518 tiêu bản, chẩn đoán 269.020 hình ảnh và phẫu thuật 12.440 trường hợp. Ước 7 tháng năm 2026 tổ chức khám bệnh cho 2.985.641 lượt người; 243.585 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.256.544 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,14 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 98,67%; xét nghiệm cho 4.130.846 tiêu bản; chẩn đoán 1.013.824 hình ảnh và phẫu thuật cho 37.055 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 60 cơ sở thực phẩm, phát hiện 12 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 120,5 triệu đồng. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (do độc tố trong nấm hái tại rừng thông Kinh tế mới Châu Sơn, xã D’ran) làm 07 người mắc và 01 người tử vong. Lũy kế 7 tháng năm 2026 xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm làm 104 người mắc và 01 người tử vong. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; họp báo cung cấp thông tin về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm; đồng thời tuyên truyền các hoạt động “Chào Mùa du lịch hè 2026” và thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 02 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 01 giấy phép xác nhận thay đổi thông tin đăng ký hoạt động cơ sở in. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống được gìn giữ và phát huy; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS từng bước được cải thiện. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng; trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai đồng bộ, gắn với xây dựng nông thôn mới. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet, nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin vùng đồng bào DTTS và miền núi. - Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Công tác xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và vùng sâu, vùng xa được triển khai tích cực để đầu năm học 2026-2027 đưa vào sử dụng. Toàn tỉnh duy trì hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú và các cơ sở giáo dục phổ thông tại địa bàn khó khăn, bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh DTTS. Tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp đạt trên 99%; tỷ lệ học sinh DTTS trong độ tuổi đến trường ở cấp tiểu học đạt 97,3%; trung học cơ sở đạt khoảng 90,0%; trung học phổ thông đạt trên 70,0%. - Hệ thống y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Các hoạt động khám chữa bệnh, tiêm chủng,… tiếp tục được triển khai có hiệu quả. Người dân, đặc biệt là hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào DTTS được tiếp cận các dịch vụ y tế để khám chữa bệnh, qua đó góp phần giảm thiểu bệnh tật và nâng cao chất lượng sống cho người đồng bào DTTS. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. - Phật giáo: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng tổ chức Trại họp bạn Lục Hòa 2026 Gia đình Phật tử Lâm Đồng khu vực 1 cho khoảng 300 Huynh trưởng, đoàn sinh tại chùa Pháp Vân, xã Đức Trọng và tổ chức Liên trại huấn luyện Huynh trưởng sơ cấp Lộc Uyển và A Dục lần thứ I Gia đình Phật tử Lâm Đồng khu vực 2 cho khoảng 190 Huynh trưởng, đoàn sinh tại chùa Linh Sơn, xã Tánh Linh. Ngoài ra, các cơ sở thờ tự tổ chức nhiều khóa tu mùa hè cho thanh thiếu niên theo đạo Phật trên địa bàn tỉnh. - Công giáo: Giáo phận Ban Mê Thuột tổ chức lễ Tĩnh huấn hiền mẫu; Tĩnh huấn Ban thường vụ Hội đồng giáo xứ tại Trung tâm hành hương Đồi Thánh Tâm, xã Đức Lập; mỗi cuộc lễ có khoảng 2.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận. Giáo phận Ban Mê Thuột khánh thành nhà thờ; làm phép nhà giáo lý; làm phép 14 chặng đàng thánh giá tại Giáo xứ Thiên Ân, xã Tuy Đức; tham dự có khoảng 1.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận. Giáo phận Đà Lạt chủ trì Thánh lễ đặt đá xây dựng nhà thờ Giáo xứ Xà Lùng, xã Hoà Ninh. Tham dự lễ có gần 1.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân địa phương. - Tin lành: Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh Lâm Đồng thông báo phong phẩm Mục sư nhiệm chức 21 trường hợp; tổ chức lễ ra mắt các Chi hội Tin Lành Tô Rơ Ne, xã Hòa Ninh và Chi hội Tin Lành Bột Be, xã Hòa Ninh; mỗi buổi lễ có khoảng trên 600 người là chức sắc, chức việc, tín hữu trong và ngoài chi hội tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 258 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công và giải quyết 230 hồ sơ về chế độ mai táng phí liên thông theo Đề án 06. Đã phê duyệt kinh phí hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở cho 03 người có công với cách mạng tại phường Hàm Thắng với kinh phí hỗ trợ 250 triệu đồng. Thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng theo quy định; đã giải quyết cho 14.318 đối tượng nhận trợ cấp không dùng tiền mặt qua tài khoản cá nhân. Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Tính đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 320.083 người tham gia BHXH, đạt 100,94% kế hoạch và tăng 15,90% so với cùng kỳ; 239.615 người tham gia BHTN, đạt 103,12% kế hoạch và tăng 13,96%; 3.134.199 người tham gia BHYT, đạt 98,79% kế hoạch và tăng 8,72%. Tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 92,52% dân số. Trong tháng 6/2026, đã giải quyết mới 11.243 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.987 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 246 người; trợ cấp 1 lần cho 2.615 người; chế độ ốm đau cho 6.736 người; chế độ thai sản cho 1.321 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 325 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.826 người và hỗ trợ học nghề cho 161 người). Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 58.461 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 10.319 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 981 người; trợ cấp 1 lần cho 13.746 người; chế độ ốm đau cho 34.049 người; chế độ thai sản cho 7.591 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 2.094 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 9.793 người và hỗ trợ học nghề cho 526 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/6 - 14/7/2026) Trong tháng xảy ra 58 vụ tai nạn giao thông, tăng 4 vụ so với tháng trước và giảm 15 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 39 người, giảm 01 người so với tháng trước và giảm 14 người so với cùng kỳ; số người bị thương là 28 người, giảm 13 người so với tháng trước và giảm 16 người so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 403 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 104 vụ so với cùng kỳ; số người chết 262 người, tương đương so với cùng kỳ; số người bị thương 258 người, giảm 137 người so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 25/6 - 23/7/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ thiên tai do mưa lớn kèm theo lốc xoáy; thiên tai đã làm 02 căn nhà bị tốc mái, 10 ha lúa 80 ngày tuổi bị ảnh hưởng, xói lở 100 mét đường dân sinh, 26 cây sầu riêng 7 năm tuổi bị đổ ngã,... Lũy kế 7 tháng năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ thiên tai làm 01 người chết, 02 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 13 căn nhà bị hư hỏng, 153 căn bị ảnh hưởng nhẹ, 02 căn phòng làm việc bị tốc mái hoàn toàn, 10,6 ha lúa sạ bị ngập, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 69,6 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại (qua kết quả đánh giá lại) là 29,66 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/6 - 15/7/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy nổ, giảm 01 vụ so với tháng trước và giảm 03 vụ so với cùng kỳ; đang thống kê thiệt hại. Lũy kế 7 tháng năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 40 vụ cháy, tăng 10 vụ so với cùng kỳ, làm 02 người chết và 02 người bị thương. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra (tháng 7/2025 cũng không xảy ra). Lũy kế 7 tháng năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 15 vụ so với cùng kỳ, đã xử phạt 415 triệu đồng (7 tháng năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Trong 7 tháng năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực, nhiều lĩnh vực đạt kết quả khá, tạo nền tảng thuận lợi để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Nông nghiệp phát triển ổn định, sản xuất được duy trì đúng thời vụ, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 2,02% so với cùng kỳ; chăn nuôi tăng trưởng khá với sản lượng thịt hơi tăng 11,68%; sản lượng khai thác thủy sản tăng 3,58%. Khu vực công nghiệp tăng trưởng khá, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,48%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 17,25%, khai khoáng tăng 19,12%; vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tăng 11,55% so với cùng kỳ. Hoạt động sản xuất, kinh doanh có nhiều tín hiệu tích cực, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 34,52% với tổng vốn đăng ký tăng 38,46%; đồng thời thu hút 38 dự án đầu tư mới. Khu vực thương mại và dịch vụ duy trì mức tăng khá, phản ánh sức mua và nhu cầu đi lại, du lịch tiếp tục được cải thiện. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 18,08%; doanh thu du lịch tăng 21,96%, tổng lượt khách phục vụ tăng 18,58%; doanh thu vận tải, kho bãi tăng 23,82%. Hoạt động du lịch hè diễn ra sôi động, thời gian lưu trú của khách có xu hướng cải thiện, tạo tác động lan tỏa đến lưu trú, ăn uống, vận tải và các dịch vụ hỗ trợ. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm; kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông được tổ chức an toàn, tỷ lệ tốt nghiệp đạt cao; số người tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp tăng. Công tác chăm sóc sức khỏe, thực hiện chính sách đối với người có công và đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai kịp thời. Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số hạn chế, khó khăn. Dịch tả lợn châu Phi vẫn diễn biến phức tạp, còn 07 xã chưa qua 21 ngày có dịch. Tình trạng vi phạm lâm luật tiếp tục gia tăng. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt tỷ lệ thấp; dư nợ tín dụng chỉ tăng 2,30% so với cuối năm 2025, thấp hơn nhiều so với huy động vốn tăng 9,04%. Sản lượng oxit nhôm và điện sản xuất tăng còn thấp so với tốc độ chung. Số doanh nghiệp giải thể tăng 74,46%; thu về nhà, đất mới đạt 37,41% dự toán. Tai nạn giao thông giảm về số vụ và số người bị thương nhưng số người chết không giảm. Áp lực lạm phát còn hiện hữu khi CPI bình quân 7 tháng tăng 4,3%, chủ yếu do giá nhà ở, vật liệu xây dựng, thực phẩm, giao thông và giáo dục tăng. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng tổng kết Tổng điều tra kinh tế năm 2026
- 01/08/2026 08:37
Sáng ngày 30/7/2026, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tổng kết và khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong quá trình triển khai Tổng điều tra trên địa bàn tỉnh. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến 15 điểm cầu Thống kê cơ sở. Đồng chí Võ Ngọc Hiệp, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có đồng chí Phạm Quốc Hùng, Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo tỉnh; các thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo tỉnh; đại diện lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh; lãnh đạo Thống kê tỉnh; các giám sát viên cấp tỉnh; lãnh đạo các phòng chuyên môn thuộc Thống kê tỉnh; đại diện Ban Chỉ đạo và lãnh đạo UBND một số xã, phường cùng các tập thể, cá nhân được khen thưởng. Tại 15 điểm cầu trực tuyến có đại diện Ban Chỉ đạo Tổng điều tra cấp xã; lãnh đạo UBND cấp xã; lãnh đạo, công chức các Thống kê cơ sở và các tập thể, cá nhân được biểu dương, khen thưởng trong quá trình tổ chức thực hiện Tổng điều tra. Mở đầu Hội nghị, các đại biểu theo dõi video clip khái quát quá trình tổ chức và triển khai Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Những hình ảnh thực tế đã phản ánh rõ khối lượng công việc lớn, phạm vi điều tra rộng, yêu cầu nghiệp vụ cao, đồng thời ghi nhận tinh thần trách nhiệm, sự chủ động và phối hợp đồng bộ của Ban Chỉ đạo các cấp, ngành Thống kê, chính quyền địa phương, lực lượng giám sát viên, điều tra viên và các đơn vị cung cấp thông tin. Thông qua quá trình tổ chức Tổng điều tra, vai trò của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương tiếp tục được phát huy. Sự phối hợp giữa cơ quan Thống kê với các cơ quan quản lý nhà nước, các xã, phường và đơn vị điều tra đã góp phần bảo đảm tiến độ thu thập thông tin, nâng cao chất lượng dữ liệu và xử lý kịp thời những khó khăn, vướng mắc phát sinh tại cơ sở. Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin toàn diện, đồng bộ và tin cậy về thực trạng hoạt động của các đơn vị kinh tế trên địa bàn. Đây là cơ sở phục vụ Đảng, Nhà nước, các cấp và các ngành trong đánh giá tình hình, hoạch định chiến lược, xây dựng chính sách và điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Tổng điều tra cũng là bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới phương thức sản xuất thông tin thống kê, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Việc tăng cường sử dụng nền tảng số trong khâu lập danh sách, thu thập, kiểm tra, giám sát và xử lý dữ liệu đã góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, giảm thời gian tổng hợp và từng bước hiện đại hóa hoạt động thống kê. Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Tỉnh, Phó Trưởng Thống kê tỉnh trình bày báo cáo tóm tắt kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng. Một trong những kết quả đáng ghi nhận là tiến độ Tổng điều tra được rút ngắn đáng kể so với kế hoạch ban đầu. Nhờ đổi mới phương thức tổ chức và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, giai đoạn 1 hoàn thành sớm hơn 20 ngày; thời gian thu thập thông tin giai đoạn 2 giảm từ 6 tháng xuống còn 2 tháng. Báo cáo kết quả sơ bộ được công bố sớm hơn 7 tháng, trong khi kết quả chính thức dự kiến được công bố sớm hơn 9 tháng so với kế hoạch ban đầu. Kết quả này thể hiện sự nỗ lực lớn của ngành Thống kê, Ban Chỉ đạo các cấp và toàn bộ lực lượng tham gia Tổng điều tra trong việc vừa bảo đảm tiến độ, vừa tuân thủ yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ và chất lượng thông tin. Hội nghị cũng dành thời gian để các đơn vị trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình triển khai Tổng điều tra tại các Ban Chỉ đạo cấp xã. Các tham luận tập trung làm rõ công tác chỉ đạo, điều hành tại cơ sở; việc huy động lực lượng tham gia; phương pháp tiếp cận đơn vị điều tra; công tác tuyên truyền, vận động cung cấp thông tin; kiểm tra tiến độ và xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình thu thập dữ liệu. Thông qua các tham luận, nhiều bài học kinh nghiệm và cách làm hiệu quả đã được chia sẻ. Trong đó, nổi bật là vai trò của người đứng đầu chính quyền địa phương; sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban Chỉ đạo cấp xã với Thống kê cơ sở; việc thường xuyên kiểm tra tiến độ, rà soát chất lượng phiếu và chủ động hỗ trợ điều tra viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Hội nghị cũng thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tổ chức các cuộc điều tra thống kê trong thời gian tới. Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Võ Ngọc Hiệp, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng ghi nhận và biểu dương những nỗ lực của ngành Thống kê với vai trò là cơ quan thường trực, tham mưu tổ chức thực hiện Tổng điều tra trên địa bàn tỉnh. Đồng chí cũng biểu dương tinh thần trách nhiệm của Ban Chỉ đạo các cấp, chính quyền địa phương, các sở, ngành, điều tra viên, giám sát viên và các đơn vị cung cấp thông tin. Sự phối hợp trách nhiệm, đồng bộ của các lực lượng đã góp phần quan trọng vào kết quả chung của cuộc Tổng điều tra. Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Thống kê tỉnh tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành và địa phương kiểm tra, đối chiếu, rà soát và hoàn thiện cơ sở dữ liệu Tổng điều tra; bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác, thống nhất, khách quan và đúng phương pháp thống kê. Đồng chí nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường kết nối và khai thác dữ liệu hành chính; nâng cao hiệu quả chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan Thống kê với cơ quan Thuế, Kho bạc, Hải quan, cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan quản lý chuyên ngành. Việc khai thác hiệu quả dữ liệu hành chính sẽ góp phần giảm trùng lặp trong thu thập thông tin, tiết kiệm nguồn lực và nâng cao chất lượng số liệu thống kê phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành. Theo kết quả đánh giá, nghiệm thu, tỉnh Lâm Đồng được xếp loại Giỏi, đứng thứ 17 trong tổng số 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đây là kết quả ghi nhận sự nỗ lực của Ban Chỉ đạo các cấp, ngành Thống kê, các sở, ngành, địa phương và lực lượng trực tiếp tham gia Tổng điều tra. Nhân dịp này, 2 tập thể và 7 cá nhân có thành tích xuất sắc được Bộ Tài chính tặng Bằng khen. Trưởng Thống kê tỉnh tặng Giấy khen cho 20 tập thể và 212 cá nhân có thành tích trong tổ chức và thực hiện Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên địa bàn tỉnh. Việc tổ chức thành công Tổng điều tra kinh tế năm 2026 không chỉ tạo lập nguồn dữ liệu quan trọng phản ánh quy mô, cơ cấu và nguồn lực của nền kinh tế, mà còn góp phần nâng cao năng lực tổ chức các cuộc điều tra thống kê, thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới phương thức hoạt động của ngành Thống kê. Kết quả Tổng điều tra sẽ tiếp tục được kiểm tra, hoàn thiện, phân tích và khai thác để phục vụ công tác quản lý nhà nước, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, hoạch định chính sách và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của các cấp, các ngành, địa phương trong giai đoạn mới. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG Một số hình ảnh tại Hội nghị:Đồng chí Võ Ngọc Hiệp, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng phát biểu chỉ đạo Hội nghịĐồng chí Phạm Quốc Hùng, Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng ban thường trực, Ban chỉ đạo Tổng điều tra tỉnh
Hội nghị Tổng kết Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương
- 17/07/2026 07:43
