02633 540134 | lamdong@nso.gov.vn
Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng tổng kết Tổng điều tra kinh tế năm 2026
  •   2026/08/01 08:37

Sáng ngày 30/7/2026, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tổng kết và khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong quá trình triển khai Tổng điều tra trên địa bàn tỉnh. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến 15 điểm cầu Thống kê cơ sở. Đồng chí Võ Ngọc Hiệp, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có đồng chí Phạm Quốc Hùng, Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo tỉnh; các thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo tỉnh; đại diện lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh; lãnh đạo Thống kê tỉnh; các giám sát viên cấp tỉnh; lãnh đạo các phòng chuyên môn thuộc Thống kê tỉnh; đại diện Ban Chỉ đạo và lãnh đạo UBND một số xã, phường cùng các tập thể, cá nhân được khen thưởng. Tại 15 điểm cầu trực tuyến có đại diện Ban Chỉ đạo Tổng điều tra cấp xã; lãnh đạo UBND cấp xã; lãnh đạo, công chức các Thống kê cơ sở và các tập thể, cá nhân được biểu dương, khen thưởng trong quá trình tổ chức thực hiện Tổng điều tra. Mở đầu Hội nghị, các đại biểu theo dõi video clip khái quát quá trình tổ chức và triển khai Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. Những hình ảnh thực tế đã phản ánh rõ khối lượng công việc lớn, phạm vi điều tra rộng, yêu cầu nghiệp vụ cao, đồng thời ghi nhận tinh thần trách nhiệm, sự chủ động và phối hợp đồng bộ của Ban Chỉ đạo các cấp, ngành Thống kê, chính quyền địa phương, lực lượng giám sát viên, điều tra viên và các đơn vị cung cấp thông tin. Thông qua quá trình tổ chức Tổng điều tra, vai trò của các cấp, các ngành và chính quyền địa phương tiếp tục được phát huy. Sự phối hợp giữa cơ quan Thống kê với các cơ quan quản lý nhà nước, các xã, phường và đơn vị điều tra đã góp phần bảo đảm tiến độ thu thập thông tin, nâng cao chất lượng dữ liệu và xử lý kịp thời những khó khăn, vướng mắc phát sinh tại cơ sở. Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin toàn diện, đồng bộ và tin cậy về thực trạng hoạt động của các đơn vị kinh tế trên địa bàn. Đây là cơ sở phục vụ Đảng, Nhà nước, các cấp và các ngành trong đánh giá tình hình, hoạch định chiến lược, xây dựng chính sách và điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Tổng điều tra cũng là bước tiến quan trọng trong quá trình đổi mới phương thức sản xuất thông tin thống kê, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số. Việc tăng cường sử dụng nền tảng số trong khâu lập danh sách, thu thập, kiểm tra, giám sát và xử lý dữ liệu đã góp phần nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện, giảm thời gian tổng hợp và từng bước hiện đại hóa hoạt động thống kê. Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Tỉnh, Phó Trưởng Thống kê tỉnh trình bày báo cáo tóm tắt kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng. Một trong những kết quả đáng ghi nhận là tiến độ Tổng điều tra được rút ngắn đáng kể so với kế hoạch ban đầu. Nhờ đổi mới phương thức tổ chức và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, giai đoạn 1 hoàn thành sớm hơn 20 ngày; thời gian thu thập thông tin giai đoạn 2 giảm từ 6 tháng xuống còn 2 tháng. Báo cáo kết quả sơ bộ được công bố sớm hơn 7 tháng, trong khi kết quả chính thức dự kiến được công bố sớm hơn 9 tháng so với kế hoạch ban đầu. Kết quả này thể hiện sự nỗ lực lớn của ngành Thống kê, Ban Chỉ đạo các cấp và toàn bộ lực lượng tham gia Tổng điều tra trong việc vừa bảo đảm tiến độ, vừa tuân thủ yêu cầu về chuyên môn, nghiệp vụ và chất lượng thông tin. Hội nghị cũng dành thời gian để các đơn vị trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình triển khai Tổng điều tra tại các Ban Chỉ đạo cấp  xã. Các tham luận tập trung làm rõ công tác chỉ đạo, điều hành tại cơ sở; việc huy động lực lượng tham gia; phương pháp tiếp cận đơn vị điều tra; công tác tuyên truyền, vận động cung cấp thông tin; kiểm tra tiến độ và xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình thu thập dữ liệu. Thông qua các tham luận, nhiều bài học kinh nghiệm và cách làm hiệu quả đã được chia sẻ. Trong đó, nổi bật là vai trò của người đứng đầu chính quyền địa phương; sự phối hợp chặt chẽ giữa Ban Chỉ đạo cấp xã với Thống kê cơ sở; việc thường xuyên kiểm tra tiến độ, rà soát chất lượng phiếu và chủ động hỗ trợ điều tra viên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Hội nghị cũng thẳng thắn nhìn nhận những khó khăn, hạn chế và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tổ chức các cuộc điều tra thống kê trong thời gian tới. Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Võ Ngọc Hiệp, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng ghi nhận và biểu dương những nỗ lực của ngành Thống kê với vai trò là cơ quan thường trực, tham mưu tổ chức thực hiện Tổng điều tra trên địa bàn tỉnh. Đồng chí cũng biểu dương tinh thần trách nhiệm của Ban Chỉ đạo các cấp, chính quyền địa phương, các sở, ngành, điều tra viên, giám sát viên và các đơn vị cung cấp thông tin. Sự phối hợp trách nhiệm, đồng bộ của các lực lượng đã góp phần quan trọng vào kết quả chung của cuộc Tổng điều tra. Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu Thống kê tỉnh tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các sở, ngành và địa phương kiểm tra, đối chiếu, rà soát và hoàn thiện cơ sở dữ liệu Tổng điều tra; bảo đảm thông tin đầy đủ, chính xác, thống nhất, khách quan và đúng phương pháp thống kê. Đồng chí nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường kết nối và khai thác dữ liệu hành chính; nâng cao hiệu quả chia sẻ dữ liệu giữa cơ quan Thống kê với cơ quan Thuế, Kho bạc, Hải quan, cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan quản lý chuyên ngành. Việc khai thác hiệu quả dữ liệu hành chính sẽ góp phần giảm trùng lặp trong thu thập thông tin, tiết kiệm nguồn lực và nâng cao chất lượng số liệu thống kê phục vụ công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành. Theo kết quả đánh giá, nghiệm thu, tỉnh Lâm Đồng được xếp loại Giỏi, đứng thứ 17 trong tổng số 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đây là kết quả ghi nhận sự nỗ lực của Ban Chỉ đạo các cấp, ngành Thống kê, các sở, ngành, địa phương và lực lượng trực tiếp tham gia Tổng điều tra. Nhân dịp này, 2 tập thể và 7 cá nhân có thành tích xuất sắc được Bộ Tài chính tặng Bằng khen. Trưởng Thống kê tỉnh tặng Giấy khen cho 20 tập thể và 212 cá nhân có thành tích trong tổ chức và thực hiện Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên địa bàn tỉnh. Việc tổ chức thành công Tổng điều tra kinh tế năm 2026 không chỉ tạo lập nguồn dữ liệu quan trọng phản ánh quy mô, cơ cấu và nguồn lực của nền kinh tế, mà còn góp phần nâng cao năng lực tổ chức các cuộc điều tra thống kê, thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới phương thức hoạt động của ngành Thống kê. Kết quả Tổng điều tra sẽ tiếp tục được kiểm tra, hoàn thiện, phân tích và khai thác để phục vụ công tác quản lý nhà nước, xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, hoạch định chính sách và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu thông tin của các cấp, các ngành, địa phương trong giai đoạn mới. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG Một số hình ảnh tại Hội nghị:Đồng chí Võ Ngọc Hiệp, Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng phát biểu chỉ đạo Hội nghịĐồng chí Phạm Quốc Hùng, Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng ban thường trực, Ban chỉ đạo Tổng điều tra tỉnh

Hội nghị Tổng kết Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương
  •   2026/07/17 07:43

Chiều ngày 13/7/2026, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương tổ chức Hội nghị tổng kết Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại Hà Nội, kết hợp trực tuyến đến 34 điểm cầu Thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đồng chí Ngô Văn Tuấn, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương; lãnh đạo các đơn vị thuộc Cục Thống kê; các giám sát viên Trung ương; đại diện các tập thể, cá nhân được Bộ Tài chính tặng Bằng khen và các đại biểu liên quan. Tại điểm cầu tỉnh Lâm Đồng, đồng chí Võ Ngọc Hiệp, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng chủ trì. Cùng tham dự có lãnh đạo Thống kê tỉnh; thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; đại diện các tập thể, cá nhân được Bộ Tài chính tặng Bằng khen và các đơn vị liên quan. Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh, Tổng điều tra kinh tế năm 2026 được triển khai trong bối cảnh cả nước đang thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng và các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị, hướng tới mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng cao, xây dựng đất nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Kết quả Tổng điều tra có ý nghĩa quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin toàn diện, đồng bộ và tin cậy, phục vụ Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành hoạch định chiến lược, xây dựng chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Đồng thời, đây cũng là bước quan trọng trong quá trình chuyển đổi số của ngành Thống kê, góp phần từng bước hình thành phương thức thu thập, xử lý và phổ biến thông tin thống kê hiện đại, hiệu quả. Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, Ủy viên Ban Chỉ đạo, Tổ trưởng Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương trình bày báo cáo kết quả tổ chức thực hiện cuộc Tổng điều tra. Báo cáo tập trung đánh giá toàn diện công tác chuẩn bị, xây dựng phương án, tập huấn nghiệp vụ, ứng dụng công nghệ thông tin, tổ chức thu thập, kiểm tra, giám sát, nghiệm thu và xử lý dữ liệu; đồng thời chỉ ra những khó khăn, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai. Tại tỉnh Lâm Đồng, ngay từ khi triển khai Tổng điều tra, Ban Chỉ đạo tỉnh đã chủ động xây dựng kế hoạch, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên; tăng cường phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương; thường xuyên theo dõi tiến độ, kiểm tra chất lượng và kịp thời xử lý những khó khăn phát sinh. Với sự chỉ đạo quyết liệt của Ban Chỉ đạo các cấp, sự phối hợp trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị và nỗ lực của đội ngũ điều tra viên, giám sát viên, tỉnh Lâm Đồng đã hoàn thành Tổng điều tra kinh tế năm 2026 đúng tiến độ, bảo đảm phạm vi và chất lượng theo yêu cầu của Ban Chỉ đạo Trung ương. Theo kết quả đánh giá, nghiệm thu, tỉnh Lâm Đồng được xếp loại Giỏi, đứng thứ 17/34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; có 2 tập thể và 7 cá nhân được Bộ Tài chính tặng Bằng khen. Kết quả này ghi nhận tinh thần trách nhiệm và sự phối hợp chặt chẽ của Ban Chỉ đạo các cấp, các sở, ngành, địa phương cùng toàn thể lực lượng tham gia Tổng điều tra trên địa bàn tỉnh. Phát biểu bế mạc Hội nghị, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đánh giá cao tinh thần trách nhiệm và sự phối hợp của các bộ, ngành, địa phương và toàn ngành Thống kê trong quá trình triển khai Tổng điều tra. Bộ trưởng đề nghị Cục Thống kê và Tổ Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương tiếp tục tập trung rà soát, làm sạch, xử lý và thẩm định dữ liệu; xây dựng các báo cáo chuyên đề và công bố kết quả chính thức theo đúng kế hoạch. Bên cạnh đó, ngành Thống kê cần đẩy mạnh khai thác, phổ biến và ứng dụng kết quả Tổng điều tra, bảo đảm dữ liệu được sử dụng hiệu quả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, hoạch định chính sách và xây dựng các chương trình phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2026 không chỉ phản ánh toàn diện quy mô, cơ cấu và nguồn lực của nền kinh tế, mà còn tạo nền tảng để ngành Thống kê tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng thông tin và đáp ứng tốt hơn yêu cầu quản lý, điều hành trong giai đoạn mới./. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG Một số hình ảnh tại Hội nghị:Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương phát biểu chỉ đạo Hội nghị.Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương, Ủy viên Ban Chỉ đạo, Tổ trưởng Tổ Thường trực Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương trình bày báo cáo kết quả tổ chức thực hiện cuộc Tổng điều traĐồng chí Võ Ngọc Hiệp, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng tham dự Hội nghị tại điểm cầu của tỉnh.Toàn cảnh Hội nghị tại điểm tỉnh Lâm Đồng

Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026
  •   2026/07/06 10:23

Chiều ngày 03/7/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026. Ông Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì buổi họp báo. Tham dự họp báo có các Phó Trưởng Thống kê tỉnh; lãnh đạo các phòng nghiệp vụ; công chức Phòng Thống kê Tổng hợp; đại diện Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Báo và Phát thanh - Truyền hình Lâm Đồng, Cổng thông tin điện tử UBND tỉnh, cùng phóng viên các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương hoạt động trên địa bàn tỉnh. Thông tin tại họp báo, ông Phạm Quốc Hùng cho biết tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý II/2026 ước tăng 9,22% so với cùng kỳ năm trước; GRDP 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 7,90%. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,05%, đóng góp 1,18 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,43%, đóng góp 2,30 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,17%, đóng góp 4,00 điểm phần trăm và tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định. Diện tích gieo trồng vụ đông xuân đạt 106.482 ha, tăng 0,82% so với cùng kỳ; sản lượng lúa đạt khoảng 370 nghìn tấn, tăng 1,14%; sản lượng ngô tăng 12,21%. Diện tích cây lâu năm đạt hơn 635 nghìn ha, trong đó cà phê đạt 329.488 ha, tăng 1,29%; sầu riêng đạt 44.246 ha, tăng 4,25%. Chăn nuôi duy trì tăng trưởng; tổng đàn lợn đạt 1,54 triệu con, tăng 5,43%; đàn gia cầm đạt 23,6 triệu con, tăng 8,69%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 185.269 tấn, tăng 9,69%. Sản xuất công nghiệp tăng khá, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 9,6% so với cùng kỳ. Ngành chế biến, chế tạo tăng 16,92%; khai khoáng tăng 19,02%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực có mức tăng cao, gồm giày dép tăng 29,21%, phân bón tăng 20,65%, đá xây dựng tăng 19,15%, thủy sản chế biến tăng 19,12% và rau quả chế biến tăng 15,38%. Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp tiếp tục có chuyển biến. Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 51.950 tỷ đồng, tăng 14,38% so với cùng kỳ; vốn khu vực ngoài nhà nước chiếm trên 80% tổng vốn đầu tư. Trong 6 tháng, toàn tỉnh có 2.382 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 58,38%, với tổng vốn đăng ký gần 12.000 tỷ đồng; đồng thời thu hút 31 dự án đầu tư mới, tổng vốn đăng ký hơn 143.900 tỷ đồng. Thương mại, dịch vụ và du lịch duy trì đà tăng trưởng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 97.606,7 tỷ đồng, tăng 17,33%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống và lữ hành tăng 23,91%. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 6 tháng tăng 4,40%. Toàn tỉnh đón gần 12 triệu lượt khách, tăng 18,08%, trong đó khách quốc tế đạt 825 nghìn lượt, tăng 18,6%. Doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 33.310 tỷ đồng, tăng 22,15%; doanh thu lưu trú tăng 23,25% và doanh thu lữ hành tăng 41,8%. Doanh thu vận tải, kho bãi đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12%. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 18.623,9 tỷ đồng, bằng 54,08% dự toán năm và tăng 11,06% so với cùng kỳ. Tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng ước đạt 243.000 tỷ đồng, tăng gần 6% so với cuối năm 2025, góp phần đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh trên địa bàn. Bên cạnh kết quả đạt được, kinh tế - xã hội của tỉnh còn một số khó khăn: tiến độ giải ngân và triển khai một số dự án đầu tư còn chậm; hoạt động xây dựng chưa đạt kỳ vọng; mức độ phục hồi của một số ngành công nghiệp và vận tải hành khách chưa đồng đều. Đây là những vấn đề cần tiếp tục theo dõi, đánh giá và có giải pháp phù hợp trong 6 tháng cuối năm. Tại phần trao đổi, lãnh đạo Thống kê tỉnh đã trả lời, làm rõ các câu hỏi của cơ quan báo chí liên quan đến tăng trưởng GRDP; tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp; dịch vụ; đầu tư; cũng như triển vọng tăng trưởng 6 tháng cuối năm và các điều kiện để phấn đấu thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG   Một số hình ảnh tại buổi họp báo:Ông Phạm Quốc Hùng, Trưởng Thống kê tỉnh, thông tin tại họp báo.Toàn cảnh phiên chủ trì họp báo.Đại biểu và phóng viên tham dự họp báo.Trình bày các chỉ tiêu kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   2026/07/03 16:56

Tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, chi phí đầu vào chịu áp lực tăng, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục tập trung chỉ đạo phục hồi sản xuất, thúc đẩy đầu tư, thương mại, dịch vụ, du lịch và bảo đảm an sinh xã hội. Nhìn chung, kinh tế - xã hội duy trì đà tăng trưởng khá; quý II có chuyển biến tích cực hơn quý I, song một số lĩnh vực vẫn tăng chưa tương xứng với kịch bản điều hành, nhất là xây dựng, một số sản phẩm công nghiệp, vận tải hành khách, thu nhà đất và tiến độ chuyển hóa vốn đầu tư thành khối lượng thực hiện. Tình hình cụ thể như sau: I. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý II/2026 tăng trưởng tích cực, ước tăng 9,22% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 6 tháng đầu năm 2026, GRDP tăng 7,90%. Kết quả này cho thấy đà phục hồi và phát triển của nền kinh tế tiếp tục được củng cố, trong đó cả ba khu vực kinh tế đều duy trì mức tăng khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,05%, đóng góp 1,18 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,43%, đóng góp 2,30 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,17%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp 4,00 điểm phần trăm. Đối với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản xuất nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng, duy trì tăng trưởng ổn định trong bối cảnh còn chịu tác động của thời tiết, thị trường và dịch bệnh. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,15% so với cùng kỳ, đóng góp 1,00 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành lâm nghiệp tăng 4,54%, tuy nhiên do chiếm tỷ trọng thấp nên đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,49%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng khá, trong đó công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,81% so với cùng kỳ, đóng góp 1,72 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Đáng chú ý, công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao, lần lượt đạt 17,67% và 16,76%, đóng góp tương ứng 0,10 và 0,98 điểm phần trăm. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,09%, đóng góp 0,62 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,58%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ tiếp tục phục hồi mạnh trong 6 tháng đầu năm 2026. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ tăng 9,17% so với cùng kỳ, nhờ hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ tiêu dùng tiếp tục khởi sắc. Trong đó, ngành bán buôn và bán lẻ tăng 11,34%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm; vận tải, kho bãi tăng 14,81%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 13,40%, đóng góp 0,93 điểm phần trăm; thông tin và truyền thông tăng 7,35%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm. Một số ngành dịch vụ khác cũng đạt mức tăng khá góp phần củng cố xu hướng phục hồi và mở rộng của khu vực dịch vụ. II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò ổn định của nền kinh tế. Trồng trọt duy trì nhịp tăng nhờ thời tiết cơ bản thuận lợi, nguồn nước phục vụ sản xuất được bảo đảm; chăn nuôi tăng khá, nhất là lợn và gia cầm; thủy sản khai thác và sản xuất tôm giống tiếp tục phát huy lợi thế. Tuy nhiên, khu vực này vẫn chịu sức ép từ chi phí vật tư, nhiên liệu, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi và biến động giá một số nông sản chủ lực. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm - Kết quả sản xuất vụ Đông xuân: Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 106.482 ha, tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cây lương thực ước đạt 61.950 ha, tăng 1,02% (lúa diện tích ước đạt 55.400 ha, tăng 0,16%, năng suất ước đạt 66,79 tạ/ha, tăng 0,65 tạ/ha; sản lượng ước đạt 370.000 tấn, tăng 1,14%; ngô diện tích ước đạt 6.550 ha, tăng 9,0%, năng suất ước đạt 74,81 tạ/ha, tăng 2,14 tạ/ha; sản lượng ước đạt 49.000 tấn, tăng 12,21%). Nhóm cây chất bột diện tích ước đạt 3.670,3 ha, tăng 0,68% so với cùng kỳ năm trước (tăng chủ yếu ở cây khoai sọ, khoai môn). Nhóm cây có hạt chứa dầu, chủ yếu là cây đậu phộng, diện tích gieo trồng ước đạt 1.360,7 ha, tăng 0,42% so với cùng kỳ năm trước; năng suất ước đạt 22,78 tạ/ha, tăng 0,40 tạ/ha; sản lượng ước đạt 3.100 tấn, tăng 2,21%. Nhóm cây rau, đậu các loại và hoa diện tích gieo trồng ước đạt 34.000 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: diện tích rau các loại 27.000 ha, tăng 1,02%; năng suất ước đạt 337,04 tạ/ha, tăng 10,65 tạ/ha, sản lượng ước đạt 910.000 tấn, tăng 4,31%). Đã chuyển đổi 3.987,6 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng các cây ngắn ngày khác góp phần nâng hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm nước tưới và hạn chế sâu bệnh. - Tiến độ sản xuất vụ Hè thu: Mùa mưa đến sớm, lượng mưa phân bổ tương đối đều tạo điều kiện để nông dân xuống giống sớm. Ước đến ngày 15/6/2025 toàn tỉnh xuống giống vụ Hè thu đạt 45.501 ha, tăng 6,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lúa diện tích đạt 9.495 ha, tăng 3,14%; ngô diện tích đạt 8.830 ha, giảm 1,84%; cây lang diện tích đạt 1.779 ha, tăng 6,55%; đậu phộng diện tích đạt 1.745 ha, tăng 6,10%; cây rau các loại diện tích đạt 13.270 ha, tăng 13,26%; cây đậu các loại diện tích đạt 1.391 ha, tăng 6,3%. 1.2. Cây lâu năm Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 635.258 ha, tăng 0,54% so với cùng kỳ. Cơ cấu cây lâu năm tiếp tục dịch chuyển theo hướng nâng tỷ trọng cây có giá trị kinh tế cao như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, dâu tằm; trong khi một số cây hiệu quả thấp hoặc già cỗi như điều, chè tiếp tục giảm diện tích. Một số cây chủ lực có diễn biến như sau: - Cây cà phê: Diện tích hiện có 329.488 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tỉa cành, làm cỏ,...; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.375 ha, tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 31.182,5 tấn, tăng 5,55%. Diện tích cao su trồng mới có khả năng tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do nông dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư; - Cây điều: Diện tích điều hiện có 45.715 ha, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 36.183,9 tấn, giảm 7,48%. Diện tích điều tiếp tục có xu hướng giảm so với cùng kỳ do người dân chuyển sang trồng mới các loại cây có hiệu quả kinh tế vượt trội hơn như cà phê, sầu riêng, chanh leo, dâu tằm,…; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.246 ha, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 126.745 tấn, tăng 12,74%; sản lượng tăng cao so với cùng kỳ do diện tích cho thu hoạch tăng; - Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có 37.673 ha, tăng 1,31% so với cùng kỳ năm trước; hiện đã hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026, sản lượng thu hoạch ước đạt 94.193 tấn, tăng 5,65%. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao trong những tháng đầu năm 2026, đây là động lực giúp người nông dân tái đầu tư và chăm sóc vườn cây tốt hơn; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.851 ha, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 345.655 tấn, tăng 0,88%. “Đề án phát triển bền vững cây thanh long đến năm 2030” tạo định hướng rõ ràng phát triển cây thanh long theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm. Thanh long Lâm Đồng đã được Liên minh châu Âu EU bảo hộ chỉ dẫn địa lý và thương hiệu được bảo hộ tại nhiều quốc gia, xu hướng tiêu dùng nông sản sạch, truy xuất nguồn gốc tiếp tục mở ra cơ hội xuất khẩu; - Cây chè: Diện tích hiện có 9.184 ha, giảm 2,55% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 48.331 tấn, giảm 4,02%. Diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...; - Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.150 ha, tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 147.790 tấn, tăng 4,46%. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Nguồn nước phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân 2025 - 2026, vụ Hè Thu năm 2026 và nhu cầu dân sinh được theo dõi, điều tiết thường xuyên. Đến ngày 02/6/2026, tổng diện tích được cấp nước tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện đạt 34.094 ha (đạt 30,8% diện tích sản xuất nông nghiệp). Công tác kiểm tra an toàn hồ, đập, cảnh báo vùng hạ du và xử lý nguy cơ sạt lở được tăng cường, góp phần giảm rủi ro trong mùa mưa. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong 6 tháng đầu năm 2026, dịch bệnh trên cây trồng nhìn chung được kiểm soát, song vẫn xuất hiện cục bộ trên một số cây trồng chủ lực: Sầu riêng, bệnh xì mủ, thối rể gây hại 2.164 ha (108 ha nhiễm nặng); Điều, bọ xít muỗi gây hại 3.931 ha, bệnh thán thư gây hại 3.043 ha; Dâu tằm, bệnh tuyến trùng gây hại 119 ha; Cà phê chè, bọ xít muỗi gây hại 2.229 ha; Cà chua, sâu đục lá Nam Mỹ gây hại 1,7 ha, bệnh xoăn lá virus gây hại 103 ha; Lúa, bệnh đạo ôn lá gây hại 465 ha, ốc bươu vàng gây hại 544 ha, sâu đục thân gây hại 245 ha; Thanh long, bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha, bệnh thán thư cành, quả gây hại 208 ha, ốc sên gây hại 156 ha. 2. Chăn nuôi Chăn nuôi tiếp tục là điểm sáng của khu vực nông nghiệp. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với cùng kỳ, nguồn cung thịt, trứng, sữa cơ bản bảo đảm cho thị trường. Sản lượng thịt hơi các loại tháng 6 ước đạt 23.525,1 tấn, tăng 11,96%; quý II đạt 92.044,9 tấn, tăng 9,54%; lũy kế 6 tháng đạt 185.269 tấn, tăng 9,69%. Kết quả này chủ yếu nhờ chăn nuôi trang trại, liên kết với doanh nghiệp và công tác phòng, chống dịch bệnh được chú trọng. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,5 nghìn con, tăng 0,28% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tương đối ổn định nhờ người dân tận dụng các vùng chăn thả và nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,4 nghìn con, tăng 2,87% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 31,0 nghìn con, tăng 0,58%). Quy mô đàn bò tiếp tục tăng nhờ công tác cải tạo giống, mở rộng diện tích đồng cỏ, tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp và duy trì các chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt đối với chăn nuôi bò sữa. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.541,5 nghìn con, tăng 5,43% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.259,4 nghìn con, tăng 5,48%). Quy mô đàn lợn tăng khá nhờ chăn nuôi trang trại phát triển, các mô hình liên kết sản xuất với doanh nghiệp tiếp tục được mở rộng, công tác phòng chống dịch bệnh được tăng cường và giá lợn hơi duy trì ở mức có lợi cho người chăn nuôi. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ lợn thịt của các doanh nghiệp chế biến, cơ sở giết mổ và thị trường trong nước tăng, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm chăn nuôi. Trước triển vọng thị trường thuận lợi, nhiều doanh nghiệp và trang trại đã chủ động tăng quy mô đàn, tái đàn và đầu tư mở rộng sản xuất, góp phần thúc đẩy tổng đàn lợn trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước (Công ty TNHH Việt Hoàng T&T tăng từ 7,07 nghìn con lên 23 nghìn con; Công ty TNHH Bách Minh tăng từ 4,1 nghìn con lên 6,57 nghìn con; Công ty TNHH Khang Thọ, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam - Chi nhánh Lâm Đồng, Công ty Chăn nuôi Duy Ngọc Đạ Huoai đều có quy mô đàn tăng từ 0,5 đến dưới 2,0 nghìn con so với cùng kỳ năm trước). - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 23.600 nghìn con, tăng 8,69% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.337 nghìn con, chiếm 69,22% trong tổng đàn gia cầm, tăng 8,46%). Quy mô đàn gia cầm tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, khả năng thích ứng linh hoạt với thị trường, cùng với việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh phát sinh tại 01 hộ trên địa bàn xã Đức An, đã tiêu hủy 800 con/43,33 tấn. Lũy kế từ 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 14.877 con lợn mắc bệnh với tổng trọng lượng 744,01 tấn; đến nay còn 03 xã có ổ dịch chưa qua 21 ngày. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả (đã phân bổ bổ sung 15.000 liều vắc xin phòng bệnh Cúm gia cầm cho xã Nam Ban để triển khai tiêm phòng, nâng cao khả năng miễn dịch cho đàn gia cầm). Các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi như: Dại, tai xanh, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, cúm gia cầm không xảy ra. Công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất, nhập tỉnh được duy trì thực hiện theo đúng quy định; công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y tiếp tục được tăng cường. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, diện tích trồng rừng ước đạt 2.221 ha, tăng 5,54% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.226 ha, tăng 5,2%; diện tích trồng cây phân tán ước đạt 5,6 triệu cây, tăng 3,36% so với cùng kỳ. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.705 m3, tăng 4,94% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 129.224 m3, tăng 5,02%, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 233.289 m3, tăng 3,89%. - Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 30.123 ste, tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 86.622 ste, tăng 1,84%; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 180.081 ste, tăng 1,98%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (từ 10/5/2026 - 10/6/2026) là 60 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 31 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 5,3 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 15 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 20 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 4,3 ha). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 (từ 10/12/2025 - 10/6/2026), tổng số vụ vi phạm là 300 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 136 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 22,7 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 42 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 34 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 5,9 ha). - Công tác phòng, chống cháy rừng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã triển khai thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô năm 2026, tập trung theo dõi và thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn các xã, phường; cập nhật kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát, xác định các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao trên địa bàn; tổ chức trực và canh gác tại các khu rừng có nguy cơ cháy rừng cao khi dự báo cháy rừng cấp III, IV, V. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 1,1 ha; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 02 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,1 ha. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,7 ha. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng tháng 6 ước đạt 487,8 ha, tăng 1,59% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.873,4 ha, tăng 1,43% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 2.581,6 ha, tăng 1,25%; diện tích nuôi tôm đạt 269,1 ha, tăng 3,46%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.305,3 tấn, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 395 tấn, tăng 10,92%); quý II/2026 ước đạt 6.934,1 tấn, giảm 0,16% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.160,7 tấn, tăng 6,23%); lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13.890 tấn, tăng 0,45% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 2.311,2 tấn, tăng 4,95%) - Khai thác thủy sản: Những tháng đầu năm, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền bám biển hoạt động khai thác ổn định; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho một số nghề như lưới kéo, vây rút chì, lưới rê, mành. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, đảo Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 25.660 tấn, tăng 3,04% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 25.560 tấn, tăng 2,84%); quý II/2026 ước đạt 66.843,5 tấn, tăng 3,1% (sản lượng khai thác biển đạt 66.578,5 tấn, tăng 2,92%); lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.113,5 tấn, tăng 3,29% (sản lượng khai thác biển đạt 119.700,2 tấn, tăng 3,19%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,8 tỷ post, tăng 32,06% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026 ước đạt 7,3 tỷ post, tăng 17,2%; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,2 tỷ post, tăng 10,01%. 5. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông vào sản xuất Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác đào tạo, tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ, khuyến nông tiếp tục được đẩy mạnh và mang lại hiệu quả tích cực (đã triển khai 12 lớp tập huấn); Công tác thông tin tuyên truyền khuyến nông tiếp tục được quan tâm thực hiện thường xuyên. Ngành chức năng tiếp tục theo dõi, thực hiện 07 mô hình chuyển tiếp từ năm 2025 và triển khai thực hiện 13 mô hình mới. Sản xuất an toàn bền vững tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh; diện tích sản xuất được chứng nhận an toàn bền vững ngày càng được mở rộng; đến nay, toàn tỉnh hiện có trên 154.375 ha được chứng nhận sản xuất an toàn bền vững (trong đó, diện tích VietGAP, GlobalGAP đạt 23.800 ha, diện tích hữu cơ đạt 4.075 ha, diện tích cà phê chứng nhận 4C, UTZ/Rainforest… đạt 126.500 ha). 6. Chương trình xây dựng nông thôn mới Trong 6 tháng đầu năm 2026, tập trung triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Tiếp tục theo dõi hoạt động kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác và hợp tác xã (HTX); Tập trung phát triển, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh; Công tác hỗ trợ HTX, đào tạo cán bộ, đặc biệt về kỹ năng thị trường và Luật HTX được chú trọng (đã tổ chức 01 lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, thành viên của các tổ chức kinh tế tập thể, HTX nông nghiệp). Toàn tỉnh hiện có 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp đang hoạt động theo Luật HTX năm 2023 với 45 HTX thành viên và 959 HTX nông nghiệp với 19.582 thành viên (trong đó 166 HTX ngừng hoạt động); có 1.290 Tổ hợp tác (các Tổ hợp tác hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi) và 1.448 trang trại (trong đó, có 1.410 trang trại đang hoạt động, 38 trang trại ngừng hoạt động). Hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh với 428 chuỗi liên kết, thu hút 47.590 hộ tham gia; diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85 nghìn ha, sản lượng khoảng 920 nghìn tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt 2.230 nghìn con, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Chương trình OCOP tiếp tục được triển khai hiệu quả với 936 sản phẩm còn hạn chứng nhận, trong đó có 88 sản phẩm 4 sao và 848 sản phẩm 3 sao, với 526 chủ thể tham gia. III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh ước tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 duy trì đà tăng trưởng khá. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương. Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp tỉnh. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 24,68% so với cùng kỳ năm trước, quý II/2026 tăng 24,87% so với quý trước và tăng 13,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,98%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 17,04%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,63%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,29%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,02%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 16,92%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,05%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 388.861 m3, giảm 1,21% so với tháng trước và tăng 7,46% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.226.079 m3, tăng 17,57% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.136.985 m3, tăng 19,15% so với cùng kỳ. Tăng mạnh so với cùng kỳ do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang chỉ đạo tập trung giải ngân vốn đầu tư công cũng như các hạng mục công trình xây dựng khác đang đầu tư tại tỉnh. - Các sản phẩm từ thuỷ sản: Ước trong tháng sản lượng ước đạt 2.205 tấn, tăng 2,31% so với tháng trước và tăng 27,90% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 6.192 tấn, tăng 12,56% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 12.183 tấn, tăng 19,12% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp tập trung sản xuất khi mùa khai thác thủy hải sản đang thuận lợi, chủ động nguồn hàng cho các tháng tiếp theo. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến: Trong tháng ước đạt 4.851 tấn, tăng 16,98% so với tháng trước và tăng 29,71% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 12.539 tấn, tăng 20,79% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 21.431 tấn, tăng 15,38% so với cùng kỳ, một số doanh nghiệp đã đưa được sản phẩm vào siêu thị và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua một số nước trong khu vực ASEAN. - Đồ uống các loại: Ước trong tháng đạt 21.440 nghìn lít, tăng 3,22% so với tháng trước và tăng 26,07% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 60.363 nghìn lít, tăng 18,92% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 124.131 nghìn lít, tăng 16,80% so với cùng kỳ, các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 850 nghìn đôi, tăng 12,38% so với tháng trước và tăng 146,69% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.242 nghìn đôi, tăng 29,52% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.799 nghìn đôi, tăng 29,21% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm và đến nay vẫn duy trì tốc độ tăng đáng kể. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 12.896 tấn tăng 9,20% so với tháng trước và tăng 1,77% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 30.586 tấn, giảm 2,75% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng ước đạt 65.614 tấn, tăng 20,65% so với cùng kỳ nguyên nhân do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng để chuẩn bị cho mùa vụ 2026. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Ước trong tháng 135,3 nghìn tấn, tăng 1,12% so với tháng trước và tăng 10,83%% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 388,1 nghìn tấn, tăng 5,24% so với cùng kỳ, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 789,9 nghìn tấn tăng 2,53% so với cùng kỳ. - Điện sản xuất: Trong tháng ước đạt 3.380 triệu kwh, giảm 0,79% so với tháng trước và tăng 26,54% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 10.341 triệu kwh, tăng 11,30% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng ước đạt 18.079 triệu kwh, tăng 5,26% so với cùng kỳ. - Điện thương phẩm: Trong tháng ước đạt 482 triệu kwh, giảm 4,27% so với tháng trước và tăng 16,21% so với cùng kỳ. Quý II/2026 ước đạt 1.526 triệu kwh tăng 13,96% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.016 triệu kwh, tăng 8,93% so với sùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,34% so với tháng trước và tăng 7,42% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 12,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,55%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,49%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,34%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 7,54% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 12,05%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 5,66%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,96%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,48%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,22%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,38%. Chỉ số sử dụng lao động tăng cho thấy các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất, nhất là trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, lao động trong khai khoáng và cung cấp nước, xử lý rác thải còn giảm; đồng thời kết quả khảo sát doanh nghiệp cho thấy khó tuyển dụng lao động theo yêu cầu vẫn là một trong những khó khăn đáng chú ý, cần được theo dõi trong thời gian tới. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 11,77% so với tháng trước và tăng 12,35% so với cùng kỳ; lũy kế quý II/2026 chỉ số tiêu thụ giảm 1,43% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 30,45%; sản xuất đồ uống tăng 28,25%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 36,73%; chế biến gỗ tăng 48,89%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 76,47%; in và sao chép bản ghi các loại tăng 26,13%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 11,15%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 17,99%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 8,63%; sản xuất kim loại tăng 3,08%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 88,93%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: ngành dệt giảm 5,73%; sản xuất trang phục giảm 45,18%... Chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng là tín hiệu tích cực, nhưng quý II vẫn giảm 1,43% so với cùng kỳ, phản ánh sức mua và đơn hàng chưa đồng đều giữa các ngành. Các ngành thực phẩm, đồ uống, da giày, gỗ, giấy, hóa chất, cao su - plastic tăng tiêu thụ; ngược lại, dệt và sản xuất trang phục còn giảm, cho thấy rủi ro thị trường đang chịu ảnh hưởng của những biến động chưa tích cực từ tình hình kinh tế thế giới. 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 14,52% so với tháng trước và giảm 21,4% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 23,29%; sản xuất đồ uống giảm 26,68%; dệt giảm 77,93%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 29,52%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 56,35%… Ngược lại những ngành tăng như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 54,23%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 9,66%. 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Sản xuất kinh doanh quý II/2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 32,14% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 21,43% đánh giá khó khăn hơn và 46,43% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi. Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước 12,5% có chiều hướng thuận lợi; 75% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 31,03% có chiều hướng thuận lợi; 45,69% có chiều hướng không thay đổi và 23,28% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 50% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 37,5% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý II/2026, có 50,94% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 26,42% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 35,85% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 7,55% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 22,64% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 5,66% cho rằng thiếu năng lượng; 33,96% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 28,3% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 20,75% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 20,75% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 9,43% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 20,75% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 3,77% lý do khác. 1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã thu hút được 06 dự án đầu tư (trong đó có 01 dự án nước ngoài và 05 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 258,66 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích đất thuê lại 5,18 ha. Các dự án thu hút mới chủ yếu tập trung tại KCN Lộc Sơn và KCN Phú Hội, gồm: Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina, vốn đăng ký 0,2 triệu USD, thuê lại 0,3 ha nhà xưởng tại KCN Lộc Sơn; Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam, vốn đăng ký 26 tỷ đồng, diện tích 0,3128 ha tại KCN Lộc Sơn; Kho Transimex Phú Hội, vốn đăng ký 98,658 tỷ đồng, diện tích 1,29 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV Nhựa Stroman Lâm Đồng, vốn đăng ký 40 tỷ đồng, diện tích 1,3879 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm, vốn đăng ký 14 tỷ đồng, diện tích 1,0887 ha tại KCN Phú Hội; và Nhà máy chế biến nông sản của Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà, vốn đăng ký 80 tỷ đồng, diện tích 1,0981 ha tại KCN Phú Hội. Lũy kế đến nay, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh có 244 dự án đầu tư, trong đó có 58 dự án FDI và 186 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 46.728,75 tỷ đồng và 515,132 triệu USD; diện tích đất đăng ký 727,11 ha, tỷ lệ lấp đầy chung đạt 53,88%. Hiện có 175 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Kết quả sản xuất kinh doanh lũy kế đến ngày 30/6/2026 ước đạt 16.520 tỷ đồng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 353,8 triệu USD; nộp ngân sách ước đạt 949,5 tỷ đồng. Về tình hình từng khu công nghiệp: - KCN Lộc Sơn thu hút được 58 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 48 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,8ha/132,6 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%; - KCN Phú Hội thu hút được 34 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 23 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%; - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%; - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%; - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,7 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%; - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,9 ha/276,9 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%; - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,4 ha/202,3 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%; - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,1 ha/210,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%; - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130,6 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%; - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,4 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%; - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Hoạt động xây dựng duy trì tăng trưởng, song tốc độ chưa thật sự bứt phá so với yêu cầu tăng trưởng cao. Các dự án hạ tầng giao thông, chỉnh trang đô thị, công trình phục vụ du lịch, dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục tạo khối lượng cho ngành; tuy nhiên, vướng mắc về mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, giá vật liệu và thủ tục dự án vẫn là những yếu tố làm chậm tiến độ thi công, nghiệm thu và thanh toán. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ngành xây dựng chia theo loại hình quý II/2026 ước đạt 16.492,3 tỷ đồng, tăng 14,87% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 63 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,38%), tăng 75,11% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 8.935,4 tỷ đồng (54,18%), tăng 16,04% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 176,3 tỷ đồng (1,07%), tăng 19,95% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 7.317,6 tỷ đồng (44,37%), tăng 13,03% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 28.653,6 tỷ đồng, tăng 13,68% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 120,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,42%), tăng 85,67% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 15.741,8 tỷ đồng (54,94%), tăng 14,40% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 352,0 tỷ đồng (1,23%), tăng 12,27% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 12.439,8 tỷ đồng (43,41%), tăng 12,27% so với cùng kỳ. Chia theo loại công trình, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý II/2026 công trình nhà ở đạt 6.578,8 tỷ đồng, tăng 11,55% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 3.476,3 tỷ đồng, tăng 12,52% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 4.400,3 tỷ đồng, tăng 15,69% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.036,9 tỷ đồng, tăng 29,99% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành loại công trình nhà ở đạt 11.554,8 tỷ đồng, tăng 10,92% so cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 5.952,9 tỷ đồng, tăng 11,54% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 7.425,7 tỷ đồng, tăng 13,88%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 3.720,2 tỷ đồng, tăng 26,92% so với cùng kỳ. Theo giá so sánh 2010, giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại hình ước quý II/2026 đạt 13.139,2 tỷ đồng, tăng 9,72% so cùng kỳ. Trong đó, công trình nhà ở đạt 5.167,2 tỷ đồng, tăng 5,88% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 2.730,4 tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ; Công trình kỹ thuật dân dụng 3.456,1 tỷ đồng, tăng 9,81% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 1.785,6 tỷ đồng, tăng 28,31% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh ước đạt 22.924,9 tỷ đồng, tăng 8,76% so với cùng kỳ. Trong đó, công trình nhà ở đạt 9.107,6 tỷ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 4.691,6 tỷ đồng, tăng 5,99% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 5.851,9 tỷ đồng, tăng 8,21% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 3.273,9 tỷ đồng, tăng 25,78% so với cùng kỳ. Kết quả khảo sát doanh nghiệp xây dựng cho thấy tâm lý thận trọng còn rõ nét. Quý II/2026 so với quý I/2026 có 14,5% doanh nghiệp nhận định thuận lợi hơn, 50,8% ổn định và 34,7% khó khăn hơn; chỉ số cân bằng chung là -20,2%. Dự báo quý III/2026, tỷ lệ doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn tăng lên 48%, chỉ số cân bằng chung giảm -35,3%, cho thấy ngành xây dựng cần được hỗ trợ mạnh hơn về mặt bằng, thủ tục, nguồn vật liệu và thanh toán khối lượng. 3. Đầu tư phát triển Đầu tư phát triển tiếp tục là kênh tạo động lực tăng trưởng quan trọng sau khi tỉnh mở rộng không gian phát triển. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá, cơ cấu vốn ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng chủ lực, tập trung vào công nghiệp chế biến, khai khoáng, năng lượng, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và hạ tầng. Tuy nhiên, tốc độ thực hiện một số dự án còn chậm, nhất là nhóm dự án liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và thủ tục đất đai. Trong 6 tháng đầu năm, công tác phân bổ và triển khai vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm, công trình khởi công mới được thực hiện khẩn trương. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện của các dự án còn chậm do vướng mắc trong chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa được xử lý dứt điểm. 3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 964,78 tỷ đồng, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 900,34 tỷ đồng, chiếm 93,32% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 2,11% so với cùng kỳ (trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách ước đạt 410,57 tỷ đồng, tăng 33,01% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 129,45 tỷ đồng, giảm 49,16% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài đạt 14,21 tỷ đồng, giảm 27,47% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết đạt 340,45 tỷ đồng, tăng 15,13% so với cùng kỳ; vốn khác đạt 5,66 tỷ đồng, tăng 79,54% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 64,44 tỷ đồng, chiếm 6,68% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,24% so với cùng kỳ. Quý II/2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.628,92 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.451,39 tỷ đồng, chiếm 93,25% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,90% so với cùng kỳ (trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.122,49 tỷ đồng, tăng 49,08% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 349,27 tỷ đồng, giảm 47,10% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài ước đạt 38,68 tỷ đồng, giảm 28,20% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 925,05 tỷ đồng, tăng 4,67% so với cùng kỳ; vốn khác ước đạt 15,90 tỷ đồng, tăng 85,92% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 177,53 tỷ đồng (chiếm 6,75% tổng số vốn trên địa bàn), tăng 4,77% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.539,56 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 4.233,71 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ, chiếm 93,26% tổng số vốn trên địa bàn (trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.956,99 tỷ đồng, tăng 24,47% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 605,25 tỷ đồng, giảm 46,71% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài ước đạt 68,05 tỷ đồng, giảm 28,28% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 1.576,63 tỷ đồng, tăng 26,42% so với cùng kỳ; vốn khác ước đạt 26,79 tỷ đồng, tăng 77,36% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 305,85 tỷ đồng, chiếm 6,74% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,24% so với cùng kỳ. 3.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn Vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục mở rộng, trong đó vốn ngoài nhà nước giữ vai trò dẫn dắt. Dòng vốn tập trung vào các dự án có khả năng tạo năng lực sản xuất và không gian phát triển mới như Thung lũng Đại dương, Điện phân nhôm Đắk Nông, Nam sông Đa Nhim, các khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2, cùng nhóm dự án chế biến, logistics và nông nghiệp công nghệ cao. Đây là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng trung hạn, nhưng cần tiếp tục theo dõi khả năng chuyển hóa thành khối lượng thực hiện trong năm 2026. Quý II/2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 29.527,20 tỷ đồng, tăng 31,68% so với quý I/2026 và tăng 15,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn nhà nước đạt 4.865,68 tỷ đồng (16,48%), tăng 7,54%; vốn ngoài nhà nước 23.599,76 tỷ đồng (79,69%), tăng 17,03% (vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 12.112,12 tỷ đồng, tăng 15,04%; vốn đầu tư của dân cư đạt 11.487,64 tỷ đồng, tăng 19,20%); vốn FDI đạt 1.061,77 tỷ đồng (3,6%), tăng 11,95%. Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất (22.423,98 tỷ đồng, tăng 16,66%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 13,75% (4.060,46 tỷ đồng, tăng 11,12%), ... Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư toàn xã hội đạt 51.950,24 tỷ đồng, tăng 14,38% so với cùng kỳ năm trước. Vốn nhà nước đạt 8.379,9 tỷ đồng (chiếm 16,13%), tăng 6,95%. Vốn ngoài nhà nước đạt 41.688,83 tỷ đồng (41,78%), tăng 16,16% tiếp tục giữ vai trò chủ lực, huy động hiệu quả nguồn xã hội hóa (vốn của tổ chức, doanh nghiệp đạt 21.705,37 tỷ đồng, tăng 15,15%; vốn của dân cư đạt 19.983,46 tỷ đồng, tăng 17,27%). Vốn FDI đạt 1.881,51 tỷ đồng (3,62%), tăng 11,21%, dòng vốn FDI có sự chọn lọc chiến lược, tập trung vào nông nghiệp công nghệ sinh học, chế biến sâu nông sản, logistics và du lịch sinh thái. Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất 77,1% (40.053,09 tỷ đồng, tăng 16,37%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 12,74% (6.616,59 tỷ đồng, tăng 7,11%), cùng các khoản mục mua sắm tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động và vốn khác đều tăng trưởng. Kết quả trên cho thấy dòng vốn đầu tư tiếp tục mở rộng, cơ cấu chuyển dịch tích cực, đóng góp quan trọng cho phát triển hạ tầng, công nghiệp chế biến chế tạo và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong tháng (từ ngày 15/5-14/6/2026) toàn tỉnh có 376 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 25% so với cùng kỳ năm trước; 48 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 24%; 106 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 6%; 96 doanh nghiệp giải thể, tăng 23%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 2.382 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 58,38% so với cùng kỳ; 556 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 10,76%; 1.191 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 2,03%; 491 doanh nghiệp giải thể, tăng 71,68% (tương ứng 205 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 11.965,5 tỷ đồng, tăng 34,63%. Bình quân một tháng số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao xấp sỉ 6 lần số doanh nghiệp rút lui (490 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại so với gần 82 doanh nghiệp rút lui). Điều này cho thấy niềm tin kinh doanh có cải thiện; tuy nhiên, số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh cũng phản ánh áp lực cạnh tranh, chi phí và khả năng chống chịu của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế. Về thu hút đầu tư (tính từ đầu năm đến ngày 18/6/2026), toàn tỉnh có 31 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 143.886,6 tỷ đồng; 28 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 18/6/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.950 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 916.601 tỷ đồng (trong đó: có 245 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.958 tỷ đồng). * Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm Trong 6 tháng đầu năm 2026, tiến độ triển khai các công trình trọng điểm, dự án đô thị, thương mại và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có nhiều chuyển biến tích cực nhờ sự quyết liệt trong tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục pháp lý. Tuy nhiên, một số dự án vẫn chậm tiến độ do công tác giải phóng mặt bằng kéo dài và tác động của giá nguyên vật liệu xây dựng tăng cao. Đối với các dự án hạ tầng giao thông chiến lược, tỉnh đang tập trung triển khai đồng bộ nhiều dự án quy mô lớn. Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành dài 124,13 km được chia thành 5 dự án thành phần; trong đó tỉnh phụ trách công tác xây dựng đường gom, cầu vượt và thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư với tổng kinh phí khoảng 1.000 tỷ đồng. Dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc dài khoảng 66 km và dự án cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương dài 73,6 km đang hoàn thiện các thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và tái định cư. Riêng dự án Bảo Lộc - Liên Khương còn gặp khó khăn do thủ tục chuyển đổi đất rừng, đất lúa và áp lực tăng giá vật liệu xây dựng. Các dự án giao thông quan trọng khác cũng được triển khai tích cực. Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh với chiều dài 156,5 km đang thực hiện công tác quản lý hiện trạng, khoanh vùng hành lang và chuẩn bị dữ liệu phục vụ công tác đo đạc, kiểm đếm. Dự án đường ven biển ĐT.719B đoạn Phan Thiết - Kê Gà đã hoàn thành khoảng 92% khối lượng, trong đó đoạn dài 17,8 km từ Quốc lộ 1 đến cầu Suối Nhum đã đưa vào khai thác. Dự án nâng cấp Quốc lộ 28B đạt 99% khối lượng giải phóng mặt bằng. Lĩnh vực hạ tầng hàng không ghi nhận những bước tiến quan trọng. Dự án Cảng hàng không Phan Thiết (hạng mục hàng không dân dụng) đã hoàn tất bàn giao toàn bộ mặt bằng sạch, sẵn sàng triển khai thi công. Dự án nâng cấp Cảng hàng không Liên Khương với tổng vốn đầu tư gần 5.000 tỷ đồng đang thực hiện công tác đo đạc, kiểm đếm trên 115 ha, đạt 33,8% khối lượng chuẩn bị mặt bằng. Các dự án thủy lợi tiếp tục được đẩy mạnh nhằm nâng cao năng lực cấp nước phục vụ sản xuất và dân sinh. Dự án hồ chứa nước KaZam đã hoàn thành 91% diện tích giải phóng mặt bằng và đạt khoảng 38% khối lượng xây lắp. Hồ chứa nước Ka Pét đạt 72% khối lượng kiểm đếm, bồi thường và tái định cư. Hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây đạt khoảng 62% giá trị xây dựng, trong khi hệ thống kênh mương hồ Đạ Sị đạt 51% khối lượng thực hiện. Dự án hồ Đắk Gang đã hoàn thành 84,5% diện tích bàn giao mặt bằng và đạt khoảng 28% khối lượng xây lắp. Trong lĩnh vực công nghiệp, Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông với tổng vốn đầu tư trên 28.000 tỷ đồng đã hoàn thành khoảng 82% khối lượng xây lắp và lắp đặt thiết bị. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1 đạt trên 85% công tác giải phóng mặt bằng và khoảng 25% khối lượng hạ tầng kỹ thuật giai đoạn 1. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 2 cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị đầu tư và đang triển khai các hạng mục kỹ thuật ban đầu. Khu công nghiệp Tân Đức đã hoàn thành trên 97% công tác giải phóng mặt bằng. Đối với các dự án phát triển đô thị, Khu đô thị mới Nam sông Đa Nhim quy mô 153,65 ha với tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 11.800 tỷ đồng hiện đang tập trung thực hiện công tác giải phóng mặt bằng. Dự án cải thiện môi trường đô thị tại khu vực Đắk Nông cũ đã triển khai đồng loạt các gói thầu xây lắp và đạt trên 75% giá trị hợp đồng. Nhìn chung, các dự án trọng điểm của tỉnh đang được triển khai theo hướng tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kết cấu hạ tầng, mở rộng không gian đô thị, thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tới. