02633 540134 | lamdong@nso.gov.vn
Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức hội nghị triển khai, quán triệt Chỉ thị số 08-CT/TU; phần mềm báo cáo công tác Đảng ngành Thống kê và triển khai hệ thống Sổ tay đảng viên điện tử
  •   13/03/2026 16:18

Chiều ngày 10/3/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức hội nghị triển khai, quán triệt Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 25/02/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trên địa bàn tỉnh năm 2026; phần mềm hệ thống báo cáo công tác Đảng và triển khai hệ thống Sổ tay đảng viên điện tử. Tham dự có đồng chí Phạm Quốc Hùng – Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh, chủ trì hội nghị; các đồng chí Phó Trưởng Thống kê tỉnh; lãnh đạo, công chức và người lao động các phòng thuộc cơ quan Thống kê tỉnh và các Thống kê cơ sở tham dự trực tiếp và trực tuyến. Phát biểu khai mạc hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng quán triệt một số nhiệm vụ công tác Đảng vụ trong thời gian vừa qua, yêu cầu các Chi bộ trực thuộc thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Đảng ủy cấp trên và đúng theo quy định của Đảng. Tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Tỉnh - Phó Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy triển khai, quán triệt nội dung Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 25/02/2026; Kế hoạch số 118-KH/ĐU ngày 06/3/2026 của Đảng ủy Thống kê tỉnh về Kế hoạch triển khai thực hiện Chỉ thị số 08-CT/TU ngày 25/02/2026. Đồng chí Nguyễn Hoài Hải, Phó Trưởng Thống kê tỉnh triển khai ứng dụng “Sổ tay đảng viên điện tử” đến toàn bộ đảng viên trong toàn Đảng bộ, ứng dụng nhằm hỗ trợ đảng viên trong sinh hoạt đảng, cung cấp chính xác, kịp thời văn bản, tài liệu của Đảng, Nhà nước, cấp uỷ, tổ chức đảng; phục vụ việc học tập nghị quyết, thực hiện nhiệm vụ đảng viên; góp phần nâng cao năng lực, trình độ, đạo đức, sức chiến đấu, trách nhiệm nêu gương của đảng viên; thống nhất một nền tảng ứng dụng số. Đồng chí Nguyễn Thái Huy, Trưởng phòng Thống kê Tổng hợp triển khai phần mềm hệ thống gửi-nhận báo cáo và chấm điểm thi đua về công tác Đảng trên hệ thống mạng đối với các chi bộ trực thuộc. Phát biểu bế mạc Hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh các nhiệm vụ trọng tâm đã nêu trong hội nghị, yêu cầu toàn thể đảng viên, công chức và người lao động toàn Ngành triển khai đồng bộ các hệ thống báo cáo cũng như nội dung Chỉ thị trong thời gian tới./. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh tại Hội nghị:Đ/c Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu khai mạc Hội nghịĐ/c Nguyễn Văn Tỉnh - Phó Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Đảng ủy triển khai Chỉ thị 08-CT/TUĐ/c Nguyễn Thái Huy - Trưởng Phòng Thống kê Tổng hợp, triển khai hệ thống báo cáo công tác ĐảngĐ/c Nguyễn Hoài Hải - Phó Trưởng Thống kê tỉnh, triển khai hệ thống Sổ tay đảng viên điện tử

Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức tọa đàm chào mừng Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3
  •   06/03/2026 15:43

Chiều ngày 05/3/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức chương trình tọa đàm chào mừng kỷ niệm 116 năm Ngày Quốc tế Phụ nữ (08/3/1910 - 08/3/2026) với chủ đề “Phụ nữ ngành Thống kê Lâm Đồng - Tự tin, vững bước trong kỷ nguyên mới”. Tham dự chương trình có đồng chí Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh; các đồng chí Phó Trưởng Thống kê tỉnh; lãnh đạo, công chức và người lao động nữ các phòng thuộc cơ quan Thống kê tỉnh; cùng lãnh đạo, công chức nữ các đơn vị Thống kê cơ sở tham dự trực tiếp và trực tuyến. Phát biểu khai mạc chương trình, đồng chí Phạm Quốc Hùng đã gửi lời chúc mừng tốt đẹp đến toàn thể nữ công chức và người lao động Thống kê Lâm Đồng nhân dịp Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, đồng thời ghi nhận và biểu dương những đóng góp quan trọng của nữ công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, góp phần vào kết quả chung của Thống kê tỉnh. Tại chương trình, đồng chí Trương Thị Mộng Di - Phó Trưởng Thống kê tỉnh đã phát biểu ôn lại ý nghĩa lịch sử Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3, khẳng định vai trò, vị trí và những đóng góp tích cực của phụ nữ trong sự phát triển của xã hội nói chung và ngành Thống kê nói riêng. Điểm nhấn của chương trình là phần tọa đàm với chủ đề “Phụ nữ ngành Thống kê Lâm Đồng - Tự tin, vững bước trong kỷ nguyên mới”, do đồng chí Nguyễn Văn Tỉnh - Phó Trưởng Thống kê tỉnh, Trưởng ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ cơ quan chủ trì. Nội dung tọa đàm tập trung trao đổi về vai trò, bản lĩnh của phụ nữ Thống kê Lâm Đồng trong bối cảnh chuyển đổi số, yêu cầu ngày càng cao về chất lượng thông tin thống kê; đồng thời chia sẻ những kinh nghiệm, kỷ niệm nghề nghiệp và động lực giúp nữ công chức vượt qua khó khăn, hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn và xây dựng gia đình hạnh phúc. Chương trình cũng là dịp để tôn vinh những đóng góp của phụ nữ Thống kê Lâm Đồng, lan tỏa hình ảnh người phụ nữ “Giỏi việc nước - Đảm việc nhà”, qua đó tạo động lực để chị em tiếp tục thi đua, đổi mới, sáng tạo trong công tác, góp phần xây dựng Thống kê Lâm Đồng ngày càng hiện đại, chuyên nghiệp và đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới. Nhân dịp này, Ban lãnh đạo Thống kê tỉnh đã tặng quà và chụp hình lưu niệm cùng toàn thể nữ công chức, người lao động, thể hiện sự quan tâm, động viên đối với đội ngũ nữ cán bộ trong toàn Ngành. Chương trình tọa đàm diễn ra trong không khí ấm áp, thân tình, góp phần tăng cường sự gắn kết trong tập thể, đồng thời khích lệ đội ngũ nữ công chức Thống kê Lâm Đồng tiếp tục phát huy năng lực, bản lĩnh và sự tự tin để vững bước trong kỷ nguyên mới./. TKT Lâm Đồng Một số hình ảnh tại buổi tọa đàm:Đ/c Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu khai mạc chương trình 8/3Đ/c Trương Thị Mộng Di - Phó Trưởng TKT ôn lại ý nghĩa lịch sử của Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3Đ/c Nguyễn Văn Tỉnh - Phó Trưởng TKT, Trưởng ban Vì sự tiến bộ của phụ nữ chủ trì tọa đàmBan lãnh đạo Thống kê tỉnh đã tặng quà và chụp hình lưu niệm

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và 02 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   03/03/2026 13:40