Chiều ngày 13/7/2026, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương tổ chức Hội nghị tổng kết Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Hà Nội, kết hợp trực tuyến đến 34 điểm cầu Thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đồng chí Ngô Văn Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương; lãnh đạo các đơn vị thuộc Cục Thống kê; các giám sát viên Trung ương; đại diện các tập thể, cá nhân được Bộ Tài chính tặng Bằng khen và các đại biểu liên quan. Tại điểm cầu tỉnh Lâm Đồng, đồng chí Võ Ngọc Hiệp, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng chủ trì. Cùng tham dự có lãnh đạo Thống kê tỉnh; thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; đại diện các tập thể, cá nhân được Bộ Tài chính tặng Bằng khen và các đơn vị liên quan. Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, Tổng điều tra kinh tế năm 2026 được triển khai trong bối cảnh cả nước đang thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, hướng tới mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng cao, xây dựng đất nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Kết quả Tổng điều tra có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin toàn diện, đồng bộ và tin cậy, phục vụ Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành hoạch định chiến lược, xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, đây cũng là bước quan trọng trong quá trình chuyển đổi số của ngành Thống kê, góp phần từng bước hình thành phương thức thu thập, xử lý và phổ biến thông tin thống kê hiện đại, hiệu quả. Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Ủy viên Ban Chỉ đạo, Tổ trưởng Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương trình bày báo cáo kết quả tổ chức thực hiện cuộc Tổng điều tra. Báo cáo tập trung đánh giá toàn diện công tác chuẩn bị, xây dựng phương án, tập huấn nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ thông tin, tổ chức thu thập, kiểm tra, giám sát, nghiệm thu và xử lý dữ liệu; đồng thời chỉ ra những khó khăn, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai. Tại tỉnh Lâm Đồng, ngay từ khi triển khai Tổng điều tra, Ban Chỉ đạo tỉnh đã chủ động xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương; thường xuyên theo dõi tiến độ, kiểm tra chất lượng và kịp thời xử lý những khó khăn phát sinh. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Ban Chỉ đạo các cấp, sự phối hợp trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và nỗ lực của đội ngũ điều tra viên, giám sát viên, tỉnh Lâm Đồng đã hoàn thành Tổng điều tra kinh tế năm 2026 đúng tiến độ, bảo đảm phạm vi và chất lượng theo yêu cầu của Ban Chỉ đạo Trung ương. Theo kết quả đánh giá, nghiệm thu, tỉnh Lâm Đồng được xếp loại Giỏi, đứng thứ 17/34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; có 2 tập thể và 7 cá nhân được Bộ Tài chính tặng Bằng khen. Kết quả này ghi nhận tinh thần trách nhiệm và sự phối hợp chặt chẽ của Ban Chỉ đạo các cấp, các sở, ngành, địa phương cùng toàn thể lực lượng tham gia Tổng điều tra trên địa bàn tỉnh. Phát biểu bế mạc Hội nghị, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đánh giá cao tinh thần trách nhiệm và sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương và toàn ngành Thống kê trong quá trình triển khai Tổng điều tra. Bộ trưởng đề nghị Cục Thống kê và Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương tiếp tục tập trung rà soát, làm sạch, xử lý và thẩm định dữ liệu; xây dựng các báo cáo chuyên đề và công bố kết quả chính thức theo đúng kế hoạch. Bên cạnh đó, ngành Thống kê cần đẩy mạnh khai thác, phổ biến và ứng dụng kết quả Tổng điều tra, bảo đảm dữ liệu được sử dụng hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, hoạch định chính sách và xây dựng các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 không chỉ phản ánh toàn diện quy mô, cơ cấu và nguồn lực của nền kinh tế, mà còn tạo nền tảng để ngành Thống kê tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng thông tin và đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý, điều hành trong giai đoạn mới./. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG Một số hình ảnh tại Hội nghị:Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương phát biểu chỉ đạo Hội nghị.Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương, Ủy viên Ban Chỉ đạo, Tổ trưởng Tổ Thường trực Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương trình bày báo cáo kết quả tổ chức thực hiện cuộc Tổng điều traĐồng chí Võ Ngọc Hiệp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng tham dự Hội nghị tại điểm cầu của tỉnh.Toàn cảnh Hội nghị tại điểm tỉnh Lâm Đồng