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh trong tháng, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Sức mua tăng, nguồn cung hàng hóa ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá bán trên thị trường tương đối ổn định, không xảy ra biến động khan hiếm làm tăng giá đột biến. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, nhiều hoạt động văn hoá, thể thao và nhiều lễ hội khác đã thu hút nhiều du khách. Dịch vụ lữ hành tiếp tục tăng cường; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hoá trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.324,4 tỷ đồng, tăng 3,51% so với tháng trước và tăng 23,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: uớc tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 10.305,5 tỷ đồng, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 20,99% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.938,4 tỷ đồng, tăng 14,46% so với tháng trước và tăng 38,03% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.080,6 tỷ đồng, tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 15,92% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 50.295,5 tỷ đồng, tăng 20,21% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 30.655,7 tỷ đồng, tăng 18,44% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 10.451,8 tỷ đồng, tăng 24,67% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 9.188,1 tỷ đồng, tăng 21,36% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 97.606,7 tỷ đồng, tăng 17,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 60.083,8 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 19.840 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Công tác quản lý thị trường được tăng cường, tập trung vào xăng dầu, gạo, vật liệu xây dựng, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và gian lận thương mại. Trong tháng, lực lượng chức năng kiểm tra 153 vụ, phát hiện 124 vụ vi phạm, xử lý 112 vụ với tổng số tiền xử phạt 864,5 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/6/2026, đã kiểm tra 798 vụ, phát hiện 741 vụ vi phạm, xử lý 720 vụ; số tiền xử phạt 5.741,4 triệu đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 2.013,4 triệu đồng. Kết quả này góp phần ổn định thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và môi trường kinh doanh lành mạnh. 2. Giá cả 2.1. Giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm chịu tác động đan xen: một mặt, nguồn cung hàng hóa cơ bản ổn định và điều hành giá xăng dầu góp phần hạn chế biến động đột biến; mặt khác, giá nhà ở, điện nước, vật liệu xây dựng, thực phẩm, giao thông và giáo dục tăng đã tạo áp lực lên mặt bằng giá chung. Vì vậy, kiểm soát giá, nhất là nhóm hàng thiết yếu và chi phí đầu vào, tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới. Trong tháng CPI giảm 0,19% so với tháng trước, tăng 0,60% so với tháng 12/2025 và tăng 4,01% so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm chủ yếu do nhóm giao thông giảm mạnh 4,51%, trong đó giá xăng giảm 10,05%, dầu diesel giảm 10,62% và dầu hỏa giảm 18,73% theo các kỳ điều hành giá nhiên liệu trong tháng. Bên cạnh đó, giá sách giáo khoa giảm 1,49% làm nhóm giáo dục giảm 0,09%. Tuy nhiên, nhiều nhóm hàng vẫn tăng giá như hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,62%, văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,77%, nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng tăng 0,15% do nhu cầu tiêu dùng mùa hè và chi phí đầu vào tăng. Bình quân quý II/2026, CPI tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu đến từ nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,33%, làm CPI chung tăng 1,31 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 9,39%, đóng góp 1,07 điểm phần trăm do giá nhiên liệu tăng 19,02% và giá dịch vụ vận tải hành khách tăng 37,1%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,76%, nhóm giáo dục tăng 7,20% do điều chỉnh học phí tại một số cơ sở giáo dục ngoài công lập. Trong khi đó, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,32%, góp phần kiềm chế đà tăng CPI nhờ các chương trình giảm giá thiết bị công nghệ và điện thoại di động. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng tác động lớn đến CPI gồm: nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,04%, làm CPI chung tăng 1,08 điểm phần trăm; thực phẩm tăng 4,58%, đóng góp 1,14 điểm phần trăm; giao thông tăng 5,38%, làm CPI tăng 0,61 điểm phần trăm; giáo dục tăng 7,18%, góp phần tăng 0,34 điểm phần trăm. Ngoài ra, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, đồ uống và thuốc lá tăng 3,3%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,49%. Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,27%, góp phần giảm áp lực tăn giá. Nhìn chung, mặt bằng giá 6 tháng đầu năm 2026 chịu tác động chủ yếu từ chi phí nguyên vật liệu đầu vào, giá nhiên liệu, giá nhà ở, vật liệu xây dựng và việc điều chỉnh học phí tại một số cơ sở giáo dục. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất  Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2026 tăng 5,93% so cùng kỳ năm trước và 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 5,59%; sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 7,21% và sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,76%. Chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước, trong đó tăng cao nhất là nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,47%; tiếp đến là nhóm sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 6,55%; nhóm sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng thấp 3,49%.  Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào dùng cho sản xuất quý II/2026 tăng 11,72% so với cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 1,93%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,85%; nguyên vật liệu khác tăng 14,61%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,29%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,33%; sản phẩm xây dựng tăng 6,9%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,47%. Tính bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 9,19% so cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 4,3%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,6%; nguyên vật liệu khác tăng 9,44%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 4,04%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,62%; sản phẩm xây dựng tăng 5,37%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,66%. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý II/2026 tăng 1,01% so với quý trước; tăng 3,9% so với quý cùng kỳ năm trước. Tính bình quân chỉ số giá 6 tháng đầu năm 2026 tăng 3,85% so với cùng kỳ năm năm trước, trong đó: nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 19,59% so với cùng kỳ năm trước (nhờ nhóm sản phẩm quặng kim loại và tinh quặng kim loại, nhóm nhóm sản phẩm khai khoáng khác); nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,95% (hầu hết sản phẩm đều tăng giá); nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,28% (do những tháng đầu năm công ty cổ phần thủy điện Trung Nam, Đăk R'tih áp dụng theo đơn giá điện mùa khô; bên cạnh đó sản lượng điện phát ra của công ty cổ phần thủy điện Đa Nhim - àm Thuận - Đa Mi cao hơn giá hợp đồng, tác động làm tăng chỉ số giá nhóm thủy điện; ngoài ra giá điện mặt trời biến động theo tỷ giá đồng Đô la Mỹ); nhóm nước tự nhiên khai thác, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,79% (do lượng nước tiêu thụ tăng tác động lên giá nước sản xuất; bên cạnh đó chi phí nhân công, giá nhiên liệu và chi phí vận hành tăng nên một số công ty điều chỉnh tăng giá dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu). 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, tỉnh Lâm Đồng sôi động với nhiều sự kiện văn hóa và thể thao quy mô lớn, nổi bật là Hội thao Quân sự, võ thuật và thể thao Công an nhân dân (từ ngày 17-24/6/2026) thu hút khoảng 1.500 vận động viên tham gia thi đấu các môn: bắn súng, võ thuật, vượt vật cản, bóng đá nam 7 người và Pickleball. Giải Thể thao học sinh phổ thông toàn quốc (từ ngày 20-30/6/2026); Chương trình kích cầu du lịch nội tỉnh diễn ra xuyên suốt trong tháng và kéo dài đến cuối năm 2026 hưởng ứng mùa du lịch hè, tỉnh triển khai chương trình “Người Lâm Đồng đi du lịch Lâm Đồng - Khám phá quê hương, kết nối yêu thương”, với nhiều chuỗi trải nghiệm, khám phá thiên nhiên, văn hóa và kết nối các vùng miền trên toàn tỉnh. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.166,7 nghìn lượt, tăng 11,25% so tháng trước và tăng 20,65% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 73,5 nghìn lượt, tăng 7,14% so với tháng trước và tăng 7,43% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.997,7 nghìn ngày khách, tăng 12,21% so với tháng trước và tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 115 nghìn lượt khách, tăng 10,36% so với tháng trước và tăng 34,66% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 369,5 nghìn ngày khách, tăng 11,97% so với tháng trước và tăng 40,98% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 lượt khách phục vụ đạt 6.138,6 nghìn lượt, tăng 17,03% so với quý cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 212,2 nghìn lượt, tăng 10,55 % so với quý cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 11.311,4 nghìn ngày khách, tăng 19,17% so với quý cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế quý II/2026 ước đạt 328,7 nghìn lượt khách, tăng 15,74% so với quý cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế phục vụ ước đạt 1.047,2 nghìn ngày khách, tăng 20,51% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 11.995 nghìn lượt, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 428 nghìn lượt, tăng 13,91% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 22.430 nghìn ngày khách, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 825 nghìn lượt, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.630 nghìn ngày khách, tăng 22,32% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 769 tỷ đồng, tăng 18,46% so với tháng trước và tăng 30,39% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.110 tỷ đồng, tăng 13,73% so với tháng trước và tăng 39,95% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 59,4 tỷ đồng, tăng 3,64% so với tháng trước và tăng 44,03% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 2.033,6 tỷ đồng, tăng 19,33% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 8.249,3 tỷ đồng, tăng 25,7% so với quý cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 168,8 tỷ đồng; tăng 44,7% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt gần 4.026 tỷ đồng, tăng 23,25% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 15.498 tỷ đồng, tăng 23,75% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 325 tỷ đồng, tăng 41,8% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.098,5 tỷ đồng, tăng 12,21% so với tháng trước và tăng 24,7% so với cùng kỳ. Quý II/2026 doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 17.264,2 tỷ đồng, tăng 19,92% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 33.310 tỷ đồng, tăng 22,15% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.080,6 tỷ đồng, tăng 0,38% so với tháng trước và tăng 15,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 726,4 tỷ đồng, tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 10,45% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 166,1 tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 6,03% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148,4 tỷ đồng, giảm 9,27% so với tháng trước và tăng 24,73% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 249,3 tỷ đồng, tăng 7,42% so với tháng trước và tăng 19,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.472,9 tỷ đồng, giảm 1,15% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 317,4 tỷ đồng, tăng 3,54% so với tháng trước và tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 9.172,9 tỷ đồng, tăng 21,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.137,9 tỷ đồng, tăng 13,23%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 497,3 tỷ đồng, tăng 8,06%; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 460,6 tỷ đồng, tăng 27,04%; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 720,3 tỷ đồng, tăng 14,71%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 4.444 tỷ đồng, tăng 30,23%; doanh thu dịch vụ khác đạt 927,9 tỷ đồng, tăng 13,24%; doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông ước đạt 191,2 tỷ đồng, tăng 11,27%; doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 640 tỷ đồng, tăng 11,64%. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 4.284,9 tỷ đồng, tăng 10,67%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 995,5 tỷ đồng, tăng 10,09%; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 892 tỷ đồng, tăng 21,51%; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.439,8 tỷ đồng, tăng 15,31%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 8.266,2 tỷ đồng, tăng 20,57%; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.804,5 tỷ đồng, tăng 10,36%. 5. Hoạt động vận tải Do nhu cầu đi lại của người dân và khách du lịch đến Đà Lạt, Phan Thiết và các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh tăng trong tháng đầu tiên của mùa hè; đồng thời hoạt động vận chuyển nông sản, vật liệu xây dựng và hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh diễn ra sôi động để phục vụ cho các công trình đang thi công. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông kết nối giữa Lâm Đồng với các tỉnh khu vực lân cận ngày càng thuận lợi, góp phần thúc đẩy hoạt động logistics, kho bãi và doanh thu ngành vận tải tăng so với cùng kỳ. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.274,7 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 27,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 ước đạt 3.669,4 tỷ đồng, tăng 25,25% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.168 nghìn HK, tăng 6,67% so với tháng trước và tăng 25,15% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 457.748,3 nghìn HK.Km, tăng 6,96% so với tháng trước và tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 lượt khách vận chuyển ước đạt 8.850,3 nghìn HK, tăng 19,19% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.277.743,4 nghìn HK.Km, tăng 20,08% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 17.098 nghìn HK, tăng 18,09% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 2.466.897 nghìn HK.Km, tăng 18,92% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.232,9 nghìn tấn, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 24,11% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 328.108,6 nghìn tấn.Km, tăng 5,10% so với tháng trước và tăng 24,51% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 khối lượng vận chuyển ước đạt 6.280 nghìn tấn, tăng 19,62% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 924.781,3 nghìn tấn.Km, tăng 20,27% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 12.274,5 nghìn tấn, tăng 17,30% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.806.168 nghìn tấn.Km, tăng 17,85% so với cùng kỳ năm trước - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.274,6 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 27,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 ước đạt 3.669,4 tỷ đồng, tăng 25,25% so với cùng quý năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.465 tỷ đồng, tăng 28,05% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.465 tỷ đồng, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 939,7 tỷ đồng, tăng 13,54% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 263,3 tỷ đồng, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt đạt 91,4 nghìn tấn trong đó xuất cảng 81,4 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 10 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.373 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.250 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 123 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước quý II/2026 đạt 7.446,7 tỷ đồng, bằng 21,63% kế hoạch năm và giảm 6,91% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 18.623,9 tỷ đồng bằng 54,08% kế hoạch năm và tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 17.320,4 tỷ đồng, bằng 53,01% kế hoạch năm và tăng 8,71%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.303,5 tỷ đồng, bằng 74,06% kế hoạch năm và tăng 55,69% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa trong 6 tháng đầu năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 2.490 tỷ đồng (bằng 65,46% kế hoạch năm và tăng 6,57% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 873 tỷ đồng (bằng 63,27% kế hoạch năm và tăng 11,10%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 4.856 tỷ đồng (bằng 72,61% kế hoạch năm và tăng 53,37%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 1.600 tỷ đồng (bằng 58,61% kế hoạch năm và tăng 0,34%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 2.220 tỷ đồng (bằng 30,10% kế hoạch năm và giảm 17,39%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 3.087 tỷ đồng (bằng 53,22% kế hoạch năm và tăng 9,89%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước quý II/2026 đạt 11.826,7 tỷ đồng, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 25.309,5 tỷ đồng (bằng 51,87% kế hoạch, tăng 0,36% so với cùng kỳ), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 9.051,8 tỷ đồng, giảm 2,91% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 16.138,6 tỷ đồng, tăng 0,40% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động tín dụng Tính đến 31/5/2026, công tác huy động vốn của các TCTD (Tổ chức tín dụng) trên địa bàn tỉnh đạt 240.469 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 11.193 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4,88%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 237.670 tỷ đồng (chiếm 98,84% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.799 tỷ đồng, (chiếm 1,16% tổng huy động vốn). Ước đến 30/6/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 243.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 13.728 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 5,99%. Hoạt động tín dụng: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 374.447 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.463 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,93%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 371.780 tỷ đồng (chiếm 99,29% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.667 tỷ đồng (chiếm 0,71% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 264.635 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 109.812 tỷ đồng. Ước đến 30/6/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 382.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 11.016 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,97%. Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của NHTM trong tỉnh ở mức 0,18% - 0,40%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,31% - 4,74%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 7,22% -8,01%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 7,43% - 7,92%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay mới ở mức 9% - 10,51%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,17% - 4,52%/năm. Dư nợ cho vay: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 184.967 tỷ đồng, chiếm 49,4% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.253 tỷ đồng, chiếm 8,61% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 157.227 tỷ đồng, chiếm 41,99% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.759 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Tập trung thực hiện công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: tuyên truyền cổ động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026; tuyên truyền chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026); tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền, phát động Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng; kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Đà Lạt (03/4/1975 - 03/4/2026), Ngày giải phóng Phan Thiết (19/4/1975 - 19/4/2026); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch); Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026); 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); kỷ niệm 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026),… đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh.- Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: chương trình bắn pháo hoa nổ tầm thấp đón giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; chương trình văn nghệ phục vụ cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031; các hoạt động văn nghệ kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886-01/5/2026); kỷ niệm 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026),... Ngoài ra, đến nay đã tổ chức 69 buổi biểu diễn phục vụ chính trị, biểu diễn doanh thu với số tiền 433.657.200 đồng; xây dựng mới 11 chương trình nghệ thuật; tổ chức 05 đợt phim, 01 tuần phim, 96 buổi biểu diễn văn nghệ, 505 buổi chiếu phim, 05 buổi triển lãm tranh lưu động, 40 buổi tuyên truyền xe loa và 01 vở kịch tuyên truyền phục vụ cơ sở. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng:+ Bảo tàng tỉnh: Trong tháng đón 13.900 lượt khách, trong đó có 656 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 2.642 lượt; di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.778 lượt; di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 221 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 6.392 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 867 lượt). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã đón 160.323 lượt khách, trong đó có 13.721 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 43.717 lượt; di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 31.050 lượt; di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 6.528 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 71.227 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 7.801 lượt). Ngoài ra đã tổ chức tổ chức 12 cuộc triển lãm chuyên đề và lưu động; đồng thời tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng tại các tuyến, điểm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông và chuẩn bị các điều kiện tham dự Hội thảo mạng lưới Công viên địa chất Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 9 năm 2026 (APGN 2026) của Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Langkawi, Malaysia. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Trong tháng tiếp đón 11.230 lượt khách đến tham quan; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã tiếp đón 66.476 lượt khách (trong đó có 237 khách quốc tế). Ngoài ra đã thực hiện 08 phóng sự chuyên đề; chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh; trưng bày triển lãm 95 hình ảnh với chuyên đề: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc”; trưng bày triển lãm 130 ảnh chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh với những chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng với tên gọi “Dục Thanh nhớ Bác”,... và tổ chức nhiều hoạt động văn hóa phục vụ người dân, du khách. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 1.367 lượt khách; luỹ kế 6 tháng đầu năm 2026 đã đón 12.657 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 133 thẻ (19 thẻ thiếu nhi), phục vụ 126.257 lượt bạn đọc, luân chuyển 67.568 lượt tài liệu, trưng bày 1.647 bản sách. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, đã cấp mới và gia hạn 5.590 thẻ (4.225 thẻ thiếu nhi), phục vụ 1.397.901 lượt bạn đọc, luân chuyển 442.082 lượt tài liệu, trưng bày 143.073 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức và phối hợp tổ chức: Giải Pickleball tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; giải chạy bộ “Vietnam Highlands Trail - Lâm Đồng”; giải chạy Chinh phục thử thách lần thứ 3 “Prenn Trail Summit”; giải đua thuyền truyền thống Phan Thiết mở rộng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; giải Võ thuật Cổ truyền tỉnh Lâm Đồng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; lễ phát động đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; tháng hoạt động thể dục, thể thao cho mọi người và “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân - Vì an ninh Tổ quốc” năm 2026; lễ hội các môn thể thao địa hình phối hợp Di Linh năm 2026 “Di Linh out door festival 2026”; giải Việt Nam FesTrival 3 môn phối hợp Lâm Đồng năm 2026; giải Siêu Marathon Đà Lạt ULtra Trail 2026; lễ khai mạc hè, phát động bơi an toàn phòng, chống đuối nước năm 2026; lớp tập huấn bơi an toàn, phòng, chống đuối nước trẻ em trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2026 (KV1); hội thi bơi, cứu đuối tỉnh Lâm Đồng năm 2026; giải cúp các CLB Yoga tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026; giải chạy “Dalat Music Night Run 2026”. - Thể thao thành tích cao: Trong 6 tháng đầu năm, tỉnh đã cử 778 vận động viên tham gia 44 giải thể thao quốc gia, quốc tế. Kết quả đã đạt được 254 huy chương (45 HCV, 70 HCB, 139 HCĐ); trong đó có 01 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 09 huy chương quốc tế (03 HCV, 1 HCB, 5 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Trong tháng tập trung triển khai công tác chuẩn bị tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, nhất là việc rà soát cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự phục vụ kỳ thi; xây dựng phương án bảo đảm an ninh, an toàn, phòng chống gian lận thi cử và các điều kiện phục vụ tổ chức kỳ thi trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên cập nhật các thông tin liên quan đến việc tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẵng. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, toàn tỉnh có 91 điểm thi được bố trí tại các xã, phường, đặc khu; toàn tỉnh có 1.845 phòng thi với 41.309 thí sinh đăng ký dự thi (trong đó có 39.594 thí sinh đang học lớp 12 tại các trường THPT, GDTX và 1.715 thí sinh tự do). Kỳ thi THPH năm 2026 (từ ngày 11-12/6/2026) được diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Theo kế hoạch, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ công bố điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào ngày 01/7/2026. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 526 cơ sở giáo dục mầm non với 10.662 nhóm, lớp và 155.054 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (289 trường đạt chuẩn quốc gia) với 10.382 lớp và 327.349 học sinh; 366 trường trung học cơ sở (234 trường đạt chuẩn quốc gia) với 6.238 lớp và 248.983 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (52 trường chuẩn quốc gia) với 2.876 lớp và 116.160 học sinh. Toàn tỉnh có 78 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN), gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó: 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm, nhất là phòng, chống dịch bệnh do vi rút Ebola; tiếp tục thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 174 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 05 ca so với tháng trước (169 ca) và giảm 99 ca so với cùng kỳ năm trước (273 ca), không có trường hợp tử vong. Lũy kế từ đầu năm đến 31/5/2026, toàn tỉnh có 1.155 ca mắc; ước 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.766 ca mắc. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 30 ổ dịch, Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã phát hiện xử lý 155 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 593 ca mắc, giảm 156 ca so với tháng trước và tăng 207 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 2.709 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 23 ca mắc, tăng 13 ca so với tháng trước và giảm 218 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 76 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.877 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.337 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.220 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.277 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.818 trẻ, mũi 2 cho 3.834 trẻ và mũi 3 cho 7.228 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.651 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 03 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân. Số bệnh nhân tăng thêm trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân chuyển về cư trú lại). Bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 186 bệnh nhân (05 bệnh nhân /100.000 dân); bệnh nhân lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 BN/100.000 dân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 09 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 03 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.827 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.790 người, tử vong 1.577 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 429.377 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.813 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 223.477 ngày, xét nghiệm cho 584.145 tiêu bản, chẩn đoán 130.951 hình ảnh và phẫu thuật 6.168 trường hợp. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 2.524.114 lượt người; 204.599 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.256.544 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,01 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 80,0%; ước xét nghiệm cho 3.318.303 tiêu bản; chẩn đoán 756.752 hình ảnh và phẫu thuật cho 32.742 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 119 cơ sở thực phầm, phát hiện 18 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 142,5 triệu đồng (trong đó: 02 đoàn kiểm tra tại 62 cơ sở theo kế hoạch kiểm tra liên ngành Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2026). Trong tháng không xảy ra ngộ độc thực phẩm; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (do ăn bánh mì tại phường Phan Thiết) làm 97 người mắc, không có tử vong. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tuyên truyền kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền chuỗi hoạt động “Chào mùa Du lịch hè năm 2026”,... đồng thời thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Đã ban hành Kế hoạch số 6842/KH-UBND ngày 14/5/2026 về thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên đại bàn tỉnh Lâm Đồng; đồng thời triển khai thuê phần mềm giám sát thông tin trên không gian mạng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã cấp 13 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 02 giấy phép tổ chức hội chợ triển lãm xuất bản phẩm. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu tiếp tục được quan tâm đầu tư, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy, qua đó góp phần nâng cao điều kiện sinh hoạt, học tập và chăm sóc sức khỏe người dân. - Kết quả giải ngân Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS: Tổng kế hoạch vốn giao thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2025, kéo dài sang năm 2026 thực hiện 1.140.892,89 triệu đồng (gồm: vốn đầu tư phát triển 725.335,61 triệu đồng và vốn sự nghiệp 415.557,28 triệu đồng); kết quả đến tháng 6/2026 đã giải ngân 871.158,59 triệu đồng, đạt 76,36% kế hoạch (trong đó: vốn đầu tư: 560.268,49 triệu đồng, vốn sự nghiệp: 290.890,1 triệu đồng). Hiện nay các xã và các đơn vị được giao chủ đầu tư đang khẩn trương triển khai thực hiện và giải ngân theo kế hoạch. - Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất cho vùng đồng bào DTTS và miền núi: Đã triển khai cho 991 hộ dân đăng ký nhu cầu hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất bắp lai, lúa nước năm 2026 với diện tích là 5.916,15 ha; tổ chức 12 lớp tập huấn, tư vấn kỹ thuật sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và quy trình thâm canh bắp lai, lúa nước cho hơn 800 lượt hộ dân; tiếp tục thực hiện cung ứng dịch vụ công ích sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định, gồm: vận chuyển và cung ứng 15 tấn lúa giống, 10 tấn bắp giống, 500 tấn phân bón; hỗ trợ tiêu thụ 3.500 tấn bắp lai thương phẩm và 10 tấn mủ cao su,… qua đó đảm bảo cung ứng giống, vật tư và các yếu tố đầu vào thiết yếu, góp phần giúp hộ đồng bào DTTS ổn định đời sống và phát triển sản xuất; từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế hộ, nâng cao thu nhập và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo được thực hiện hiệu quả; công tác giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện kịp thời, đúng quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và bộ thủ tục hành chính, qua đó đáp ứng nhu cầu chính đáng của các tổ chức, cá nhân theo các tôn giáo. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh chấp thuận thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc 25 trường hợp; chia tách tổ chức tôn giáo trực thuộc 01 trường hợp; chấp thuận các tổ chức tôn giáo bổ nhiệm 25 chức việc; mở 22 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo; sự cần thiết và quy mô xây dựng công trình tôn giáo trong khuôn viên 08 trường hợp; xác nhận tiếp nhận thông báo phong phẩm chức sắc 80 trường hợp của các tôn giáo; thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung 01; thuyên chuyển địa bàn hoạt động tôn giáo 27 chức sắc,… Nhìn chung, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt các quy định của pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa và phong tục, tập quán của đồng bào, địa phương, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy các giá trị văn hóa tôn giáo và ổn định đời sống tinh thần của người dân. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 324 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chuẩn bị kế hoạch triển khai các hoạt động kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026) và triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. Công tác chăm lo đời sống cho người có công cách mạng được thực hiện hiệu quả. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh tổ chức thăm, tặng quà tết theo Quyết định số 01/QĐ-CTN ngày 05/01/2026 của Chủ tịch nước 27.201 suất với tổng số tiền hơn 8,3 tỷ đồng; thăm tặng quà theo Nghị quyết số 92/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 của HĐND tỉnh Lâm Đồng 65.234 suất với tổng kinh phí hơn 83,8 tỷ đồng. Đã giải quyết cho 18.315 đối tượng hưởng trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng với tổng kinh phí gần 46,3 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay, tỉnh phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 đối tượng (47 căn xây mới, 40 căn sửa chữa); tổ chức 04 đợt điều dưỡng tập trung đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ tại Trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công Khánh Hòa, Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng với 425 lượt người; ban hành Quyết định điều dưỡng tại nhà đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với 3.745 người, tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng và giải quyết 1.875 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Thực hiện chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền cho đối tượng người có công với cách mạng 13.802 người với tổng kinh phí 182,24 tỷ đồng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết tháng 5 năm 2026, toàn tỉnh có 317.946 người tham gia BHXH, tăng 1,10% so với tháng trước; có 240.259 người tham gia BHTN, tăng 0,85%; số người tham gia BHYT là 3.110.300 người, tăng 1,17% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 91,81% dân số. Trong tháng đã giải quyết mới 10.864 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.248 người (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 213 người; trợ cấp 1 lần cho 2.600 người; chế độ ốm đau cho 6.172 người; chế độ thai sản cho 1.437 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 442 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.106 người và hỗ trợ học nghề cho 142 người). Lũy kế đến ngày 31/5/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 47.218 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 7.332 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 735 người; trợ cấp 1 lần cho 11.131 người; chế độ ốm đau cho 27.313 người; chế độ thai sản cho 6.270 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 1.769 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 6.967 người và hỗ trợ học nghề cho 365 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/5 - 14/6/2026) Trong tháng xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, tăng 13 vụ so với tháng trước và giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 40 người, tăng 13 người so với tháng trước và bằng cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 41 người, tăng 23 người so với tháng trước và giảm 14 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 345 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 89 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 223 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 230 người, giảm 121 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 26/5-23/6/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 vụ thiên tai do mưa kèm theo dông lốc; thiên tai đã làm 02 người bị thương, 06 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 02 căn nhà bị hư hỏng, 0,6 ha lúa mới gieo xạ bị vùi lấp, 03 tàu cá bị chìm, 01 trụ sở trường học tốc mái, 02 căn phòng làm việc (tại trụ sở UBND phường Hàm Thắng) bị tốc mái hoàn toàn và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 21,595 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ thiên tai làm 01 người chết, 02 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 11 căn nhà bị hư hỏng, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 0,6 ha lúa mới gieo xạ bị vùi lấp, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại là 29,5 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/5-15/6/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy nổ, giảm 07 vụ so với tháng trước và bằng so với cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 248,5 triệu đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 39 vụ cháy, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 02 người bị thương; có 30 vụ đã được thống kê thiệt hại với số tiền là 2.975 triệu đồng, 09 vụ đang thống kê thiệt hại. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra (tháng 6/2025 xảy ra 04 vụ vi phạm và xử phạt 600 triệu đồng). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 15 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 415,0 triệu đồng (6 tháng đầu năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phục hồi, duy trì tăng trưởng khá và có chuyển biến rõ hơn trong quý II. GRDP 6 tháng ước tăng 7,90% so với cùng kỳ, riêng quý II tăng 9,22%, cao hơn quý I, cho thấy tác động tích cực của các giải pháp chỉ đạo, điều hành. Nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ đỡ ổn định; công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch và vận tải đều tăng, tạo nền tảng quan trọng cho mục tiêu phát triển cả năm. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là khu vực giữ vai trò ổn định nền kinh tế. Diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng so với cùng kỳ; một số cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, rau, hoa duy trì quy mô sản xuất lớn; chăn nuôi phát triển khá, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng tăng 9,69%; sản lượng sữa tăng 25,96%. Sản xuất thủy sản tăng 2,99%; sản xuất tôm giống tăng 10,01%. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông, sản xuất an toàn bền vững, liên kết sản xuất và Chương trình OCOP tiếp tục được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng và khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng khá, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chủ yếu. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm tăng 9,60%. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ như đá các loại, thủy sản chế biến, rau quả chế biến, đồ uống, giày dép, phân bón, gạch xây dựng, bê tông trộn sẵn, điện thương phẩm. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm so với cùng kỳ, cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm có chuyển biến tích cực. Hoạt động xây dựng và đầu tư phát triển tiếp tục được thúc đẩy. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 14,38%; trong đó vốn ngoài nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ lực, tăng 16,16%. Một số dự án hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, đô thị, hàng không, thủy lợi và công nghiệp quy mô lớn tiếp tục được triển khai, tạo nền tảng cho tăng trưởng các quý tiếp theo và trung hạn. Thương mại, dịch vụ và du lịch tăng khá trong 6 tháng đầu năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng 17,33%. Hoạt động du lịch tiếp tục đóng vai trò động lực của khu vực dịch vụ, với tổng lượt khách phục vụ đạt gần 12 triệu lượt, tăng 18,08%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 22,15%. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng khá, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa, du lịch và sản xuất kinh doanh. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt kết quả tích cực, tổng thu 6 tháng đạt tăng 11,06% so với cùng kỳ; trong đó thu nội địa tăng 8,71%. Hoạt động tín dụng tiếp tục bảo đảm vốn cho nền kinh tế; huy động vốn đến cuối tháng 6 ước tăng 5,99% so với cuối năm 2025. Tình hình đăng ký doanh nghiệp có tín hiệu tích cực, 6 tháng đầu năm số doanh nghiệp thành lập mới tăng 58,38%; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 10,76%; số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao hơn nhiều so với số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, bảo tồn di sản được tổ chức, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và phục vụ đời sống tinh thần của Nhân dân. Công tác giáo dục tập trung hoàn thành nhiệm vụ năm học, chuẩn bị và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 an toàn, nghiêm túc. Ngành y tế chủ động giám sát, phòng chống dịch bệnh, duy trì công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Các chính sách đối với người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tiếp tục được triển khai, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đời sống dân cư. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm vẫn còn một số vấn đề cần chú ý. Tăng trưởng giữa các khu vực kinh tế chưa thật sự đồng đều. Một số ngành, lĩnh vực có quy mô lớn tuy duy trì mức tăng so với cùng kỳ nhưng tốc độ tăng chưa tương xứng với yêu cầu tăng trưởng cao của cả năm. Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi, nhiều sản phẩm chủ yếu tăng khá; tuy nhiên, mức tăng của một số sản phẩm còn thấp, chưa đồng đều giữa các nhóm ngành. Trong lĩnh vực xây dựng và đầu tư phát triển, giá trị sản xuất xây dựng và vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục tăng, song tiến độ thực hiện một số công trình, dự án trọng điểm còn phụ thuộc nhiều vào công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, thủ tục đầu tư và biến động giá nguyên vật liệu xây dựng. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 6 tháng đạt 22,57% kế hoạch năm, cho thấy khối lượng cần thực hiện trong các tháng cuối năm còn lớn. Trong lĩnh vực nông nghiệp, mặc dù sản xuất cơ bản ổn định, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro do dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, biến động giá vật tư đầu vào, chi phí vận chuyển và thời tiết bất thường. Một số cây trồng như điều, chè giảm diện tích hoặc sản lượng so với cùng kỳ; dịch tả lợn Châu Phi còn phát sinh tại một số địa bàn; tình hình vi phạm lâm luật, phá rừng và cháy rừng tăng so với cùng kỳ. Thiên tai, mưa dông, lốc, cháy nổ, tai nạn giao thông, bệnh tay chân miệng và một số dịch bệnh truyền nhiễm vẫn cần được theo dõi chặt chẽ, không để phát sinh thành điểm nóng ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