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng và hai tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì phát triển ổn định. Các địa phương trên địa bàn tỉnh tích cực xuống giống từ những tháng đầu năm, chủ yếu là lúa, rau màu, cây ngắn ngày, đảm bảo đúng tiến độ thời vụ. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát hiệu quả, không có dịch bệnh nghiêm trọng xảy ra. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào khâu chăm sóc rừng, ươm cây giống. Khai thác thuỷ sản giữ ổn định. Hầu hết các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng, giá bán giữ ổn định trong dịp Tết Nguyên đán 2026. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Vụ Đông xuân năm 2026 được triển khai đúng lịch thời vụ; diện tích gieo trồng tăng so với vụ Đông xuân năm trước. Cơ cấu cây trồng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng diện tích cây có giá trị kinh tế cao như rau, hoa. Tiến độ gieo trồng vụ Đông xuân năm 2026 (tính đến ngày 15/02/2026), tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 100.942,7 ha, tăng 2,94% so với vụ Đông xuân năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 52.524,7 ha, tăng 2,39% so với cùng kỳ năm trước; cây ngô, diện tích ước đạt 5.607 ha, tăng 2,67%; rau các loại, diện tích ước đạt 31.280,8 ha, tăng 3,81%; hoa các loại, diện tích ước đạt 4.362,7 ha, tăng 3,47%; đậu các loại, diện tích ước đạt 1.749,1 ha, tăng 3,55%; cây hàng năm còn lại, diện tích ước đạt 2.711 ha, tăng 3,53%. Diện tích rau, hoa tăng chủ yếu do nông dân tập trung xuống giống phục vụ nhu cầu Tết Nguyên đán của người dân. Các loại rau phục vụ Tết tập trung vào các nhóm rau truyền thống như: Rau ăn lá, rau ăn củ, rau ăn quả, đồng thời mở rộng các dòng rau cao cấp có giá trị kinh tế cao; nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi trong giai đoạn gần Tết, sản xuất rau sinh trưởng ổn định, bảo đảm sản lượng và chất lượng phục vụ kịp thời thị trường Tết.1.2. Cây lâu nămTrong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm; thị trường tiêu thụ, giá bán một số loại cây chủ lực của tỉnh nhìn chung có lợi cho người sản xuất. Cụ thể một số loại cây chính như sau: - Cây chè: Diện tích hiện có 9.310 ha, giảm 1,22% so với cùng kỳ năm trước; diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...; - Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.745 ha, tăng 1,06% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tưới, tỉa cành, làm cỏ,...; - Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.230 ha, tăng 4,10% so với cùng kỳ năm trước. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.239 ha, tăng 4,23% so với cùng kỳ năm trước; nhờ hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác nên người dân đang tích cực đầu tư, tăng năng suất. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhất là nhu cầu từ Trung Quốc, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.850 ha, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích giảm so với cùng kỳ do một số vùng bị thiệt hại do lũ vừa qua và một số vườn thanh long già cỗi, người trồng thanh long không tiếp tục đầu tư và chuyển sang canh tác các loại cây trồng khác; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.340 ha, tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Trong những tháng đầu năm 2026, tỉnh đã triển khai đồng bộ, bảo đảm nguồn nước phục vụ kịp thời nhu cầu sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Các địa phương chủ động kiểm tra, duy tu, nạo vét hệ thống kênh mương, hồ đập; xây dựng kế hoạch điều tiết nước hợp lý, đáp ứng yêu cầu tưới tiêu cho sản xuất vụ Đông xuân năm 2026. Công tác phòng, chống hạn hán, thiếu nước được tăng cường thông qua việc theo dõi sát diễn biến thời tiết, tích trữ nguồn nước và áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm. Đồng thời, việc kiểm tra an toàn công trình thủy lợi, đặc biệt là các hồ chứa và đập dâng, được thực hiện thường xuyên nhằm hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn sản xuất và đời sống nhân dân. Nhìn chung, hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định tình hình nông nghiệp trong những tháng đầu năm. Tổng dung tích tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh khoảng 676,4 triệu m3, đạt trung bình khoảng 78,7% so với dung tích thiết kế. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 267 ha; Bệnh đạo ôn lá gây hại 208 ha; chuột gây hại 160 ha; rầy nâu gây hại 69 ha; - Cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus gây hại rải rác ở tất cả các vùng trồng cà chua với diện tích gây hại 64 ha; sâu đục lá cà chua Nam Mỹ gây hại 1,5 ha tại xã Hiệp Thạnh; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 320,4 ha tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.164,3 ha tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, Đắk Song, Thuận An, Đắk Mil, Đắk Sắk, Đức An, Thuận Hạnh, Đức Lập, phường Đông Gia Nghĩa, phường Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại chủ yếu ở xã Bảo Lâm và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác với diện tích nhiễm bệnh 1.660 ha; Bọ xít muỗi gây hại 2.006,2 ha cà phê chè tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.019,7 ha và bệnh thán thư gây hại 2.828 ha tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1, Đam Rông 2, Đam Rông 3, Đam Rông 4, Tánh Linh, Suối Kiết, Tân Minh, Nam Thành; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha, bệnh thối rễ tóp cành gây hại 287 ha, ốc sên gây hại 321 ha tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Tân Thành, Tiến Thành, Tân Lập, Tân Hải, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Liên Hương. 1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ caoĐến nay, toàn tỉnh có 107.306 ha diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao; có 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa); diện tích ứng dụng nông nghiệp thông minh đạt khoảng 1.200 ha; có 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật được công nhận (Công ty TNHH Dalat Hasfarm; Công ty TNHH Hoa Mặt Trời; Công ty TNHH Trang trại Langbiang; Công ty TNHH SX-TM-NS Phong Thúy; Công ty TNHH Quang Nguyên Đà Lạt; Công ty CP cây giống Cao Nguyên; Công ty CP INNO GENETICS). 2. Chăn nuôi Trong tháng, tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi; công tác kiểm dịch, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện tốt nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với cùng kỳ. Nguồn cung thịt hơi, trứng và các sản phẩm chăn nuôi cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Nguyên đán, đồng thời bảo đảm cung ứng ra thị trường ngoài tỉnh, góp phần bình ổn giá cả và giữ vững ổn định thị trường. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính tháng 02/2026 đạt 28.950 tấn, tăng 7,54% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 58.229,6 tấn, tăng 8,39%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27 nghìn con trâu, tăng 0,75% so với cùng kỳ; mặc dù tổng đàn trâu có xu hướng tăng nhẹ nhưng việc phát triển chăn nuôi trâu vẫn gặp nhiều khó khăn do hiệu quả kinh tế chưa cao. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,2 nghìn con bò, tăng 1,82% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 28,9 nghìn con, tăng 1,58%); quy mô đàn bò được duy trì và phát triển nhờ thị trường tiêu thụ tương đối ổn định, giá cả cơ bản thuận lợi; các cơ sở chăn nuôi chú trọng tái đàn có kiểm soát, cải thiện chất lượng con giống và đẩy mạnh áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.540 nghìn con, tăng 4,05% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.228 nghìn con, tăng 7,46%); đàn lợn tăng do có thêm đóng góp của một số doanh nghiệp và chi nhánh chính thức đi vào hoạt động; đồng thời các trang trại chăn nuôi gia công tiếp tục mở rộng sản xuất, nâng công suất chuồng trại và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong chuỗi tiêu thụ. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.420 nghìn con gia cầm, tăng 8,15% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.200 nghìn con, chiếm 72,26% trong tổng đàn gia cầm, tăng 11,29%); đàn gia cầm tăng cao do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm tăng cao trong dịp cuối năm và Tết Nguyên đán, người chăn nuôi chủ động điều chỉnh quy mô đàn để đáp ứng nhu cầu của thị trường. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, tại xã Tân Hội (xã cũ) phát sinh 01 hộ có lợn mắc bệnh, với số lợn bị tiêu hủy 05 con/94 kg. Lũy kế từ ngày 01/01/2026 đến nay, tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 1.085 con/52.022 kg và chỉ còn xã Tân Hội dịch bệnh chưa qua 21 ngày theo quy định. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện tiêu hủy, khoanh vùng xử lý bệnh DTLCP phát sinh; hướng dẫn UBND xã Phúc Thọ Lâm Hà khắc phục tồn tại và nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về phòng, chống bệnh DTLCP. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh đang vào mùa khô, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 33.801 m3, tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 67.382,1 m3, tăng 1,25%. - Sản lượng củi khai thác ước đạt 30.631,1 ste, tăng 0,79% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 61.287 ste, tăng 1,41%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/01/2026 - 10/02/2026) là 52 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 25 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 3,4 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 35 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 05 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 0,3 ha). Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/02/2026), tổng số vụ vi phạm là 120 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 42 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 5,5 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 35 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 05 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 0,3 ha). 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, tình hình nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định, thời tiết thuận lợi, không có dịch bệnh xảy ra. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 210,2 ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 467,2 ha, tăng 0,03% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 420 ha, giảm 0,4%; diện tích nuôi tôm (chủ yếu là tôm thẻ trắng) đạt 84 ha, tăng 4,24%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.360,5 tấn, tăng 3,62% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 370 tấn, tăng 2,78%); lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.665,5 tấn, tăng 2,47% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 720 tấn, tăng 1,69%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng tàu thuyền khai thác tích cực bám biển đánh bắt thủy sản nhằm phục vụ nhu cầu tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán. Những ngày đầu tháng tình hình thời tiết chưa thuận lợi, do ảnh hưởng của gió Đông Bắc; tuy nhiên nguồn lợi hải sản vẫn còn xuất hiện nhiều, đặc biệt là nguồn cá chỉ, cá cơm với mật độ dày nên tàu thuyền hoạt động đánh bắt hiệu quả cao, đều trên các tuyến. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn,... Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 15.768 tấn, tăng 5,72% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 15.768 tấn, tăng 5,72%). Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 35.127,7 tấn, tăng 3,73% (sản lượng khai thác biển đạt 35.030 tấn, tăng 3,72%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản nên sản xuất tôm giống ổn định với sản lượng ước đạt 1,98 tỷ post, tăng 2,59% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3,84 tỷ post, tăng 1,45%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp trong tháng trùng vào thời gian nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ nên các doanh nghiệp ngành khai khoáng; chế biến, chế tạo sản xuất không cao. Các ngành sản xuất, phân phối điện; cung cấp nước hoạt động ổn định. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, ngành công nghiệp tăng trưởng khá tích cực, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 8,24% so với cùng kỳ năm trước. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước giảm 16,5% so với tháng trước và tăng 1,42% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,90%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 2,0%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,98%. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 21,18%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,46%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 5,51%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,94%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong tháng Hai và 02 tháng đầu năm 2026, các sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp tăng trưởng tốt so với cùng kỳ, cụ thể một số sản phẩm chủ yếu như sau: - Sản phẩm đá xây dựng: trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 176.919 m3, chỉ bằng 57,66 % so với tháng trước và tăng 9,23% so với cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 21,16%, nguyên nhân do tháng 02/2026 các doanh nghiệp nghỉ trước và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ thời gian kéo dài. Tuy nhiên, so với tháng cùng kỳ và cộng dồn so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn vật liệu xây dựng trong điều kiện đẩy mạnh đầu tư công, các doanh nghiệp khai thác đá đã chủ động tăng sản lượng ngay từ những tháng đầu năm để phục vụ nhu cầu xây dựng tăng mạnh trong năm. - Sản phẩm thủy sản chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.174 tấn, tăng 6,51% so với tháng trước, tăng 52,08% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 57,53% do các doanh nghiệp tăng cường sản xuất và để chủ động nguồn hàng trong các tháng trong năm. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 2.478 tấn, giảm 12,13% so với tháng trước, giảm 15% so với tháng cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 2,46%, nguyên nhân do tháng này các doanh nghiệp nghỉ trước và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu và nền tảng công nghệ sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản có cơ sở vững chắc để phát triển trong thời gian tới. - Sản phẩm đồ uống: Ước trong tháng sản lượng đạt 25.018 nghìn lít, giảm 4,96% so với tháng trước nhưng tăng 7,43% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 19,84%. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên vật liệu tăng cao so với năm trước (như: Malt, gạo, đường) cũng như sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm bia trong thời gian gần đây và sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa và thế giới. Tuy nhiên, so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn hàng phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ (đặc biệt sản phẩm rượu vang trái cây đang ngày càng được ưa chuộng). - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng sản lượng ước đạt 383 nghìn đôi, chỉ bằng 58,89% so với tháng trước nhưng tăng 17,81% so với tháng cùng kỳ và lũy kế 02 tháng năm 2026 tăng 52,87%, nguyên nhân giảm so với tháng trước là do tháng 02/2026 doanh nghiệp nghỉ Tết dài ngày và so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do phục vụ nhu cầu cuối năm. - Sản phẩm phân bón: Ước trong tháng sản lượng sản xuất 6.195 tấn, giảm 6,47% so với tháng trước nhưng tăng 23,38% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 48,19%. Nguyên nhân giảm mạnh so với tháng trước một phần do nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong mùa khô có xu hướng giảm, mặt khác do Công ty TNHH chế biến khoảng sản Thân Gia đã ngừng hoạt động. Tuy nhiên, so với tháng cùng kỳ năm trước vẫn tăng mạnh do trên địa bàn có Nhà máy hóa chất Đức Giang Đăk Nông đi vào sản xuất từ quý II/2025. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 121 nghìn tấn, giảm 6,41% so với tháng trước và giảm 2,25% so với cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 giảm 0,53%. - Điiảm 0,53%. 1 Ước trong tháng sản lượng đạt 2.246,4 triệu kwh, giảm 16,28% so với tháng trước và giảm 2,0% so với cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 5,26%. - Điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 472 triệu kwh, giảm 3,59% so với tháng trước nhưng tăng 4,4% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 4,84%. Do tháng 02/2026 nghỉ Tết dài ngày nên lượng điện thương phẩm giảm so với tháng trước (chủ yếu là điện sử dụng trong các nhà máy sản xuất công nghiệp). 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 5,27% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,97%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,98%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,89%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,74%. Khối doanh nghiệp nhà nước giảm 1,93% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 8,79%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,27%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,06% so với cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,04%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,93%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,30%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,04%. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) - KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,77ha/132,62 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%. - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 55,95 ha/74,58 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,44 ha/51,44 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,09 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn 6 nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,66 ha/90,78 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,88 ha/276,93 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,35 ha/202,32 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,1 ha/210,84 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130,6 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,42 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Việc triển khai thực hiện hiệu quả vốn đầu tư công không những giúp tỉnh Lâm Đồng hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của năm, mà còn tạo động lực cho đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030. Năm 2026, tỉnh Lâm Đồng dự kiến triển khai 43 dự án mới trên nhiều lĩnh vực và là các dự án trọng điểm không chỉ đơn thuần là xây dựng hạ tầng mà còn đóng vai chiến lược để khơi thông nguồn lực, tạo đột phá cho giai đoạn mới. Trong tháng trùng vào dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ nhưng với mục tiêu thực hiện 100% kế hoạch vốn đầu tư công nhiều công trình vẫn tiếp tục được triển khai thực hiện nhằm đảm bảo đúng tiến độ. Bên cạnh đó, tỉnh cũng giao kế hoạch vốn 2026 để khởi công cho 07 dự án mới đủ điều kiện thực hiện và tiếp tục thúc đẩy tiến độ hoàn thiện trình tự, thủ tục để sớm khởi công các dự án còn lại. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 590,8 tỷ đồng, giảm 0,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 555,4 tỷ đồng, giảm 0,46% (vốn cân đối ngân sách tỉnh tháng 02/2026 ước đạt 260,95 tỷ đồng, giảm 2,46% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 78,12 tỷ đồng, giảm 50,69% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 9 tỷ đồng, giảm 31,97% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 204,4 tỷ đồng, tăng 75,1% so với cùng kỳ; vốn khác 2,96 tỷ đồng, tăng 44,94% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 35,4 tỷ đồng, giảm 3,34% so với cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.212,2 tỷ đồng, tăng 4,51% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.129,8 tỷ đồng, tăng 4,54% (vốn cân đối ngân sách tỉnh 02 tháng đầu năm ước đạt 528,41 tỷ đồng, tăng 2,49% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 161,14 tỷ đồng, giảm 46,97% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 19,19 tỷ đồng, giảm 25,92% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 414,53 tỷ đồng, tăng 79,15% so với cùng kỳ; vốn khác 6,54 tỷ đồng, tăng 61,88% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 82,4 tỷ đồng, tăng 4,11% so với cùng kỳ. Tình hình phát triển doanh nghiệp: tính đến ngày 23/02/2026, toàn tỉnh có 900 doanh nghiệp thành lập mới, gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm trước; 823 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 7,84%; 175 doanh nghiệp giải thể, gấp 2 lần; 386 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 16,62%. Tổng số vốn trong 02 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp đã đăng ký 3.242 tỷ đồng, giảm 1,84% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình thu hút đầu tư: tính đến ngày 23/02/2026, toàn tỉnh có 07 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 54.320 tỷ đồng; 07 dự án xin điều chỉnh quy mô dự án, tổng mức đầu tư, tiến độ thực hiện dự án và một số nội dung khác. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh có 2.935 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 828.274 tỷ đồng (trong đó có 236 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 224.284 tỷ đồng). III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải 1. Thương mại Trong tháng, hoạt động của các cơ sở kinh doanh trước, trong và sau Tết Nguyên đán ổn định; hàng hóa đáp ứng kịp thời nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng cho Tết Nguyên đán. Thị trường hàng hóa phục vụ dịp Tết sôi động, các mặt hàng phong phú và đa dạng. Sau Tết Nguyên đán, tình hình thương mại của tỉnh đã trở lại bình thường; các chợ, trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị đã mở cửa phục vụ sớm cho nhu cầu người dân địa phương và du khách. Hoạt động du lịch trong tháng diễn ra khá sôi động, lượng khách đến tăng cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước; các điểm du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch triển khai thực hiện tốt công tác phục vụ khách du lịch trong dịp Tết Nguyên đán. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa kịp thời; các phương tiện đường thuỷ vận tải hành khách và hàng hóa thông suốt đảm bảo hàng hóa phục vụ Tết cho người dân đảo Phú Quý. 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Trong tháng, các ngành, lĩnh vực phát triển ổn định, góp phần bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn. Công tác chuẩn bị nguồn hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân và du khách được triển khai chủ động, kịp thời, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Giá cả các mặt hàng thiết yếu cơ bản ổn định; không xảy ra tình trạng thiếu hàng, gián đoạn nguồn cung hay đầu cơ, tăng giá bất hợp lý; góp phần bảo đảm an sinh xã hội và giữ vững ổn định kinh tế - xã hội của tỉnh. Tỉnh đã triển khai các giải pháp thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp; hoạt động xúc tiến thương mại được tăng cường, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Nhờ đó, lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn cơ bản thông suốt; nguồn cung dồi dào, đa dạng, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng[1]. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.172,3 tỷ đồng, tăng 13,17% so với tháng trước và tăng 27,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.466,2 tỷ đồng, tăng 11,31% so với tháng trước và tăng 23,34% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.585,8 tỷ đồng, tăng 21,61% so với tháng trước và tăng 43,02% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.120,3 tỷ đồng, tăng 10,56% so với tháng trước và tăng 23,81% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 32.345,7 tỷ đồng, tăng 16,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 19.868,7 tỷ đồng, tăng 13,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 6.534,4 tỷ đồng, tăng 27,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 5.942,6 tỷ đồng, tăng 14,85% so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 10.466,2 tỷ đồng, tăng 11,31% so với tháng trước và tăng 23,34% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 19.868,7 tỷ đồng, tăng 13,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ như: lương thực, thực phẩm ước đạt 7.528,5 tỷ đồng, tăng 18,14% so với cùng kỳ năm trước; may mặc ước đạt 1.342,4 tỷ đồng, tăng 16,95% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 2.971,3 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.558,9 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 2.593,1 tỷ đồng, tăng 11,51% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Tình hình lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra thuận lợi, các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cơ sở kinh doanh bán lẻ hoạt động bình thường, cung ứng lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng về chủng loại, phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, không có tình trạng găm hàng, sốt giá; không có hiện tượng mất an toàn thực phẩm; các cửa hàng xăng dầu trên địa bàn tỉnh cung ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân. Từ ngày 13/01 đến ngày 13/02/2026, tổng số vụ kiểm tra là 154 vụ, số vụ vi phạm là 153 vụ, số vụ xử lý là 167 vụ (01 vụ kỳ trước chuyển sang), số vụ đang xử lý là 01 vụ (từ kỳ trước chuyển sang). Tổng số tiền xử phạt là 1.647 triệu đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy là 522,73 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng Do tháng Hai có Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao theo quy luật tiêu dùng vào dịp Tết; giá xăng dầu trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới; giá gas trong nước tăng theo giá gas thế giới; giá thịt lợn tăng do ảnh hưởng dịch bệnh nên nguồn cung ít; giá ăn uống ngoài gia đình và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng theo nhu cầu tiêu dùng là những nguyên chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng tháng 02/2026 tăng 0,61% so với tháng trước; tăng 0,40% so với tháng 12/2025 và tăng 4,52% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 02 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước. * CPI tháng Hai so với tháng trước - Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 10 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,31%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,65%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,98%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,42%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,51%; Giao thông tăng 1,36%; Thông tin và truyền thông tăng 0,11%; Giáo dục tăng 0,02%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,95%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,92%. Có 01 nhóm hàng giá ổn định: Thuốc và dịch vụ y tế 100%. - Các nguyên nhân làm tăng/giảm CPI trong tháng + Nguyên nhân tăng: Giá gas trong tháng tăng 1,37% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh tăng 5.184 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới (Giá gas thế giới bình quân tháng 02/2026 công bố ở mức 542,5 USD/tấn, tăng 20 USD/tấn so với tháng 01/2026). Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 05, 12, 20 và 26 tháng 02/2026, tính bình quân chung tháng 02/2026 chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu tăng 2,01% so với tháng trước. Nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thực phẩm, đồ uống, may mặc chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên Đán tăng cao hơn tháng trước, trong đó nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng ở mức 0,98% so tháng trước. Nhu cầu đi lại và bảo dưỡng phương tiện cuối năm tăng nên giá dịch vụ giao thông công cộng và bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng so với tháng trước. + Nguyên nhân giảm: Giá rau tươi giảm 10,12% so tháng trước, do đang vào vụ thu hoạch rau và thời tiết thuận lợi nên sản lượng rau tươi dồi dào, nhiều chủng loại. Giá nhóm lương thực giảm 0,58% so tháng trước, trong đó giảm chủ yếu các mặt hàng gạo tẻ thường và gạo tẻ ngon. Nguyên nhân, do nguồn cung thị trường nhiều và ảnh hưởng giá gạo xuất khẩu giảm do nguồn cung gạo thế giới tăng. * CPI bình quân 02 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025: tăng 4,40%. - Nguyên nhân tăng: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,99%, trong đó tăng do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo 2 tháng đầu năm 2026 tăng 1,72% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 8,63%, làm CPI chung tăng 1,95 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng mạnh 14,98% do thiếu hụt nguồn cung trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết; Chỉ số giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 6,95%, do giá lương thực, thực phẩm, giá gas, giá thuê mặt bằng và nhân công tăng. Do đó các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình có giá phụ thu trong dịp Tết tăng từ 20 - 30% so ngày thường như: Phở/bún/miến/mỳ, cơm bình dân, trà sữa, nước cam, các loại sinh tố trái cây, chè lipton…; Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,84% do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào; Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 7,16%, làm CPI chung tăng 0,48 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Nguyên nhân giảm: Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,91% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,28 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 8,98%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước; Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,19%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú, tạo không khí vui tươi, phấn khởi phục vụ Nhân dân và du khách dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Nổi bật là Chợ hoa Xuân và mua sắm Tết “Lâm Đồng đại ngàn 2026”, Hội Tết Bính Ngọ, các chương trình nghệ thuật đặc sắc mừng xuân; Giải võ thuật cổ truyền tỉnh Lâm Đồng; Giải Việt dã - leo núi Tà Cú trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh lần thứ I; vòng loại “Race to Legends” thuộc Vietnam Legends Festival 2026; Giải Lướt ván buồm quốc tế Fun Cup lần thứ 25 năm 2026. Tại Di tích tháp Pô Sah Inư, các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian Chăm được tổ chức, góp phần quảng bá giá trị truyền thống và đáp ứng nhu cầu tham quan, thưởng lãm của người dân và du khách. Song song đó, nhiều doanh nghiệp lưu trú chủ động tổ chức các chương trình đón Tết đặc sắc nhằm gia tăng trải nghiệm cho du khách. Khu nghỉ dưỡng biển Asteria Mũi Né triển khai chuỗi hoạt động mừng Tết từ ngày 14/2 đến 22/2 (27 đến mùng 6 Tết) với không gian đậm phong vị Tết cổ truyền; The Cliff Resort & Residences tổ chức Lễ hội Bánh chưng lần thứ 13 năm 2026; Radisson Phan Thiết Resort xây dựng chương trình chủ đề “Tết Xưa” diễn ra từ ngày 15-19/2 (28 đến mùng 3 Tết); TTC World - Thung lũng Tình Yêu khởi động chuỗi hoạt động “Vui xuân rộn ràng - Lộc xuân gõ cửa”. Hoạt động lữ hành được chuẩn bị chủ động với các tour đầu năm phục vụ du khách. Hệ thống nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống duy trì hoạt động ổn định, bảo đảm chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, niêm yết giá công khai và tuân thủ quy định quản lý, góp phần giữ vững hình ảnh điểm đến an toàn, thân thiện và hấp dẫn. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.965,6 nghìn lượt, tăng 18,69% so tháng trước và tăng 40,16% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 82 nghìn lượt, tăng 17,95% so với tháng trước và tăng 33,85% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.664,1 nghìn ngày khách, tăng 18,65% so với tháng trước và tăng 42,38% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 190 nghìn lượt khách, tăng 5,88% so với tháng trước và tăng 39,05% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 588,8 nghìn ngày khách, tăng 6,03% so với tháng trước và tăng 43,25% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 3.621,6 nghìn lượt, tăng 27,96% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 151,5 nghìn lượt, tăng 24,69% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 6.752,1 nghìn ngày khách, tăng 30,06% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 đạt 369,4 nghìn lượt, tăng 43,93% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 1.144,1 nghìn ngày khách, tăng 47,21% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 742,1 tỷ đồng, tăng 20,51% so với tháng trước và tăng 39,27% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.795,1 tỷ đồng, tăng 22,21% so với tháng trước và tăng 44,16% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 48,7 tỷ đồng, tăng 6,77% so với tháng trước và tăng 37,45% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.357,8 tỷ đồng, tăng 27,24% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 5.082,2 tỷ đồng, tăng 27,44% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 94,3 tỷ đồng, tăng 22,93% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.570,9 tỷ đồng, tăng 19,42% so với tháng trước và tăng 43,46% so với cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 10.236,1 tỷ đồng, tăng 30,67% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.120,3 tỷ đồng, tăng 10,56% so với tháng trước và tăng 23,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 738,6 tỷ đồng, giảm 1,81% so với tháng trước (nhu cầu mua bán và cho thuê bất động sản giảm hơn so với tháng trước do rơi vào kỳ nghỉ Tết Nguyên đán) và tăng 10,99% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 186,6 tỷ đồng, tăng 11,43% so với tháng trước và tăng 26,82% so với cùng kỳ (tăng chủ yếu ở các nhóm ngành cho thuê xe ô tô, xe máy và máy móc thiết bị thể thao...); Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 150,1 tỷ đồng, giảm 0,1% so với tháng trước và tăng 26,31% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 252,6 tỷ đồng, tăng 6,34% so với tháng trước và tăng 29,53% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.459,2 tỷ đồng, tăng 17,95% so với tháng trước (trong tháng các khu vui chơi giải trí hoạt động khá nhộn nhịp nhằm phục vụ cho người dân và du khách dịp nghỉ tết) và tăng 29,82% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 333,2 tỷ đồng, tăng 19,97% so với tháng trước (nhu cầu sửa chữa đồ dùng cá nhân và gia đình dịp trước tết tăng khá, bên cạnh đó nhu cầu làm đẹp để đón tết cũng tăng hơn) và tăng 23,5% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 5.942,6 tỷ đồng, tăng 14,85% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 1.490,7 tỷ đồng, tăng 8,56% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 354,4 tỷ đồng, tăng 18,59% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 300,3 tỷ đồng, tăng 16,96% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 490,1 tỷ đồng, tăng 17,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 2.696,2 tỷ đồng, tăng 18,24% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 610,8 tỷ đồng, tăng 11,69% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng các đơn vị kinh doanh du lịch đã tích cực phục vụ du khách trong dịp Tết Nguyên đán. Lượng khách du lịch nhất là khách nội địa đến tham quan và nghỉ dưỡng tại Lâm Đồng tăng hơn so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ (do Tết Nguyên đán năm trước diễn ra trong tháng 01). Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước tăng 12,75% so với tháng trước và tăng 30,29% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước tăng 21,79% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.078,0 nghìn HK, tăng 11,7% so với tháng trước và tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 437.365,1 nghìn HK.Km, tăng 9,98% so với tháng trước và tăng 27,65% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 5.833,6 nghìn HK, tăng 23,24% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 835.058,4 nghìn HK.Km, tăng 23,17% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.242,2 nghìn tấn, tăng 12,46% so với tháng trước và tăng 31,04% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 327.299,7 nghìn tấn.Km, tăng 11,55% so với tháng trước và tăng 30,6% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 4.236,0 nghìn tấn, tăng 20,58% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 620.710,3 nghìn tấn.Km, tăng 20,64% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.242,6 tỷ đồng tăng 12,75% so với tháng trước và tăng 30,29% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.344,6 tỷ đồng, tăng 21,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 793,9 tỷ đồng, tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.138,9 tỷ đồng, tăng 22,09% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 319,7 tỷ đồng, tăng 16,96% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 92,1 tỷ đồng, tăng 2,95% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 420 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 344,3 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 75,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 1.159 tỷ đồng, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.273,4 tỷ đồng, bằng 21,12% kế hoạch năm và tăng 20,15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 6.812,9 tỷ đồng, bằng 20,85% kế hoạch năm và tăng 16,43% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 338,2 tỷ đồng, bằng 19,21% kế hoạch năm và tăng 67,39% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa 02 tháng đầu năm 2026: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 849 tỷ đồng (bằng 22,31% kế hoạch năm và tăng 21,99% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 601 tỷ đồng (bằng 43,56% kế hoạch năm và tăng 65,94%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 2.042 tỷ đồng (bằng 30,53% kế hoạch năm và tăng 60,28%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 442 tỷ đồng (bằng 16,20% kế hoạch năm và giảm 22,36%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 669 tỷ đồng (bằng 9,07% kế hoạch năm và tăng 19,88%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 1.596 tỷ đồng (bằng 27,51% kế hoạch năm và giảm 2,06%). 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước 4.224 tỷ đồng, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước 7.224 tỷ đồng, bằng 14,81% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 560 tỷ đồng, bằng 4,24% kế hoạch năm; chi thường xuyên 5.395 tỷ đồng, bằng 17,77% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: đến 31/01/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 234.498 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 5.223 tỷ đồng[2], với tỷ lệ tăng 2,20%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 231.781 tỷ đồng (chiếm 98,84% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.717 tỷ đồng, (chiếm 1,16% tổng huy động vốn). Ước 28/02/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 236.800 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 7.525 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,28%. Hoạt động tín dụng: đến 31/01/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 371.456 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 473 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,10%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 368.861 tỷ đồng (chiếm 99,30% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.595 tỷ đồng (chiếm 0,70% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 264.875 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 106.581 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 28/02/2026, dư nợ cho vay đạt 371.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,10%. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,33% - 0,37%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 4,3% - 4,75%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 5,93% - 7,36%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 5,84% - 7,06%/năm; lãi suất huy động USD: 0%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4,00%/năm; cho vay đối với các khoản vay mới ở mức 7,37% - 9,74%/năm. Lãi suất cho vay USD đối với các khoản cho vay mới ở mức 3,97% - 4,19%/năm. Dư nợ cho vay: đến 31/01/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 188.722 tỷ đồng, chiếm 50,81% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.235 tỷ đồng, chiếm 8,68% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm nghiệp đạt 150.499 tỷ đồng, chiếm 40,51% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.675 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,80% trong tổng dư nợ tín dụng. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026); tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền cổ động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 trên các tuyến đường chính, khu vực trung tâm các xã, phường, đặc khu; tổ chức tuyên truyền công tác đảm bảo an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm; công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; phòng, chống gian lận thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng hóa kém chất lượng nhằm đảm bảo an toàn cho người dân vui Xuân đón Tết. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ mừng Đảng mừng Xuân Bính Ngọ 2026: Chương trình bắn pháo hoa nổ tầm thấp đón giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 tại 11 địa phương trên địa bàn tỉnh; chương trình nghệ thuật phục vụ gặp mặt kiều bào; chương trình biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân và du khách từ mùng 01 đến mùng 03 Tết; tổ chức chiếu phim, chương trình văn nghệ và Hội Báo xuân tại Trại giam Đại Bình; Hội chợ hoa xuân và mua sắm Tết; Hội Tết Bính Ngọ; Hội Báo xuân Bính Ngọ; triển lãm chào mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 với chủ đề “Sắc xuân đại ngàn”; “Sắc xuân Đà Lạt”; “Cổ vật và sắc xuân”; “Lâm Đồng vào xuân”; “Vùng đất và con người Lâm Đồng”; Chương trình “Xuân Chiến sĩ” lần thứ XI năm 2026; bên cạnh đó, các địa phương đã tổ chức Giải đua truyền thống tại đặc khu Phú Quý, Lễ hội Lồng Tồng tại xã Cát Tiên 2, Lễ hội cúng bến nước tại xã Quảng Khê,... Ngoài ra, đã thực hiện 21 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Đón 34.073 lượt khách, trong đó có 3.674 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 12.556 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 7.914 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 1.297 lượt; Cơ sở 1 - Đông Lâm Đồng: 11.931 lượt; Cơ sở 2 - Tây Lâm Đồng: 375 lượt). Ngoài ra, đã tổ chức thu thập tư liệu về lễ tấu chức hệ phái thầy vỗ (Muduen) - trống Baranung trong lễ hội Rija của người Chăm tại xã Bắc Bình phục vụ công tác thuyết minh, giới thiệu khách tham quan, nghiên cứu tại Trung tâm trưng bày văn hóa Chăm; đồng thời duy trì thường xuyên các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian phục vụ du khách tại Trung tâm Trưng bày văn hóa Chăm; di tích Tháp Pô Sah Inư; di tích Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt và di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận tỉnh Lâm Đồng: Tổ chức phục vụ 77 đoàn với 5.373 lượt người, trong đó có 105 khách nước ngoài. Phục vụ 08 lễ viếng và 01 buổi xem phim tư liệu. Tổ chức các hoạt động mừng Đảng - mừng Xuân Bính Ngọ và kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026). Trưng bày triển lãm 130 ảnh chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những chặng đường cách mạng với tên gọi “Dục Thanh nhớ Bác”; trưng bày ảnh nghệ thuật, ảnh tư liệu “Sắc xuân Lâm Đồng” và “Xuân về dưới mái Trường Dục Thanh” tại khu di tích Dục Thanh. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 1.050 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Thường xuyên sưu tầm tài liệu, hiện vật, các mẩu chuyện kể của cán bộ, chiến sĩ cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ phục vụ trưng bày bổ sung tại nhà Tưởng niệm - Trưng bày Khu di tích. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 149 thẻ (34 thẻ thiếu nhi); phục vụ 249.629 lượt bạn đọc; luân chuyển 34.997 lượt tài liệu; bổ sung 782 bản sách từ nguồn biếu tặng; số hóa 3.959 trang tài liệu. Trưng bày theo chuyên đề 05 đợt với 2.982 tài liệu; trưng bày, giới thiệu 133 bản sách mới; cập nhật 241 tin bài lên trang website và phát hành 02 tập Thông tin Tư liệu Lâm Đồng - Khu vực Đông Lâm Đồng với 190 tin bài. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Giải Việt dã - Leo núi, thuộc khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026 gắn với Giải Leo núi Tà Cú tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026 tại Khu du lịch Cáp treo Tà Cú, xã Hàm Thuận Nam; Giải Đua thuyền truyền thống Phan Thiết mở rộng - Mừng Xuân Bính Ngọ 2026; Giải Võ thuật Cổ truyền tỉnh Lâm Đồng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; tổ chức Đại hội Thể dục thể thao ngành Giáo dục lần thứ I năm 2026; doanh nghiệp tư nhân Trăng Tròn tổ chức Giải Lướt ván buồm lần thứ 25 - Mui Ne Fun Cup. Ngoài ra, đã thành lập đội bóng đá nữ dân tộc thiểu số tham gia thi đấu “Giải bóng đá nữ các dân tộc thiểu số lần thứ nhất - năm 2026”. - Thể thao thành tích cao: Số huy chương đạt được từ đầu năm tính đến 13/02/2026: Đạt 15 huy chương (03 HCV, 03 HCB, 09 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Tiếp tục chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục; tăng cường giáo dục thể chất, hoạt động thể thao, y tế học đường, rèn luyện đạo đức, kỹ năng sống và bảo đảm an toàn trường học. Trong tháng, đã tổ chức Chương trình trao học bổng cho học sinh-sinh viên nghèo học giỏi do Tập đoàn CJ CheilJedang tài trợ cho 100 học sinh, sinh viên với tổng giá trị 510 triệu đồng. Phối hợp với Quỹ vì Trẻ em khuyết tật Việt Nam tổ chức trao tặng học bổng cho 82 học sinh khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông cũ với tổng số tiền 205 triệu đồng, trao học bổng “Hoa Xương Rồng” năm 2026 cho 200 học sinh khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập, với tổng giá trị học bổng 1.000 triệu đồng. Cuối học kỳ I năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.592 cơ sở giáo dục và đào tạo, bao gồm: 525 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó: 400 công lập và 125 ngoài công lập); 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó 558 công lập và 06 ngoài công lập); 365 trường trung học cơ sở (trong đó 363 công lập và 02 ngoài công lập); 122 trường trung học phổ thông, trong đó 02 trường phổ thông dân tộc nội trú; 09 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông; 11 trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông; 100 trường trung học phổ thông; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó: 02 công lập và 01 ngoài công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ, Tin học; 10 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập; 02 trường trung cấp (ngoài công lập). Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên toàn tỉnh là 50.702 người. Đến nay, 100% xã, phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh có cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo đạt 90,45%, riêng trẻ 5 - 6 tuổi đạt 99,79%. Toàn tỉnh có 79 cơ sở Giáo dục nghề nghiệp (GDNN): 06 trường cao đẳng (trong đó 04 trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý, 02 trường thuộc bộ, ngành quản lý); 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập và 04 trường trung cấp tư thục); 29 trung tâm GDNN (13 công lập, 16 tư thục); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 đơn vị GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. 3. Y tế Trong tháng tập trung cho công tác chăm sóc sức khỏe người dân, xây dựng phương án sẵn sàng ứng phó với các tình huống của dịch bệnh; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, qua đó góp phần kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe để người dân vui Xuân đón Tết. * Tình hình dịch bệnh xảy ra trong tháng - Phòng chống sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 447 ca mắc, giảm 179 ca so với tháng trước và tăng 179 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.073 ca mắc. Trong tháng triển khai giám sát lăng quăng tại 71 điểm, đã phát hiện và xử lý 47 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng không phát hiện trường hợp mắc bệnh sốt rét; lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 01 ca mắc sốt rét ngoại lai. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 336 ca mắc, tăng 10 ca so với tháng trước và tăng 312 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 662 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 07 ca mắc, giảm 02 ca so với tháng trước và giảm 985 ca so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 16 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.181 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.245 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.272 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.044 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 2.262 trẻ, mũi 2 cho 3.491 trẻ và mũi 3 cho 1.932 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 2.865 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 445 bệnh nhân, đang điều trị 01 bệnh nhân; 11 bệnh nhân đang giám sát; chăm sóc tàn tật cho 438 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 6 người. - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 212 người, bệnh nhân lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) là 163 người, bệnh nhân lao kháng thuốc phát hiện, thu nhận là 05 người. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 04 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 02 trường hợp chuyển AIDS và 03 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.795 người mắc HIV, chuyển AIDS 1.784 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 437.951 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 32.826 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 203.704 ngày, xét nghiệm cho 497.033 tiêu bản, chẩn đoán 116.224 hình ảnh và phẫu thuật 4.323 trường hợp. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 916.211 lượt người; 69.835 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 424.046 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,2 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 80%; đã xét nghiệm cho 1.067.100 tiêu bản; chẩn đoán 255.941 hình ảnh và phẫu thuật cho 9.460 trường hợp. Tình hình khám chữa bệnh trong 07 ngày nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 từ ngày 16/02/2026 (ngày 29 âm lịch) đến hết ngày 22/02/2026 (Mùng 6 âm lịch): Tổng số bệnh nhân khám bệnh, cấp cứu là 6.528 người (tăng 1.614 người so với năm 2025); trong đó: Tai nạn giao thông đến điều trị 629 người (có 02 trường hợp tử vong tại bệnh viện và 03 trường hợp tử vong trên đường đến cơ sở y tế); tại nạn do pháo nổ 11 người (có 06 trường hợp nhập viện điều trị). - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 1.301 cơ sở, kết quả có 18 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 76,0 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương, địa phương và các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026. Chủ động cung cấp, theo dõi và tổng hợp thông tin báo chí, dư luận xã hội về tỉnh Lâm Đồng; thực hiện điểm báo, báo cáo định kỳ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Ban hành Kế hoạch công tác thông tin đối ngoại tỉnh Lâm Đồng và triển khai các hoạt động thông tin đối ngoại năm 2026. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 01 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, công tác an sinh xã hội được triển khai đồng bộ, đồng bào các DTTS đón Tết trong không khí vui tươi, phấn khởi. Các địa phương tổ chức lễ hội truyền thống, giao lưu cồng chiêng tại các buôn làng trong dịp Tết và tổ chức chương trình văn nghệ “Mừng Đảng - Mừng Xuân” mang đậm bản sắc dân tộc; tại một số xã vùng DTTS và biên giới như Nâm Nung, Đắk Mil, Quảng Trực, Quảng Hòa, Đạ Tẻh, Cát Tiên 3, Đam Rông 4,... tổ chức bắn pháo hoa tầm thấp vào thời khắc giao thừa để phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân. - Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo vùng đồng bào DTTS. Bên cạnh đó, tỉnh đã thăm, chúc Tết đối với cán bộ, chiến sĩ, công chức, người lao động và người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào DTTS, trong đó triển khai thực hiện chính sách đối với 883 người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào DTTS với tổng kinh phí 441,5 triệu đồng, qua đó kịp thời động viên, khích lệ, phát huy vai trò nòng cốt của người có uy tín trong công tác tuyên truyền, vận động đồng bào chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. - Công tác phục vụ người dân vùng đồng bào DTTS trong dịp Tết Nguyên đán 2026 được quan tâm triển khai, đã hoàn thành việc cung ứng hàng hóa xuống hệ thống các cửa hàng, đại lý trực thuộc trước Tết Đầu lúa và Tết Nguyên đán, qua đó bảo đảm nguồn cung ổn định, kịp thời phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân. Tại các điểm bán hàng, giá cả được niêm yết công khai, hàng hóa bảo đảm rõ nguồn gốc, xuất xứ; các mặt hàng tham gia chương trình bình ổn giá được thông báo công khai, góp phần ổn định thị trường, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Ban Trị sự GHPGVN tỉnh tổ chức Khánh tuế ân 2 sư, chúc thọ một số phật tử cao niên tại địa phương; một số nhà thờ, giáo xứ tham gia Hội chợ không đồng; tổ chức các gian hàng ẩm thực, phiên chợ đầu xuân và các trò chơi dân gian, bốc thăm trúng thưởng; lễ mừng xuân Bính Ngọ 2026; lễ cầu cho ông bà ngày Tết… Bên cạnh đó, tỉnh đã tổ chức các đoàn đi thăm, chúc mừng và động viên một số chức sắc, cơ sở thờ tự tiêu biểu, các cơ sở tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương đối với các tổ chức tôn giáo. Nhìn chung, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt các quy định của pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa và phong tục, tập quán của đồng bào, địa phương, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy các giá trị văn hóa tôn giáo và ổn định đời sống tinh thần của người dân. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng, tỉnh đã chú trọng chăm lo Tết cho người dân, thực hiện an sinh xã hội cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, gia đình bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, đồng bào vùng sâu, vùng xa, người có công với cách mạng, người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số. Trong dịp Tết Bính Ngọ 2026, tỉnh đã chi 153.774,6 triệu đồng (quà và tiền mặt) hỗ trợ; trong đó: 114.302,98 triệu đồng hỗ trợ cho người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng; 37.449,6 triệu đồng hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn; 1.220 triệu đồng hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội,… Nhìn chung, công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với người có công với cách mạng, gia đình liệt sĩ và các đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, đối tượng khó khăn,... luôn được lãnh đạo, chính quyền và cộng đồng quan tâm, góp phần cho người có công, gia đình liệt sĩ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội đón Tết vui tươi, đầm ấm. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 31/01/2026, toàn tỉnh có 308.982 người tham gia BHXH, tăng 0,28% so với tháng trước; có 221.748 người tham gia BHTN, giảm 6,0%; số người tham gia BHYT là 2.790.785 người, giảm 6,94% so với tháng trước (giảm do xã Phước Thể cũ không còn là xã đảo nên người dân không được hưởng lợi BHYT miễn phí và Hộ NLTS có thu nhập trung bình chưa được phê duyệt cấp thẻ BHYT). Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 82,38% dân số. Trong tháng 01 năm 2026, đã giải quyết mới 8.800 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.270 người (Trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 196 người; trợ cấp 1 lần cho 1.637 người; chế độ ốm đau cho 5.394 người; chế độ thai sản cho 1.259 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 314 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 1.192 người và hỗ trợ học nghề cho 78 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/01/2026 - 14/02/2026) Trong tháng xảy ra 88 vụ tai nạn giao thông, tăng 26 vụ so với tháng trước và tăng 10 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 45 người, tăng 11 người so với tháng trước và tăng 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 67 người, tăng 22 người so với tháng trước và tăng 10 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 150 vụ (trong đó có 2 vụ đường sắt), giảm 12 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 79 người, tăng 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 112 người, giảm 14 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng không xảy ra thiên tai. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 01 vụ, chưa thống kê giá trị thiệt hại. - Cháy, nổ: Từ ngày 16/01 đến ngày 15/02/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, giảm 5 vụ so với tháng trước và giảm 1 vụ so với cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 40,0 triệu đồng. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 11 vụ cháy, tăng 6 vụ so với cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 40 triệu đồng; không có thiệt hại về người. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 xảy ra 01 vụ vi phạm, giảm 6 vụ so cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 210 triệu đồng. * Đánh giá chung Trong 02 tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng ghi nhận nhiều tín hiệu khởi sắc, tạo nền tảng thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển của cả năm. Sản xuất nông nghiệp được triển khai đúng thời vụ, diện tích gieo trồng bảo đảm kế hoạch; chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản duy trì ổn định, không phát sinh dịch bệnh lớn. Khu vực công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng với chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,24% so với cùng kỳ. Hoạt động thương mại - dịch vụ diễn ra sôi động, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 16,09%, nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả cơ bản ổn định. Du lịch phục hồi mạnh mẽ với lượng khách tăng 27,96% và doanh thu tăng 30,67%, cho thấy sức hấp dẫn và năng lực phục vụ của địa phương ngày càng được nâng cao. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 20,15% so với cùng kỳ, bảo đảm nguồn lực cho chi đầu tư phát triển và các nhiệm vụ an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm; công tác chăm lo Tết cho Nhân dân được triển khai kịp thời, đúng đối tượng, góp phần giữ vững ổn định xã hội. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Tuy vậy, một số lĩnh vực vẫn chịu tác động của biến động thị trường và yếu tố thời tiết; tiến độ triển khai một số dự án và giải ngân vốn đầu tư công cần tiếp tục được đẩy nhanh để tạo động lực tăng trưởng bền vững trong thời gian tới. TKT Lâm Đồng [1] Kế hoạch số 3364/KH-UBND ngày 23/12/2025 của UBND tỉnh về dự trữ hàng hóa và bình ổn thị trường cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. [2] Tăng chủ yếu từ nguồn tiền gửi không kỳ hạn của Trung tâm phát triển quỹ đất phục vụ công tác đền bù giải phóng mặt bằng cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc, Bảo Lộc - Liên Khương.

Hội nghị tập huấn nghiệp vụ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 (Giai đoạn 2) tại Lâm Đồng
  •   27/02/2026 13:19

Trong 02 ngày (ngày 24, 25/02/2026, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 (giai đoạn 2). Đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng chủ trì và chỉ đạo Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo cấp tỉnh; lãnh đạo các phòng nghiệp vụ; công chức các phòng Thống kê Công nghiệp và Xây dựng, Thống kê Dịch vụ và Giá; lãnh đạo, công chức Thống kê cơ sở Đà Lạt và các điểm cầu trực tuyến tại Thống kê cơ sở các xã, phường, đặc khu. Phát biểu khai mạc Hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng nhấn mạnh cần đẩy nhanh tiến độ Tổng điều tra để kịp thời đáp ứng yêu cầu chỉ đạo, điều hành trong giai đoạn mới, nhất là khi địa phương chuyển sang mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Việc hoàn thành và công bố kết quả sơ bộ vào ngày 30/6/2026 theo kế hoạch điều chỉnh sẽ cung cấp thông tin kịp thời cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong điều hành, đặc biệt năm 2026 là năm bản lề của nhiều mục tiêu quan trọng. Tuy nhiên, đẩy nhanh tiến độ phải đi đôi với bảo đảm kỷ luật nghiệp vụ, tuân thủ quy trình và chất lượng số liệu. Tổng điều tra kinh tế năm 2026 có quy mô lớn, phạm vi rộng, nội dung phức tạp; giai đoạn 2 tập trung vào khối doanh nghiệp, hợp tác xã, chi nhánh và văn phòng đại diện nước ngoài, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, các hội, hiệp hội và tổ chức phi chính phủ nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam, do đó công chức tham gia cần nắm vững nội dung phiếu điều tra và quy trình thu thập, kiểm tra, xử lý, tổng hợp thông tin, bảo đảm số liệu đầy đủ, chính xác và kịp thời. Tại Hội nghị, các báo cáo viên đã lần lượt giới thiệu chi tiết nội dung các loại phiếu điều tra doanh nghiệp như: Phiếu 1/DNTB; 1.10/DN-VĐT; 1.2/DN-XD; 2/DN-NN; 1.3/DN-VTKB; 1.12/DN-TN; 1.4/DN-LT; 1.5/DN-LH; 1.13/DN-DVK; 1.1/DN-CN; 1.11/DN-NL; 1.6/DN-DVGC; 1.7/DN-FATS; 1.17/DN-XNKDV; 1.9/DN-BH; 1.14/DN-YT; 1.15/DN-GD; 1.8/DN-TCTD; cùng với phiếu 3/SN (đơn vị sự nghiệp ngoài công lập) và phiếu 4/HH (hội, hiệp hội; tổ chức phi chính phủ nước ngoài). Nội dung tập huấn tập trung làm rõ đối tượng điều tra, phạm vi thu thập, cách ghi phiếu, các lỗi thường gặp và phương án xử lý tình huống phát sinh trong thực tế. Bên cạnh đó, Hội nghị dành thời gian hướng dẫn sử dụng phần mềm quản lý chung và phần mềm thu thập thông tin điện tử phục vụ Tổng điều tra kinh tế năm 2026, bảo đảm việc cập nhật, truyền nhận dữ liệu được thực hiện thống nhất, thông suốt và an toàn. Phần thảo luận được tổ chức sôi nổi với nhiều ý kiến trao đổi về nghiệp vụ điều tra, phương án tiếp cận doanh nghiệp, xử lý các trường hợp đặc thù và công tác phối hợp giữa Ban Chỉ đạo tỉnh với Ban Chỉ đạo cấp xã; giữa các phòng chuyên môn với Thống kê cơ sở. Các ý kiến vướng mắc đã được Ban Chỉ đạo tỉnh và báo cáo viên giải đáp cụ thể, góp phần thống nhất cách hiểu và cách thực hiện trong toàn tỉnh. Phát biểu bế mạc, đồng chí Phạm Quốc Hùng yêu cầu các phòng nghiệp vụ và Thống kê cơ sở tiếp tục rà soát danh sách đơn vị điều tra, chuẩn bị đầy đủ điều kiện nhân lực, phương tiện, chủ động phối hợp với chính quyền địa phương và các đơn vị liên quan, quyết tâm triển khai thành công Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, bảo đảm chất lượng, tiến độ theo đúng phương án và kế hoạch đề ra. Hội nghị tập huấn đã trang bị kiến thức nghiệp vụ cần thiết, tạo sự thống nhất trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện, là tiền đề quan trọng để triển khai hiệu quả giai đoạn 2 của Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên địa bàn tỉnh. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh Hội nghị tập huấn:Đ/c Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng phát biểu và chỉ đạo Hội nghị

Lâm Đồng chủ động triển khai, rà soát và điều chỉnh kế hoạch Tổng điều tra kinh tế năm 2026
  •   10/02/2026 14:58

Sáng ngày 09/02/2026, Ban Chỉ đạo Trung ương đã tổ chức Hội nghị triển khai, rà soát và điều chỉnh kế hoạch Tổng điều tra kinh tế năm 2026 do Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng - Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương chủ trì và trực tuyến 34 tỉnh, thành phố cả nước. Tại điểm cầu Thống kê tỉnh Lâm Đồng, tham dự có ông Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng Ban thường trực Ban chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế 2026 tỉnh, các thành viên Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh, Tổ Thường trực giúp việc Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh cùng đại diện các sở, ngành và địa phương liên quan. Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là cuộc tổng điều tra thống kê quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, được thực hiện định kỳ 5 năm một lần theo Luật Thống kê. Kết quả điều tra là nguồn thông tin đầu vào quan trọng để biên soạn các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu như GDP, GRDP, phục vụ công tác quản lý, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của Trung ương và địa phương. So với các kỳ trước, Tổng điều tra kinh tế năm 2026 có nhiều điểm mới, trong đó nổi bật là mở rộng đối tượng điều tra, cập nhật nội dung phản ánh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học - công nghệ trong sản xuất, kinh doanh; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, khai thác và liên thông dữ liệu hành chính nhằm nâng cao chất lượng và độ tin cậy của số liệu. Theo kế hoạch điều chỉnh, Tổng điều tra kinh tế năm 2026 được thực hiện hai giai đoạn: Giai đoạn 1, điều tra cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng và tổ hợp tác, thời gian thu thập thông tin đến ngày 10/3/2026; Giai đoạn 2, điều tra doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, hội, hiệp hội và tổ chức phi chính phủ nước ngoài, triển khai từ ngày 01/3/2026 đến ngày 30/4/2026. Sau khi hoàn thành thu thập thông tin, công tác kiểm tra, làm sạch và tổng hợp số liệu được triển khai đồng bộ ở các cấp. Trên cơ sở rà soát tiến độ, Ban Chỉ đạo Trung ương đã thống nhất điều chỉnh kế hoạch thực hiện, theo hướng rút ngắn thời gian xử lý, công bố kết quả sơ bộ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 vào ngày 30/6/2026, sớm hơn so với kế hoạch ban đầu là 7 tháng. Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng - Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ương yêu cầu các bộ, ngành và địa phương tập trung cao độ cho công tác tổ chức thực hiện, tăng cường trách nhiệm của Ban Chỉ đạo các cấp; chủ động phối hợp, bám sát tiến độ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình điều tra. Đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm chất lượng, tính đầy đủ, chính xác và nhất quán của số liệu, coi đây là yếu tố then chốt quyết định thành công của cuộc Tổng điều tra. Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Trung ương, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng ngành; phát huy vai trò của cán bộ thống kê các cấp, quyết tâm triển khai Tổng điều tra kinh tế năm 2026 đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh tại Hội nghị:Đồng chí Nguyễn Văn Thắng - Bộ trưởng Bộ Tài chính, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 Trung ươngĐồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng Ban thường trực Ban chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế 2026 tỉnh

Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Buổi gặp mặt cán bộ hưu trí mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
  •   07/02/2026 08:44

Chiều ngày 05/02/2026, trong không khí hân hoan của những ngày đầu xuân mới, Thống kê tỉnh Lâm Đồng đã long trọng tổ chức Buổi gặp mặt các thế hệ cán bộ, công chức hưu trí. Đây là dịp để các thế hệ người làm công tác thống kê cùng ôn lại truyền thống, chia sẻ niềm vui và thắt chặt tình đoàn kết trước thềm Xuân Bính Ngọ năm 2026. Tham dự buổi gặp mặt, về phía lãnh đạo đương nhiệm có đồng chí Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh cùng các đồng chí trong Ban Lãnh đạo, lãnh đạo các phòng thuộc Thống kê tỉnh và Thống kê cơ sở. Đặc biệt, buổi gặp mặt có sự hiện diện đông đủ của các đồng chí nguyên lãnh đạo Cục Thống kê các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Đắk Nông qua các thời kỳ; các cán bộ nghỉ hưu theo chế độ và đông đảo công chức, người lao động toàn ngành. Mở đầu chương trình, các đại biểu đã cùng nhìn lại chặng đường một năm đầy nỗ lực qua video clip đáng giá hoạt động nổi bật năm 2025. Những hình ảnh sống động đã phản ánh rõ nét tinh thần trách nhiệm, bản lĩnh và những thành tựu đáng tự hào mà tập thể Thống kê tỉnh Lâm Đồng đã đạt được trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao. Trong không khí trang trọng, thay mặt Đảng ủy và Lãnh đạo cơ quan, đồng chí Trương Thị Mộng Di - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng Thống kê tỉnh đã trân trọng đọc thư chúc mừng năm mới của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Bức thư là nguồn động viên to lớn, thể hiện sự quan tâm sâu sát của Lãnh đạo Bộ đối với đội ngũ công chức và người lao động ngành Tài chính. Phát biểu tại buổi gặp mặt, đồng chí Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh đã báo cáo khái quát bức tranh toàn cảnh về kết quả hoạt động năm 2025. Đặc biệt, đồng chí nhấn mạnh những bước chuyển mình quan trọng trong mô hình tổ chức mới của ngành Thống kê tỉnh Lâm Đồng (trên cơ sở sáp nhập và kiện toàn). Đồng chí Trưởng Thống kê tỉnh đã ghi nhận và biểu dương tinh thần đoàn kết, sự cống hiến không ngừng nghỉ của toàn thể công chức, người lao động trong giai đoạn chuyển giao vừa qua. Buổi gặp mặt càng thêm phần ý nghĩa với những chia sẻ tâm huyết từ các đồng chí nguyên lãnh đạo ngành qua các thời kỳ như: ông Trần Sỹ Thứ, ông Nguyễn Đình Sinh, ông Hoàng Phước, ông Nguyễn Tấn Châu, ông Vũ Đức Tưởng… Những câu chuyện nghề, những lời dặn dò chân tình của thế hệ đi trước đã góp phần bồi đắp thêm niềm tự hào và truyền thống gắn bó sắt son của đại gia đình Thống kê. Buổi gặp mặt mừng Xuân Bính Ngọ 2026 không chỉ là lời tri ân sâu sắc đến các thế hệ đi trước mà còn là lời hứa quyết tâm của tập thể Thống kê tỉnh Lâm Đồng: Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết, đổi mới sáng tạo, phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2026./. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh Buổi gặp mặt mừng Xuân Bính Ngọ 2026 Đ/c Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểuĐ/c Trương Thị Mộng Di - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng TKT, đọc thư chúc mừng năm mới của Bộ trưởng, Bộ Tài chính  Toàn thể Buổi gặp mặt

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   04/02/2026 10:10

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi; giá các mặt hàng nông sản ổn định, thúc đẩy người nông dân tích cực sản xuất, tập trung vào gieo cấy, chăm sóc lúa Vụ Đông xuân và các loại cây hoa màu khác. Các địa phương trên địa bàn tỉnh đã chủ động phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn phục vụ sản xuất nông nghiệp trong mùa khô năm 2026. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ (đặc biệt là đàn lợn). Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát hiệu quả, không có dịch bệnh nghiêm trọng xảy ra. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào khâu chăm sóc rừng, ươm cây giống cho công tác trồng rừng sắp tới. Sản lượng khai thác thuỷ sản biển tăng khá so với cùng kỳ năm trước. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tiến độ sản xuất cây hàng năm vụ Đông xuân năm 2026 (tính đến ngày 20/01/2026), tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 74.202,8 ha, tăng 1,42% so với vụ Đông xuân năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 41.378,8 ha, giảm 0,38% so với cùng kỳ năm trước (diện tích gieo trồng lúa giảm chủ yếu do vụ Đông xuân năm nay xuống giống muộn tại xã Trà Tân và xã Hoài Đức); cây ngô, diện tích ước đạt 3.914,4 ha, tăng 1,17%; rau các loại, diện tích ước đạt 21.218,1 ha, tăng 4,51%; hoa các loại, diện tích ước đạt 2.499,5 ha, tăng 2,60%; đậu các loại, diện tích ước đạt 1.306,2 ha, tăng 3,74%; cây hàng năm còn lại, diện tích ước đạt 3.885,8 ha, tăng 3,43%. Nhìn chung tiến độ gieo trồng vụ Đông xuân ổn định so với cùng kỳ năm trước do thời tiết trong vụ thuận lợi, người dân xuống giống gieo trồng đúng lịch thời vụ. 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm. Tổng diện tích các loại cây lâu năm trên địa bàn tỉnh ước đạt 622.873,0 ha, tăng 1,24% so với cùng kỳ năm trước. Một số loại cây trồng chính: Cây cà phê diện tích ước đạt 328.650 ha, tăng 1,03%; Cây chè diện tích ước đạt 9.329,3 ha, giảm 5,48%; Cây điều diện tích ước đạt 50.215 ha, tăng 1,49%; Cây tiêu diện tích ước đạt 37.193 ha, tăng 0,02%; Cây dâu tằm diện tích ước đạt 11.320,4 ha, tăng 4,93%; Cây sầu riêng diện tích ước đạt 44.283,5 ha, tăng 4,34%; Cây bơ diện tích ước đạt 9.050,0 ha, giảm 1,56%; Cây thanh long diện tích ước đạt 26.126 ha, tăng 0,56%; Cây ca cao diện tích ước đạt 426,1 ha, tăng 0,48%; Cây cao su diện tích ước đạt 75.381 ha, tăng 2,6%; Cây mắc ca diện tích ước đạt 11.316,9 ha, tăng 2,55%; Cây chanh leo diện tích ước đạt 1.813,2 ha, tăng 3,27%. 1.3. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 676 ha (tại các xã La Gi, Phước Hội, Hải Ninh, Hồng Thái, Liên Hương, Bắc Bình, Cát Tiên); bệnh đạo ôn lá gây hại 208 ha (tại các xã La Gi, Phước Hội, Nghị Đức, Đức Linh, Đồng Kho, Nam Thành, Tánh Linh, Hàm Thuận, Hồng Sơn, Bắc Bình, Hồng Thái, Hải Ninh, Liên Hương, Vĩnh Hảo); chuột gây hại 160 ha (tại các xã Tánh Linh, Nam Thành, Đồng Kho, Bắc Bình); ốc bươu vàng gây hại 207 ha (tại các xã Cát Tiên 2, Bắc Bình, Nam Thành, Tánh Linh, Hồng Thái); - Cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus gây hại 64 ha; bệnh mốc sương gây hại 131 ha (tại các xã Hiệp Thạnh, Đức Trọng, Tân Hội, Ninh Gia, Tà Hine, Tà Năng, D’Ran, Quảng Lập, Đơn Dương, Ka Đô); sâu đục lá cà chua Nam Mỹ gây hại 01 ha (tại xã Hiệp Thạnh); - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.660 ha (tại các xã Gia Hiệp, Phường 1 Bảo Lộc, Phường 2 Bảo Lộc, Phường 3 Bảo Lộc, Phường B’Lao, Bảo Lâm 1, Bảo Lâm 2, Bảo Lâm 4, Di Linh, Hiệp Thạnh, Đức Trọng, Tân Hội, Ninh Gia, Tà Hine, Tà Năng, Đam Rông 1, Đam Rông 2, Đam Rông 3); bọ xít muỗi gây hại 2.006,2 ha (tại các phường Cam Ly, Xuân Trường, Lang Biang, Lạc Dương, Di Linh); Bệnh chết khô ngọn gây hại 28 ha (tại xã Bảo Lâm 1, Bảo Lâm 5); - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 1.717 ha (tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Tân Lập, Tuyên Quang, Tân Hải, Bình Thuận); Bệnh thối rễ tóp cành gây hại 287 ha (tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Thuận Nam, Hàm Kiệm, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Hàm Thuận Bắc); - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.019,7 ha (tại các xã Hiệp Thạnh, xã Đức Trọng, xã Tân Hội, xã Trà Tân, xã Hoài Đức, xã Bắc Ruộng, phường Đông Gia Nghĩa, phường Bắc Gia Nghĩa, xã Quảng Sơn, xã Trường Xuân, xã Đắk Song, xã Thuận Hạnh, xã Đức An, xã Thuận An, xã Đăk Mil); Bệnh tuyến trùng gây hại 391,1 ha (tại các phường Nam Gia Nghĩa, phường Bắc Gia Nghĩa, xã Trường Xuân, xã Quảng Sơn, xã Quảng Khê); - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 320,4 ha (tại xã Đạ Tẻh 3); - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha (tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Tân Lập, Tuyên Quang, Tân Hải, Bình Thuận); Bệnh thối rễ tóp cành gây hại 287 ha (tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Thuận Nam, Hàm Kiệm, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Hàm Thuận Bắc). 2. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi;công tác kiểm dịch, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện tốt (đặc biệt là trại chăn nuôi gia công) nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính tháng 01/2026 đạt 28.729,6 tấn, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27,1 nghìn con trâu, tăng 0,74% so với cùng kỳ; mặc dù tổng đàn trâu có xu hướng tăng nhẹ nhưng việc phát triển chăn nuôi trâu vẫn gặp nhiều khó khăn do hiệu quả kinh tế chưa cao, giá bán thiếu ổn định, chi phí chăn nuôi có xu hướng tăng. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319 nghìn con bò, tăng 1,77% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 28,9 nghìn con, tăng 1,51%); giá thức ăn chăn nuôi và chi phí đầu vào vẫn ở mức cao, hiệu quả kinh tế chưa thật sự hấp dẫn, nhờ thị trường tiêu thụ tương đối ổn định cùng với việc triển khai các chính sách hỗ trợ chăn nuôi kịp thời, quy mô đàn bò trên địa bản tỉnh vẫn duy trì xu hướng tăng. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.533 nghìn con, tăng 4,07% (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.227,9 nghìn con, tăng 7,46%); đàn lợn tăng do có thêm đóng góp của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thái Việt Corporation với quy mô hơn 35.000 con, Công ty Thái Thịnh Tây Nguyên với quy mô hơn 8.000 con đi vào hoạt động từ giữa năm 2025. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.400 nghìn con gia cầm, tăng 8,07% (trong đó gà các loại 16.100 nghìn con, chiếm 71,88% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,61%); đàn gia cầm tăng cao do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm tăng cao trong dịp cuối năm và Tết Nguyên đán sắp đến, người chăn nuôi chủ động điều chỉnh quy mô đàn để đáp ứng nhu cầu của thị trường. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, bệnh DTLCP phát sinh tại 01 hộ tại xã Tân Hội với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 05 con. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh đang vào mùa khô, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 33.581 m3, tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác ước đạt 30.655,9 ste, tăng 2,03%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/12/2025-10/01/2026) là 68 vụ (đã xử lý 67 vụ), diện tích thiệt hại do phá rừng 2,1 ha. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 36 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 0,05 ha. 4. Thuỷ sản - Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.305 tấn, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 350 tấn, tăng 0,57%). - Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 19.312,7 tấn, tăng 2,15% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 19.262 tấn, tăng 2,15%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản nên sản xuất tôm giống ổn định. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 1,86 tỷ post, tăng 0,27% so với cùng kỳ năm trước. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp trong tháng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 15,64% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 28,03%, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 17,01%. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước giảm 2,67% so với tháng trước và tăng 15,64% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 28,03% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 17,01%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 14,83%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,65%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 318.361 m3, giảm 11,92% so với tháng trước và tăng 29,26% so với cùng kỳ năm trước. Nhằm chủ động tránh tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng trong điều kiện đẩy mạnh đầu tư công, các doanh nghiệp khai thác đá đã chủ động tăng sản lượng ngay từ những tháng đầu năm để phục vụ nhu cầu xây dựng tăng mạnh trong năm. - Sản phẩm thủy sản chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 1.672 tấn, giảm 6,85% so với tháng trước và tăng 34,20% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp chủ động tăng cường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tồn kho phục vụ nhu cầu trong dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ. - Sản phẩm rau, quả chế biến, bảo quản: Sản lượng trong tháng ước đạt 3.098 tấn, tăng 4,65% so với tháng trước và tăng 37,38% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu tiêu dùng trong nước có xu hướng tăng cũng như đơn hàng xuất khẩu tăng. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu và nền tảng công nghệ sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản có cơ sở vững chắc để phát triển trong thời gian tới. - Sản phẩm đồ uống: Ước trong tháng sản lượng đạt 26.094 nghìn lít, giảm 14,61% so với tháng trước và tăng 30,11% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên vật liệu tăng cao so với năm trước (như: Malt, gạo, đường) cũng như sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm bia trong thời gian gần đây, bên cạnh đó là sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa và thế giới. Tuy nhiên, so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn hàng phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ sắp đến (đặc biệt sản phẩm rượu vang trái cây đang ngày càng được ưa chuộng). - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng sản lượng ước đạt 571 nghìn đôi, giảm 17,08% so với tháng trước và tăng 62,51% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân giảm so với tháng trước là do doanh nghiệp tiếp tục tiêu thụ sản phẩm tồn kho và so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do phục vụ nhu cầu cuối năm và tháng cùng kỳ năm trước là tháng Tết Ất Tỵ nên số ngày hoạt động giảm so với tháng 01/2026. - Sản phẩm phân bón: Ước trong tháng sản lượng sản xuất 5.940 tấn, giảm 27,43% so với tháng trước và tăng 60,14% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm mạnh so với tháng trước một phần do nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong mùa khô có xu hướng giảm, mặt khác do Công ty TNHH chế biến khoảng sản Thân Gia đã ngừng hoạt động. Tuy nhiên, so với tháng cùng kỳ năm trước vẫn tăng mạnh do trên địa bàn có Nhà máy hóa chất Đức Giang Đắk Nông đi vào sản xuất từ quý II/2025. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng, sản lượng ước đạt 129,3 nghìn tấn, tăng 19,62% so với tháng trước và tăng 1,13% so với cùng kỳ năm trước. - Điện sản xuất: Sản lượng trong tháng ước đạt 2.670 triệu kwh, giảm 3,84% so với tháng trước và tăng 15,26% so với cùng kỳ năm trước. - Điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 509 triệu kwh, tăng 3,48% so với tháng trước và tăng 12,33% so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 7,01% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,89%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,15%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,48%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,25%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 0,34% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 11,09%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,84%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng so với cùng kỳ năm trước là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho thời gian hoạt động sản xuất sản phẩm dịp tết Nguyên đán; dự báo thị trường lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong tháng, các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh tiếp tục thu hút đầu tư, với 02 dự án đầu tư mới, tổng vốn đăng ký 54 tỷ đồng, diện tích 24.766 m². Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 243 dự án còn hiệu lực, gồm 57 dự án FDI và 186 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 44.655,58 tỷ đồng và 514,588 triệu USD, diện tích đất đăng ký 729,59 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 54%. Hiện nay, 166 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các KCN, ước thực hiện trong tháng đạt doanh thu 2.135 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu 20 triệu USD và nộp ngân sách 92 tỷ đồng, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Cụ thể theo từng KCN: - KCN Lộc Sơn thu hút 55 dự án (09 FDI, 46 trong nước), tổng vốn đăng ký 3.120,43 tỷ đồng và 48,63 triệu USD; diện tích cho thuê 115,77/132,62 ha, tỷ lệ lấp đầy 87,29%. - KCN Phú Hội có 32 dự án (11 FDI, 21 trong nước), tổng vốn 2.384,12 tỷ đồng và 77,10 triệu USD; diện tích cho thuê 55,95/74,58 ha, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút 39 dự án, tổng vốn 857,94 tỷ đồng và 74,8 triệu USD; diện tích cho thuê 51,44/51,44 ha, đạt 100% lấp đầy. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 có 12 dự án, tổng vốn 548,08 tỷ đồng và 11,85 triệu USD; diện tích cho thuê 23,01/28,09 ha, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút 21 dự án, tổng vốn 1.676,9 tỷ đồng và 56,18 triệu USD; diện tích cho thuê 59,25/90,78 ha, tỷ lệ lấp đầy 65,27%. - KCN Hàm Kiệm II có 17 dự án, tổng vốn 772,41 tỷ đồng và 185,58 triệu USD; diện tích cho thuê 87,99/276,93 ha, tỷ lệ lấp đầy 31,77%. - KCN Sông Bình thu hút 03 dự án trong nước, tổng vốn 13.544,93 tỷ đồng; diện tích cho thuê 58,35/202,32 ha, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức có 01 dự án trong nước, vốn đăng ký 100 tỷ đồng; diện tích cho thuê 1,5/210,84 ha, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. - KCN Tâm Thắng thu hút 47 dự án (04 FDI, 43 trong nước), tổng vốn 1.948,8 tỷ đồng và 12,3 triệu USD; diện tích cho thuê 130/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ thu hút 01 dự án, quy mô 129,42 ha, tổng vốn đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lấp đầy 87,44%. Hiện nay, một số KCN đang trong giai đoạn xây dựng và chưa thu hút dự án đầu tư, gồm: KCN Tuy Phong, KCN Sơn Mỹ 1, KCN Sơn Mỹ 2, KCN Phú Bình và KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2026-2030; theo đó, ngày 16/01/2026, UBND tỉnh đã ban hành chỉ thị 04/CT-UBND về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm đẩy mạnh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công với mục tiêu phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch, góp phần hoàn thành mục tiêu tăng trưởng (GRDP) hai con số năm 2026 của Tỉnh. Kế hoạch tổng nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2026 là 15.221,6 tỷ đồng. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 609,1 tỷ đồng, tăng 7,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 563,2 tỷ đồng, tăng 7,74%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 45,8 tỷ đồng, tăng gần 7,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh trong tháng ước đạt 261,9 tỷ đồng, tăng 5,58% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục giữ vai trò nguồn lực chủ đạo cho đầu tư phát triển địa phương; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 82,7 tỷ đồng, giảm 43,51%; vốn nước ngoài 10,1 tỷ đồng, giảm 20,31% so với cùng kỳ năm trước; vốn xổ số kiến thiết 205 tỷ đồng, tăng mạnh 78,79%; vốn khác 3,6 tỷ đồng, tăng 78,71%, góp phần bù đắp sự sụt giảm của một số nguồn vốn và tạo thêm dư địa cho đầu tư công trên địa bàn. Tình hình phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng (tính đến ngày 18/01/2026) ghi nhận nhiều biến động đan xen. Toàn tỉnh có 341 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 19,19% so với tháng trước, tăng gấp 2,7 lần so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký đạt 1.223 tỷ đồng, giảm mạnh 65,21% so với tháng trước và giảm 37,7% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy quy mô vốn của doanh nghiệp mới thành lập có xu hướng thu hẹp; 343 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 3,57 lần so với tháng trước và tăng 27,51% so với cùng kỳ năm trước, đây là tín hiệu phục hồi tích cực; 716 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,8 lần so với tháng trước và giảm 8,91% so với cùng kỳ năm trước; 45 doanh nghiệp giải thể, giảm 38,36% so với tháng trước và tăng 50% so với cùng kỳ năm trước[1]. Tình hình thu hút đầu tư: tính đến ngày 20/01/2026, toàn tỉnh có 01 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 6,4 tỷ đồng; 01 dự án xin điều chỉnh. Lũy kế đến ngày 20/01/2026, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có 2.928 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 2.009.980 tỷ đồng (trong đó có 236 dự án FDI, tổng vốn đầu tư là 224.284 tỷ đồng). III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải 1. Thương mại Trong tháng, các cơ sở kinh doanh chuẩn bị hàng hóa đáp ứng kịp thời nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng chuẩn bị cho Tết Nguyên đán sắp tới. Thị trường hàng hóa phục vụ dịp tết sôi động, các mặt hàng phong phú và đa dạng. Hoạt động du lịch trong tháng có chuyển biến tốt, lượng khách đến tăng so với tháng trước, dịch vụ ăn uống và dịch vụ khác hoạt động ổn định. Các công ty du lịch lữ hành đã chuẩn bị kế hoạch cho các tour du lịch trong đầu năm mới. Các phương tiện đường thuỷ vận tải hành khách và hàng hóa thông suốt đảm bảo hàng hóa phục vụ Tết cho người dân đảo Phú Quý. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa kịp thời. 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Tình hình thị trường trong tháng, lượng hàng hóa lưu thông đa dạng về chủng loại, phong phú về kiểu dáng. Sức mua của người dân tăng, tập trung vào một số mặt hàng chủ yếu như lương thực thực phẩm, quần áo, giầy dép và một số mặt hàng thiết yếu khác phục vụ cho nhu cầu ngày Tết. Để phục vụ kịp thời cho nhu cầu tiêu dùng của người dân và khách du lịch trong dịp Tết Bính Ngọ, các cửa hàng tạp hóa đến các kios chợ, siêu thị …đã bày bán đủ các loại mặt hàng với nhiều mẫu mã đa dạng, đảm bảo chất lượng để người mua có thể lựa chọn. Công tác kích cầu tiêu dùng được tăng cường thực hiện trong kinh doanh, các siêu thị giảm giá nhiều mặt hàng như các mặt hàng thực phẩm, quần áo may sẵn, đồ gia dụng..., các cửa hàng điện máy, trung tâm mua sắm tăng cường khuyến mãi. Các ngành dịch vụ kinh doanh ăn uống, nhà hàng, cơ sở lưu trú và dịch vụ khác tiếp tục hoạt động phục vụ cho người dân địa phương và du khách trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 21.408,2 tỷ đồng, tăng 4,74% so với tháng trước và tăng 16,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.199,2 tỷ đồng, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.211,9 tỷ đồng, tăng 6,19% so với tháng trước và tăng 22,31% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.997,1 tỷ đồng, tăng 8,22% so với tháng trước và tăng 18,36% so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 15.199,2 tỷ đồng, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ như: lương thực, thực phẩm ước đạt 6.504,4 tỷ đồng, tăng 5,59% so với tháng trước và tăng 19,24% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.700,2 tỷ đồng, tăng 3,86% so với tháng trước và tăng 11,78% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 905,9 tỷ đồng, tăng 2,65% so với tháng trước và tăng 18,72% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 2.200,6 tỷ đồng, giảm 0,72% so với tháng trước và tăng 7,18% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng tình hình thị trường trên địa bàn tỉnh ổn định, không có nhiều biến động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đa dạng, phong phú, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn cũng như khách du lịch đến tham quan. Trên địa bàn không có hiện tượng găm hàng, tăng giá quá mức để thu lợi bất chính. Từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/01/2026, đã tiến hành kiểm tra, phát hiện 106 vụ vi phạm, xử lý 88 vụ, tổng số tiền xử phạt 684,13 triệu đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 309,38 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng Giá lương thực, thực phẩm giảm do đang vào vụ thu hoạch rộ nguồn cung dồi dào; giá nhiên liệu giảm do điều chỉnh giá xăng dầu trong nước là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng giảm 0,22% so với tháng trước tăng 4,29% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 08 nhóm hàng tăng giá: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,81%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,59%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,47%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,45%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,34%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,16%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; Giáo dục tăng 0,03%. Có 03 nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 2,16%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33%; Thông tin và truyền thông giảm 0,09%. * Các nguyên nhân làm giảm CPI trong tháng: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33% so với tháng trước, do đang vào thời điểm thu hoạch, nguồn cung các mặt hàng gạo; rau tươi dồi dào nên giá lương thực, thực phẩm giảm so với tháng trước. Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 08, 15 và 22 tháng 01/2026, tính bình quân chung tháng 01/2026 chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu giảm 5,06% so với tháng trước. * Các nguyên nhân làm tăng CPI trong tháng: Giá gas trong tháng tăng 3,14% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh tăng 19.000 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới (giá gas thế giới bình quân tháng 01/2026 công bố ở mức 522,5 USD/tấn, tăng 32,5 USD/tấn so với tháng 12/2025). Nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng đồ uống và thuốc lá, may mặc chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ tăng cao hơn tháng trước, trong đó nhóm hàng đồ uống và thuốc lá tăng cao nhất ở mức 0,81% so tháng trước. Nhu cầu đi lại và bảo dưỡng phương tiện cuối năm tăng nên giá dịch vụ giao thông công cộng và bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng so với tháng trước. Vào tháng cuối năm nhu cầu sửa chữa nhà cửa tăng làm cho giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,19%; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,33%. 3. Hoạt động du lịch Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.766,1 nghìn lượt, tăng 5,65% so tháng trước và tăng 23,69% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 77,5 nghìn lượt, tăng 10,35% so với tháng trước và tăng 28,61% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.290,7 nghìn ngày khách, tăng 6,67% so với tháng trước và tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 170 nghìn lượt khách, tăng 15,54% so với tháng trước và tăng 41,63% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 525,4 nghìn ngày khách, tăng 15,65% so với tháng trước và tăng 43,47% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 645,1 tỷ đồng, tăng 5,79% so với tháng trước và tăng 20,72% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.517,1 tỷ đồng, tăng 6,33% so với tháng trước và tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 49,8 tỷ đồng, tăng 4,16% so với tháng trước và tăng 23,37% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 4.945,8 tỷ đồng, tăng 7,24% so với tháng trước và tăng 25,19% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.977,1 tỷ đồng, tăng 8,22% so với tháng trước và tăng 18,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 706,5 tỷ đồng, tăng 0,57% so với tháng trước và tăng 16,55% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 177,3 tỷ đồng, tăng 3,82% so với tháng trước và tăng 16,54% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 160,5 tỷ đồng, tăng 0,25% so với tháng trước và tăng 18,07% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 265,8 tỷ đồng, tăng 0,12% so với tháng trước và tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.393,2 tỷ đồng, tăng 17,55% so với tháng trước và tăng 21,44% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 293,7 tỷ đồng, tăng 2,98% so với tháng trước và tăng 11,12% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng hoạt động vận tải kho bãi trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và có xu hướng tăng so với tháng trước. Bên cạnh đó, do thời tiết thuận lợi và nhiều lễ hội, sự kiện du lịch diễn ra trong tháng, lượng hành khách và hàng hóa vận chuyển tăng, kéo theo doanh thu vận tải và dịch vụ kho bãi đều tăng. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.353,0 tỷ đồng tăng 3,58% so với tháng trước và tăng 17,76% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.217,0 nghìn HK, tăng 3,03% so với tháng trước và tăng 11,51% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 598.034,4 nghìn HK.Km, tăng 3,55% so với tháng trước và tăng 8,30% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.197,5 nghìn tấn, tăng 4,01% so với tháng trước và tăng 14,17% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 321.671,2 nghìn tấn.Km, tăng 4,45% so với tháng trước và tăng 18,06% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.353,0 tỷ đồng tăng 3,58% so với tháng trước và tăng 17,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 557,3 tỷ đồng, tăng 3,28% so với tháng trước và tăng 15,99% so với cùng kỳ năm trước; danh thu vận tải hàng hóa ước đạt 590,2 tỷ đồng, tăng 4,11% so với tháng trước và tăng 17,67% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 200,1 tỷ đồng, tăng 2,89% so với tháng trước và tăng 23,87% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 5,4 tỷ đồng, tăng 3,01% so với tháng trước và tăng 1,10% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng ước đạt 4.027 tỷ đồng, bằng 11,7% dự toán năm, tăng 7,0% so cùng kỳ. Trong đó: thu nội địa ước đạt 3.872 tỷ đồng bằng 11,85% dự toán năm, tăng 6,02% so cùng kỳ; thu cân đối xuất nhập khẩu ước đạt 155 tỷ đồng, bằng 8,83% dự toán năm, tăng 39,05% so cùng kỳ. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa như: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 278 tỷ đồng bằng 7,31% dự toán năm, tăng 4,76% so cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 281 tỷ đồng bằng 20,35% dự toán năm, giảm 3,33% so cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 730 tỷ đồng bằng 10,92% dự toán năm, giảm 3,8% so cùng kỳ; thuế thu nhập cá nhân ước đạt 340 tỷ đồng bằng 12,45% dự toán năm, tăng 27,6% so cùng kỳ; các khoản thu về nhà, đất ước đạt 420 tỷ đồng bằng 5,69% dự toán năm, tăng 45,03% so cùng kỳ; thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 1.370 tỷ đồng bằng 23,62% dự toán năm, tăng 0,36% so cùng kỳ. 2. Chi ngân sách Nhà nước Chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng 01/2026 ước đạt 3.000 tỷ đồng, bằng 6,15% dự toán năm. Trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 300 tỷ đồng, bằng 2,27% dự toán năm; chi thường xuyên ước đạt 2.500 tỷ đồng, bằng 8,24% dự toán năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: đến 31/12/2025, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 229.275 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 33.386 tỷ đồng, tăng 17,04%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 226.479 tỷ đồng (chiếm 98,78% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.796 tỷ đồng, (chiếm 1,22% tổng huy động vốn). Ước đến 31/01/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 228.500 tỷ đồng, giảm 0,30% so với đầu năm, tương ứng giảm 775 tỷ đồng. Hoạt động tín dụng: đến 31/12/2025, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 370.984 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 31.521 tỷ đồng, tăng 9,29%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 368.617 tỷ đồng (chiếm 99,36% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.367 tỷ đồng (chiếm 0,64% tổng dư nợ tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 265.205 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 105.778 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/01/2026, dư nợ cho vay đạt 371.700 tỷ đồng, tăng 0,20% so với đầu năm, tương ứng tăng 717 tỷ đồng. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,14% - 0,30%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 3,42% - 4,75%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 5,13% - 6,68%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 5,22% - 6,38%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 3,99%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,92% - 10,48%/năm, trung dài hạn 8,92% - 10,87%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,94% - 4,18%/năm. Dư nợ cho vay: đến 31/12/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 189.802 tỷ đồng, chiếm 51,16% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.602 tỷ đồng, chiếm 8,79% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm nghiệp đạt 148.580 tỷ đồng, chiếm 40,05% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu đạt 7.368 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2,00% trong tổng dư nợ trên địa bàn. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1 Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thiết kế, in ấn và thi công các biểu tượng trang trí, pano tấm lớn, pano dọc, pano phướn, pano tranh cổ động, standee, băng rôn,... phục vụ công tác tuyên truyền cổ động trực quan cho các sự kiện, chương trình chính trị - văn hóa trên địa bàn tỉnh: Chương trình Countdown - Chào năm mới 2026; tuyên truyền nhiệm vụ chiến lược tại Phường Xuân Hương - Đà Lạt và khu vực giáp ranh các tỉnh Khánh Hòa, Đắk Lắk; tuyên truyền chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; Chương trình Nâng cao nhận thức cộng đồng cho học sinh về Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Đắk Nông - tỉnh Lâm Đồng; Chương trình Giao lưu các Câu lạc bộ Văn hóa - Văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân năm mới 2026 với chủ đề “Mùa Xuân Cao Nguyên”;… - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức bắn pháo hoa nghệ thuật tầm thấp chào đón Tết Dương lịch năm 2026 tại 03 địa điểm: Phường Xuân Hương, phường Phan Thiết và phường Nam Gia Nghĩa; chương trình chào xuân 2026 gồm các tiết mục nghệ thuật mang thông điệp “Lâm Đồng chào xuân”, “Sức sống Lâm Đồng”, “Sắc màu của biển”, “Đại ngàn chào xuân”; chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 chủ đề “Mùa Xuân hy vọng” cho phạm nhân tại Trại giam Đại Bình; phối hợp với Công ty Cổ phần truyền thông - giải trí - sáng tạo Viet Vision tổ chức đêm biểu diễn nghệ thuật THE ROSE; phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng chuẩn bị tổ chức Chương trình “Xuân Chiến sĩ” lần thứ XI năm 2026. Ngoài ra, đã thực hiện 41 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở, trường học và 09 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng đã đón 15.110 lượt khách (Nhà trưng bày chính: 2.970 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 2.976 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 898 lượt; Cơ sở 1- Đông Lâm Đồng: 8.186 lượt; Cơ sở 2 - Tây Lâm Đồng: 80 lượt). Tổ chức triển lãm chuyên đề “Đảng Cộng sản Việt Nam - Từ Đại hội đến Đại hội” từ ngày 15/01/2026 đến hết ngày 28/02/2026 tại Nhà trưng bày - Bảo tàng tỉnh. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng tổ chức phục vụ 119 đoàn với 5.551 lượt người, trong đó có 41 khách nước ngoài; phục vụ 10 lễ viếng, 01 lễ kết nạp Đoàn và 01 đợt sinh hoạt chuyên đề. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 1.449 lượt khách (13 lượt khách quốc tế) đến thăm viếng, tham quan, nghiên cứu, trải nghiệm. Thường xuyên triển khai sưu tầm tài liệu, hiện vật, các mẩu chuyện kể của cán bộ, chiến sĩ cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ phục vụ trưng bày bổ sung tại Nhà tưởng niệm - Trưng bày Khu di tích. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 122 thẻ bạn đọc (37 thẻ thiếu nhi); phục vụ 226.763 lượt bạn đọc; luân chuyển 17.759 lượt tài liệu; bổ sung 793 bản sách từ nguồn biếu, tặng; số hóa 7.520 trang tài liệu địa chí/38 tài liệu. Trưng bày 307 tài liệu nhân các ngày kỷ niệm; cập nhật 53 tin bài lên trang website; chia sẻ bài lên trang fanpage Thư viện 197 lượt/29 bài; sưu tầm 79 tin bài về Lâm Đồng. Ngoài ra tổ chức phục vụ xe ô tô thư viện lưu động đa phương tiện với chủ đề “Đọc sách mỗi ngày - Nuôi dưỡng tương lai” tại trường Tiểu học N’Trang Lơng và trường THCS-THPT Nguyễn Khuyến phường Nam Gia Nghĩa. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Trong tháng tổ chức Giải Pickleball tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; Giải chạy bộ “Vietnam Highlands Trail - Lâm Đồng”; 02 giải Quần vợt ATP Challenger 50 tại NovaWolrd Phan Thiet; Giải Golf đồng đội quốc tế Việt Nam-Vietnam International Team Golf Championship 2026; Giải chạy Chinh phục thử thách lần thứ 3 “Prenn Trail Summit 2025”. - Thể thao thành tích cao: Cử đoàn vận động viên tham gia 03 giải thể thao quốc gia. Kết quả đạt được 15 huy chương (03 HCV, 03 HCB, 09 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2025-2026, đảm bảo ổn định nề nếp dạy học, chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục. Năm học 2025–2026, toàn tỉnh có 1.603 trường học và cơ sở giáo dục với 818.588 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 526 trường với 151.943 trẻ; cấp tiểu học có 564 trường với 321.257 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 240.603 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 104.785 học sinh. Trong tháng đã tổ chức thành công kỳ thi chọn học sinh giỏi THPT cấp tỉnh năm học 2025 - 2026 với gần 5.000 học sinh lớp 10, 11, 12 dự thi tại 07 điểm thi với 245 phòng thi. Đây là kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh với quy mô lớn nhằm phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, khuyến khích học sinh và giáo viên nâng cao chất lượng dạy và học. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoang vùng, xử lý khi phát hiện các bệnh truyền nhiễm; đảm bảo đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. - Phòng chống sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 626 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 229 ca so với tháng trước và tăng 31 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong. Trong tháng, triển khai giám sát lăng quăng tại 73 điểm với 124 lượt giám sát; đã phát hiện xử lý 40 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 01 ca mắc sốt rét ngoại lai (khu vực Đắk Song, bệnh nhân đi từ Conggo về). - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 326 ca mắc, tăng 70 ca so với tháng trước và tăng 281 ca với cùng kỳ năm trước. Khu vực có số ca mắc nhiều nhất là La Gi và Gia Nghĩa chiếm 7,4% số ca mắc toàn tỉnh. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 09 ca mắc, giảm 05 ca so với tháng trước và giảm 949 ca so với cùng kỳ năm trước. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.334 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.773 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.403 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.262 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 2.737 trẻ, mũi 2 cho 3.583 trẻ và mũi 3 cho 3.594 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 33.315 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng phát hiện 01 bệnh nhân phong mới tại xã Liên Hương. Hiện nay toàn tỉnh đang quản lý 451 bệnh nhân phong; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 12 người (5 trả về cộng đồng hết giám sát, không tàn tật, 7 tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, khám phát hiện 15 bệnh nhân lao mới, trong đó có 04 bệnh nhân lao phổi AFB (+). - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 62 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 05 trường hợp chuyển AIDS và 03 trường họp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.791 người mắc HIV, chuyển AIDS 1.782 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 478.260 lượt bệnh nhân; số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.009 lượt người; tổng số ngày điều trị nội trú là 220.342 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 80%. Đã thực hiện xét nghiệm cho 570.067 tiêu bản; chẩn đoán 139.717 hình ảnh và phẫu thuật 5.137 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 16 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 419 cơ sở, kết quả có 01 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 8 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương. Trong tháng đã ban hành Giấy phép xuất bản đặc san Dalat Info của Trung tâm Xúc tiến, Đầu tư Thương mại và Du lịch tỉnh Lâm Đồng. Cung cấp, theo dõi và tổng hợp thông tin báo chí, dư luận xã hội về tỉnh Lâm Đồng; thực hiện điểm báo, báo cáo định kỳ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh tỉnh Lâm Đồng được tăng cường với nhiều hình thức, tận dụng hiệu quả các nền tảng truyền thông đa phương tiện; phản ánh kịp thời, toàn diện các hoạt động đối nội, đối ngoại và các vấn đề, sự kiện nổi bật của tỉnh, trong nước và quốc tế. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 10 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc -  Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được cải thiện, các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo được triển khai đồng bộ, hiệu quả; hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; nhiều lễ hội truyền thống như Katê của người Chăm, Lễ mừng lúa mới của người K’ho, Lễ cúng bến nước của người M’nông, lễ hội của người Churu, Mạ... được duy trì, phục dựng và tổ chức trang trọng; các trò chơi dân gian, phong tục tập quán tốt đẹp được khơi dậy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng; toàn tỉnh có trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao phục vụ sinh hoạt cộng đồng. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình và internet; các chương trình bằng tiếng dân tộc được phát sóng, qua đó giúp đồng bào dễ dàng tiếp cận các thông tin, chủ trương, chính sách của Nhà nước. - Mạng lưới trường lớp vùng đồng bào DTTS ngày càng hoàn thiện. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú duy trì sĩ số học sinh ổn định. Các chính sách miễn, giảm học phí; hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở nội trú, bán trú… được thực hiện theo đúng chế độ quy định. Việc dạy tiếng Chăm, Ê đê, M’nông, K’ho trong nhà trường tiếp tục được triển khai, qua đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. - Y tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân. Tiếp tục thực hiện chủ trương nâng cao tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ, hướng tới mục tiêu giúp đồng bào DTTS tiếp cận dịch vụ y tế hiện đại và chăm sóc sức khỏe toàn diện; công tác đào tạo nhân lực y tế là người DTTS được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng công tác y tế vùng đồng bào DTTS. - Tiếp tục thực hiện cung ứng các mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống vùng đồng bào DTTS, nhất là nhu cầu sản xuất lúa nước vụ Đông xuân tại các địa phương; tập trung thu mua hết sản lượng bắp lai thương phẩm và mủ cao su; triển khai cho hộ dân đăng ký nhu cầu nhận hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất bắp lai, lúa nước năm 2026; đồng thời thông báo tạm ngưng khai thác mủ cao su và vận động đồng bào chăm sóc, phòng chống cháy cao su trong mùa khô năm 2026. 5.2. Chính sách tôn giáo Tình hình hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh tổ chức Đại giới đàn Chơn Thành tại Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Thiện, xã Tân Lập cho 1.282 giới tử; đăng ký bổ nhiệm Trụ trì 02 cơ sở Phật giáo chùa An Sơn, phường Xuân Hương và chùa Vạn Thọ, xã Tà Hine; Thiền viện Linh Ẩn, xã Nam Ban Lâm Hà tổ chức Lễ cầu quốc thái dân an diễn ra từ ngày 16-19/01/2026 với khoảng 1.000 tăng ni; trong đó, có 04 tu sỹ người Nepal, Ấn Độ tham dự. Đồng bào Công giáo trên địa bàn tỉnh tổ chức Lễ Giáng sinh diễn ra an lành, hạnh phúc; Cộng đoàn Don Bosco Đà Lạt tổ chức Hội chợ mừng năm mới 2026 cho hơn 1.700 em thiếu nhi tham dự với chủ đề của hội chợ: “Sống xanh mỗi ngày”; Giám mục Giáo phận Đà Lạt chủ trì Thánh lễ tạ ơn, Khánh thành Quần thể mục vụ Giáo xứ Ka La, xã Bảo Thuận với khoảng 3.000 linh mục, tu sĩ, giáo dân địa phương tham dự. Các chi hội, điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung thuộc Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tổ chức Lễ Giáng sinh năm 2025 với chủ đề “Chúa vào đời”… Hoạt động các tổ chức tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã rà soát, phê duyệt danh sách quà tặng của Chủ tịch nước đối với người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 của các xã, phường và đặc khu; ngoài ra đã giải quyết 315 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 31/12/2025, toàn tỉnh có 308.119 người tham gia BHXH, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 259.739 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước; 48.380 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước); có 235.941 người tham gia BHTN, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 3.122.547 người, tăng 3,22% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 93,0% dân số năm 2025. Trong năm 2025, đã giải quyết mới 145.357 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.433 người (Trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 4.571 người; trợ cấp 1 lần cho 30.430 người; chế độ ốm đau cho 68.163 người; chế độ thai sản cho 14.871 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 4.284 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 20.605 người và hỗ trợ học nghề cho 2.433 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/12/2025 - 15/01/2026) Trong tháng xảy ra 62 vụ tai nạn giao thông, giảm 12 vụ so với tháng trước (tháng 12/2025) và giảm 22 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 34 người, giảm 01 người so với tháng trước và tương đương so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 45 người, giảm 12 người so với tháng trước và giảm 24 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Từ ngày 27/12/2025 đến 18/01/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ sạt lở, sụt lún bờ biển, bờ sông tại xã Tân Thành; hiện nay chưa thống kê giá trị thiệt hại. - Cháy, nổ: Từ ngày 15/12/2025 đến 15/01/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 08 vụ cháy, nổ; không có thiệt hại về người; so với tháng trước giảm 03 vụ và tăng 07 vụ so với cùng kỳ năm trước. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ vi phạm môi trường, đã xử phạt 210 triệu đồng; so với tháng trước tăng 01 vụ và giảm 05 vụ so với cùng kỳ năm trước. * Đánh giá chung Trong tháng Một, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng duy trì xu hướng ổn định và khởi sắc, tạo nền tảng thuận lợi cho việc triển khai các nhiệm vụ phát triển ngay từ đầu năm. Hoạt động nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát triển ổn định nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và giá nông sản cơ bản ổn định; diện tích gieo trồng vụ Đông xuân tăng 1,42%, tổng đàn vật nuôi duy trì đà tăng, sản lượng khai thác thủy sản tăng 2,15%. Hoạt động đầu tư phát triển được triển khai sớm và có tín hiệu tích cực, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh tăng 5,58% so với cùng kỳ; đặc biệt, vốn từ xổ số kiến thiết tăng mạnh 78,79%, góp phần thúc đẩy đầu tư công và hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội. Sản xuất công nghiệp duy trì mức tăng trưởng khá; thương mại, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động trong thời điểm cận Tết Nguyên đán, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và đi lại của người dân. Hoạt động vận tải thông suốt, bảo đảm lưu thông hàng hóa và hành khách. Thu ngân sách và hoạt động tín dụng cơ bản ổn định, kịp thời hỗ trợ sản xuất, kinh doanh. Hoạt động doanh nghiệp ghi nhận sự phục hồi về số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn những khó khăn liên quan đến vốn và tính bền vững. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm, an sinh xã hội được bảo đảm; quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. TKT Lâm Đồng [1] Số liệu được cập nhật đến ngày 18/01/2026 của Sở Tài chính.