Thông cáo báo chí về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   2026/07/03 16:33

Tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, chi phí đầu vào chịu áp lực tăng, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục tập trung chỉ đạo phục hồi sản xuất, thúc đẩy đầu tư, thương mại, dịch vụ, du lịch và bảo đảm an sinh xã hội. Nhìn chung, kinh tế - xã hội duy trì đà tăng trưởng khá; quý II có chuyển biến tích cực hơn quý I, song một số lĩnh vực vẫn tăng chưa tương xứng với kịch bản điều hành, nhất là xây dựng, một số sản phẩm công nghiệp, vận tải hành khách, thu nhà đất và tiến độ chuyển hóa vốn đầu tư thành khối lượng thực hiện. Tình hình cụ thể như sau: I. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý II/2026 tăng trưởng tích cực, ước tăng 9,22% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 6 tháng đầu năm 2026, GRDP tăng 7,90%. Kết quả này cho thấy đà phục hồi và phát triển của nền kinh tế tiếp tục được củng cố, trong đó cả ba khu vực kinh tế đều duy trì mức tăng khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,05%, đóng góp 1,18 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,43%, đóng góp 2,30 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,17%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp 4,00 điểm phần trăm. Đối với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản xuất nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng, duy trì tăng trưởng ổn định trong bối cảnh còn chịu tác động của thời tiết, thị trường và dịch bệnh. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,15% so với cùng kỳ, đóng góp 1,00 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành lâm nghiệp tăng 4,54%, tuy nhiên do chiếm tỷ trọng thấp nên đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,49%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng khá, trong đó công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,81% so với cùng kỳ, đóng góp 1,72 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Đáng chú ý, công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao, lần lượt đạt 17,67% và 16,76%, đóng góp tương ứng 0,10 và 0,98 điểm phần trăm. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,09%, đóng góp 0,62 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,58%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ tiếp tục phục hồi mạnh trong 6 tháng đầu năm 2026. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ tăng 9,17% so với cùng kỳ, nhờ hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ tiêu dùng tiếp tục khởi sắc. Trong đó, ngành bán buôn và bán lẻ tăng 11,34%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm; vận tải, kho bãi tăng 14,81%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 13,40%, đóng góp 0,93 điểm phần trăm; thông tin và truyền thông tăng 7,35%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm. Một số ngành dịch vụ khác cũng đạt mức tăng khá góp phần củng cố xu hướng phục hồi và mở rộng của khu vực dịch vụ. II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò ổn định của nền kinh tế. Trồng trọt duy trì nhịp tăng nhờ thời tiết cơ bản thuận lợi, nguồn nước phục vụ sản xuất được bảo đảm; chăn nuôi tăng khá, nhất là lợn và gia cầm; thủy sản khai thác và sản xuất tôm giống tiếp tục phát huy lợi thế. Tuy nhiên, khu vực này vẫn chịu sức ép từ chi phí vật tư, nhiên liệu, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi và biến động giá một số nông sản chủ lực. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm - Kết quả sản xuất vụ Đông xuân: Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 106.482 ha, tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cây lương thực ước đạt 61.950 ha, tăng 1,02% (lúa diện tích ước đạt 55.400 ha, tăng 0,16%, năng suất ước đạt 66,79 tạ/ha, tăng 0,65 tạ/ha; sản lượng ước đạt 370.000 tấn, tăng 1,14%; ngô diện tích ước đạt 6.550 ha, tăng 9,0%, năng suất ước đạt 74,81 tạ/ha, tăng 2,14 tạ/ha; sản lượng ước đạt 49.000 tấn, tăng 12,21%). Đã chuyển đổi 3.987,6 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng các cây ngắn ngày khác góp phần nâng hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm nước tưới và hạn chế sâu bệnh. - Tiến độ sản xuất vụ hè thu: Mùa mưa đến sớm, lượng mưa phân bổ tương đối đều tạo điều kiện để nông dân xuống giống sớm. Ước đến ngày 15/6/2025 toàn tỉnh xuống giống vụ Hè thu đạt 45.501 ha, tăng 6,65% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lúa diện tích đạt 9.495 ha, tăng 3,14%; ngô diện tích đạt 8.830 ha, giảm 1,84%). 1.2. Cây lâu năm Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 635.258 ha, tăng 0,54% so với cùng kỳ. Cơ cấu cây lâu năm tiếp tục dịch chuyển theo hướng nâng tỷ trọng cây có giá trị kinh tế cao như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, dâu tằm; trong khi một số cây hiệu quả thấp hoặc già cỗi như điều, chè tiếp tục giảm diện tích. Một số cây chủ lực có diễn biến như sau: - Cây cà phê: Diện tích hiện có 329.488 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tỉa cành, làm cỏ,...; - Cây cao su: Diện tích hiện ước đạt 75.375 ha, tăng 2,94%; - Cây điều: Diện tích ước đạt 45.715 ha, giảm 7,6%. Diện tích điều tiếp tục có xu hướng giảm so với cùng kỳ do người dân chuyển sang trồng mới các loại cây có hiệu quả kinh tế vượt trội hơn như cà phê, sầu riêng, chanh leo, dâu tằm,…; - Cây sầu riêng: Diện tích ước đạt 44.246 ha, tăng 4,25%; sản lượng tăng cao so với cùng kỳ do diện tích cho thu hoạch tăng; - Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có 37.673 ha, tăng 1,31% so với cùng kỳ năm trước; hiện đã hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026, sản lượng thu hoạch ước đạt 94.193 tấn, tăng 5,65%. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao trong những tháng đầu năm 2026, đây là động lực giúp người nông dân tái đầu tư và chăm sóc vườn cây tốt hơn; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.851 ha, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 345.655 tấn, tăng 0,88%. “Đề án phát triển bền vững cây thanh long đến năm 2030” tạo định hướng rõ ràng phát triển cây thanh long theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm. Thanh long Lâm Đồng đã được Liên minh châu Âu EU bảo hộ chỉ dẫn địa lý và thương hiệu được bảo hộ tại nhiều quốc gia, xu hướng tiêu dùng nông sản sạch, truy xuất nguồn gốc tiếp tục mở ra cơ hội xuất khẩu; - Cây chè: Diện tích hiện ước đạt 48.331 tấn, giảm 4,02%. Diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...; - Cây dâu tằm: Diện tích hiện ước đạt 147.790 tấn, tăng 4,46%. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. 2. Chăn nuôi Chăn nuôi tiếp tục là điểm sáng của khu vực nông nghiệp. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với cùng kỳ, nguồn cung thịt, trứng, sữa cơ bản bảo đảm cho thị trường. Sản lượng thịt hơi các loại tháng 6 ước đạt 23.525,1 tấn, tăng 11,96%; quý II đạt 92.044,9 tấn, tăng 9,54%; lũy kế 6 tháng đạt 185.269 tấn, tăng 9,69%. Kết quả này chủ yếu nhờ chăn nuôi trang trại, liên kết với doanh nghiệp và công tác phòng, chống dịch bệnh được chú trọng. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,5 nghìn con, tăng 0,28% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tương đối ổn định nhờ người dân tận dụng các vùng chăn thả và nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,4 nghìn con, tăng 2,87% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 31,0 nghìn con, tăng 0,58%). Quy mô đàn bò tiếp tục tăng nhờ công tác cải tạo giống, mở rộng diện tích đồng cỏ, tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp và duy trì các chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt đối với chăn nuôi bò sữa. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.541,5 nghìn con, tăng 5,43% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.259,4 nghìn con, tăng 5,48%). Quy mô đàn lợn tăng khá nhờ chăn nuôi trang trại phát triển, các mô hình liên kết sản xuất với doanh nghiệp tiếp tục được mở rộng, công tác phòng chống dịch bệnh được tăng cường và giá lợn hơi duy trì ở mức có lợi cho người chăn nuôi. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ lợn thịt của các doanh nghiệp chế biến, cơ sở giết mổ và thị trường trong nước tăng, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm chăn nuôi. Trước triển vọng thị trường thuận lợi, nhiều doanh nghiệp và trang trại đã chủ động tăng quy mô đàn, tái đàn và đầu tư mở rộng sản xuất, góp phần thúc đẩy tổng đàn lợn trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước (Công ty TNHH Việt Hoàng T&T tăng từ 7,07 nghìn con lên 23 nghìn con; Công ty TNHH Bách Minh tăng từ 4,1 nghìn con lên 6,57 nghìn con; Công ty TNHH Khang Thọ, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam - Chi nhánh Lâm Đồng, Công ty Chăn nuôi Duy Ngọc Đạ Huoai đều có quy mô đàn tăng từ 0,5 đến dưới 2,0 nghìn con so với cùng kỳ năm trước). - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 23.600 nghìn con, tăng 8,69% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.337 nghìn con, chiếm 69,22% trong tổng đàn gia cầm, tăng 8,46%). Quy mô đàn gia cầm tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, khả năng thích ứng linh hoạt với thị trường, cùng với việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong 6 tháng đầu năm 2026 diện tích trồng rừng ước đạt 4.226 ha, tăng 5,2%; diện tích trồng cây phân tán ước đạt 5,6 triệu cây, tăng 3,36% so với cùng kỳ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 233.289 m3, tăng 3,89%; sản lượng củi khai thác đạt 180.081 ste, tăng 1,98%. Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong 6 tháng đầu năm 2026 (tính đến ngày 10/6/2026) là 300 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 136 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 22,7 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 42 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 34 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 5,9 ha). Công tác phòng, chống cháy rừng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã triển khai thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô năm 2026, tập trung theo dõi và thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn các xã, phường; cập nhật kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát, xác định các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao trên địa bàn; tổ chức trực và canh gác tại các khu rừng có nguy cơ cháy rừng cao khi dự báo cháy rừng cấp III, IV, V. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,7 ha.. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.873,4 ha, tăng 1,43% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 2.581,6 ha, tăng 1,25%; diện tích nuôi tôm đạt 269,1 ha, tăng 3,46%). Sản lượng nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13.890 tấn, tăng 0,45% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 2.311,2 tấn, tăng 4,95%) - Khai thác thủy sản: Những tháng đầu năm, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền bám biển hoạt động khai thác ổn định; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho một số nghề như lưới kéo, vây rút chì, lưới rê, mành. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, đảo Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.113,5 tấn, tăng 3,29% (sản lượng khai thác biển đạt 119.700,2 tấn, tăng 3,19%). Sản xuất giống thủy sản: Trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,2 tỷ post, tăng 10,01%. 5. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông vào sản xuất Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác đào tạo, tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ, khuyến nông tiếp tục được đẩy mạnh và mang lại hiệu quả tích cực; Công tác thông tin tuyên truyền khuyến nông tiếp tục được quan tâm thực hiện thường xuyên. Sản xuất an toàn bền vững tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh; diện tích sản xuất được chứng nhận an toàn bền vững ngày càng được mở rộng; đến nay, toàn tỉnh hiện có trên 154.375 ha được chứng nhận sản xuất an toàn bền vững (trong đó, diện tích VietGAP, GlobalGAP đạt 23.800 ha, diện tích hữu cơ đạt 4.075 ha, diện tích cà phê chứng nhận 4C, UTZ/Rainforest… đạt 126.500 ha). 6. Chương trình xây dựng nông thôn mới Trong 6 tháng đầu năm 2026, tập trung triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Toàn tỉnh hiện có 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp đang hoạt động theo Luật HTX năm 2023 với 45 HTX thành viên và 959 HTX nông nghiệp với 19.582 thành viên (trong đó 166 HTX ngừng hoạt động); có 1.290 Tổ hợp tác (các Tổ hợp tác hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi) và 1.448 trang trại (trong đó, có 1.410 trang trại đang hoạt động, 38 trang trại ngừng hoạt động). Hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh với 428 chuỗi liên kết, thu hút 47.590 hộ tham gia; diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85 nghìn ha, sản lượng khoảng 920 nghìn tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt 2.230 nghìn con, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Chương trình OCOP tiếp tục được triển khai hiệu quả với 936 sản phẩm còn hạn chứng nhận, trong đó có 88 sản phẩm 4 sao và 848 sản phẩm 3 sao, với 526 chủ thể tham gia. III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh ước tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 duy trì đà tăng trưởng khá. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương. Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp tỉnh. Sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,02%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 16,92%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,05%. * Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 6 tháng đầu năm 2026 - Sản phẩm đá xây dựng: ước đạt 2.136.985 m3, tăng 19,15% so với cùng kỳ. Tăng mạnh so với cùng kỳ do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang chỉ đạo tập trung giải ngân vốn đầu tư công cũng như các hạng mục công trình xây dựng khác đang đầu tư tại tỉnh. - Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: ước đạt 12.183 tấn, tăng 19,12% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp tập trung sản xuất khi mùa khai thác thủy hải sản đang thuận lợi, chủ động nguồn hàng cho các tháng tiếp theo. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: ước đạt 21.431 tấn, tăng 15,38% so với cùng kỳ, một số doanh nghiệp đã đưa được sản phẩm vào siêu thị và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua một số nước trong khu vực ASEAN. - Đồ uống các loại: ước đạt 124.131 nghìn lít, tăng 16,80% so với cùng kỳ, các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: ước đạt 3.799 nghìn đôi, tăng 29,21% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm và đến nay vẫn duy trì tốc độ tăng đáng kể. - Sản phẩm phân bón: ước đạt 65.614 tấn, tăng 20,65% so với cùng kỳ nguyên nhân do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng để chuẩn bị cho mùa vụ 2026. - Sản phẩm Ôxit nhôm: ước đạt 789,9 nghìn tấn tăng 2,53% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: ước đạt 18.079 triệu kwh, tăng 5,26% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: ước đạt 3.016 triệu kwh, tăng 8,93% so với sùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. * Chỉ số sử dụng lao động: Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,96%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,48%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,22%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,38%. Chỉ số sử dụng lao động tăng cho thấy các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất, nhất là trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, lao động trong khai khoáng và cung cấp nước, xử lý rác thải còn giảm; đồng thời kết quả khảo sát doanh nghiệp cho thấy khó tuyển dụng lao động theo yêu cầu vẫn là một trong những khó khăn đáng chú ý, cần được theo dõi trong thời gian tới. * Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 11,77% so với tháng trước và tăng 12,35% so với cùng kỳ; lũy kế quý II/2026 chỉ số tiêu thụ giảm 1,43% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 30,45%; sản xuất đồ uống tăng 28,25%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 36,73%; chế biến gỗ tăng 48,89%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 76,47%; in và sao chép bản ghi các loại tăng 26,13%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 11,15%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 17,99%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 8,63%; sản xuất kim loại tăng 3,08%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 88,93%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: ngành dệt giảm 5,73%; sản xuất trang phục giảm 45,18%... Chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng là tín hiệu tích cực, nhưng quý II vẫn giảm 1,43% so với cùng kỳ, phản ánh sức mua và đơn hàng chưa đồng đều giữa các ngành. Các ngành thực phẩm, đồ uống, da giày, gỗ, giấy, hóa chất, cao su - plastic tăng tiêu thụ; ngược lại, dệt và sản xuất trang phục còn giảm, cho thấy rủi ro thị trường đang chịu ảnh hưởng của những biến động chưa tích cực từ tình hình kinh tế thế giới. * Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 14,52% so với tháng trước và giảm 21,4% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 23,29%; sản xuất đồ uống giảm 26,68%; dệt giảm 77,93%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 29,52%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 56,35%… Ngược lại những ngành tăng như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 54,23%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 9,66%. * Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Sản xuất kinh doanh quý II/2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 32,14% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 21,43% đánh giá khó khăn hơn và 46,43% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi. Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước 12,5% có chiều hướng thuận lợi; 75% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 31,03% có chiều hướng thuận lợi; 45,69% có chiều hướng không thay đổi và 23,28% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 50% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 37,5% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý II/2026, có 50,94% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 26,42% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 35,85% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 7,55% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 22,64% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 5,66% cho rằng thiếu năng lượng; 33,96% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 28,3% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 20,75% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 20,75% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 9,43% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 20,75% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 3,77% lý do khác. * Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã thu hút được 06 dự án đầu tư (trong đó có 01 dự án nước ngoài và 05 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 258,66 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích đất thuê lại 5,18 ha. Các dự án thu hút mới chủ yếu tập trung tại KCN Lộc Sơn và KCN Phú Hội, gồm: Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina, vốn đăng ký 0,2 triệu USD, thuê lại 0,3 ha nhà xưởng tại KCN Lộc Sơn; Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam, vốn đăng ký 26 tỷ đồng, diện tích 0,3128 ha tại KCN Lộc Sơn; Kho Transimex Phú Hội, vốn đăng ký 98,658 tỷ đồng, diện tích 1,29 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV Nhựa Stroman Lâm Đồng, vốn đăng ký 40 tỷ đồng, diện tích 1,3879 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm, vốn đăng ký 14 tỷ đồng, diện tích 1,0887 ha tại KCN Phú Hội; và Nhà máy chế biến nông sản của Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà, vốn đăng ký 80 tỷ đồng, diện tích 1,0981 ha tại KCN Phú Hội. Lũy kế đến nay, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh có 244 dự án đầu tư, trong đó có 58 dự án FDI và 186 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 46.728,75 tỷ đồng và 515,132 triệu USD; diện tích đất đăng ký 727,11 ha, tỷ lệ lấp đầy chung đạt 53,88%. Hiện có 175 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Kết quả sản xuất kinh doanh lũy kế đến ngày 30/6/2026 ước đạt 16.520 tỷ đồng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 353,8 triệu USD; nộp ngân sách ước đạt 949,5 tỷ đồng. 2. Xây dựng Hoạt động xây dựng duy trì tăng trưởng, song tốc độ chưa thật sự bứt phá so với yêu cầu tăng trưởng cao. Các dự án hạ tầng giao thông, chỉnh trang đô thị, công trình phục vụ du lịch, dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục tạo khối lượng cho ngành; tuy nhiên, vướng mắc về mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, giá vật liệu và thủ tục dự án vẫn là những yếu tố làm chậm tiến độ thi công, nghiệm thu và thanh toán. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ngành xây dựng chia theo loại hình quý II/2026 ước đạt 16.492,3 tỷ đồng, tăng 14,87% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 63 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,38%), tăng 75,11% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 8.935,4 tỷ đồng (54,18%), tăng 16,04% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 176,3 tỷ đồng (1,07%), tăng 19,95% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 7.317,6 tỷ đồng (44,37%), tăng 13,03% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 28.653,6 tỷ đồng, tăng 13,68% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 120,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,42%), tăng 85,67% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 15.741,8 tỷ đồng (54,94%), tăng 14,40% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 352,0 tỷ đồng (1,23%), tăng 12,27% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 12.439,8 tỷ đồng (43,41%), tăng 12,27% so với cùng kỳ. Chia theo loại công trình, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý II/2026 công trình nhà ở đạt 6.578,8 tỷ đồng, tăng 11,55% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 3.476,3 tỷ đồng, tăng 12,52% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 4.400,3 tỷ đồng, tăng 15,69% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.036,9 tỷ đồng, tăng 29,99% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành loại công trình nhà ở đạt 11.554,8 tỷ đồng, tăng 10,92% so cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 5.952,9 tỷ đồng, tăng 11,54% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 7.425,7 tỷ đồng, tăng 13,88%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 3.720,2 tỷ đồng, tăng 26,92% so với cùng kỳ. Kết quả khảo sát doanh nghiệp xây dựng cho thấy tâm lý thận trọng còn rõ nét. Quý II/2026 so với quý I/2026 có 14,5% doanh nghiệp nhận định thuận lợi hơn, 50,8% ổn định và 34,7% khó khăn hơn; chỉ số cân bằng chung là -20,2%. Dự báo quý III/2026, tỷ lệ doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn tăng lên 48%, chỉ số cân bằng chung giảm -35,3%, cho thấy ngành xây dựng cần được hỗ trợ mạnh hơn về mặt bằng, thủ tục, nguồn vật liệu và thanh toán khối lượng. 3. Đầu tư phát triển Đầu tư phát triển tiếp tục là kênh tạo động lực tăng trưởng quan trọng sau khi tỉnh mở rộng không gian phát triển. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá, cơ cấu vốn ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng chủ lực, tập trung vào công nghiệp chế biến, khai khoáng, năng lượng, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và hạ tầng. Tuy nhiên, tốc độ thực hiện một số dự án còn chậm, nhất là nhóm dự án liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và thủ tục đất đai. Trong 6 tháng đầu năm, công tác phân bổ và triển khai vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm, công trình khởi công mới được thực hiện khẩn trương. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện của các dự án còn chậm do vướng mắc trong chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa được xử lý dứt điểm. 3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.539,56 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 4.233,71 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ, chiếm 93,26% tổng số vốn trên địa bàn (trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.956,99 tỷ đồng, tăng 24,47% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 605,25 tỷ đồng, giảm 46,71% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài ước đạt 68,05 tỷ đồng, giảm 28,28% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 1.576,63 tỷ đồng, tăng 26,42% so với cùng kỳ; vốn khác ước đạt 26,79 tỷ đồng, tăng 77,36% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 305,85 tỷ đồng, chiếm 6,74% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,24% so với cùng kỳ. 3.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn Vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục mở rộng, trong đó vốn ngoài nhà nước giữ vai trò dẫn dắt. Dòng vốn tập trung vào các dự án có khả năng tạo năng lực sản xuất và không gian phát triển mới như Thung lũng Đại dương, Điện phân nhôm Đắk Nông, Nam sông Đa Nhim, các khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2, cùng nhóm dự án chế biến, logistics và nông nghiệp công nghệ cao. Đây là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng trung hạn, nhưng cần tiếp tục theo dõi khả năng chuyển hóa thành khối lượng thực hiện trong năm 2026. Sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư toàn xã hội đạt 51.950,24 tỷ đồng, tăng 14,38% so với cùng kỳ năm trước. Vốn nhà nước đạt 8.379,9 tỷ đồng (chiếm 16,13%), tăng 6,95%. Vốn ngoài nhà nước đạt 41.688,83 tỷ đồng (41,78%), tăng 16,16% tiếp tục giữ vai trò chủ lực, huy động hiệu quả nguồn xã hội hóa (vốn của tổ chức, doanh nghiệp đạt 21.705,37 tỷ đồng, tăng 15,15%; vốn của dân cư đạt 19.983,46 tỷ đồng, tăng 17,27%). Vốn FDI đạt 1.881,51 tỷ đồng (3,62%), tăng 11,21%, dòng vốn FDI có sự chọn lọc chiến lược, tập trung vào nông nghiệp công nghệ sinh học, chế biến sâu nông sản, logistics và du lịch sinh thái. Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất 77,1% (40.053,09 tỷ đồng, tăng 16,37%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 12,74% (6.616,59 tỷ đồng, tăng 7,11%), cùng các khoản mục mua sắm tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động và vốn khác đều tăng trưởng. Kết quả trên cho thấy dòng vốn đầu tư tiếp tục mở rộng, cơ cấu chuyển dịch tích cực, đóng góp quan trọng cho phát triển hạ tầng, công nghiệp chế biến chế tạo và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 2.382 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 58,38% so với cùng kỳ; 556 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 10,76%; 1.191 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 2,03%; 491 doanh nghiệp giải thể, tăng 71,68% (tương ứng 205 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 11.965,5 tỷ đồng, tăng 34,63%. Bình quân một tháng số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao xấp sỉ 6 lần số doanh nghiệp rút lui (490 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại so với gần 82 doanh nghiệp rút lui). Điều này cho thấy niềm tin kinh doanh có cải thiện; tuy nhiên, số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh cũng phản ánh áp lực cạnh tranh, chi phí và khả năng chống chịu của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế. Về thu hút đầu tư (tính từ đầu năm đến ngày 18/6/2026), toàn tỉnh có 31 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 143.886,6 tỷ đồng; 28 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 18/6/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.950 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 916.601 tỷ đồng (trong đó: có 245 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.958 tỷ đồng). IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Sức mua tăng, nguồn cung hàng hóa ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá bán trên thị trường tương đối ổn định, không xảy ra biến động khan hiếm làm tăng giá đột biến. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, nhiều hoạt động văn hoá, thể thao và nhiều lễ hội khác đã thu hút nhiều du khách. Dịch vụ lữ hành tiếp tục tăng cường; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hoá trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Sáu tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 97.606,7 tỷ đồng, tăng 17,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 60.083,8 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 19.840 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. 2. 2. Giá cả 2.1. Giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm chịu tác động đan xen: một mặt, nguồn cung hàng hóa cơ bản ổn định và điều hành giá xăng dầu góp phần hạn chế biến động đột biến; mặt khác, giá nhà ở, điện nước, vật liệu xây dựng, thực phẩm, giao thông và giáo dục tăng đã tạo áp lực lên mặt bằng giá chung. Vì vậy, kiểm soát giá, nhất là nhóm hàng thiết yếu và chi phí đầu vào, tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới. Trong tháng CPI giảm 0,19% so với tháng trước, tăng 0,60% so với tháng 12/2025 và tăng 4,01% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý II/2026, CPI tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng tác động lớn đến CPI gồm: nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,04%, làm CPI chung tăng 1,08 điểm phần trăm; thực phẩm tăng 4,58%, đóng góp 1,14 điểm phần trăm; giao thông tăng 5,38%, làm CPI tăng 0,61 điểm phần trăm; giáo dục tăng 7,18%, góp phần tăng 0,34 điểm phần trăm. Ngoài ra, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, đồ uống và thuốc lá tăng 3,3%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,49%. Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,27%, góp phần giảm áp lực tăn giá. Nhìn chung, mặt bằng giá 6 tháng đầu năm 2026 chịu tác động chủ yếu từ chi phí nguyên vật liệu đầu vào, giá nhiên liệu, giá nhà ở, vật liệu xây dựng và việc điều chỉnh học phí tại một số cơ sở giáo dục. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất  Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2026 tăng 5,93% so cùng kỳ năm trước và 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 5,59%; sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 7,21% và sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,76%. Chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước, trong đó tăng cao nhất là nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,47%; tiếp đến là nhóm sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 6,55%; nhóm sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng thấp 3,49%.  Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào dùng cho sản xuất quý II/2026 tăng 11,72% so với cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 1,93%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,85%; nguyên vật liệu khác tăng 14,61%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,29%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,33%; sản phẩm xây dựng tăng 6,9%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,47%. Tính bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 9,19% so cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 4,3%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,6%; nguyên vật liệu khác tăng 9,44%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 4,04%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,62%; sản phẩm xây dựng tăng 5,37%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,66%. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý II/2026 tăng 1,01% so với quý trước; tăng 3,9% so với quý cùng kỳ năm trước. Tính bình quân chỉ số giá 6 tháng đầu năm 2026 tăng 3,85% so với cùng kỳ năm năm trước, trong đó: nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 19,59% so với cùng kỳ năm trước (nhờ nhóm sản phẩm quặng kim loại và tinh quặng kim loại, nhóm nhóm sản phẩm khai khoáng khác); nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,95% (hầu hết sản phẩm đều tăng giá); nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,28% (do những tháng đầu năm công ty cổ phần thủy điện Trung Nam, Đăk R'tih áp dụng theo đơn giá điện mùa khô; bên cạnh đó sản lượng điện phát ra của công ty cổ phần thủy điện Đa Nhim - àm Thuận - Đa Mi cao hơn giá hợp đồng, tác động làm tăng chỉ số giá nhóm thủy điện; ngoài ra giá điện mặt trời biến động theo tỷ giá đồng Đô la Mỹ); nhóm nước tự nhiên khai thác, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,79% (do lượng nước tiêu thụ tăng tác động lên giá nước sản xuất; bên cạnh đó chi phí nhân công, giá nhiên liệu và chi phí vận hành tăng nên một số công ty điều chỉnh tăng giá dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu). 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, tỉnh Lâm Đồng sôi động với nhiều sự kiện văn hóa và thể thao quy mô lớn, nổi bật là Hội thao Quân sự, võ thuật và thể thao Công an nhân dân (từ ngày 17-24/6/2026) thu hút khoảng 1.500 vận động viên tham gia thi đấu các môn: bắn súng, võ thuật, vượt vật cản, bóng đá nam 7 người và Pickleball. Giải Thể thao học sinh phổ thông toàn quốc (từ ngày 20-30/6/2026); Chương trình kích cầu du lịch nội tỉnh diễn ra xuyên suốt trong tháng và kéo dài đến cuối năm 2026 hưởng ứng mùa du lịch hè, tỉnh triển khai chương trình “Người Lâm Đồng đi du lịch Lâm Đồng - Khám phá quê hương, kết nối yêu thương”, với nhiều chuỗi trải nghiệm, khám phá thiên nhiên, văn hóa và kết nối các vùng miền trên toàn tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 11.995 nghìn lượt, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 428 nghìn lượt, tăng 13,91% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 22.430 nghìn ngày khách, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 825 nghìn lượt, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.630 nghìn ngày khách, tăng 22,32% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt gần 4.026 tỷ đồng, tăng 23,25% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 15.498 tỷ đồng, tăng 23,75% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 325 tỷ đồng, tăng 41,8% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 33.310 tỷ đồng, tăng 22,15% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong 6 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 4.284,9 tỷ đồng, tăng 10,67%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 995,5 tỷ đồng, tăng 10,09%; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 892 tỷ đồng, tăng 21,51%; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.439,8 tỷ đồng, tăng 15,31%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 8.266,2 tỷ đồng, tăng 20,57%; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.804,5 tỷ đồng, tăng 10,36%.   5. Hoạt động vận tải Do nhu cầu đi lại của người dân và khách du lịch đến Đà Lạt, Phan Thiết và các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh tăng trong tháng đầu tiên của mùa hè; đồng thời hoạt động vận chuyển nông sản, vật liệu xây dựng và hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh diễn ra sôi động để phục vụ cho các công trình đang thi công. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông kết nối giữa Lâm Đồng với các tỉnh khu vực lân cận ngày càng thuận lợi, góp phần thúc đẩy hoạt động logistics, kho bãi và doanh thu ngành vận tải tăng so với cùng kỳ. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.274,7 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 27,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 ước đạt 3.669,4 tỷ đồng, tăng 25,25% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong 6 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 17.098 nghìn HK, tăng 18,09% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 2.466.897 nghìn HK.Km, tăng 18,92% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong 6 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 12.274,5 nghìn tấn, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.806.168 nghìn tấn.Km, tăng 17,85% so với cùng kỳ năm trước - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.465 tỷ đồng, tăng 28,05% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.465 tỷ đồng, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 939,7 tỷ đồng, tăng 13,54% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 263,3 tỷ đồng, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.373 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.250 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 123 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 18.623,9 tỷ đồng bằng 54,08% kế hoạch năm và tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 17.320,4 tỷ đồng, bằng 53,01% kế hoạch năm và tăng 8,71%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.303,5 tỷ đồng, bằng 74,06% kế hoạch năm và tăng 55,69% so với cùng kỳ năm trước.   Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa trong 6 tháng đầu năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 2.490 tỷ đồng (bằng 65,46% kế hoạch năm và tăng 6,57% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 873 tỷ đồng (bằng 63,27% kế hoạch năm và tăng 11,10%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 4.856 tỷ đồng (bằng 72,61% kế hoạch năm và tăng 53,37%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 1.600 tỷ đồng (bằng 58,61% kế hoạch năm và tăng 0,34%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 2.220 tỷ đồng (bằng 30,10% kế hoạch năm và giảm 17,39%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 3.087 tỷ đồng (bằng 53,22% kế hoạch năm và tăng 9,89%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 25.309,5 tỷ đồng (bằng 51,87% kế hoạch, tăng 0,36% so với cùng kỳ), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 9.051,8 tỷ đồng, giảm 2,91% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 16.138,6 tỷ đồng, tăng 0,40% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động tín dụng Tính đến 31/5/2026, công tác huy động vốn của các TCTD (Tổ chức tín dụng) trên địa bàn tỉnh đạt 240.469 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 11.193 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4,88%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 237.670 tỷ đồng (chiếm 98,84% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.799 tỷ đồng, (chiếm 1,16% tổng huy động vốn). Ước đến 30/6/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 243.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 13.728 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 5,99%. Hoạt động tín dụng: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 374.447 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.463 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,93%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 371.780 tỷ đồng (chiếm 99,29% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.667 tỷ đồng (chiếm 0,71% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 264.635 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 109.812 tỷ đồng. Ước đến 30/6/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 382.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 11.016 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,97%. Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của NHTM trong tỉnh ở mức 0,18% - 0,40%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,31% - 4,74%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 7,22% -8,01%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 7,43% - 7,92%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay mới ở mức 9% - 10,51%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,17% - 4,52%/năm. Dư nợ cho vay: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 184.967 tỷ đồng, chiếm 49,4% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.253 tỷ đồng, chiếm 8,61% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 157.227 tỷ đồng, chiếm 41,99% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.759 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa Trong 6 tháng đầu năm 2026, các hoạt động tuyên truyền, cổ động, văn hóa, văn nghệ được triển khai đồng bộ, phục vụ hiệu quả các nhiệm vụ chính trị và các ngày lễ lớn của đất nước, địa phương; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân. Hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị di sản tiếp tục được quan tâm. 1.2. Hoạt động thể thao Trong 6 tháng đầu năm 2026, phong trào thể dục, thể thao quần chúng tiếp tục phát triển sôi nổi với nhiều giải đấu và sự kiện quy mô cấp tỉnh, khu vực được tổ chức Thể thao thành tích cao tiếp tục đạt nhiều kết quả tích cực. Trong 6 tháng đầu năm, tỉnh đã cử 778 vận động viên tham gia 44 giải thể thao cấp quốc gia và quốc tế, giành 254 huy chương, gồm 45 Huy chương Vàng, 70 Huy chương Bạc và 139 Huy chương Đồng; trong đó có 01 Huy chương Bạc tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 09 huy chương quốc tế (gồm 03 Huy chương Vàng, 01 Huy chương Bạc và 05 Huy chương Đồng). 2. Giáo dục và đào tạo Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành Giáo dục tập trung chuẩn bị và tổ chức Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 bảo đảm an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế; chủ động rà soát cơ sở vật chất, nhân sự, phương án bảo đảm an ninh, an toàn và phòng, chống gian lận thi cử. Toàn tỉnh bố trí 91 điểm thi với 1.845 phòng thi, có 41.309 thí sinh đăng ký dự thi, gồm 39.594 học sinh lớp 12 và 1.715 thí sinh tự do. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 526 cơ sở giáo dục mầm non với 155.054 trẻ; 564 trường tiểu học (289 trường đạt chuẩn quốc gia) với 327.349 học sinh; 366 trường trung học cơ sở (234 trường đạt chuẩn quốc gia) với 248.983 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (52 trường đạt chuẩn quốc gia) với 116.160 học sinh. Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp tiếp tục được duy trì với 78 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, gồm 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp, 28 trung tâm giáo dục nghề nghiệp, 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp và 11 cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác. Đồng thời, ngành tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số, phổ cập giáo dục, giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số, xây dựng trường chuẩn quốc gia, giáo dục STEM/STEAM, đổi mới quản trị trường học và triển khai tuyển sinh đầu cấp năm học 2026-2027. 3. Y tế Trong 6 tháng đầu năm 2026, ngành Y tế tiếp tục tăng cường giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các bệnh truyền nhiễm; chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là dịch bệnh do vi rút Ebola; đồng thời bảo đảm đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư y tế và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh phục vụ Nhân dân. Ước 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ghi nhận 1.766 ca sốt xuất huyết, đã xử lý 155 ổ dịch; 02 ca sốt rét; 2.709 ca tay chân miệng và 76 ca sởi. Công tác tiêm chủng mở rộng được duy trì với 3.877 trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ, 4.220 trẻ được tiêm vắc xin sởi - rubella (MR) và 3.651 phụ nữ mang thai được tiêm phòng uốn ván. Chương trình phòng, chống bệnh phong tiếp tục duy trì đạt các tiêu chí loại trừ của Bộ Y tế; toàn tỉnh đang quản lý 437 bệnh nhân phong. Công tác phòng, chống lao được triển khai tại 100% xã, phường, đặc khu; trong tháng phát hiện 186 bệnh nhân lao mới và 05 bệnh nhân lao kháng thuốc. Trong tháng phát hiện 09 ca nhiễm HIV mới, có 03 trường hợp tử vong do AIDS; lũy kế toàn tỉnh có 4.827 người nhiễm HIV, 1.790 người chuyển sang AIDS và 1.577 người tử vong. Công tác khám, chữa bệnh tiếp tục đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Ước 6 tháng đầu năm 2026, các cơ sở y tế đã khám cho 2.524.114 lượt người, điều trị nội trú 204.599 lượt bệnh nhân với 1.256.544 ngày điều trị, công suất sử dụng giường bệnh đạt 80,0%; thực hiện 3.318.303 xét nghiệm, 756.752 lượt chẩn đoán hình ảnh và 32.742 ca phẫu thuật. Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm được tăng cường. Trong 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm làm 97 người mắc, không có trường hợp tử vong. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tuyên truyền kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền chuỗi hoạt động “Chào mùa Du lịch hè năm 2026”,... đồng thời thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Đã ban hành Kế hoạch số 6842/KH-UBND ngày 14/5/2026 về thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên đại bàn tỉnh Lâm Đồng; đồng thời triển khai thuê phần mềm giám sát thông tin trên không gian mạng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã cấp 13 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 02 giấy phép tổ chức hội chợ triển lãm xuất bản phẩm. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc Trong 6 tháng đầu năm 2026, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) tiếp tục ổn định; các chính sách an sinh xã hội, đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được triển khai hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống, bảo tồn bản sắc văn hóa và cải thiện điều kiện học tập, chăm sóc sức khỏe của người dân. Đối với Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi, tổng kế hoạch vốn giai đoạn 2021-2025 kéo dài sang năm 2026 là 1.140.892,89 triệu đồng; đến tháng 6/2026 đã giải ngân 871.158,59 triệu đồng, đạt 76,36% kế hoạch, gồm 560.268,49 triệu đồng vốn đầu tư phát triển và 290.890,10 triệu đồng vốn sự nghiệp. Chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất tiếp tục được triển khai với 991 hộ đăng ký hỗ trợ sản xuất 5.916,15 ha bắp lai và lúa nước; tổ chức 12 lớp tập huấn cho hơn 800 lượt hộ dân. Đồng thời, đã cung ứng 15 tấn lúa giống, 10 tấn bắp giống, 500 tấn phân bón và hỗ trợ tiêu thụ 3.500 tấn bắp lai thương phẩm, 10 tấn mủ cao su, góp phần bảo đảm nguồn vật tư đầu vào, nâng cao thu nhập và thúc đẩy giảm nghèo bền vững trong vùng đồng bào DTTS và miền núi. 5.2. Chính sách tôn giáo Trong 6 tháng đầu năm 2026, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định; các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo được triển khai hiệu quả, công tác giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện kịp thời, đúng quy định, đáp ứng nhu cầu chính đáng của các tổ chức, cá nhân theo tôn giáo. Tỉnh đã chấp thuận 25 trường hợp thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc, 01 trường hợp chia tách tổ chức tôn giáo, 25 trường hợp bổ nhiệm chức việc, 22 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo, 08 trường hợp xây dựng công trình tôn giáo, 80 trường hợp tiếp nhận thông báo phong phẩm chức sắc, 01 thông báo bổ sung danh mục hoạt động tôn giáo và 27 trường hợp thuyên chuyển địa bàn hoạt động tôn giáo. Nhìn chung, các chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ chấp hành tốt quy định của pháp luật, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và ổn định đời sống tinh thần của Nhân dân. 5.3. Chính sách người có công Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác chăm lo người có công với cách mạng tiếp tục được quan tâm thực hiện. Tỉnh đã giải quyết 1.875 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công; riêng trong tháng giải quyết 324 hồ sơ và tích cực chuẩn bị các hoạt động kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026), triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã tặng 27.201 suất quà theo Quyết định của Chủ tịch nước với tổng kinh phí hơn 8,3 tỷ đồng và 65.234 suất quà theo Nghị quyết của HĐND tỉnh với tổng kinh phí hơn 83,8 tỷ đồng. Thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng cho 18.315 người có công với kinh phí gần 46,3 tỷ đồng; đồng thời chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt cho 13.802 người với tổng kinh phí 182,24 tỷ đồng. Bên cạnh đó, tỉnh đã phê duyệt hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 đối tượng là con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học (gồm 47 căn xây mới và 40 căn sửa chữa); tổ chức điều dưỡng tập trung cho 425 lượt người và điều dưỡng tại nhà cho 3.745 người, với tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết tháng 5 năm 2026, toàn tỉnh có 317.946 người tham gia BHXH, tăng 1,10% so với tháng trước; có 240.259 người tham gia BHTN, tăng 0,85%; số người tham gia BHYT là 3.110.300 người, tăng 1,17% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 91,81% dân số. Tính đến ngày 31/5/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 47.218 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 7.332 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 735 người; trợ cấp 1 lần cho 11.131 người; chế độ ốm đau cho 27.313 người; chế độ thai sản cho 6.270 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 1.769 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 6.967 người và hỗ trợ học nghề cho 365 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/5 - 14/6/2026) Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 345 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 89 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 223 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 230 người, giảm 121 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ thiên tai làm 01 người chết, 02 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 11 căn nhà bị hư hỏng, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 0,6 ha lúa mới gieo xạ bị vùi lấp, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại là 29,5 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 39 vụ cháy, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 02 người bị thương; có 30 vụ đã được thống kê thiệt hại với số tiền là 2.975 triệu đồng, 09 vụ đang thống kê thiệt hại. - Vi phạm môi trường: Trong 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 15 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 415,0 triệu đồng (6 tháng đầu năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phục hồi, duy trì tăng trưởng khá và có chuyển biến rõ hơn trong quý II. GRDP 6 tháng ước tăng 7,90% so với cùng kỳ, riêng quý II tăng 9,22%, cao hơn quý I, cho thấy tác động tích cực của các giải pháp chỉ đạo, điều hành. Nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ đỡ ổn định; công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch và vận tải đều tăng, tạo nền tảng quan trọng cho mục tiêu phát triển cả năm. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là khu vực giữ vai trò ổn định nền kinh tế. Diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng so với cùng kỳ; một số cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, rau, hoa duy trì quy mô sản xuất lớn; chăn nuôi phát triển khá, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng tăng 9,69%; sản lượng sữa tăng 25,96%. Sản xuất thủy sản tăng 2,99%; sản xuất tôm giống tăng 10,01%. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông, sản xuất an toàn bền vững, liên kết sản xuất và Chương trình OCOP tiếp tục được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng và khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng khá, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chủ yếu. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm tăng 9,60%. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ như đá các loại, thủy sản chế biến, rau quả chế biến, đồ uống, giày dép, phân bón, gạch xây dựng, bê tông trộn sẵn, điện thương phẩm. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm so với cùng kỳ, cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm có chuyển biến tích cực. Hoạt động xây dựng và đầu tư phát triển tiếp tục được thúc đẩy. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 14,38%; trong đó vốn ngoài nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ lực, tăng 16,16%. Một số dự án hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, đô thị, hàng không, thủy lợi và công nghiệp quy mô lớn tiếp tục được triển khai, tạo nền tảng cho tăng trưởng các quý tiếp theo và trung hạn. Thương mại, dịch vụ và du lịch tăng khá trong 6 tháng đầu năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng 17,33%. Hoạt động du lịch tiếp tục đóng vai trò động lực của khu vực dịch vụ, với tổng lượt khách phục vụ đạt gần 12 triệu lượt, tăng 18,08%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 22,15%. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng khá, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa, du lịch và sản xuất kinh doanh. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt kết quả tích cực, tổng thu 6 tháng đạt tăng 11,06% so với cùng kỳ; trong đó thu nội địa tăng 8,71%. Hoạt động tín dụng tiếp tục bảo đảm vốn cho nền kinh tế; huy động vốn đến cuối tháng 6 ước tăng 5,99% so với cuối năm 2025. Tình hình đăng ký doanh nghiệp có tín hiệu tích cực, 6 tháng đầu năm số doanh nghiệp thành lập mới tăng 58,38%; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 10,76%; số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao hơn nhiều so với số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, bảo tồn di sản được tổ chức, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và phục vụ đời sống tinh thần của Nhân dân. Công tác giáo dục tập trung hoàn thành nhiệm vụ năm học, chuẩn bị và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 an toàn, nghiêm túc. Ngành y tế chủ động giám sát, phòng chống dịch bệnh, duy trì công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Các chính sách đối với người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tiếp tục được triển khai, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đời sống dân cư. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm vẫn còn một số vấn đề cần chú ý. Tăng trưởng giữa các khu vực kinh tế chưa thật sự đồng đều. Một số ngành, lĩnh vực có quy mô lớn tuy duy trì mức tăng so với cùng kỳ nhưng tốc độ tăng chưa tương xứng với yêu cầu tăng trưởng cao của cả năm. Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi, nhiều sản phẩm chủ yếu tăng khá; tuy nhiên, mức tăng của một số sản phẩm còn thấp, chưa đồng đều giữa các nhóm ngành. Trong lĩnh vực xây dựng và đầu tư phát triển, giá trị sản xuất xây dựng và vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục tăng, song tiến độ thực hiện một số công trình, dự án trọng điểm còn phụ thuộc nhiều vào công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, thủ tục đầu tư và biến động giá nguyên vật liệu xây dựng. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 6 tháng đạt 22,57% kế hoạch năm, cho thấy khối lượng cần thực hiện trong các tháng cuối năm còn lớn. Trong lĩnh vực nông nghiệp, mặc dù sản xuất cơ bản ổn định, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro do dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, biến động giá vật tư đầu vào, chi phí vận chuyển và thời tiết bất thường. Một số cây trồng như điều, chè giảm diện tích hoặc sản lượng so với cùng kỳ; dịch tả lợn Châu Phi còn phát sinh tại một số địa bàn; tình hình vi phạm lâm luật, phá rừng và cháy rừng tăng so với cùng kỳ. Thiên tai, mưa dông, lốc, cháy nổ, tai nạn giao thông, bệnh tay chân miệng và một số dịch bệnh truyền nhiễm vẫn cần được theo dõi chặt chẽ, không để phát sinh thành điểm nóng ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh./. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