Đẩy nhanh tiến độ Tổng điều tra kinh tế năm 2026, đảm bảo chất lượng ở mức hiệu quả nhất
  •   03/02/2026 13:59

Tối ngày 2/2, Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trung ương họp đánh giá tiến độ triển khai và rà soát, điều chỉnh kế hoạch thực hiện cuộc tổng điều tra. Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng - Trưởng ban Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trung ương chủ trì cuộc họp.Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng chủ trì họp Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trung ương. Tại cuộc họp, bà Nguyễn Thị Hương - Cục trưởng Cục Thống kê đã báo cáo chi tiết quá trình triển khai Tổng điều tra kinh tế năm 2026; cập nhật tiến độ thực hiện tổng điều tra từ các cấp, địa phương. Từ đầu năm 2025, công tác chuẩn bị Tổng điều tra kinh tế năm 2026 đã được triển khai khẩn trương. Đến nay đã hoàn thành hầu hết các nội dung quan trọng như: xác định nhu cầu thông tin với 436 chỉ tiêu thống kê; ban hành đầy đủ các văn bản chỉ đạo, phương án Tổng điều tra; lập danh sách đơn vị điều tra giai đoạn 1 (thu thập thông tin cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể; cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; tổ hợp tác); thành lập Ban Chỉ đạo các cấp; xây dựng phiếu điều tra, tài liệu hướng dẫn, phần mềm thu thập thông tin và tổ chức tập huấn cho lực lượng tham gia điều tra. Công tác thu thập thông tin giai đoạn 1 được triển khai từ ngày 05/01/2026 và đến ngày 01/02/2026 đạt 42,8% kế hoạch, trong đó một số địa phương có tiến độ cao như Quảng Trị, Tây Ninh, Đà Nẵng; tuy nhiên vẫn còn một số địa phương có tiến độ thấp. Công tác giám sát, kiểm tra và làm sạch dữ liệu đang được thực hiện song song với thu thập thông tin; đồng thời chuẩn bị các điều kiện để triển khai giai đoạn 2 đối với doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, hội, hiệp hội, tổ chức phi Chính phủ nước ngoài được cấp phép hoạt động tại Việt Nam. Thực hiện yêu cầu của Trưởng ban Ban Chỉ đạo Trung ương, Cục Thống kê cũng đã xây dựng phương án đề xuất điều chỉnh kế hoạch thực hiện Tổng điều tra theo hướng rút ngắn thời gian thu thập thông tin, kiểm tra, làm sạch dữ liệu và biên soạn báo cáo. Bà Hương cho biết, theo phương án dự kiến điều chỉnh, giai đoạn 1 kết thúc thu thập thông tin vào ngày 10/3/2026; giai đoạn 2 thực hiện từ ngày 01/3/2026 đến 30/4/2026; công tác kiểm tra, làm sạch dữ liệu được triển khai đồng bộ và hoàn thành sớm hơn 7 tháng; kết quả sơ bộ được biên soạn và công bố vào ngày 30/6/2026. Để bảo đảm thực hiện thành công kế hoạch điều chỉnh, Lãnh đạo Cục Thống kê đề nghị Ban Chỉ đạo các cấp tập trung thực hiện các nhiệm vụ được phân công cụ thể. Ban Chỉ đạo Trung ương tập trung chỉ đạo quyết liệt, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn và phối hợp liên thông dữ liệu. "Cục Thống kê giữ vai trò cơ quan thường trực, theo dõi tiến độ và chất lượng dữ liệu; các bộ, ngành và địa phương chủ động phối hợp, cung cấp dữ liệu hành chính và bố trí nguồn lực, bảo đảm hoàn thành Tổng điều tra đúng tiến độ, chất lượng theo yêu cầu đề ra", bà Hương nhấn mạnh. Tại cuộc họp, đại diện lãnh đạo Cục Thuế, Cục Phát triển Doanh nghiệp Nhà nước, Cục Hải quan... cũng như các đơn vị liên quan đã phát biểu ý kiến đóng góp để hoàn thiện phương án điều chỉnh kế hoạch thực hiện Tổng điều tra kinh tế năm 2026; làm rõ các nhiệm vụ cụ thể được phân công trong phương án điều chỉnh. Phát biểu tại cuộc họp, Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng ghi nhận và đánh giá cao Cục Thống kê đã chủ động tham mưu chỉ đạo và tổ chức thực hiện triển khai Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh, các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đang đặt ra rất khẩn trương trong năm 2026 - năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, với nhiều quyết sách mang tính chiến lược, do đó, cần thiết phải xây dựng phương án đẩy nhanh tiến độ thực hiện Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Theo đó, phải thay đổi, điều chỉnh để đảm bảo triển khai hiệu quả hơn; các bộ, ngành, địa phương phối hợp thực hiện để "về đích" trước thời hạn. "Đẩy nhanh tiến độ nhưng chất lượng Tổng điều tra kinh tế năm 2026 vẫn phải được đảm bảo ở mức hiệu quả nhất", Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng nhấn mạnh. Cơ bản thống nhất với phương án điều chỉnh do Cục Thống kê chủ trì xây dựng, Bộ trưởng chỉ đạo các đơn vị tập trung triển khai các nhiệm vụ đặt ra; rà soát lại biểu mẫu, phần mềm điều tra, tạo thuận lợi cho các bộ, ngành, địa phương có thể thực hiện đẩy nhanh tiến độ. Đặc biệt ứng dụng tối đa công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo để tối ưu hóa quá trình thực hiện Tổng điều tra. Đồng thời rà soát lại các tiêu chí, chỉ tiêu thống kê để đảm bảo nội dung thống kê thiết thực, hiệu quả, tránh hình thức. Tăng cường kiểm tra, theo dõi chặt chẽ quá trình thực hiện, báo cáo thường xuyên để Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trung ương có chỉ đạo kịp thời. Các đơn vị Cục/Vụ thuộc Bộ Tài chính tăng cường tuyên truyền, phối hợp với các địa phương tập trung đôn đốc các nhóm doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh cung cấp thông tin dữ liệu thống kê; "Phải quyết liệt, tập trung thực hiện các yêu cầu nhiệm vụ đặt ra; có sự phối hợp thông suốt vừa dọc - vừa ngang để đảm bảo đạt yêu cầu đề ra cả về tiến độ và chất lượng thực hiện; dữ liệu thống kê phải chính xác nhất, sát thực tế nhất", Bộ trưởng nhấn mạnh yêu cầu. Dự kiến, ngày mai (3/2), Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trung ương sẽ họp trực tuyến với Ban Chỉ đạo thực hiện Tổng điều tra kinh tế năm 2026 các cấp để triển khai phương án điều chỉnh, đẩy nhanh tiến độ thực hiện. Nguồn: Đức Minh (tapchikinhtetaichinh.vn)

Hội Nghị Công Chức, Người Lao Động Năm 2025
  •   26/01/2026 10:03

Sáng ngày 23/01/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức Hội nghị công chức, người lao động năm 2025. Hội nghị do đồng chí Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì. Tham dự trực tiếp tại điểm cầu trung tâm có các đồng chí Phó Trưởng Thống kê tỉnh; lãnh đạo và công chức các phòng thuộc cơ quan Thống kê tỉnh; lãnh đạo, công chức Thống kê cơ sở Đà Lạt. Hội nghị được kết nối trực tuyến đến 15 điểm cầu Thống kê cơ sở trên toàn tỉnh. Hội nghị là dịp quan trọng để công chức, người lao động phát huy tính dân chủ chủ, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng cơ quan; đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác chuyên môn, cải thiện điều kiện làm việc; đồng thời củng cố tinh thần đoàn kết, thống nhất, tạo động lực thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị năm 2026. Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng ghi nhận và biểu dương những nỗ lực, kết quả mà tập thể công chức, người lao động đã đạt được trong năm 2025; đồng thời đề nghị toàn thể công chức, người lao động tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, chủ động và sáng tạo, phấn đấu hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao trong năm 2026. Tại Hội nghị, thừa ủy quyền của Lãnh đạo cơ quan, đồng chí Nguyễn Hoài Hải - Phó Bí thư Đảng ủy, Phó Trưởng Thống kê tỉnh đã trình bày Báo cáo tổng kết công tác năm 2025 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Báo cáo đã đưa ra những số liệu cụ thể, đánh giá khách quan về những kết quả đạt được, đồng thời thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế cần khắc phục. Hội nghị đã nghe đồng chí Nguyễn Đặng Hoàng Yến - Kế toán trưởng thông qua Báo cáo tài chính năm 2025 và kế hoạch tài chính năm 2026, dự thảo Quy chế chi tiêu nội bộ (sửa đổi, bổ sung); đồng chí Lê Thị Tố Loan - Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính cũng đã trình bày dự thảo Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở (sửa đổi, bổ sung) để Hội nghị thảo luận. Với tinh thần dân chủ, thẳng thắn và xây dựng, Hội nghị đã ghi nhận nhiều ý kiến đóng góp thiết thực từ công chức và người lao động. Các ý kiến tập trung vào việc đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả chuyên môn, cải thiện điều kiện làm việc và hoàn thiện các quy chế nội bộ. Phát biểu bế mạc Hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh một số nhiệm vụ trọng tâm mà toàn Ngành cần tập trung thực hiện trong thời gian tới. Trước hết, toàn ngành cần kiên định mục tiêu, nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao, bảo đảm cung cấp thông tin thống kê trung thực, khách quan, chính xác và kịp thời; quyết tâm giữ vững vị thế trong Cụm thi đua, phấn đấu xếp từ thứ 1 đến thứ 4 trong Cụm, đồng thời vươn lên tốp 10 cả nước. Bên cạnh đó, cần thực hiện nghiêm túc các danh hiệu thi đua đã đăng ký, coi thi đua là động lực nâng cao chất lượng công việc, không chạy theo thành tích. Đồng chí cũng nhấn mạnh việc tiếp tục thực hiện hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở; tập thể lãnh đạo cơ quan cam kết, trong phạm vi và điều kiện cho phép, sẽ chăm lo ngày càng tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần cho công chức, người lao động, đồng thời thực hiện công khai, minh bạch các chế độ, chính sách theo quy định. Đồng chí Trưởng Thống kê tỉnh đề nghị lãnh đạo các phòng và Trưởng Thống kê cơ sở khẩn trương cụ thể hóa các nội dung Nghị quyết thành chương trình hành động sát thực tiễn. Với phương châm hành động “Trách nhiệm, kỷ cương, đoàn kết, đổi mới và sáng tạo”, Thống kê tỉnh Lâm Đồng quyết tâm khắc phục khó khăn, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị năm 2026, xây dựng cơ quan ngày càng phát triển vững mạnh./. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh tại hội nghị:Đ/c Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu chỉ đạo Hội nghịĐ/c Nguyễn Hoài Hải - Phó bí thư Đảng ủy, Phó trưởng Thống kê tỉnh  thông qua Báo cáo đánh giá kết quả công tác năm 2025, phương hướng nhiệm vụ năm 2026Đ/c Nguyễn Đặng Hoàng Yến - Kế toán trưởng thông qua báo cáo tài chính năm 2025 và kế hoạch tài chính năm 2026; dự thảo Quy chế chi tiêu nội bộ (sửa đổi, bổ sung)Đ/c Lê Thị Tố Loan - Trưởng phòng Tổ chức - Hành chính thông qua dự thảo Quy chế dân chủ cơ sở (sửa đổi, bổ sung)Đ/c Nguyễn Thị Thùy Hương - Thư ký đoàn thông qua Nghị quyết Hội nghị Công chức và người lao động Thống kê tỉnh Lâm Đồng Toàn cảnh hội nghị

Đảng bộ Thống kê tỉnh Lâm Đồng: Tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026
  •   18/01/2026 21:31

Chiều ngày 15/01/2026, Đảng bộ Thống kê tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức Hội nghị tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026. Đồng chí Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì Hội nghị. Tham dự Hội nghị có các đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ Thống kê tỉnh; Cấp ủy, Bí thư các Chi bộ trực thuộc; cùng đại diện các tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến được biểu dương, khen thưởng. Hội nghị đã dành phần lớn thời gian để đánh giá khách quan, toàn diện kết quả công tác xây dựng Đảng năm 2025. Báo cáo trung tâm tại Hội nghị khẳng định: Năm 2025, trong bối cảnh thực hiện sáp nhập và kiện toàn tổ chức bộ máy, Đảng bộ Thống kê tỉnh được thành lập với 18 chi bộ trực thuộc và 143 đảng viên, hoạt động thông suốt, ổn định; đã lãnh đạo đơn vị hoàn thành 100% khối lượng công việc chuyên môn. Nổi bật là việc chỉ đạo tổ chức thành công Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 được Ban Chỉ đạo Tổng điều tra trung ương xếp loại Giỏi (đứng thứ 8 toàn quốc). Tại Hội nghị, các đại biểu đã nghe và thảo luận sôi nổi về: Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng năm 2025; Báo cáo kết quả công tác kiểm tra, giám sát năm 2025 và Chương trình kiểm tra, giám sát năm 2026; đồng thời thông qua Nghị quyết của Đảng bộ về mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu năm 2026. Nhiều ý kiến tham luận sâu sắc từ các Chi bộ đã tập trung phân tích sâu nguyên nhân của những hạn chế, đồng thời đề xuất các giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và gắn kết chặt chẽ công tác Đảng với nhiệm vụ chuyên môn của Ngành trong giai đoạn mới. Phát biểu chỉ đạo và kết luận Hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh ghi nhận và biểu dương sự nỗ lực, đoàn kết của toàn Đảng bộ trong năm qua. Định hướng nhiệm vụ năm 2026, đồng chí Bí thư Đảng ủy yêu cầu các Chi bộ và toàn thể đảng viên phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng. Đồng chí nhấn mạnh năm 2026, toàn ngành cần tập trung cao độ, phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, trọng tâm là cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 và các chỉ tiêu phát triển Đảng đã đề ra. Ghi nhận những đóng góp tích cực trong năm qua, tại Hội nghị, Đảng bộ Thống kê tỉnh Lâm Đồng đã trao tặng Giấy khen cho 03 tập thể và 15 cá nhân tiêu biểu có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng Đảng và thực hiện hiệu quả mô hình “Dân vận khéo” năm 2025. Cũng trong khuôn khổ Hội nghị, Ban Chấp hành Đảng bộ đã phát động phong trào thi đua năm 2026, kêu gọi toàn thể công chức, đảng viên tạo khí thế thi đua sôi nổi, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ngay từ những ngày đầu, tháng đầu của năm mới./. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh hội nghị: Đ/c Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu khai mạc hội nghịĐ/c Trương Thị Mộng Di - Phó Bí thư Đảng ủy Thống kê tỉnh trình bày Báo cáo tổng kết xây dựng đảng năm 2025 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ năm 2026Đ/c Nguyễn Hoài Hải - Phó Bí thư Đảng ủy Thống kê tỉnh trình bày Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thống kê tỉnh về một số mục tiêu và nhiệm vụ trọng tâm năm 2026Đ/c Nguyễn Văn Tỉnh - Ủy viên BCH, Ủy viên UBKT Đảng ủy Thống kê tỉnh trình bày báo cáo kết quả công tác kiểm tra, giám sát năm 2025, phương hướng nhiệm vụ năm 2026 của Đảng ủy Thống kê tỉnhĐ/c Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy Thống kê tỉnh trao Giấy khen cho tập thể, cá nhân tiêu biểu có thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng Đảng năm 2025