Thống kê tỉnh Lâm Đồng sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026, triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026
  •   2026/07/01 17:04

Chiều ngày 29/6/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2026, triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Đồng chí Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì hội nghị. Tham dự hội nghị có các đồng chí Phó Trưởng Thống kê tỉnh; lãnh đạo, công chức các phòng nghiệp vụ; Thống kê cơ sở Đà Lạt và kết nối trực tuyến đến 15 điểm cầu Thống kê cơ sở trên địa bàn tỉnh. Tại hội nghị, các đại biểu đã đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2026 của ngành Thống kê Lâm Đồng. Trong bối cảnh yêu cầu thông tin phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành ngày càng cao, toàn Ngành đã chủ động triển khai đồng bộ các nhiệm vụ công tác; bảo đảm hoàn thành đầy đủ, đúng thời hạn các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội tháng, quý, phục vụ kịp thời Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các cơ quan liên quan. Công tác điều tra thống kê tiếp tục được thực hiện theo đúng phương án, kế hoạch và tiến độ đề ra. Đáng chú ý, ngành Thống kê Lâm Đồng đã hoàn thành Tổng điều tra kinh tế năm 2026 ở cả giai đoạn 1 và giai đoạn 2; được Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Trung ương đánh giá, xếp loại Giỏi. Công tác phân tích, tổng hợp, cung cấp và giải trình số liệu tiếp tục được chú trọng, từng bước nâng cao chất lượng, góp phần khẳng định vai trò của ngành Thống kê là cơ quan cung cấp thông tin kinh tế - xã hội khách quan, kịp thời và tin cậy. Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng ghi nhận, biểu dương tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực của công chức, người lao động trong toàn Ngành. Đồng chí nhấn mạnh, những kết quả đạt được trong quý II và 6 tháng đầu năm 2026 là cơ sở quan trọng để ngành Thống kê Lâm Đồng tiếp tục nâng cao chất lượng tham mưu, phục vụ tốt hơn yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Về nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026, Trưởng Thống kê tỉnh yêu cầu các phòng nghiệp vụ và các Thống kê cơ sở tiếp tục bám sát chương trình công tác của Cục Thống kê và nhiệm vụ chính trị của địa phương; chủ động rà soát tiến độ, nâng cao chất lượng từng khâu công việc, nhất là trong điều tra, tổng hợp, phân tích và cung cấp thông tin thống kê. Đối với công tác điều tra thống kê, cần tăng cường kiểm tra, giám sát quy trình thu thập thông tin, bảo đảm số liệu trung thực, đầy đủ, hạn chế sai sót ngay từ cơ sở. Đối với công tác báo cáo, cần chú trọng hơn chất lượng phân tích, nhận định và dự báo; số liệu phải chính xác, kịp thời, có khả năng giải trình rõ ràng. Đồng thời, việc quản lý, theo dõi nhiệm vụ trên hệ thống Taskgov phải được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc, xem đây là một trong những căn cứ quan trọng để đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của công chức, đơn vị. Bên cạnh đó, toàn Ngành cần tăng cường bám sát địa bàn, chủ động phối hợp với các sở, ngành, địa phương trong thu thập, kiểm tra, xử lý và khai thác thông tin thống kê; kịp thời nắm bắt những vấn đề phát sinh từ thực tiễn để tham mưu sát, đúng và hiệu quả hơn. Hội nghị kết thúc trong tinh thần thống nhất cao, thể hiện quyết tâm của toàn ngành Thống kê Lâm Đồng trong việc tiếp tục đổi mới phương pháp làm việc, nâng cao chất lượng số liệu, chất lượng phân tích và hiệu quả phục vụ. Những kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm cùng với định hướng nhiệm vụ rõ ràng cho 6 tháng cuối năm là nền tảng quan trọng để ngành Thống kê Lâm Đồng hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao trong năm 2026. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh của Hội nghị:Đ/c Phạm Quốc Hùng – Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu chỉ đạo tại hội nghị

Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội thảo khảo sát nhu cầu thông tin thống kê phục vụ xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã
  •   2026/06/26 14:24

Sáng ngày 24/6/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng phối hợp với Ban Chính sách, Chiến lược và Dữ liệu thống kê - Cục Thống kê (Bộ Tài chính) tổ chức Hội thảo khảo sát nhu cầu thông tin thống kê phục vụ xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã. Hội thảo do đồng chí Dương Thị Kim Nhung - Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược và Dữ liệu thống kê, Cục Thống kê và đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh đồng chủ trì. Tham dự Hội thảo có đại diện lãnh đạo, công chức được giao nhiệm vụ tổng hợp, báo cáo và cung cấp thông tin thống kê của các sở, ban, ngành, cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh; đại diện lãnh đạo UBND và công chức được phân công làm đầu mối công tác thống kê của 02 phường (Xuân Trường - Đà Lạt và LangBiang - Đà Lạt); lãnh đạo, công chức các phòng chuyên môn thuộc Thống kê tỉnh và các đơn vị có liên quan. Phát biểu khai mạc Hội thảo, đồng chí Dương Thị Kim Nhung nhấn mạnh vai trò quan trọng của thông tin thống kê trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh yêu cầu quản lý nhà nước ngày càng cao, nhất là sau khi triển khai mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, thông tin, số liệu thống kê cần bảo đảm trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, chính xác, thống nhất và có khả năng kiểm chứng. Đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh Lâm Đồng cho rằng, cùng với số liệu do ngành Thống kê thu thập, điều tra, tổng hợp theo quy định, thông tin chuyên ngành do các sở, ban, ngành cung cấp là nguồn dữ liệu quan trọng để rà soát, đối chiếu, phân tích tình hình thực tế theo từng ngành, lĩnh vực; phục vụ biên soạn các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của tỉnh, nhất là GRDP hằng quý, hằng năm và các chỉ tiêu phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh. Tại Hội thảo, các đại biểu được nghe báo cáo về công tác tham mưu, tổ chức, chỉ đạo, phân công thực hiện Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã từ khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; bối cảnh sau nhập tỉnh; kết quả tham mưu, tổ chức triển khai; cơ chế phối hợp giữa Thống kê tỉnh với các sở, ban, ngành, giữa Thống kê cơ sở với UBND cấp xã; những khó khăn, hạn chế và nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới. Hội thảo cũng tập trung trao đổi về việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê theo Quyết định số 1842/QĐ-UBND ngày 24/10/2025 của UBND tỉnh Lâm Đồng về ban hành biểu mẫu báo cáo thống kê và phân công thực hiện thu thập thông tin thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh. Đây là cơ sở quan trọng để các cơ quan, đơn vị thực hiện việc cung cấp thông tin, số liệu thống kê theo đúng nội dung, biểu mẫu, kỳ báo cáo, thời hạn và trách nhiệm được phân công. Trên cơ sở dự thảo Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã, các đại biểu đã trao đổi, thảo luận, góp ý về nhu cầu thông tin thống kê phục vụ quản lý, điều hành theo ngành, lĩnh vực và địa bàn; đồng thời nêu một số khó khăn, vướng mắc trong quá trình thu thập, tổng hợp, cập nhật, rà soát, thuyết minh và giải trình số liệu. Các ý kiến tập trung vào yêu cầu bảo đảm tính khả thi của chỉ tiêu, tính thống nhất của nguồn số liệu, trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan cung cấp thông tin và cơ quan Thống kê. Qua thảo luận, Thống kê tỉnh đề nghị các sở, ban, ngành tiếp tục rà soát danh mục biểu mẫu báo cáo thuộc trách nhiệm của đơn vị; nghiên cứu, góp ý cụ thể đối với dự thảo Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã; phân công rõ đầu mối thực hiện; gửi báo cáo đúng nội dung, đúng biểu mẫu, đúng thời hạn và cập nhật đầy đủ trên phần mềm theo dõi báo cáo thống kê. Phát biểu bế mạc Hội thảo, đồng chí Dương Thị Kim Nhung đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự phối hợp của các cơ quan, đơn vị tham dự Hội thảo. Đồng chí đề nghị các sở, ban, ngành tiếp tục xác định việc cung cấp thông tin, số liệu cho cơ quan Thống kê là nhiệm vụ thường xuyên trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước; đồng thời tăng cường phối hợp với Thống kê tỉnh trong quá trình cung cấp, rà soát, giải trình và hoàn thiện số liệu. Hội thảo khảo sát nhu cầu thông tin thống kê phục vụ xây dựng Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp xã là hoạt động thiết thực nhằm ghi nhận yêu cầu thông tin từ thực tiễn quản lý, điều hành của địa phương; góp phần hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê theo hướng khả thi, thống nhất, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Qua đó, từng bước nâng cao chất lượng công tác báo cáo, cung cấp và sử dụng thông tin thống kê, phục vụ tốt hơn công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh tại Hội thảo: Đ/c Dương Thị Kim Nhung - Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược và Dữ liệu thống kê, Cục Thống kê và đ/c Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh đồng chủ trì Hội thảo           Đ/c Dương Thị Kim Nhung - Phó Trưởng ban Ban Chính sách, Chiến lược và Dữ liệu thống kê, Cục Thống kê phát biểu tại Hội thảoĐ/c Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu tại Hội thảo

Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác thống kê cho UBND cấp xã
  •   2026/06/08 16:52

Sáng ngày 06/6/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác thống kê cho UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý trên địa bàn tỉnh. Hội nghị do đồng chí Nguyễn Ngọc Phúc - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì. Tham dự Hội nghị có lãnh đạo Thống kê tỉnh; đại diện lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh; lãnh đạo, công chức các phòng chuyên môn thuộc Thống kê tỉnh; đại diện lãnh đạo UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý; công chức được phân công làm đầu mối công tác thống kê cấp xã và các Thống kê cơ sở. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến các điểm cầu Thống kê cơ sở trên địa bàn tỉnh. Phát biểu khai mạc và chỉ đạo Hội nghị, đồng chí Nguyễn Ngọc Phúc nhấn mạnh, công tác thống kê là một nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước; số liệu thống kê không chỉ phục vụ việc lập báo cáo, mà còn là căn cứ để đánh giá đúng tình hình, nhận diện đúng tiềm năng, khó khăn, điểm nghẽn, từ đó đề xuất nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội sát thực tiễn. Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh nêu rõ, trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã là nơi trực tiếp quản lý dân cư, hộ gia đình, đất đai và các hoạt động kinh tế - xã hội phát sinh hằng ngày. Do đó, chất lượng thông tin thống kê cấp xã có ý nghĩa rất quan trọng, vừa phục vụ công tác quản lý, điều hành ở cơ sở, vừa góp phần nâng cao chất lượng số liệu thống kê của tỉnh. Nếu thông tin thống kê cấp xã không đầy đủ, không kịp thời, không sát thực tế thì việc đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở sẽ thiếu căn cứ, đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng tổng hợp, phân tích và tham mưu chung của tỉnh. Vì vậy, UBND các xã, phường, đặc khu cần xác định công tác thống kê là nhiệm vụ thường xuyên trong quản lý, điều hành. Tại Hội nghị, các đại biểu được phổ biến, hướng dẫn các nội dung trọng tâm gồm: công tác thống kê cấp xã và cơ chế phối hợp giữa Thống kê cơ sở với UBND xã, phường, đặc khu; Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp xã và chế độ báo cáo thống kê trên địa bàn cấp xã; phương pháp tính toán chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp xã; triển khai Phương án điều tra thu nhập bình quân đầu người cấp xã. Các chuyên đề tập huấn tập trung làm rõ yêu cầu phân công đầu mối thực hiện công tác thống kê tại cấp xã; trách nhiệm phối hợp cung cấp, rà soát, đối chiếu, xác nhận và giải trình số liệu giữa UBND cấp xã với Thống kê cơ sở. Đặc biệt, đối với chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp xã, Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu thực hiện đúng phương pháp, đúng phạm vi, có nguồn số liệu rõ ràng, tránh tính trùng, bỏ sót hoạt động kinh tế và không sử dụng số liệu thiếu căn cứ. Đối với Phương án điều tra thu nhập bình quân đầu người cấp xã, Hội nghị yêu cầu các địa phương phối hợp chặt chẽ với Thống kê cơ sở trong rà soát địa bàn, lập danh sách hộ, lựa chọn điều tra viên, tuyên truyền vận động người dân cung cấp thông tin, kiểm tra tiến độ và chất lượng điều tra; bảo đảm kết quả điều tra trung thực, khách quan, phản ánh sát thực tế đời sống dân cư. Hội nghị cũng dành thời gian để các đại biểu trao đổi, thảo luận, nêu khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thống kê ở cơ sở; đồng thời được Thống kê tỉnh hướng dẫn, giải đáp các nội dung liên quan đến nguồn số liệu, biểu mẫu báo cáo, phương pháp tổng hợp và cơ chế phối hợp sau tập huấn. Phát biểu bế mạc Hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh đề nghị UBND các xã, phường, đặc khu tiếp tục quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thống kê trên địa bàn; phân công rõ lãnh đạo phụ trách, công chức đầu mối; phối hợp chặt chẽ với Thống kê cơ sở trong thu thập, tổng hợp, rà soát, cung cấp và chia sẻ thông tin thống kê. Đồng chí Trưởng Thống kê tỉnh cũng đề nghị các Thống kê cơ sở phát huy vai trò đầu mối nghiệp vụ trên địa bàn; chủ động hướng dẫn, hỗ trợ UBND cấp xã trong thực hiện Bộ chỉ tiêu thống kê cấp xã, chế độ báo cáo thống kê, tính toán chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn và triển khai Phương án điều tra thu nhập bình quân đầu người cấp xã. Khi phát sinh khó khăn, vướng mắc, các đơn vị cần kịp thời trao đổi với Thống kê tỉnh để được hướng dẫn, xử lý thống nhất. Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác thống kê cho UBND cấp xã là hoạt động thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ thống kê ở cơ sở; tăng cường cơ chế phối hợp giữa chính quyền cấp xã với cơ quan Thống kê; từng bước đưa công tác thống kê cấp xã đi vào nền nếp, thực chất, phục vụ tốt hơn công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn mới. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh của Hội nghị:Đồng chí Nguyễn Ngọc Phúc - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì và phát biểu chỉ đạo Hội nghị (tại điểm cầu Thống kê cơ sở Bảo Lộc).Đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh trình bày chuyên đề về công tác thống kê cấp xã.

Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác thống kê cho các sở, ban, ngành
  •   2026/06/08 16:48

Sáng ngày 05/6/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác thống kê cho các sở, ban, ngành về thực hiện chế độ, biểu mẫu báo cáo thống kê thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh. Hội nghị do đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì, với sự tham dự của đại diện lãnh đạo, công chức, viên chức được giao nhiệm vụ tổng hợp, báo cáo và cung cấp thông tin thống kê tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Phát biểu khai mạc Hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng nhấn mạnh vai trò quan trọng của thông tin thống kê trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong bối cảnh yêu cầu quản lý, điều hành ngày càng cao, thông tin, số liệu thống kê cần được cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác, thống nhất, có căn cứ. Đồng chí Trưởng Thống kê tỉnh khẳng định, cùng với số liệu do ngành Thống kê thu thập, điều tra, tổng hợp theo quy định, thông tin chuyên ngành do các sở, ban, ngành cung cấp là nguồn dữ liệu quan trọng để rà soát, đối chiếu, phân tích tình hình thực tế theo từng ngành, lĩnh vực; phục vụ biên soạn các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của tỉnh, nhất là GRDP hằng quý, hằng năm và các chỉ tiêu phục vụ công tác điều hành của UBND tỉnh. Tại Hội nghị, các đại biểu được nghe giới thiệu chuyên đề về trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin, số liệu thống kê của các sở, ban, ngành; trong đó tập trung làm rõ vai trò của thống kê ngành, yêu cầu về chất lượng số liệu, trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin và những nội dung cần tiếp tục khắc phục trong quá trình thực hiện chế độ báo cáo thống kê. Hội nghị cũng hướng dẫn các cơ quan, đơn vị thực hiện chế độ báo cáo thống kê theo Quyết định số 1842/QĐ-UBND ngày 24/10/2025 của UBND tỉnh Lâm Đồng; hướng dẫn sử dụng phần mềm báo cáo thống kê qua mạng Internet; đồng thời trao đổi, thảo luận về dự thảo Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh và giải đáp những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện. Qua thảo luận, Thống kê tỉnh đề nghị các sở, ban, ngành tiếp tục rà soát danh mục biểu mẫu báo cáo thuộc trách nhiệm của đơn vị; phân công rõ đầu mối thực hiện; gửi báo cáo đúng nội dung, đúng biểu mẫu, đúng thời hạn và cập nhật đầy đủ trên phần mềm theo dõi báo cáo thống kê. Đối với các chỉ tiêu có biến động lớn, các đơn vị cần thuyết minh rõ nguyên nhân, cung cấp căn cứ để phục vụ công tác rà soát, đối chiếu, tổng hợp và phân tích. Phát biểu bế mạc Hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng đề nghị các sở, ban, ngành nâng cao hơn nữa trách nhiệm trong công tác thống kê ngành, lĩnh vực; xem việc cung cấp thông tin, số liệu cho cơ quan Thống kê là nhiệm vụ thường xuyên trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Đồng thời, tăng cường phối hợp với Thống kê tỉnh trong quá trình cung cấp, rà soát, giải trình và hoàn thiện số liệu, góp phần nâng cao chất lượng thông tin thống kê trên địa bàn tỉnh. Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác thống kê cho các sở, ban, ngành là hoạt động thiết thực nhằm chuẩn hóa việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh; tăng cường trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị với Thống kê tỉnh; từng bước đưa công tác báo cáo, cung cấp thông tin, số liệu thống kê đi vào nền nếp, phục vụ tốt hơn công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh của Hội nghị: Đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu tại Hội nghị.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   2026/06/01 09:32

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tương đối ổn định. Các địa phương trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành thu hoạch vụ Đông xuân và đang xuống giống vụ Hè thu; cây trồng lâu năm đang được người dân tích cực đầu tư, chăm sóc; các loại dịch bệnh trên cây trồng xảy ra không đáng kể. Chăn nuôi ổn định, quy mô đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ; dịch bệnh trên vật nuôi xảy ra cục bộ tại một số địa phương và đã được kiểm soát. Hoạt động trồng rừng được triển khai; công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng được tập trung tăng cường. Khai thác thủy sản tăng so với cùng kỳ. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tính đến ngày 15/5/2026 ước đạt 134.789 ha, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: diện tích lúa ước đạt 61.740 ha, tăng 2,1%; diện tích cây ngô ước đạt 11.580 ha, tăng 2,2%; diện tích cây khoai lang ước đạt 3.350 ha, tăng 3,48%; diện tích đậu các loại ước đạt 3.351 ha, tăng 2,6%; diện tích rau các loại ước đạt 37.680 ha, tăng 4,83%; diện tích hoa các loại ước đạt 5.340 ha, tăng 4,76%. 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh bắt đầu bước vào mùa mưa trên diện rộng, giảm chi phí tưới nước sau mùa khô kéo dài; người dân đang tiếp tục chăm sóc các loại cây trồng lâu năm và chuẩn bị đầu tư trồng mới. - Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.732 ha; người dân chủ động tưới nước, chăm sóc tốt ở vùng trọng điểm như Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’lấp; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.371 ha; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện. Trong thời gian tới, diện tích trồng mới cao su có khả năng tăng nhưng với tốc độ chậm do biến động về giá và chi phí đầu tư; - Cây điều: Diện tích hiện có 45.483 ha; hiện đã hoàn tất thu hoạch năm 2026; diện tích điều chủ yếu già cỗi, giống cũ, kỹ thuật chăm sóc chưa đồng đều, kèm theo sự bất lợi của thời tiết mưa trái mùa trong giai đoạn ra hoa và nắng nóng kéo dài, năng suất và sản lượng điều đều giảm so với năm trước. Hiện hiệu quả kinh tế của cây điều không cao, người dân đang có xu hướng chuyển sang các loại cây trồng khác như sầu riêng, cây ăn quả,...; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.230 ha; hiện đang giai đoạn chăm sóc nuôi trái, sinh trưởng tương đối ổn định. Diện tích trồng mới đang tiếp tục được mở rộng trong thời gian tới do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh; - Cây tiêu: Diện tích hiện có 37.719 ha; người dân đang hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025 - 2026. Giá hồ tiêu duy trì ở mức cao (khoảng 148.000 - 151.000 đồng/kg) là điểm sáng của ngành hồ tiêu trên địa bàn tỉnh, giúp người dân duy trì sản xuất; tuy nhiên vấn đề sâu bệnh vẫn là rủi ro lớn gây ảnh hưởng đến phát triển của ngành hồ tiêu. Năm 2026, cây tiêu ở Lâm Đồng được đánh giá phát triển theo hướng tập trung nâng cao năng suất và chất lượng, hạn chế mở rộng diện tích tự phát; mô hình trồng tiêu xen cà phê kết hợp canh tác hữu cơ và sinh thái đang được đẩy mạnh nhằm giảm chi phí; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.820 ha; cây sinh trưởng tương đối ổn định, sâu bệnh phát sinh ít, chi phí sản xuất tăng do nhu cầu tưới nước và xử lý hoa trái vụ; giá thanh long đang ở mức trung bình - khá, giúp người dân duy trì sản xuất. Cây thanh long đang chuyển từ mở rộng diện tích sang nâng cao năng suất, chất lượng như mở rộng sản xuất VietGAP, GloabaGAP; - Cây chè: Diện tích hiện có 9.200 ha; cây chè sinh trưởng và cho thu hoạch liên tục, đều đặn theo lứa, đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến. Giá chè duy trì ổn định, thị trường tiêu thụ thuận lợi, góp phần duy trì hiệu quả sản xuất của ngành chè trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên diện tích chè chủ yếu đã già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp nên người dân đang dần chuyển đổi sang cây cà phê, sầu riêng,...; 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp trong những tháng mùa khô; diện tích canh tác được tưới đạt 75% diện tích cần tưới (trong đó, diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt 24,5%). Tổng dung tích tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh khoảng 382,4 triệu m3, đạt trung bình khoảng 44,5% so với dung tích thiết kế, giảm 77,4 m3 so với tháng trước. 2. Chăn nuôi Trong tháng, tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì ổn định, chuyển từ quy mô nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, liên kết sản xuất theo chuỗi, quy mô đàn các loại vật nuôi đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù còn chịu áp lực từ chi phí đầu vào và nguy cơ dịch bệnh, song với giá bán nhiều sản phẩm chăn nuôi ở mức khá đã thúc đẩy người chăn nuôi tiếp tục đầu tư, tái đàn. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 33.517,2 tấn, tăng 6,0% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 161.743,9 tấn, tăng 9,51%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,4 nghìn con, tăng 0,46% so với cùng kỳ. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,0 nghìn con, tăng 1,54% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 30,2 nghìn con, tăng 3,61%). Chăn nuôi bò sữa tiếp tục phát triển ổn định, các trang trại tận dụng tối đa lợi thế về khí hậu mát mẻ và diện tích đồng cỏ dồi dào; cùng với việc chú trọng cải thiện con giống, nâng cao kỹ thuật chăm sóc, áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.496 nghìn con, tăng 5,98% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.221 nghìn con, tăng 6,86%). Giá lợn hơi trong tháng dao động theo xu hướng tăng nhẹ, giúp người chăn nuôi mạnh dạn tái đàn. Khu vực chăn nuôi trang trại và doanh nghiệp tiếp tục giữ vai trò chủ lực với mô hình sản xuất khép kín, an toàn sinh học và liên kết tiêu thụ ổn định. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.720 nghìn con gia cầm, tăng 7,17% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.120 nghìn con, chiếm 70,95% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,18%). Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển nhờ thời gian quay vòng vốn nhanh, nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định. Nhiều cơ sở chăn nuôi đã chú trọng áp dụng quy trình an toàn sinh học, vệ sinh chuồng trại và tiêm phòng định kỳ nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh dịch bệnh. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, tại xã Đạ Tẻh 3 phát sinh 01 cơ sở chăn nuôi có lợn mắc bệnh, đã tiêu hủy 9.081 con với tổng trọng lượng 257.811 kg. Lũy kế từ ngày 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 11.787 con lợn mắc bệnh, tương đương 633.872 kg. Hiện nay, xã Đạ Tẻh 3 vẫn còn ổ dịch chưa qua 21 ngày theo quy định. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...): không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện tiêu hủy, khoanh vùng xử lý bệnh DTLCP phát sinh; triển khai tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường, tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi (đã thực hiện phân bổ 1.500 liều vắc xin phòng bệnh Lở mồm long móng và 50 lít hóa chất cho xã Tánh Linh và xã Đạ Tẻh 3 để tổ chức tiêm phòng cho đàn vật nuôi). 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, hoạt động trồng rừng được triển khai, diện tích rừng trồng mới ước đạt 2.005 ha, tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước; diện tích trồng cây phân tán ước đạt 2,3 triệu cây, tăng 3,91%. Tỉnh đã tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô năm 2026. Tuy nhiên, trong tháng đã xảy ra 04 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 0,9 ha; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 1,8 ha (so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 01 vụ, diện tích rừng thiệt hại tăng 0,6 ha). - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 43.425 m3, tăng 5,02% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 190.584 m3, tăng 3,66%. - Sản lượng củi khai thác ước đạt 30.035 ste, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 149.958 ste, tăng 2,02%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/4 - 10/5/2026) là 53 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 26 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 3,9 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 18 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 15 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,9 ha). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 - 10/5/2026), tổng số vụ vi phạm là 240 vụ, tăng 18 vụ so với cùng kỳ năm trước (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 105 vụ, giảm 11 vụ; diện tích rừng bị thiệt hại 17,5 ha, giảm 0,3 ha). 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, tình hình nuôi trồng thủy sản tương đối ổn định; công tác hỗ trợ kỹ thuật, phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi trồng thủy sản được chú trọng. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 490,2 ha, tăng 2,07% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.385,6 ha, tăng 1,40% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 2.143,7 ha, tăng 1,27%; diện tích nuôi tôm đạt 222,1 ha, tăng 2,90%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.318,8 tấn, giảm 0,37% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 390,3 tấn, tăng 5,18%). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 11.589,7 tấn, tăng 0,72% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.920 tấn, tăng 4,07%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi; nguồn lợi cá cơm xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho các tàu nghề vây cá nồi nhỏ, nghề pha xúc đánh bắt. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 21.686 tấn, tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 21.600 tấn, tăng 3,03%). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 94.125,9 tấn, tăng 3,0 (sản lượng khai thác biển đạt 93.811,6 tấn, tăng 2,93%). - Sản xuất giống thủy sản: Hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên, chất lượng tôm giống được giữ vững trên thị trường. Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,3 tỷ post, tăng 9,57% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 10,4 tỷ post, tăng 5,27%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Những tháng đầu năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục phục hồi và tăng trưởng khá, nhiều ngành chủ lực duy trì đà phát triển ổn định. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực tăng trưởng chính, cùng với sự tăng trưởng của ngành khai khoáng và các ngành hạ tầng thiết yếu như điện, nước và xử lý rác thải. Nhờ đó, sản xuất công nghiệp toàn tỉnh trong tháng Năm và 5 tháng đầu năm đều đạt mức tăng tích cực so với cùng kỳ năm trước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 12,03% so với tháng trước và tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 22,44% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 22,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,14%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,94%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,04% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,01%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,71%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,81%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 394.477 m3, giảm 5,04% so với tháng trước và tăng 22,05% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu  năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.698.630 m3, tăng 20,63% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang tập trung nhiều giải pháp để giải ngân vốn đầu tư công cũng như đạt chỉ tiêu về vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026; tháng 5 giảm so với tháng 4 là do trong tháng có kỳ nghỉ lễ 30/4-01/5/2026 được nghỉ liên tiếp trong các ngày đầu tháng 5/2026. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.511 tấn, giảm 0,77% so với tháng trước và tăng 16,62% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 15.941 tấn, tăng 12,49% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu và chủ động nguồn hàng cho các tháng sắp tới. - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.313 tấn, tăng 32,29% so với tháng trước và tăng 13,92% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 10.052 tấn, tăng 18,05% so với cùng kỳ. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 19.491 nghìn lít, tăng 7,39% so với tháng trước và tăng 25,12% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 101.409 nghìn lít, tăng 16,52% so với cùng kỳ, nguyên nhân là các do doanh nghiệp tăng cường sản xuất các sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Ước trong tháng sản lượng đạt 746 nghìn đôi, tăng 17,43% so với tháng trước và tăng 21,70% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.956 nghìn đôi, tăng 25,18% so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 10.848 tấn, tăng 3,14% so với tháng trước và tăng 14,30% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 56.394 tấn, tăng 36,64% so với cùng kỳ; nguyên nhân là do các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất phục vụ mùa sản xuất nông nghiệp năm 2026. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Ước trong tháng đạt 121,993 nghìn tấn, tăng 2,51% so với tháng trước và tăng 5,68% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 642,801 nghìn tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.843 triệu kwh, tăng 17,65% so với tháng trước và tăng 11,85% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 15.186 triệu kwh, tăng 2,03% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 507 triệu kwh, giảm 3,19% so với tháng trước nhưng tăng 14,37% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.525 triệu kwh tăng 7,0% so với cùng kỳ. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,87% so với tháng trước và tăng 8,37% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,26%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,85%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,69%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,41%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động tháng 5/2026 của khối doanh nghiệp nhà nước giảm 1,01% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 13,22%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 4,95%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 6,19%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,96%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,19%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,63%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,75%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2025 và xu hướng cao hơn bình quân các tháng đầu năm 2026 là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong tháng (từ ngày 15/4 - 15/5/2026) đã thu hút 01 dự án đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh (Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà; vốn đầu tư 80 tỷ, diện tích đất thuê lại 1,098 ha). Lũy kế từ đầu năm 2026 đến nay đã thu hút được 06 dự án đầu tư (trong đó có 01 dự án nước ngoài và 05 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 258,7 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích đất thuê lại 5,18 ha. Lũy kế đến nay, trong các KCN trên địa bàn tỉnh có 244 dự án (58 dự án FDI và 186 dự án trong nước) với tổng vốn đăng ký đầu tư là 46.728,8 tỷ đồng và 515,132 triệu USD, diện tích đất đăng ký 727,11 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 53,88%. Hiện nay, trong các KCN có 175 doanh nghiệp đi vào hoạt động; kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thực hiện đến tháng 5/2025: doanh thu đạt 10.335 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 219,6 triệu USD; nộp ngân sách đạt 672,2 tỷ đồng. Công tác đầu tư hạ tầng các KCN được các chủ đầu tư quan tâm triển khai. Trong tháng, có 6/14 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị là 20,41/881,6 tỷ đồng đạt 2,32% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026, tăng 13,90% so với cùng kỳ (17,9 tỷ đồng). Cụ thể: - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Chủ đầu tư duy tu cây xanh. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,01/0,8 tỷ đồng đạt 1,22% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm I: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, duy tu giao thông trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,10/22,8 tỷ đồng đạt 0,44% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm II: Chủ đầu tư san lấp mặt bằng KCN; duy tu cây xanh trong KCN; duy tu và thi công các tuyến đường trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 10,0/205,0 tỷ đồng đạt 4,88% kế hoạch năm 2026. - KCN Sông Bình: Chủ đầu tư duy tu cây xanh trong KCN; tiếp tục thi công các tuyến đường giao thông (đường D1, D3, N4, N6) trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,1/59,1 tỷ đồng đạt 0,17% kế hoạch năm 2026. - KCN Tuy Phong: Chủ đầu tư triển khai thi công hệ thống thoát nước mưa tuyến D2 và các tuyến giao thông. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,2 tỷ đồng. - KCN Tân Đức: Chủ đầu tư tiếp tục đền bù giải tỏa KCN những diện tích đất còn lại; dọn dẹp và thi công san lấp mặt bằng KCN, thi công các tuyến đường trong KCN (D2, D3, D4, N1, N2, N3), nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 10,0/473 tỷ đồng đạt 2,11% kế hoạch năm 2026. - KCN Lộc Sơn: Thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phú Hội: Thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết: Giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Tâm Thắng: Đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Nhân Cơ: Thu hút được 01 dự án. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 860,1 tỷ đồng, tăng 2,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 801,6 tỷ đồng, chiếm 93,2% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn, tăng 2,52% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh trong tháng đạt 368,7 tỷ đồng, tăng 34,01% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 110,6 tỷ đồng, giảm 49,11% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 13,2 tỷ đồng, giảm 26,03% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 303,8 tỷ đồng, tăng 13,02% so với cùng kỳ; vốn khác 5,4 tỷ đồng, tăng 91,2% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 58,5 tỷ đồng, chiếm 6,8% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn và tăng 4,24% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.552,9 tỷ đồng, đạt 23,34% so với kế hoạch năm, tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 3.312,8 tỷ đồng, tăng 4,06% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.539,61 tỷ đồng, tăng 21,85% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 471,03 tỷ đồng, giảm 46,54% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 53,78 tỷ đồng, giảm 28,55% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 1.227,24 tỷ đồng, tăng 28,98% so với cùng kỳ; vốn khác 21,14 tỷ đồng, tăng 76,82% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 240,1 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến ngày 14/5/2026, toàn tỉnh có 2.019 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 96,2% so với cùng kỳ năm trước; 1.086 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 3,12%; 393 doanh nghiệp giải thể, tăng 88,9%; 508 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 15,72%. Tổng số vốn trong 5 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp đã đăng ký 9.808,4 tỷ đồng, tăng 49,53% so với cùng kỳ năm trước.. Tình hình thu hút đầu tư (từ đầu năm đến ngày 22/5/2026), toàn tỉnh có 22 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 115.171,5 tỷ đồng; 20 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Về giải ngân vốn đầu tư công, đến ngày 21/5/2026, toàn tỉnh giải ngân 1.097,8 tỷ đồng, đạt 7,4% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Kết quả này cho thấy áp lực giải ngân trong các tháng còn lại là rất lớn. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Tình hình thương mại và dịch vụ trong tháng tiếp tục phát triển tích cực, các ngành, lĩnh vực duy trì ổn định. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị thương mại diễn ra bình thường; nhiều siêu thị, trung tâm thương mại triển khai chương trình khuyến mãi nhằm kích cầu tiêu dùng. Lĩnh vực lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác đã chủ động chuẩn bị nhân lực, hàng hóa và cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu du khách trong các dịp lễ lớn như Giỗ Tổ Hùng Vương, ngày 30/4 và 01/5 với thời gian nghỉ kéo dài. Các doanh nghiệp thương mại, du lịch và vận tải cũng tăng cường quảng bá, khuyến mãi để thu hút khách du lịch, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại và dịch vụ trong mùa du lịch hè năm 2026. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Tình hình thị trường trong tháng tương đối ổn định, sức mua người dân tăng so với tháng trước, các nhóm hàng tăng trưởng ổn định. Nhu cầu người dân tập trung vào những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu cá nhân và gia đình. Tại địa phương công tác kích cầu tiêu dùng được tăng cường nhiều mặt, các hệ thống siêu thị, cửa hàng điện máy, siêu thị tiện ích thường xuyên có các chương trình khuyến mãi, giảm giá nhiều mặt hàng khuyến khích nhu cầu mua sắm của người dân. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 16.791,8 tỷ đồng, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 20,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.402,5 tỷ đồng, tăng 2,69% so với tháng trước và tăng 20,88% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.330,7 tỷ đồng, tăng 8,4% so với tháng trước và tăng 18,51% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.058,7 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 22,79% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 80.343,5 tỷ đồng, tăng 16,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 49.960,2 tỷ đồng, tăng 15,08% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 15.791,3 tỷ đồng, tăng 20,01% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 14.591,9 tỷ đồng, tăng 15,88% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu; đồng thời đẩy mạnh đấu tranh với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và kiểm soát thị trường đối với mặt hàng gạo, vật liệu xây dựng. Công tác theo dõi cung cầu, giá bán xăng dầu cũng được tăng cường nhằm kịp thời phát hiện các dấu hiệu bất thường như tăng giá bất hợp lý, gián đoạn nguồn cung hoặc ngừng bán hàng không đúng quy định. Trong tháng, lực lượng chức năng đã kiểm tra 159 vụ, phát hiện 151 vụ vi phạm, xử lý 150 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 1,1 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/5/2026, đã kiểm tra 629 vụ, với 603 tổng số vụ vi phạm; 604 tổng số vụ xử lý (05 vụ kỳ trước chuyển sang, 03 vụ đoàn kiểm tra liên ngành chuyển sang) với tổng số tiền xử phạt gần 4,8 tỷ đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng    Trong tháng và 5 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân cơ bản ổn định. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa và dịch vụ vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố như biến động giá nhiên liệu, chi phí vận tải, nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ, cùng với diễn biến giá cả trên thị trường thế giới, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,21% so với tháng trước. So với tháng 12/2025, CPI trong tháng tăng 0,76% và tăng 4,66% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 5 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,47% so với bình quân cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 07 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,48%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,08%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; Giao thông tăng 0,26%; Giáo dục tăng 0,02%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,12%. Có 04 nhóm hàng giảm giá: May mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,11%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,16%; Thông tin và truyền thông giảm 0,17%; Hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,2%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá xăng tăng 1,39% so với tháng trước, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá trong tháng. Giá nhóm lương thực tăng 0,22% so tháng trước, trong đó chủ yếu các mặt hàng gạo tăng 0,28%; nguyên nhân, do thương lái thu mua lúa giá có phần cao so tháng trước, tác động giá bán thị trường tăng theo; bên cạnh đó, giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và giá vật tư phân bón, nguyên liệu đầu vào sản xuất đang ở mức cao. Giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 0,55% so tháng trước, do giá nguyên vật liệu chế biến, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng; đồng thời trong tháng có kỳ nghỉ Lễ 30/4-01/5 kéo dài nhiều ngày nhu cầu ăn uống bên ngoài tăng. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,56% do chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là giá nguyên, nhiên liệu sản xuất và chi phí vận chuyển tăng, tác động đẩy giá các loại vật liệu như: cát, đá, xi măng, thép, gạch... tăng so tháng trước. - Nguyên nhân giảm: Giá gas trong tháng giảm 2,92% so với tháng trước, mặc dù giá gas thế giới đi ngang ở mức 775 USD/tấn, giá bán lẻ trong nước công ty điều chỉnh giảm 22.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 07, 14 và 21 tháng 5/2026, tính bình quân chung tháng 5/2026 chỉ số giá mặt hàng dầu hỏa giảm 21,08% so với tháng trước; giá dầu diezel giảm 16,44% so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng đầu năm 2026 tăng 4,47% so với bình quân cùng kỳ năm 2025. * Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2026 CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng thiết yếu tăng so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm lương thực tăng 2,52%, làm CPI chung tăng 1,13 điểm phần trăm; riêng giá gạo tăng 1,14% do chịu tác động từ giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng tăng trong dịp lễ, Tết. Nhóm thực phẩm tăng 4,94%, làm CPI chung tăng 1,23 điểm phần trăm, đáng chú ý là giá thịt lợn tăng 6,15%, thịt gia cầm tăng 4,36% do nguồn cung thiếu hụt, nhu cầu tiêu dùng tăng và chi phí chăn nuôi còn ở mức cao. Nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 4,97%, làm CPI chung tăng 0,42 điểm phần trăm, do giá lương thực, thực phẩm, gas, chi phí thuê mặt bằng và nhân công tăng. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,99%, tác động làm CPI tăng 1,07 điểm phần trăm, chủ yếu do giá vật liệu xây dựng như xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào; giá thuê nhà ở tăng; giá gas tăng 10,38% và giá dầu hỏa tăng 39,62% theo biến động giá thế giới. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng, dịch vụ khác cũng tạo áp lực tăng CPI, như: đồ uống và thuốc lá tăng 3,36%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,12%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,49% do nhu cầu tiêu dùng dịp Tết tăng, trong khi chi phí sản xuất, vận chuyển và nguyên liệu đầu vào tăng. Nhóm giao thông tăng 5,34%, làm CPI chung tăng 0,61 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 9,24% và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 25,57%. Nhóm giáo dục tăng 7,20%, làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm, do một số cơ sở giáo dục ngoài công lập điều chỉnh tăng học phí thường niên. Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,25%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá một số dòng điện thoại thế hệ cũ giảm khi doanh nghiệp triển khai các chương trình khuyến mại, kích cầu tiêu dùng. 3. Hoạt động du lịch Dịp lễ năm nay, nhờ giao thông thuận lợi, thời tiết mát mẻ và nhu cầu nghỉ dưỡng tăng cao, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, thu hút đông đảo du khách. Các điểm đến như Mũi Né, Phan Thiết, Tiến Thành và Đà Lạt tiếp tục được nhiều du khách lựa chọn nhờ kết hợp hài hòa giữa nghỉ dưỡng, vui chơi và trải nghiệm biển. Trong tháng diễn ra nhiều hoạt động hấp dẫn như Lễ hội thả diều “Hello Sunny 2026”, Lễ hội Diều khổng lồ Sky Fest tại Bikini Beach với nhiều chương trình biểu diễn, âm nhạc và pháo hoa. Đặc khu Phú Quý cũng đưa vào hoạt động khu ẩm thực đêm phục vụ du lịch, góp phần hình thành sản phẩm du lịch đêm mới. Bên cạnh đó, ngành đường sắt đã thử nghiệm tour trải nghiệm “Hành trình đêm Đà Lạt” trên tuyến tàu cổ từ Ga Đà Lạt đến Ga Trại Mát, tạo thêm điểm nhấn thu hút du khách. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.115,8 nghìn lượt, tăng 4,52% so tháng trước và tăng 19,39% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 71,5 nghìn lượt, tăng 2,08% so với tháng trước và tăng 13,09% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.909 nghìn ngày khách, tăng 4,21% so với tháng trước và tăng 21,95% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 119 nghìn lượt khách, tăng 8,77% so với tháng trước và tăng 20,96% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 380,7 nghìn ngày khách, tăng 9,52% so với tháng trước và tăng 27,17% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 9.996,5 nghìn lượt, tăng 19,54% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 357,4 nghìn lượt, tăng 16,31% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 18.778,5 nghìn ngày khách, tăng 21,66% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 đạt 724,8 nghìn lượt, tăng 18,76% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.311,2 nghìn ngày khách, tăng 22,41% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến tỉnh trong 5 tháng đầu năm 2026 chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc, Đức, Mỹ, Pháp, Anh. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 654,8 tỷ đồng, tăng 6,38% so với tháng trước và tăng 14,26% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.621,1 tỷ đồng, tăng 9% so với tháng trước và tăng 19,24% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 54,8 tỷ đồng, tăng 5,08% so với tháng trước và tăng 39,84% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 3.262,6 tỷ đồng, tăng 21,89% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 12.265,6 tỷ đồng, tăng 19,15% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 263,1 tỷ đồng, tăng 39,99% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.986,5 tỷ đồng, tăng 4,46% so với tháng trước và tăng 23,17% so với cùng kỳ. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 27.763,1 tỷ đồng, tăng 24,06% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.058,7 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 22,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 712,6 tỷ đồng, tăng 2,06% so với tháng trước và tăng 12,79% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 167,7 tỷ đồng, tăng 0,05% so với tháng trước và tăng 8,81% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148,1 tỷ đồng, giảm 0,39% so với tháng trước và tăng 25,64% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 239,8 tỷ đồng, tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 13,20% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.478,7 tỷ đồng, giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 34,20% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 311,8 tỷ đồng, tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 14.591,9 tỷ đồng, tăng 15,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 3.557,8 tỷ đồng, tăng 10,69% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 833,5 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 728,1 tỷ đồng, tăng 18,37% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.198,3 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 6.781,9 tỷ đồng, tăng 20,78% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.492,3 tỷ đồng, tăng 9,75% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trong tháng diễn ra sôi động nhờ nhu cầu đi lại, tham quan tăng cao trong kỳ nghỉ lễ 30/4 và 01/5 kéo dài. Cùng với đó, thời tiết biển thuận lợi, sóng êm đã giúp các tuyến vận tải thủy nội địa, đặc biệt tuyến ra đảo Phú Quý, tăng cường tần suất hoạt động, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và du khách. Doanh thu vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.236,4 tỷ đồng, tăng 3,49% so với tháng trước và tăng 26,62% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.894,6 tỷ đồng, tăng 22,96% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.815,0 nghìn HK, tăng 3,78% so với tháng trước và tăng 10,86% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 407.296,7 nghìn HK.Km, tăng 3,90% so với tháng trước và tăng 11,88% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 13.775,2 nghìn HK, tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.988.465,3 nghìn HK.Km, tăng 16,18% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 1.982,6 nghìn tấn, tăng 2,59% so với tháng trước và tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 292.351,8 nghìn tấn.Km, tăng 2,77% so với tháng trước và tăng 15,96% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 9.909,7 nghìn tấn, tăng 14,37% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.458.211,3 nghìn tấn.Km, tăng 14,90% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.236,4 tỷ đồng, tăng 3,49% so với tháng trước và tăng 26,62% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.894,6 tỷ đồng, tăng 22,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.012,6 tỷ đồng, tăng 26,69% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.889,6 tỷ đồng, tăng 25,58% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 770,6 tỷ đồng, tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 221,8 tỷ đồng, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.135,8 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 972,8 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 163 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.527,2,9 tỷ đồng, tăng 3,78% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước thực hiện 16.300 tỷ đồng, bằng 47,34% kế hoạch năm và tăng 17,76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước thực hiện 15.150 tỷ đồng, bằng 46,37% kế hoạch năm và tăng 15,03%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 1.150 tỷ đồng, bằng 65,34% kế hoạch năm và tăng 71,43% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 2.227 tỷ đồng (bằng 58,55% kế hoạch năm và tăng 7,41% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 745 tỷ đồng (bằng 54% kế hoạch năm và tăng 11,4%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 4.286 tỷ đồng (bằng 64,09% kế hoạch năm và tăng 62,62%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 1.418 tỷ đồng (bằng 51,94% kế hoạch năm và tăng 5,6%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 1.786,2 tỷ đồng (bằng 24,22% kế hoạch năm và giảm 7,33%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 2.800 tỷ đồng (bằng 48,28% kế hoạch năm và tăng 9,51%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước 3.892,2 tỷ đồng; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước 20.976,6 tỷ đồng, bằng 47,15% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 9.046,1 tỷ đồng, bằng 68,46% kế hoạch năm; chi thường xuyên 11.928,2 tỷ đồng, bằng 39,29% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) trong tỉnh ở mức 0,17% - 0,42%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; ở mức 4,28% - 4,74%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; ở mức 6,73% -8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; ở mức 6,88% - 7,98%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh NHTM ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ 9,06%/năm - 10,84%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,3% - 4,66%/năm. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đến 30/4/2026,  đạt 237.889 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 8.614 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,76%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 233.187 tỷ đồng (chiếm 98,86% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.702 tỷ đồng, (chiếm 1,14% tổng huy động vốn). Ước đến 31/5/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 239.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 9.725 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4,2%. Dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đến 30/4/2026, đạt 373.244 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 2.260 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,361. Trong đó: Dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 370.659 tỷ đồng (chiếm 99,31% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.585 tỷ đồng (chiếm 0,69% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn 264.088 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 109.156 tỷ đồng. Ước đến 31/5/2026, dư nợ cho vay đạt 374.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1%. Đến 30/4/2026, dư nợ cho vay ngành dịch vụ, du lịch, thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 185.088 tỷ đồng, chiếm 49,59% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.630 tỷ đồng, chiếm 8,74% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm thủy sản đạt 155.526 tỷ đồng, chiếm 41,6% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.186 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,7% trong tổng dư nợ tín dụng. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thay mới và trang trí pano các loại, biểu trưng, cổng hơi, cờ hồng, cờ lá pano,… phục vụ công tác tuyên truyền trực quan các nhiệm vụ chính trị và chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026) theo Công văn số 98-CV/BTGDVĐU ngày 14/5/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy về “Đẩy mạnh tuyên truyền Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026)”; đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026) và chương trình Dạ hội Điện ảnh chủ đề “Lâm Đồng - Đại ngàn, hoa và biển” tại Đặc khu Phú Quý; ngoài ra đã thực hiện 55 buổi chiếu phim lưu động tại cơ sở để phục vụ người dân và du khách. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 29.510 lượt khách, trong đó có 1.813 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 6.074 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.706 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 1.183 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 13.867 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 4.680 lượt). Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026 đã đón 146.423 lượt khách, trong đó có 13.065 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 41.075 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 27.272 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 6.307 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 64.835 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 6.934 lượt). Ngoài ra đã tổ chức triển lãm ảnh chuyên đề “Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử”; chương trình giáo dục trải nghiệm “Chúng em làm chiến sĩ Điện Biên” và tổ chức trưng bày triển lãm chuyên đề “Sắc màu di sản văn hóa, thiên nhiên và nghề thủ công truyền thống tỉnh Lâm Đồng” tại Trường THCS Nguyễn Du, xã Thuận Hạnh. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ tiếp đón 256 đoàn với 21.838 lượt khách (trong đó có 14 khách quốc tế); phục vụ 45 lễ viếng, lễ kết nạp Đảng, sinh hoạt chuyên đề. Luỹ kế từ ngày 01/01 - 12/5/2026 đã đón 850 đoàn với 55.246 lượt khách (trong đó có 237 khách quốc tế); phục vụ 93 lễ viếng, 03 báo công, 05 kết nạp Đoàn, 01 kết nạp Đảng,... đồng thời tổ chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 22 đoàn khách với 3.310 lượt khách; luỹ kế từ ngày 01/01 - 13/5/2026 đã đón 67 đoàn với 11.290 lượt khách (có 17 lượt khách quốc tế) đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 4.848 thẻ (4.029 thẻ thiếu nhi), phục vụ 387.324 lượt bạn đọc, luân chuyển 173.873 lượt tài liệu, trưng bày 129.450 bản sách, giới thiệu trên mạng xã hội 48 bản sách mới, sưu tầm 185 tin bài tỉnh Lâm Đồng và giới thiệu 92 bản sách theo chuyên đề. Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026 đã cấp mới và gia hạn 5.457 thẻ (4.206 thẻ thiếu nhi), phục vụ 1.271.644 lượt bạn đọc, luân chuyển 374.514 lượt tài liệu, trưng bày 141.426 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Lễ khai mạc hè, phát động bơi an toàn phòng, chống đuối nước năm 2026; lớp tập huấn bơi an toàn, phòng, chống đuối nước trẻ em trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2026 (KV1); Hội thi bơi, cứu đuối tỉnh Lâm Đồng năm 2026; Giải thể dục thể hình và nữ fitness vô địch các CLB tỉnh; Môn Cờ tướng - Đại hội Thể dục thể thao tỉnh lần thứ I năm 2026; Giải Vô địch Thể hình các Câu lạc bộ toàn quốc năm 2026. - Thể thao thành tích cao: Trong tháng tổ chức Giải Quần vợt quốc tế NovaWorld Phan Thiet U16 ATF Tennis Classic và UTR Pro Tennis Tour năm 2026; Giải cúp các CLB Yoga tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026; Giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2026 và cử đoàn vận động viên tham gia 12 giải thể thao quốc gia, kết quả đạt được 155 huy chương (20 HCV, 45 HCB, 90 HCĐ). Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026, đã đạt được 222 huy chương (35 HCV, 58 HCB, 129 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Trong tháng, các cơ sở giáo dục tập trung tổ chức dạy và học, ôn thi học kỳ II năm học 2025 - 2026 theo kế hoạch; tiếp tục thực hiện công tác xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích, an toàn giao thông, phòng chống đuối nước cho trẻ em, phòng chống cháy nổ, các loại tội phạm; đẩy mạnh tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, vệ sinh cảnh quan môi trường “Xanh - Sạch - Đẹp” trong các cơ sở giáo dục và đẩy mạnh công tác chuyển đổi số trong quản lý, giảng dạy. Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 1.593 cơ sở giáo dục với 24.494 lớp và 818.588 học sinh, gồm: 526 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó 400 công lập) với 5.707 lớp và 151.943 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó 558 công lập) với 10.210 lớp và 321.257 học sinh; 365 trường trung học cơ sở (trong đó 363 công lập) với 6.016 lớp và 240.603 học sinh; 122 trường trung học phổ thông với 2.561 lớp và 104.785 học sinh; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó 02 công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ - Tin học; 11 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập với 7.529 học viên. Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Toàn tỉnh có 78 cơ sở GDNN, gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. Tính đến thời điểm 14/5/2026, toàn tỉnh có 931/1.434 trường công lập đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 64,92%); trong đó cấp mầm non 247/400 trường (đạt tỷ lệ 61.75%), cấp tiểu học 355/557 trường (đạt tỷ lệ 63,73%), cấp trung học cơ sở 256/363 trường (đạt tỷ lệ 70,52%) và cấp trung học phổ thông 73/114 trường (đạt tỷ lệ 64,04%). Hiện nay tỉnh tập trung rà soát cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự phục vụ kỳ thi; xây dựng phương án bảo đảm an ninh, an toàn, phòng chống gian lận thi cử và các điều kiện phục vụ tổ chức kỳ thi. Kỳ thi năm 2026, toàn tỉnh có 91 điểm thi được bố trí tại các xã, phường, đặc khu; số phòng thi dự kiến: 1.845 phòng; số lượng thí sinh dự kiến đăng ký: 41.309 thí sinh (trong đó thí sinh đang học lớp 12 tại các trường THPT, GDTX: 39.594 thí sinh; thí sinh tự do: 1.715 thí sinh). 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; đồng thời đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 164 ca mắc sốt xuất huyết mới, bằng so với tháng trước và giảm 35 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong, phát hiện và xử lý 26 ổ dịch. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.600 ca mắc và phát hiện xử lý 125 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 749 ca mắc, tăng 296 ca so với tháng trước và tăng 535 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 2.080 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 10 ca mắc, giảm 06 ca so với tháng trước và giảm 716 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 53 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.673 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.337 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.201 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.289 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.907 trẻ, mũi 2 cho 3.900 trẻ và mũi 3 cho 4.445 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.722 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 03 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân. Bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 163 bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân lao mới các thể/dân số là 04  bệnh nhân/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03  bệnh nhân/100.000 dân; bệnh nhân lao kháng thuốc trong tháng là 04 bệnh nhân . - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 05 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 02 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.818 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.789 người, tử vong 1.574 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 473.726 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.342 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 234.326 ngày, xét nghiệm cho 671.773 tiêu bản, chẩn đoán 145.500 hình ảnh và phẫu thuật 5.528 trường hợp. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 2.161.490 lượt người; 171.671 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.035.416 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,27 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 85,0%; ước xét nghiệm cho 2.593.528 tiêu bản; chẩn đoán 627.601 hình ảnh và phẫu thuật cho 24.561 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 44 cơ sở (trong đó 05 bếp ăn tập thể và bếp ăn trường học, cả 05 cơ sở đều đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm), kết quả có 8 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 52,5 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 4.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy. Hiện nay, do ảnh hưởng của giá xăng, dầu tăng cao, tình trạng thiếu nước tưới trong mùa khô xảy ra ở một số địa phương đã hưởng đến đời sống, sinh hoạt và sản xuất của người dân, trong đó có đồng bào DTTS. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng. Các hoạt động thể thao truyền thống, trò chơi dân gian, hoạt động vui chơi giải trí được quan tâm tổ chức; công tác quảng bá các sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương gắn liền với bản sắc văn hóa vùng đồng bào DTTS được triển khai thông qua các chương trình kích cầu du lịch hè 2026, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS. - Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Công tác xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và vùng sâu, vùng xa được triển khai tích cực để đầu năm học 2026 - 2027 đưa vào sử dụng. Hiện nay, các trường học vùng đồng bào DTTS của tỉnh tập trung vào tổ chức kỳ thi học kỳ II năm học 2025 - 2026 và chuẩn bị tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ học sinh yếu kém và đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng cho học sinh vùng đồng bào DTTS. - Hệ thống Y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Các hoạt động khám chữa bệnh, tiêm chủng,… tiếp tục được triển khai có hiệu quả. Trong tháng, tỉnh đã xây dựng Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT tỉnh Lâm Đồng năm 2026; trong đó, trọng tâm là tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân, BHYT hộ gia đình, tỷ lệ tham gia BHXH, BHXH tự nguyện năm 2026 và xây dựng chính sách hỗ trợ đóng BHYT cho đồng bào người DTTS đang sinh sống tại địa bàn các xã, thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh. 4.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng ban hành Kế hoạch hướng dẫn tổ chức Đại lễ Phật đản năm 2026 và tổ chức các hoạt động nhân dịp kỷ niện Đại lễ Phật đản năm 2026, qua đó phần lan tỏa giá trị hòa bình, nhân ái, hướng thiện và gắn kết cộng đồng; tổ chức mở lớp bồi dưỡng cho 52 chư Ni hệ phái khất sỹ tại Tịnh xá Ngọc Cảnh, phường Xuân Hương - Đà Lạt; Ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh, thuộc Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Lâm Đồng tổ chức Trại Huấn luyện Huynh trưởng cấp II - Huyền Trang 1-2026 tại Chùa Linh Quang, đặc khu Phú Quý, có khoảng 120 trại sinh tham dự. Các cơ sở Công giáo trên địa bàn tỉnh tổ chức hoạt động tôn giáo theo kế hoạch. Tu hội Truyền giáo Thánh Vinh Sơn - Tỉnh dòng Việt Nam, phường Xuân Hương- Đà Lạt tổ chức Thánh lễ bế mạc năm Thánh và kỷ niệm 400 năm thành lập Tu hội, 70 năm Tu hội hiện diện tại Việt Nam, có khoảng 2.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong và ngoài tỉnh tham dự; Giáo phận Ban Mê Thuột tổ chức Thánh lễ tạ ơn thành lập Giáo xứ Hòa Thuận, xã Quảng Tín và bổ nhiệm linh mục quản xứ tiên khởi, có khoảng 1.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận tham dự; Giám mục Giáo phận Đà Lạt, Giáo phận Phan Thiết và Giáo phận Ban Mê Thuột tham gia cùng Phái đoàn Hội đồng Giám mục Việt Nam (gồm 37 chức sắc, chức việc) hoạt động tôn giáo tại Toà Thánh Vatican; các Giáo xứ thuộc các Giáo phận trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tổ chức Thánh lễ, dâng hoa, rước kiệu mừng kính Đức Mẹ Maria trong chuỗi sự kiện của Tháng Hoa năm 2026. Ban Đại điện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh tổ chức lễ ra mắt công nhận Chi hội và bổ nhiệm chức việc làm quản nhiệm Chi hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam) xã Ka Đô và xã Tà Hine, có khoảng 1.600 người là chức sắc, chức việc, tín đồ trong và ngoài tỉnh tham dự; tổ chức huấn luyện chấp sự, đặc trách các điểm nhóm, tại Chi hội Tin Lành Liên Nghĩa, xã Đức Trọng và Chi hội Tin Lành Bảo Lộc, phường 1 Bảo Lộc, có khoảng 1.000 người tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 4.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 402 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Tổ chức thăm, tặng quà người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Miền nam, thống nhất đất nước; đồng thời tổ chức đưa 189 lượt người có công với cách mạng đi điều dưỡng tập trung tại trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công tỉnh Khánh Hòa và Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng. Từ đầu năm đến nay đã giải quyết 1.551 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chi trả trợ cấp hàng tháng không dùng tiền mặt cho 13.802 người có công với cách mạng với tổng kinh phí 182,24 tỷ đồng. Phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 người (47 căn xây mới, 40 căn sửa chữa). Tổ chức 04 đợt điều dưỡng tập trung đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ tại Trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công Khánh Hòa, Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng với 425 lượt người. Phê duyệt Quyết định điều dưỡng tại nhà đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với 3.745 người, tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng. 5. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết ngày 30/4/2026, toàn tỉnh có 314.472 người tham gia BHXH, tăng 0,75% so với tháng trước; có 238.238 người tham gia BHTN, tăng 0,4%; 3.074.232 người tham gia BHYT, tăng 0,87% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 90,75% dân số. Trong tháng đã giải quyết mới 10.708 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.682 người (trong đó: 120 người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; 2.555 người hưởng trợ cấp 1 lần; 6.500 người hưởng chế độ ốm đau; 1.193 người hưởng chế độ thai sản; 340 người hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; 1.592 người hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng và 90 người được hỗ trợ học nghề). Lũy kế đến ngày 30/4/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 36.354 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 5.084 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 522 người; trợ cấp 1 lần cho 8.531 người; chế độ ốm đau cho 21.141 người; chế độ thai sản cho 4.833 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 1.327 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 4.861 người và hỗ trợ học nghề cho 223 người).  6. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/4 - 14/5/2026) Trong tháng xảy ra 41 vụ tai nạn giao thông, giảm 13 vụ so với tháng trước và giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 27 người, giảm 12 người so với tháng trước và giảm 04 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 18 người, giảm 19 người so với tháng trước và giảm 39 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 xảy ra 291 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 78 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 183 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 189 người, giảm 107 người so với cùng kỳ năm trước. 7. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 23/4 - 25/5/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ thiên tai do mưa lớn kèm theo giông lốc, sét xảy ra tại xã Đạ Huoai 2, xã Hàm Kiệm, xã Đạ Huoai 2, xã Nâm Nung và xã Cát Tiên 3. Thiên tai đã làm cuốn trôi và mất tích 01 người, 09 căn nhà bị tốc mái (01 nhà bị tốc mái hoàn toàn), 35 ha cây sầu riêng, sét đánh làm cháy hệ thống điện làm chết khoảng 70.000 con gà của Công ty TaFa Việt, xã Trà Tân; ước thiệt hại khoảng 17,25 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 28/12/2025 đến nay xảy ra 08 vụ thiên tai, làm tốc mái 26 căn nhà (03 nhà bị sập tốc mái hoàn toàn) và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 17,90 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/4 - 15/5/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 09 vụ cháy nổ, giảm 03 vụ so với tháng trước và bằng với số vụ của cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 248,5 triệu đồng. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 37 vụ cháy, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 03 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại 2.819 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra vi phạm (cùng kỳ năm trước xảy ra 03 vụ vi phạm và xử phạt 585 triệu đồng). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 415,0 triệu đồng. * Đánh giá chung Trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực trên nhiều lĩnh vực. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định; diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 3,2% so với cùng kỳ; chăn nuôi tiếp tục phát triển, tổng sản lượng thịt hơi 5 tháng tăng 9,51%; khai thác thủy sản duy trì. Sản xuất công nghiệp phục hồi rõ nét, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 5 tháng đầu năm tăng 8,04%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,01%, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Khu vực thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục là điểm sáng nổi bật. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 5 tháng tăng 16,17% so với cùng kỳ; trong đó doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành tăng 20,01%. Hoạt động du lịch phục hồi mạnh, toàn tỉnh đón gần 10 triệu lượt khách, tăng 19,54%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 24,06%. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng trưởng khá, doanh thu 5 tháng tăng 22,96%, phản ánh nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hóa và hoạt động du lịch tiếp tục sôi động. Hoạt động đầu tư, phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư có chuyển biến tích cực. Số doanh nghiệp thành lập mới, tăng 96,2%; số doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 15,72%; thu hút 22 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký 115.171,5 tỷ đồng. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn bằng 47,34% dự toán năm và tăng 17,76% so với cùng kỳ. Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện; các hoạt động tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức phù hợp với nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân. Công tác giáo dục tập trung hoàn thành chương trình năm học, chuẩn bị các điều kiện tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026. Công tác y tế, phòng chống dịch bệnh và khám chữa bệnh tiếp tục được triển khai. Các chính sách dân tộc, tôn giáo, người có công và bảo hiểm xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn tỉnh đạt 90,75% dân số. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số khó khăn. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn thấp so với yêu cầu, trong khi khối lượng vốn còn lại phải thực hiện trong các tháng cuối năm rất lớn. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng tăng 4,47%, trong đó nhiều nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, nhà ở, vật liệu xây dựng, giao thông, giáo dục tăng, tạo áp lực nhất định đến chi phí sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân. Hoạt động doanh nghiệp tuy có tín hiệu tích cực về số doanh nghiệp thành lập mới, nhưng có 1.086 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động và 393 doanh nghiệp giải thể. Trong nông nghiệp, dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục là yếu tố rủi ro cần theo dõi, kiểm soát chặt chẽ để hạn chế lây lan, bảo đảm ổn định sản xuất chăn nuôi. Một số vấn đề xã hội như dịch bệnh ở người, tai nạn giao thông, thiên tai, giông lốc, sét, thiếu nước tưới cục bộ trong mùa khô vẫn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất và an sinh xã hội. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG -----