02633 540134 | lamdong@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   03/07/2026 23:28

Tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, chi phí đầu vào chịu áp lực tăng, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục tập trung chỉ đạo phục hồi sản xuất, thúc đẩy đầu tư, thương mại, dịch vụ, du lịch và bảo đảm an sinh xã hội. Nhìn chung, kinh tế - xã hội duy trì đà tăng trưởng khá; quý II có chuyển biến tích cực hơn quý I, song một số lĩnh vực vẫn tăng chưa tương xứng với kịch bản điều hành, nhất là xây dựng, một số sản phẩm công nghiệp, vận tải hành khách, thu nhà đất và tiến độ chuyển hóa vốn đầu tư thành khối lượng thực hiện. Tình hình cụ thể như sau: I. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý II/2026 tăng trưởng tích cực, ước tăng 9,22% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 6 tháng đầu năm 2026, GRDP tăng 7,90%. Kết quả này cho thấy đà phục hồi và phát triển của nền kinh tế tiếp tục được củng cố, trong đó cả ba khu vực kinh tế đều duy trì mức tăng khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,05%, đóng góp 1,18 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,43%, đóng góp 2,30 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,17%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp 4,00 điểm phần trăm. Đối với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản xuất nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng, duy trì tăng trưởng ổn định trong bối cảnh còn chịu tác động của thời tiết, thị trường và dịch bệnh. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,15% so với cùng kỳ, đóng góp 1,00 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành lâm nghiệp tăng 4,54%, tuy nhiên do chiếm tỷ trọng thấp nên đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,49%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng khá, trong đó công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,81% so với cùng kỳ, đóng góp 1,72 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Đáng chú ý, công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao, lần lượt đạt 17,67% và 16,76%, đóng góp tương ứng 0,10 và 0,98 điểm phần trăm. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,09%, đóng góp 0,62 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,58%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ tiếp tục phục hồi mạnh trong 6 tháng đầu năm 2026. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ tăng 9,17% so với cùng kỳ, nhờ hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ tiêu dùng tiếp tục khởi sắc. Trong đó, ngành bán buôn và bán lẻ tăng 11,34%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm; vận tải, kho bãi tăng 14,81%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 13,40%, đóng góp 0,93 điểm phần trăm; thông tin và truyền thông tăng 7,35%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm. Một số ngành dịch vụ khác cũng đạt mức tăng khá góp phần củng cố xu hướng phục hồi và mở rộng của khu vực dịch vụ. II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò ổn định của nền kinh tế. Trồng trọt duy trì nhịp tăng nhờ thời tiết cơ bản thuận lợi, nguồn nước phục vụ sản xuất được bảo đảm; chăn nuôi tăng khá, nhất là lợn và gia cầm; thủy sản khai thác và sản xuất tôm giống tiếp tục phát huy lợi thế. Tuy nhiên, khu vực này vẫn chịu sức ép từ chi phí vật tư, nhiên liệu, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi và biến động giá một số nông sản chủ lực. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm - Kết quả sản xuất vụ Đông xuân: Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 106.482 ha, tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cây lương thực ước đạt 61.950 ha, tăng 1,02% (lúa diện tích ước đạt 55.400 ha, tăng 0,16%, năng suất ước đạt 66,79 tạ/ha, tăng 0,65 tạ/ha; sản lượng ước đạt 370.000 tấn, tăng 1,14%; ngô diện tích ước đạt 6.550 ha, tăng 9,0%, năng suất ước đạt 74,81 tạ/ha, tăng 2,14 tạ/ha; sản lượng ước đạt 49.000 tấn, tăng 12,21%). Nhóm cây chất bột diện tích ước đạt 3.670,3 ha, tăng 0,68% so với cùng kỳ năm trước (tăng chủ yếu ở cây khoai sọ, khoai môn). Nhóm cây có hạt chứa dầu, chủ yếu là cây đậu phộng, diện tích gieo trồng ước đạt 1.360,7 ha, tăng 0,42% so với cùng kỳ năm trước; năng suất ước đạt 22,78 tạ/ha, tăng 0,40 tạ/ha; sản lượng ước đạt 3.100 tấn, tăng 2,21%. Nhóm cây rau, đậu các loại và hoa diện tích gieo trồng ước đạt 34.000 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: diện tích rau các loại 27.000 ha, tăng 1,02%; năng suất ước đạt 337,04 tạ/ha, tăng 10,65 tạ/ha, sản lượng ước đạt 910.000 tấn, tăng 4,31%). Đã chuyển đổi 3.987,6 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng các cây ngắn ngày khác góp phần nâng hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm nước tưới và hạn chế sâu bệnh. - Tiến độ sản xuất vụ Hè thu: Mùa mưa đến sớm, lượng mưa phân bổ tương đối đều tạo điều kiện để nông dân xuống giống sớm. Ước đến ngày 15/6/2025 toàn tỉnh xuống giống vụ Hè thu đạt 45.501 ha, tăng 6,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lúa diện tích đạt 9.495 ha, tăng 3,14%; ngô diện tích đạt 8.830 ha, giảm 1,84%; cây lang diện tích đạt 1.779 ha, tăng 6,55%; đậu phộng diện tích đạt 1.745 ha, tăng 6,10%; cây rau các loại diện tích đạt 13.270 ha, tăng 13,26%; cây đậu các loại diện tích đạt 1.391 ha, tăng 6,3%. 1.2. Cây lâu năm Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 635.258 ha, tăng 0,54% so với cùng kỳ. Cơ cấu cây lâu năm tiếp tục dịch chuyển theo hướng nâng tỷ trọng cây có giá trị kinh tế cao như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, dâu tằm; trong khi một số cây hiệu quả thấp hoặc già cỗi như điều, chè tiếp tục giảm diện tích. Một số cây chủ lực có diễn biến như sau: - Cây cà phê: Diện tích hiện có 329.488 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tỉa cành, làm cỏ,...; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.375 ha, tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 31.182,5 tấn, tăng 5,55%. Diện tích cao su trồng mới có khả năng tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do nông dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư; - Cây điều: Diện tích điều hiện có 45.715 ha, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 36.183,9 tấn, giảm 7,48%. Diện tích điều tiếp tục có xu hướng giảm so với cùng kỳ do người dân chuyển sang trồng mới các loại cây có hiệu quả kinh tế vượt trội hơn như cà phê, sầu riêng, chanh leo, dâu tằm,…; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.246 ha, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 126.745 tấn, tăng 12,74%; sản lượng tăng cao so với cùng kỳ do diện tích cho thu hoạch tăng; - Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có 37.673 ha, tăng 1,31% so với cùng kỳ năm trước; hiện đã hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026, sản lượng thu hoạch ước đạt 94.193 tấn, tăng 5,65%. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao trong những tháng đầu năm 2026, đây là động lực giúp người nông dân tái đầu tư và chăm sóc vườn cây tốt hơn; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.851 ha, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 345.655 tấn, tăng 0,88%. “Đề án phát triển bền vững cây thanh long đến năm 2030” tạo định hướng rõ ràng phát triển cây thanh long theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm. Thanh long Lâm Đồng đã được Liên minh châu Âu EU bảo hộ chỉ dẫn địa lý và thương hiệu được bảo hộ tại nhiều quốc gia, xu hướng tiêu dùng nông sản sạch, truy xuất nguồn gốc tiếp tục mở ra cơ hội xuất khẩu; - Cây chè: Diện tích hiện có 9.184 ha, giảm 2,55% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 48.331 tấn, giảm 4,02%. Diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...; - Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.150 ha, tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 147.790 tấn, tăng 4,46%. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Nguồn nước phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân 2025 - 2026, vụ Hè Thu năm 2026 và nhu cầu dân sinh được theo dõi, điều tiết thường xuyên. Đến ngày 02/6/2026, tổng diện tích được cấp nước tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện đạt 34.094 ha (đạt 30,8% diện tích sản xuất nông nghiệp). Công tác kiểm tra an toàn hồ, đập, cảnh báo vùng hạ du và xử lý nguy cơ sạt lở được tăng cường, góp phần giảm rủi ro trong mùa mưa. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong 6 tháng đầu năm 2026, dịch bệnh trên cây trồng nhìn chung được kiểm soát, song vẫn xuất hiện cục bộ trên một số cây trồng chủ lực: Sầu riêng, bệnh xì mủ, thối rể gây hại 2.164 ha (108 ha nhiễm nặng); Điều, bọ xít muỗi gây hại 3.931 ha, bệnh thán thư gây hại 3.043 ha; Dâu tằm, bệnh tuyến trùng gây hại 119 ha; Cà phê chè, bọ xít muỗi gây hại 2.229 ha; Cà chua, sâu đục lá Nam Mỹ gây hại 1,7 ha, bệnh xoăn lá virus gây hại 103 ha; Lúa, bệnh đạo ôn lá gây hại 465 ha, ốc bươu vàng gây hại 544 ha, sâu đục thân gây hại 245 ha; Thanh long, bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha, bệnh thán thư cành, quả gây hại 208 ha, ốc sên gây hại 156 ha. 2. Chăn nuôi Chăn nuôi tiếp tục là điểm sáng của khu vực nông nghiệp. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với cùng kỳ, nguồn cung thịt, trứng, sữa cơ bản bảo đảm cho thị trường. Sản lượng thịt hơi các loại tháng 6 ước đạt 23.525,1 tấn, tăng 11,96%; quý II đạt 92.044,9 tấn, tăng 9,54%; lũy kế 6 tháng đạt 185.269 tấn, tăng 9,69%. Kết quả này chủ yếu nhờ chăn nuôi trang trại, liên kết với doanh nghiệp và công tác phòng, chống dịch bệnh được chú trọng. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,5 nghìn con, tăng 0,28% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tương đối ổn định nhờ người dân tận dụng các vùng chăn thả và nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,4 nghìn con, tăng 2,87% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 31,0 nghìn con, tăng 0,58%). Quy mô đàn bò tiếp tục tăng nhờ công tác cải tạo giống, mở rộng diện tích đồng cỏ, tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp và duy trì các chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt đối với chăn nuôi bò sữa. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.541,5 nghìn con, tăng 5,43% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.259,4 nghìn con, tăng 5,48%). Quy mô đàn lợn tăng khá nhờ chăn nuôi trang trại phát triển, các mô hình liên kết sản xuất với doanh nghiệp tiếp tục được mở rộng, công tác phòng chống dịch bệnh được tăng cường và giá lợn hơi duy trì ở mức có lợi cho người chăn nuôi. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ lợn thịt của các doanh nghiệp chế biến, cơ sở giết mổ và thị trường trong nước tăng, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm chăn nuôi. Trước triển vọng thị trường thuận lợi, nhiều doanh nghiệp và trang trại đã chủ động tăng quy mô đàn, tái đàn và đầu tư mở rộng sản xuất, góp phần thúc đẩy tổng đàn lợn trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước (Công ty TNHH Việt Hoàng T&T tăng từ 7,07 nghìn con lên 23 nghìn con; Công ty TNHH Bách Minh tăng từ 4,1 nghìn con lên 6,57 nghìn con; Công ty TNHH Khang Thọ, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam - Chi nhánh Lâm Đồng, Công ty Chăn nuôi Duy Ngọc Đạ Huoai đều có quy mô đàn tăng từ 0,5 đến dưới 2,0 nghìn con so với cùng kỳ năm trước). - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 23.600 nghìn con, tăng 8,69% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.337 nghìn con, chiếm 69,22% trong tổng đàn gia cầm, tăng 8,46%). Quy mô đàn gia cầm tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, khả năng thích ứng linh hoạt với thị trường, cùng với việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh phát sinh tại 01 hộ trên địa bàn xã Đức An, đã tiêu hủy 800 con/43,33 tấn. Lũy kế từ 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 14.877 con lợn mắc bệnh với tổng trọng lượng 744,01 tấn; đến nay còn 03 xã có ổ dịch chưa qua 21 ngày. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả (đã phân bổ bổ sung 15.000 liều vắc xin phòng bệnh Cúm gia cầm cho xã Nam Ban để triển khai tiêm phòng, nâng cao khả năng miễn dịch cho đàn gia cầm). Các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi như: Dại, tai xanh, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, cúm gia cầm không xảy ra. Công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất, nhập tỉnh được duy trì thực hiện theo đúng quy định; công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y tiếp tục được tăng cường. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, diện tích trồng rừng ước đạt 2.221 ha, tăng 5,54% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.226 ha, tăng 5,2%; diện tích trồng cây phân tán ước đạt 5,6 triệu cây, tăng 3,36% so với cùng kỳ. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.705 m3, tăng 4,94% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 129.224 m3, tăng 5,02%, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 233.289 m3, tăng 3,89%. - Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 30.123 ste, tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 86.622 ste, tăng 1,84%; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 180.081 ste, tăng 1,98%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (từ 10/5/2026 - 10/6/2026) là 60 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 31 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 5,3 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 15 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 20 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 4,3 ha). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 (từ 10/12/2025 - 10/6/2026), tổng số vụ vi phạm là 300 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 136 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 22,7 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 42 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 34 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 5,9 ha). - Công tác phòng, chống cháy rừng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã triển khai thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô năm 2026, tập trung theo dõi và thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn các xã, phường; cập nhật kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát, xác định các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao trên địa bàn; tổ chức trực và canh gác tại các khu rừng có nguy cơ cháy rừng cao khi dự báo cháy rừng cấp III, IV, V. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 1,1 ha; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 02 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,1 ha. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,7 ha. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng tháng 6 ước đạt 487,8 ha, tăng 1,59% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.873,4 ha, tăng 1,43% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 2.581,6 ha, tăng 1,25%; diện tích nuôi tôm đạt 269,1 ha, tăng 3,46%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.305,3 tấn, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 395 tấn, tăng 10,92%); quý II/2026 ước đạt 6.934,1 tấn, giảm 0,16% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.160,7 tấn, tăng 6,23%); lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13.890 tấn, tăng 0,45% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 2.311,2 tấn, tăng 4,95%) - Khai thác thủy sản: Những tháng đầu năm, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền bám biển hoạt động khai thác ổn định; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho một số nghề như lưới kéo, vây rút chì, lưới rê, mành. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, đảo Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 25.660 tấn, tăng 3,04% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 25.560 tấn, tăng 2,84%); quý II/2026 ước đạt 66.843,5 tấn, tăng 3,1% (sản lượng khai thác biển đạt 66.578,5 tấn, tăng 2,92%); lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.113,5 tấn, tăng 3,29% (sản lượng khai thác biển đạt 119.700,2 tấn, tăng 3,19%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,8 tỷ post, tăng 32,06% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026 ước đạt 7,3 tỷ post, tăng 17,2%; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,2 tỷ post, tăng 10,01%. 5. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông vào sản xuất Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác đào tạo, tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ, khuyến nông tiếp tục được đẩy mạnh và mang lại hiệu quả tích cực (đã triển khai 12 lớp tập huấn); Công tác thông tin tuyên truyền khuyến nông tiếp tục được quan tâm thực hiện thường xuyên. Ngành chức năng tiếp tục theo dõi, thực hiện 07 mô hình chuyển tiếp từ năm 2025 và triển khai thực hiện 13 mô hình mới. Sản xuất an toàn bền vững tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh; diện tích sản xuất được chứng nhận an toàn bền vững ngày càng được mở rộng; đến nay, toàn tỉnh hiện có trên 154.375 ha được chứng nhận sản xuất an toàn bền vững (trong đó, diện tích VietGAP, GlobalGAP đạt 23.800 ha, diện tích hữu cơ đạt 4.075 ha, diện tích cà phê chứng nhận 4C, UTZ/Rainforest… đạt 126.500 ha). 6. Chương trình xây dựng nông thôn mới Trong 6 tháng đầu năm 2026, tập trung triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Tiếp tục theo dõi hoạt động kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác và hợp tác xã (HTX); Tập trung phát triển, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh; Công tác hỗ trợ HTX, đào tạo cán bộ, đặc biệt về kỹ năng thị trường và Luật HTX được chú trọng (đã tổ chức 01 lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, thành viên của các tổ chức kinh tế tập thể, HTX nông nghiệp). Toàn tỉnh hiện có 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp đang hoạt động theo Luật HTX năm 2023 với 45 HTX thành viên và 959 HTX nông nghiệp với 19.582 thành viên (trong đó 166 HTX ngừng hoạt động); có 1.290 Tổ hợp tác (các Tổ hợp tác hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi) và 1.448 trang trại (trong đó, có 1.410 trang trại đang hoạt động, 38 trang trại ngừng hoạt động). Hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh với 428 chuỗi liên kết, thu hút 47.590 hộ tham gia; diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85 nghìn ha, sản lượng khoảng 920 nghìn tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt 2.230 nghìn con, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Chương trình OCOP tiếp tục được triển khai hiệu quả với 936 sản phẩm còn hạn chứng nhận, trong đó có 88 sản phẩm 4 sao và 848 sản phẩm 3 sao, với 526 chủ thể tham gia. III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh ước tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 duy trì đà tăng trưởng khá. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương. Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp tỉnh. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 24,68% so với cùng kỳ năm trước, quý II/2026 tăng 24,87% so với quý trước và tăng 13,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,98%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 17,04%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,63%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,29%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,02%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 16,92%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,05%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 388.861 m3, giảm 1,21% so với tháng trước và tăng 7,46% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.226.079 m3, tăng 17,57% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.136.985 m3, tăng 19,15% so với cùng kỳ. Tăng mạnh so với cùng kỳ do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang chỉ đạo tập trung giải ngân vốn đầu tư công cũng như các hạng mục công trình xây dựng khác đang đầu tư tại tỉnh. - Các sản phẩm từ thuỷ sản: Ước trong tháng sản lượng ước đạt 2.205 tấn, tăng 2,31% so với tháng trước và tăng 27,90% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 6.192 tấn, tăng 12,56% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 12.183 tấn, tăng 19,12% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp tập trung sản xuất khi mùa khai thác thủy hải sản đang thuận lợi, chủ động nguồn hàng cho các tháng tiếp theo. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến: Trong tháng ước đạt 4.851 tấn, tăng 16,98% so với tháng trước và tăng 29,71% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 12.539 tấn, tăng 20,79% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 21.431 tấn, tăng 15,38% so với cùng kỳ, một số doanh nghiệp đã đưa được sản phẩm vào siêu thị và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua một số nước trong khu vực ASEAN. - Đồ uống các loại: Ước trong tháng đạt 21.440 nghìn lít, tăng 3,22% so với tháng trước và tăng 26,07% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 60.363 nghìn lít, tăng 18,92% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 124.131 nghìn lít, tăng 16,80% so với cùng kỳ, các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 850 nghìn đôi, tăng 12,38% so với tháng trước và tăng 146,69% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.242 nghìn đôi, tăng 29,52% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.799 nghìn đôi, tăng 29,21% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm và đến nay vẫn duy trì tốc độ tăng đáng kể. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 12.896 tấn tăng 9,20% so với tháng trước và tăng 1,77% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 30.586 tấn, giảm 2,75% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng ước đạt 65.614 tấn, tăng 20,65% so với cùng kỳ nguyên nhân do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng để chuẩn bị cho mùa vụ 2026. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Ước trong tháng 135,3 nghìn tấn, tăng 1,12% so với tháng trước và tăng 10,83%% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 388,1 nghìn tấn, tăng 5,24% so với cùng kỳ, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 789,9 nghìn tấn tăng 2,53% so với cùng kỳ. - Điện sản xuất: Trong tháng ước đạt 3.380 triệu kwh, giảm 0,79% so với tháng trước và tăng 26,54% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 10.341 triệu kwh, tăng 11,30% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng ước đạt 18.079 triệu kwh, tăng 5,26% so với cùng kỳ. - Điện thương phẩm: Trong tháng ước đạt 482 triệu kwh, giảm 4,27% so với tháng trước và tăng 16,21% so với cùng kỳ. Quý II/2026 ước đạt 1.526 triệu kwh tăng 13,96% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.016 triệu kwh, tăng 8,93% so với sùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,34% so với tháng trước và tăng 7,42% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 12,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,55%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,49%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,34%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 7,54% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 12,05%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 5,66%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,96%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,48%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,22%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,38%. Chỉ số sử dụng lao động tăng cho thấy các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất, nhất là trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, lao động trong khai khoáng và cung cấp nước, xử lý rác thải còn giảm; đồng thời kết quả khảo sát doanh nghiệp cho thấy khó tuyển dụng lao động theo yêu cầu vẫn là một trong những khó khăn đáng chú ý, cần được theo dõi trong thời gian tới. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 11,77% so với tháng trước và tăng 12,35% so với cùng kỳ; lũy kế quý II/2026 chỉ số tiêu thụ giảm 1,43% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 30,45%; sản xuất đồ uống tăng 28,25%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 36,73%; chế biến gỗ tăng 48,89%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 76,47%; in và sao chép bản ghi các loại tăng 26,13%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 11,15%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 17,99%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 8,63%; sản xuất kim loại tăng 3,08%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 88,93%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: ngành dệt giảm 5,73%; sản xuất trang phục giảm 45,18%... Chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng là tín hiệu tích cực, nhưng quý II vẫn giảm 1,43% so với cùng kỳ, phản ánh sức mua và đơn hàng chưa đồng đều giữa các ngành. Các ngành thực phẩm, đồ uống, da giày, gỗ, giấy, hóa chất, cao su - plastic tăng tiêu thụ; ngược lại, dệt và sản xuất trang phục còn giảm, cho thấy rủi ro thị trường đang chịu ảnh hưởng của những biến động chưa tích cực từ tình hình kinh tế thế giới. 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 14,52% so với tháng trước và giảm 21,4% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 23,29%; sản xuất đồ uống giảm 26,68%; dệt giảm 77,93%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 29,52%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 56,35%… Ngược lại những ngành tăng như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 54,23%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 9,66%. 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Sản xuất kinh doanh quý II/2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 32,14% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 21,43% đánh giá khó khăn hơn và 46,43% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi. Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước 12,5% có chiều hướng thuận lợi; 75% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 31,03% có chiều hướng thuận lợi; 45,69% có chiều hướng không thay đổi và 23,28% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 50% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 37,5% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý II/2026, có 50,94% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 26,42% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 35,85% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 7,55% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 22,64% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 5,66% cho rằng thiếu năng lượng; 33,96% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 28,3% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 20,75% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 20,75% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 9,43% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 20,75% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 3,77% lý do khác. 1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã thu hút được 06 dự án đầu tư (trong đó có 01 dự án nước ngoài và 05 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 258,66 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích đất thuê lại 5,18 ha. Các dự án thu hút mới chủ yếu tập trung tại KCN Lộc Sơn và KCN Phú Hội, gồm: Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina, vốn đăng ký 0,2 triệu USD, thuê lại 0,3 ha nhà xưởng tại KCN Lộc Sơn; Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam, vốn đăng ký 26 tỷ đồng, diện tích 0,3128 ha tại KCN Lộc Sơn; Kho Transimex Phú Hội, vốn đăng ký 98,658 tỷ đồng, diện tích 1,29 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV Nhựa Stroman Lâm Đồng, vốn đăng ký 40 tỷ đồng, diện tích 1,3879 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm, vốn đăng ký 14 tỷ đồng, diện tích 1,0887 ha tại KCN Phú Hội; và Nhà máy chế biến nông sản của Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà, vốn đăng ký 80 tỷ đồng, diện tích 1,0981 ha tại KCN Phú Hội. Lũy kế đến nay, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh có 244 dự án đầu tư, trong đó có 58 dự án FDI và 186 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 46.728,75 tỷ đồng và 515,132 triệu USD; diện tích đất đăng ký 727,11 ha, tỷ lệ lấp đầy chung đạt 53,88%. Hiện có 175 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Kết quả sản xuất kinh doanh lũy kế đến ngày 30/6/2026 ước đạt 16.520 tỷ đồng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 353,8 triệu USD; nộp ngân sách ước đạt 949,5 tỷ đồng. Về tình hình từng khu công nghiệp: - KCN Lộc Sơn thu hút được 58 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 48 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,8ha/132,6 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%; - KCN Phú Hội thu hút được 34 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 23 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%; - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%; - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%; - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,7 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%; - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,9 ha/276,9 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%; - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,4 ha/202,3 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%; - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,1 ha/210,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%; - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130,6 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%; - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,4 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%; - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Hoạt động xây dựng duy trì tăng trưởng, song tốc độ chưa thật sự bứt phá so với yêu cầu tăng trưởng cao. Các dự án hạ tầng giao thông, chỉnh trang đô thị, công trình phục vụ du lịch, dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục tạo khối lượng cho ngành; tuy nhiên, vướng mắc về mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, giá vật liệu và thủ tục dự án vẫn là những yếu tố làm chậm tiến độ thi công, nghiệm thu và thanh toán. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ngành xây dựng chia theo loại hình quý II/2026 ước đạt 16.492,3 tỷ đồng, tăng 14,87% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 63 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,38%), tăng 75,11% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 8.935,4 tỷ đồng (54,18%), tăng 16,04% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 176,3 tỷ đồng (1,07%), tăng 19,95% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 7.317,6 tỷ đồng (44,37%), tăng 13,03% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 28.653,6 tỷ đồng, tăng 13,68% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 120,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,42%), tăng 85,67% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 15.741,8 tỷ đồng (54,94%), tăng 14,40% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 352,0 tỷ đồng (1,23%), tăng 12,27% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 12.439,8 tỷ đồng (43,41%), tăng 12,27% so với cùng kỳ. Chia theo loại công trình, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý II/2026 công trình nhà ở đạt 6.578,8 tỷ đồng, tăng 11,55% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 3.476,3 tỷ đồng, tăng 12,52% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 4.400,3 tỷ đồng, tăng 15,69% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.036,9 tỷ đồng, tăng 29,99% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành loại công trình nhà ở đạt 11.554,8 tỷ đồng, tăng 10,92% so cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 5.952,9 tỷ đồng, tăng 11,54% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 7.425,7 tỷ đồng, tăng 13,88%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 3.720,2 tỷ đồng, tăng 26,92% so với cùng kỳ. Theo giá so sánh 2010, giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại hình ước quý II/2026 đạt 13.139,2 tỷ đồng, tăng 9,72% so cùng kỳ. Trong đó, công trình nhà ở đạt 5.167,2 tỷ đồng, tăng 5,88% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 2.730,4 tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ; Công trình kỹ thuật dân dụng 3.456,1 tỷ đồng, tăng 9,81% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 1.785,6 tỷ đồng, tăng 28,31% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh ước đạt 22.924,9 tỷ đồng, tăng 8,76% so với cùng kỳ. Trong đó, công trình nhà ở đạt 9.107,6 tỷ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 4.691,6 tỷ đồng, tăng 5,99% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 5.851,9 tỷ đồng, tăng 8,21% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 3.273,9 tỷ đồng, tăng 25,78% so với cùng kỳ. Kết quả khảo sát doanh nghiệp xây dựng cho thấy tâm lý thận trọng còn rõ nét. Quý II/2026 so với quý I/2026 có 14,5% doanh nghiệp nhận định thuận lợi hơn, 50,8% ổn định và 34,7% khó khăn hơn; chỉ số cân bằng chung là -20,2%. Dự báo quý III/2026, tỷ lệ doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn tăng lên 48%, chỉ số cân bằng chung giảm -35,3%, cho thấy ngành xây dựng cần được hỗ trợ mạnh hơn về mặt bằng, thủ tục, nguồn vật liệu và thanh toán khối lượng. 3. Đầu tư phát triển Đầu tư phát triển tiếp tục là kênh tạo động lực tăng trưởng quan trọng sau khi tỉnh mở rộng không gian phát triển. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá, cơ cấu vốn ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng chủ lực, tập trung vào công nghiệp chế biến, khai khoáng, năng lượng, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và hạ tầng. Tuy nhiên, tốc độ thực hiện một số dự án còn chậm, nhất là nhóm dự án liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và thủ tục đất đai. Trong 6 tháng đầu năm, công tác phân bổ và triển khai vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm, công trình khởi công mới được thực hiện khẩn trương. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện của các dự án còn chậm do vướng mắc trong chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa được xử lý dứt điểm. 3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 964,78 tỷ đồng, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 900,34 tỷ đồng, chiếm 93,32% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 2,11% so với cùng kỳ (trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách ước đạt 410,57 tỷ đồng, tăng 33,01% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 129,45 tỷ đồng, giảm 49,16% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài đạt 14,21 tỷ đồng, giảm 27,47% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết đạt 340,45 tỷ đồng, tăng 15,13% so với cùng kỳ; vốn khác đạt 5,66 tỷ đồng, tăng 79,54% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 64,44 tỷ đồng, chiếm 6,68% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,24% so với cùng kỳ. Quý II/2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.628,92 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.451,39 tỷ đồng, chiếm 93,25% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,90% so với cùng kỳ (trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.122,49 tỷ đồng, tăng 49,08% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 349,27 tỷ đồng, giảm 47,10% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài ước đạt 38,68 tỷ đồng, giảm 28,20% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 925,05 tỷ đồng, tăng 4,67% so với cùng kỳ; vốn khác ước đạt 15,90 tỷ đồng, tăng 85,92% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 177,53 tỷ đồng (chiếm 6,75% tổng số vốn trên địa bàn), tăng 4,77% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.539,56 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 4.233,71 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ, chiếm 93,26% tổng số vốn trên địa bàn (trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.956,99 tỷ đồng, tăng 24,47% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 605,25 tỷ đồng, giảm 46,71% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài ước đạt 68,05 tỷ đồng, giảm 28,28% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 1.576,63 tỷ đồng, tăng 26,42% so với cùng kỳ; vốn khác ước đạt 26,79 tỷ đồng, tăng 77,36% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 305,85 tỷ đồng, chiếm 6,74% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,24% so với cùng kỳ. 3.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn Vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục mở rộng, trong đó vốn ngoài nhà nước giữ vai trò dẫn dắt. Dòng vốn tập trung vào các dự án có khả năng tạo năng lực sản xuất và không gian phát triển mới như Thung lũng Đại dương, Điện phân nhôm Đắk Nông, Nam sông Đa Nhim, các khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2, cùng nhóm dự án chế biến, logistics và nông nghiệp công nghệ cao. Đây là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng trung hạn, nhưng cần tiếp tục theo dõi khả năng chuyển hóa thành khối lượng thực hiện trong năm 2026. Quý II/2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 29.527,20 tỷ đồng, tăng 31,68% so với quý I/2026 và tăng 15,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn nhà nước đạt 4.865,68 tỷ đồng (16,48%), tăng 7,54%; vốn ngoài nhà nước 23.599,76 tỷ đồng (79,69%), tăng 17,03% (vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 12.112,12 tỷ đồng, tăng 15,04%; vốn đầu tư của dân cư đạt 11.487,64 tỷ đồng, tăng 19,20%); vốn FDI đạt 1.061,77 tỷ đồng (3,6%), tăng 11,95%. Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất (22.423,98 tỷ đồng, tăng 16,66%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 13,75% (4.060,46 tỷ đồng, tăng 11,12%), ... Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư toàn xã hội đạt 51.950,24 tỷ đồng, tăng 14,38% so với cùng kỳ năm trước. Vốn nhà nước đạt 8.379,9 tỷ đồng (chiếm 16,13%), tăng 6,95%. Vốn ngoài nhà nước đạt 41.688,83 tỷ đồng (41,78%), tăng 16,16% tiếp tục giữ vai trò chủ lực, huy động hiệu quả nguồn xã hội hóa (vốn của tổ chức, doanh nghiệp đạt 21.705,37 tỷ đồng, tăng 15,15%; vốn của dân cư đạt 19.983,46 tỷ đồng, tăng 17,27%). Vốn FDI đạt 1.881,51 tỷ đồng (3,62%), tăng 11,21%, dòng vốn FDI có sự chọn lọc chiến lược, tập trung vào nông nghiệp công nghệ sinh học, chế biến sâu nông sản, logistics và du lịch sinh thái. Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất 77,1% (40.053,09 tỷ đồng, tăng 16,37%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 12,74% (6.616,59 tỷ đồng, tăng 7,11%), cùng các khoản mục mua sắm tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động và vốn khác đều tăng trưởng. Kết quả trên cho thấy dòng vốn đầu tư tiếp tục mở rộng, cơ cấu chuyển dịch tích cực, đóng góp quan trọng cho phát triển hạ tầng, công nghiệp chế biến chế tạo và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong tháng (từ ngày 15/5-14/6/2026) toàn tỉnh có 376 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 25% so với cùng kỳ năm trước; 48 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 24%; 106 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 6%; 96 doanh nghiệp giải thể, tăng 23%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 2.382 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 58,38% so với cùng kỳ; 556 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 10,76%; 1.191 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 2,03%; 491 doanh nghiệp giải thể, tăng 71,68% (tương ứng 205 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 11.965,5 tỷ đồng, tăng 34,63%. Bình quân một tháng số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao xấp sỉ 6 lần số doanh nghiệp rút lui (490 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại so với gần 82 doanh nghiệp rút lui). Điều này cho thấy niềm tin kinh doanh có cải thiện; tuy nhiên, số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh cũng phản ánh áp lực cạnh tranh, chi phí và khả năng chống chịu của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế. Về thu hút đầu tư (tính từ đầu năm đến ngày 18/6/2026), toàn tỉnh có 31 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 143.886,6 tỷ đồng; 28 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 18/6/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.950 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 916.601 tỷ đồng (trong đó: có 245 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.958 tỷ đồng). * Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm Trong 6 tháng đầu năm 2026, tiến độ triển khai các công trình trọng điểm, dự án đô thị, thương mại và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có nhiều chuyển biến tích cực nhờ sự quyết liệt trong tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục pháp lý. Tuy nhiên, một số dự án vẫn chậm tiến độ do công tác giải phóng mặt bằng kéo dài và tác động của giá nguyên vật liệu xây dựng tăng cao. Đối với các dự án hạ tầng giao thông chiến lược, tỉnh đang tập trung triển khai đồng bộ nhiều dự án quy mô lớn. Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành dài 124,13 km được chia thành 5 dự án thành phần; trong đó tỉnh phụ trách công tác xây dựng đường gom, cầu vượt và thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư với tổng kinh phí khoảng 1.000 tỷ đồng. Dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc dài khoảng 66 km và dự án cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương dài 73,6 km đang hoàn thiện các thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và tái định cư. Riêng dự án Bảo Lộc - Liên Khương còn gặp khó khăn do thủ tục chuyển đổi đất rừng, đất lúa và áp lực tăng giá vật liệu xây dựng. Các dự án giao thông quan trọng khác cũng được triển khai tích cực. Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh với chiều dài 156,5 km đang thực hiện công tác quản lý hiện trạng, khoanh vùng hành lang và chuẩn bị dữ liệu phục vụ công tác đo đạc, kiểm đếm. Dự án đường ven biển ĐT.719B đoạn Phan Thiết - Kê Gà đã hoàn thành khoảng 92% khối lượng, trong đó đoạn dài 17,8 km từ Quốc lộ 1 đến cầu Suối Nhum đã đưa vào khai thác. Dự án nâng cấp Quốc lộ 28B đạt 99% khối lượng giải phóng mặt bằng. Lĩnh vực hạ tầng hàng không ghi nhận những bước tiến quan trọng. Dự án Cảng hàng không Phan Thiết (hạng mục hàng không dân dụng) đã hoàn tất bàn giao toàn bộ mặt bằng sạch, sẵn sàng triển khai thi công. Dự án nâng cấp Cảng hàng không Liên Khương với tổng vốn đầu tư gần 5.000 tỷ đồng đang thực hiện công tác đo đạc, kiểm đếm trên 115 ha, đạt 33,8% khối lượng chuẩn bị mặt bằng. Các dự án thủy lợi tiếp tục được đẩy mạnh nhằm nâng cao năng lực cấp nước phục vụ sản xuất và dân sinh. Dự án hồ chứa nước KaZam đã hoàn thành 91% diện tích giải phóng mặt bằng và đạt khoảng 38% khối lượng xây lắp. Hồ chứa nước Ka Pét đạt 72% khối lượng kiểm đếm, bồi thường và tái định cư. Hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây đạt khoảng 62% giá trị xây dựng, trong khi hệ thống kênh mương hồ Đạ Sị đạt 51% khối lượng thực hiện. Dự án hồ Đắk Gang đã hoàn thành 84,5% diện tích bàn giao mặt bằng và đạt khoảng 28% khối lượng xây lắp. Trong lĩnh vực công nghiệp, Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông với tổng vốn đầu tư trên 28.000 tỷ đồng đã hoàn thành khoảng 82% khối lượng xây lắp và lắp đặt thiết bị. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1 đạt trên 85% công tác giải phóng mặt bằng và khoảng 25% khối lượng hạ tầng kỹ thuật giai đoạn 1. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 2 cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị đầu tư và đang triển khai các hạng mục kỹ thuật ban đầu. Khu công nghiệp Tân Đức đã hoàn thành trên 97% công tác giải phóng mặt bằng. Đối với các dự án phát triển đô thị, Khu đô thị mới Nam sông Đa Nhim quy mô 153,65 ha với tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 11.800 tỷ đồng hiện đang tập trung thực hiện công tác giải phóng mặt bằng. Dự án cải thiện môi trường đô thị tại khu vực Đắk Nông cũ đã triển khai đồng loạt các gói thầu xây lắp và đạt trên 75% giá trị hợp đồng. Nhìn chung, các dự án trọng điểm của tỉnh đang được triển khai theo hướng tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kết cấu hạ tầng, mở rộng không gian đô thị, thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tới. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh trong tháng, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Sức mua tăng, nguồn cung hàng hóa ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá bán trên thị trường tương đối ổn định, không xảy ra biến động khan hiếm làm tăng giá đột biến. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, nhiều hoạt động văn hoá, thể thao và nhiều lễ hội khác đã thu hút nhiều du khách. Dịch vụ lữ hành tiếp tục tăng cường; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hoá trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.324,4 tỷ đồng, tăng 3,51% so với tháng trước và tăng 23,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: uớc tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 10.305,5 tỷ đồng, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 20,99% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.938,4 tỷ đồng, tăng 14,46% so với tháng trước và tăng 38,03% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.080,6 tỷ đồng, tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 15,92% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 50.295,5 tỷ đồng, tăng 20,21% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 30.655,7 tỷ đồng, tăng 18,44% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 10.451,8 tỷ đồng, tăng 24,67% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 9.188,1 tỷ đồng, tăng 21,36% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 97.606,7 tỷ đồng, tăng 17,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 60.083,8 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 19.840 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Công tác quản lý thị trường được tăng cường, tập trung vào xăng dầu, gạo, vật liệu xây dựng, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và gian lận thương mại. Trong tháng, lực lượng chức năng kiểm tra 153 vụ, phát hiện 124 vụ vi phạm, xử lý 112 vụ với tổng số tiền xử phạt 864,5 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/6/2026, đã kiểm tra 798 vụ, phát hiện 741 vụ vi phạm, xử lý 720 vụ; số tiền xử phạt 5.741,4 triệu đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 2.013,4 triệu đồng. Kết quả này góp phần ổn định thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và môi trường kinh doanh lành mạnh. 2. Giá cả 2.1. Giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm chịu tác động đan xen: một mặt, nguồn cung hàng hóa cơ bản ổn định và điều hành giá xăng dầu góp phần hạn chế biến động đột biến; mặt khác, giá nhà ở, điện nước, vật liệu xây dựng, thực phẩm, giao thông và giáo dục tăng đã tạo áp lực lên mặt bằng giá chung. Vì vậy, kiểm soát giá, nhất là nhóm hàng thiết yếu và chi phí đầu vào, tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới. Trong tháng CPI giảm 0,19% so với tháng trước, tăng 0,60% so với tháng 12/2025 và tăng 4,01% so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm chủ yếu do nhóm giao thông giảm mạnh 4,51%, trong đó giá xăng giảm 10,05%, dầu diesel giảm 10,62% và dầu hỏa giảm 18,73% theo các kỳ điều hành giá nhiên liệu trong tháng. Bên cạnh đó, giá sách giáo khoa giảm 1,49% làm nhóm giáo dục giảm 0,09%. Tuy nhiên, nhiều nhóm hàng vẫn tăng giá như hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,62%, văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,77%, nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng tăng 0,15% do nhu cầu tiêu dùng mùa hè và chi phí đầu vào tăng. Bình quân quý II/2026, CPI tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu đến từ nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,33%, làm CPI chung tăng 1,31 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 9,39%, đóng góp 1,07 điểm phần trăm do giá nhiên liệu tăng 19,02% và giá dịch vụ vận tải hành khách tăng 37,1%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,76%, nhóm giáo dục tăng 7,20% do điều chỉnh học phí tại một số cơ sở giáo dục ngoài công lập. Trong khi đó, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,32%, góp phần kiềm chế đà tăng CPI nhờ các chương trình giảm giá thiết bị công nghệ và điện thoại di động. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng tác động lớn đến CPI gồm: nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,04%, làm CPI chung tăng 1,08 điểm phần trăm; thực phẩm tăng 4,58%, đóng góp 1,14 điểm phần trăm; giao thông tăng 5,38%, làm CPI tăng 0,61 điểm phần trăm; giáo dục tăng 7,18%, góp phần tăng 0,34 điểm phần trăm. Ngoài ra, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, đồ uống và thuốc lá tăng 3,3%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,49%. Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,27%, góp phần giảm áp lực tăn giá. Nhìn chung, mặt bằng giá 6 tháng đầu năm 2026 chịu tác động chủ yếu từ chi phí nguyên vật liệu đầu vào, giá nhiên liệu, giá nhà ở, vật liệu xây dựng và việc điều chỉnh học phí tại một số cơ sở giáo dục. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất  Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2026 tăng 5,93% so cùng kỳ năm trước và 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 5,59%; sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 7,21% và sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,76%. Chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước, trong đó tăng cao nhất là nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,47%; tiếp đến là nhóm sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 6,55%; nhóm sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng thấp 3,49%.  Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào dùng cho sản xuất quý II/2026 tăng 11,72% so với cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 1,93%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,85%; nguyên vật liệu khác tăng 14,61%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,29%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,33%; sản phẩm xây dựng tăng 6,9%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,47%. Tính bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 9,19% so cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 4,3%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,6%; nguyên vật liệu khác tăng 9,44%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 4,04%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,62%; sản phẩm xây dựng tăng 5,37%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,66%. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý II/2026 tăng 1,01% so với quý trước; tăng 3,9% so với quý cùng kỳ năm trước. Tính bình quân chỉ số giá 6 tháng đầu năm 2026 tăng 3,85% so với cùng kỳ năm năm trước, trong đó: nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 19,59% so với cùng kỳ năm trước (nhờ nhóm sản phẩm quặng kim loại và tinh quặng kim loại, nhóm nhóm sản phẩm khai khoáng khác); nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,95% (hầu hết sản phẩm đều tăng giá); nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,28% (do những tháng đầu năm công ty cổ phần thủy điện Trung Nam, Đăk R'tih áp dụng theo đơn giá điện mùa khô; bên cạnh đó sản lượng điện phát ra của công ty cổ phần thủy điện Đa Nhim - àm Thuận - Đa Mi cao hơn giá hợp đồng, tác động làm tăng chỉ số giá nhóm thủy điện; ngoài ra giá điện mặt trời biến động theo tỷ giá đồng Đô la Mỹ); nhóm nước tự nhiên khai thác, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,79% (do lượng nước tiêu thụ tăng tác động lên giá nước sản xuất; bên cạnh đó chi phí nhân công, giá nhiên liệu và chi phí vận hành tăng nên một số công ty điều chỉnh tăng giá dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu). 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, tỉnh Lâm Đồng sôi động với nhiều sự kiện văn hóa và thể thao quy mô lớn, nổi bật là Hội thao Quân sự, võ thuật và thể thao Công an nhân dân (từ ngày 17-24/6/2026) thu hút khoảng 1.500 vận động viên tham gia thi đấu các môn: bắn súng, võ thuật, vượt vật cản, bóng đá nam 7 người và Pickleball. Giải Thể thao học sinh phổ thông toàn quốc (từ ngày 20-30/6/2026); Chương trình kích cầu du lịch nội tỉnh diễn ra xuyên suốt trong tháng và kéo dài đến cuối năm 2026 hưởng ứng mùa du lịch hè, tỉnh triển khai chương trình “Người Lâm Đồng đi du lịch Lâm Đồng - Khám phá quê hương, kết nối yêu thương”, với nhiều chuỗi trải nghiệm, khám phá thiên nhiên, văn hóa và kết nối các vùng miền trên toàn tỉnh. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.166,7 nghìn lượt, tăng 11,25% so tháng trước và tăng 20,65% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 73,5 nghìn lượt, tăng 7,14% so với tháng trước và tăng 7,43% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.997,7 nghìn ngày khách, tăng 12,21% so với tháng trước và tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 115 nghìn lượt khách, tăng 10,36% so với tháng trước và tăng 34,66% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 369,5 nghìn ngày khách, tăng 11,97% so với tháng trước và tăng 40,98% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 lượt khách phục vụ đạt 6.138,6 nghìn lượt, tăng 17,03% so với quý cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 212,2 nghìn lượt, tăng 10,55 % so với quý cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 11.311,4 nghìn ngày khách, tăng 19,17% so với quý cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế quý II/2026 ước đạt 328,7 nghìn lượt khách, tăng 15,74% so với quý cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế phục vụ ước đạt 1.047,2 nghìn ngày khách, tăng 20,51% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 11.995 nghìn lượt, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 428 nghìn lượt, tăng 13,91% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 22.430 nghìn ngày khách, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 825 nghìn lượt, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.630 nghìn ngày khách, tăng 22,32% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 769 tỷ đồng, tăng 18,46% so với tháng trước và tăng 30,39% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.110 tỷ đồng, tăng 13,73% so với tháng trước và tăng 39,95% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 59,4 tỷ đồng, tăng 3,64% so với tháng trước và tăng 44,03% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 2.033,6 tỷ đồng, tăng 19,33% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 8.249,3 tỷ đồng, tăng 25,7% so với quý cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 168,8 tỷ đồng; tăng 44,7% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt gần 4.026 tỷ đồng, tăng 23,25% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 15.498 tỷ đồng, tăng 23,75% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 325 tỷ đồng, tăng 41,8% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.098,5 tỷ đồng, tăng 12,21% so với tháng trước và tăng 24,7% so với cùng kỳ. Quý II/2026 doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 17.264,2 tỷ đồng, tăng 19,92% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 33.310 tỷ đồng, tăng 22,15% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.080,6 tỷ đồng, tăng 0,38% so với tháng trước và tăng 15,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 726,4 tỷ đồng, tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 10,45% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 166,1 tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 6,03% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148,4 tỷ đồng, giảm 9,27% so với tháng trước và tăng 24,73% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 249,3 tỷ đồng, tăng 7,42% so với tháng trước và tăng 19,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.472,9 tỷ đồng, giảm 1,15% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 317,4 tỷ đồng, tăng 3,54% so với tháng trước và tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 9.172,9 tỷ đồng, tăng 21,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.137,9 tỷ đồng, tăng 13,23%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 497,3 tỷ đồng, tăng 8,06%; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 460,6 tỷ đồng, tăng 27,04%; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 720,3 tỷ đồng, tăng 14,71%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 4.444 tỷ đồng, tăng 30,23%; doanh thu dịch vụ khác đạt 927,9 tỷ đồng, tăng 13,24%; doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông ước đạt 191,2 tỷ đồng, tăng 11,27%; doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 640 tỷ đồng, tăng 11,64%. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 4.284,9 tỷ đồng, tăng 10,67%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 995,5 tỷ đồng, tăng 10,09%; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 892 tỷ đồng, tăng 21,51%; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.439,8 tỷ đồng, tăng 15,31%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 8.266,2 tỷ đồng, tăng 20,57%; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.804,5 tỷ đồng, tăng 10,36%. 5. Hoạt động vận tải Do nhu cầu đi lại của người dân và khách du lịch đến Đà Lạt, Phan Thiết và các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh tăng trong tháng đầu tiên của mùa hè; đồng thời hoạt động vận chuyển nông sản, vật liệu xây dựng và hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh diễn ra sôi động để phục vụ cho các công trình đang thi công. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông kết nối giữa Lâm Đồng với các tỉnh khu vực lân cận ngày càng thuận lợi, góp phần thúc đẩy hoạt động logistics, kho bãi và doanh thu ngành vận tải tăng so với cùng kỳ. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.274,7 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 27,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 ước đạt 3.669,4 tỷ đồng, tăng 25,25% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.168 nghìn HK, tăng 6,67% so với tháng trước và tăng 25,15% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 457.748,3 nghìn HK.Km, tăng 6,96% so với tháng trước và tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 lượt khách vận chuyển ước đạt 8.850,3 nghìn HK, tăng 19,19% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.277.743,4 nghìn HK.Km, tăng 20,08% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 17.098 nghìn HK, tăng 18,09% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 2.466.897 nghìn HK.Km, tăng 18,92% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.232,9 nghìn tấn, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 24,11% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 328.108,6 nghìn tấn.Km, tăng 5,10% so với tháng trước và tăng 24,51% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 khối lượng vận chuyển ước đạt 6.280 nghìn tấn, tăng 19,62% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 924.781,3 nghìn tấn.Km, tăng 20,27% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 12.274,5 nghìn tấn, tăng 17,30% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.806.168 nghìn tấn.Km, tăng 17,85% so với cùng kỳ năm trước - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.274,6 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 27,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 ước đạt 3.669,4 tỷ đồng, tăng 25,25% so với cùng quý năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.465 tỷ đồng, tăng 28,05% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.465 tỷ đồng, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 939,7 tỷ đồng, tăng 13,54% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 263,3 tỷ đồng, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt đạt 91,4 nghìn tấn trong đó xuất cảng 81,4 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 10 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.373 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.250 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 123 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước quý II/2026 đạt 7.446,7 tỷ đồng, bằng 21,63% kế hoạch năm và giảm 6,91% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 18.623,9 tỷ đồng bằng 54,08% kế hoạch năm và tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 17.320,4 tỷ đồng, bằng 53,01% kế hoạch năm và tăng 8,71%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.303,5 tỷ đồng, bằng 74,06% kế hoạch năm và tăng 55,69% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa trong 6 tháng đầu năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 2.490 tỷ đồng (bằng 65,46% kế hoạch năm và tăng 6,57% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 873 tỷ đồng (bằng 63,27% kế hoạch năm và tăng 11,10%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 4.856 tỷ đồng (bằng 72,61% kế hoạch năm và tăng 53,37%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 1.600 tỷ đồng (bằng 58,61% kế hoạch năm và tăng 0,34%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 2.220 tỷ đồng (bằng 30,10% kế hoạch năm và giảm 17,39%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 3.087 tỷ đồng (bằng 53,22% kế hoạch năm và tăng 9,89%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước quý II/2026 đạt 11.826,7 tỷ đồng, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 25.309,5 tỷ đồng (bằng 51,87% kế hoạch, tăng 0,36% so với cùng kỳ), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 9.051,8 tỷ đồng, giảm 2,91% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 16.138,6 tỷ đồng, tăng 0,40% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động tín dụng Tính đến 31/5/2026, công tác huy động vốn của các TCTD (Tổ chức tín dụng) trên địa bàn tỉnh đạt 240.469 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 11.193 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4,88%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 237.670 tỷ đồng (chiếm 98,84% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.799 tỷ đồng, (chiếm 1,16% tổng huy động vốn). Ước đến 30/6/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 243.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 13.728 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 5,99%. Hoạt động tín dụng: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 374.447 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.463 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,93%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 371.780 tỷ đồng (chiếm 99,29% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.667 tỷ đồng (chiếm 0,71% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 264.635 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 109.812 tỷ đồng. Ước đến 30/6/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 382.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 11.016 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,97%. Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của NHTM trong tỉnh ở mức 0,18% - 0,40%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,31% - 4,74%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 7,22% -8,01%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 7,43% - 7,92%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay mới ở mức 9% - 10,51%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,17% - 4,52%/năm. Dư nợ cho vay: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 184.967 tỷ đồng, chiếm 49,4% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.253 tỷ đồng, chiếm 8,61% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 157.227 tỷ đồng, chiếm 41,99% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.759 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Tập trung thực hiện công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: tuyên truyền cổ động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026; tuyên truyền chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026); tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền, phát động Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng; kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Đà Lạt (03/4/1975 - 03/4/2026), Ngày giải phóng Phan Thiết (19/4/1975 - 19/4/2026); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch); Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026); 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); kỷ niệm 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026),… đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh.- Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: chương trình bắn pháo hoa nổ tầm thấp đón giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; chương trình văn nghệ phục vụ cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031; các hoạt động văn nghệ kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886-01/5/2026); kỷ niệm 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026),... Ngoài ra, đến nay đã tổ chức 69 buổi biểu diễn phục vụ chính trị, biểu diễn doanh thu với số tiền 433.657.200 đồng; xây dựng mới 11 chương trình nghệ thuật; tổ chức 05 đợt phim, 01 tuần phim, 96 buổi biểu diễn văn nghệ, 505 buổi chiếu phim, 05 buổi triển lãm tranh lưu động, 40 buổi tuyên truyền xe loa và 01 vở kịch tuyên truyền phục vụ cơ sở.- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Trong tháng đón 13.900 lượt khách, trong đó có 656 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 2.642 lượt; di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.778 lượt; di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 221 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 6.392 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 867 lượt). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã đón 160.323 lượt khách, trong đó có 13.721 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 43.717 lượt; di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 31.050 lượt; di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 6.528 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 71.227 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 7.801 lượt). Ngoài ra đã tổ chức tổ chức 12 cuộc triển lãm chuyên đề và lưu động; đồng thời tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng tại các tuyến, điểm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông và chuẩn bị các điều kiện tham dự Hội thảo mạng lưới Công viên địa chất Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 9 năm 2026 (APGN 2026) của Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Langkawi, Malaysia. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Trong tháng tiếp đón 11.230 lượt khách đến tham quan; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã tiếp đón 66.476 lượt khách (trong đó có 237 khách quốc tế). Ngoài ra đã thực hiện 08 phóng sự chuyên đề; chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh; trưng bày triển lãm 95 hình ảnh với chuyên đề: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc”; trưng bày triển lãm 130 ảnh chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh với những chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng với tên gọi “Dục Thanh nhớ Bác”,... và tổ chức nhiều hoạt động văn hóa phục vụ người dân, du khách. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 1.367 lượt khách; luỹ kế 6 tháng đầu năm 2026 đã đón 12.657 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 133 thẻ (19 thẻ thiếu nhi), phục vụ 126.257 lượt bạn đọc, luân chuyển 67.568 lượt tài liệu, trưng bày 1.647 bản sách. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, đã cấp mới và gia hạn 5.590 thẻ (4.225 thẻ thiếu nhi), phục vụ 1.397.901 lượt bạn đọc, luân chuyển 442.082 lượt tài liệu, trưng bày 143.073 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức và phối hợp tổ chức: Giải Pickleball tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; giải chạy bộ “Vietnam Highlands Trail - Lâm Đồng”; giải chạy Chinh phục thử thách lần thứ 3 “Prenn Trail Summit”; giải đua thuyền truyền thống Phan Thiết mở rộng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; giải Võ thuật Cổ truyền tỉnh Lâm Đồng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; lễ phát động đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; tháng hoạt động thể dục, thể thao cho mọi người và “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân - Vì an ninh Tổ quốc” năm 2026; lễ hội các môn thể thao địa hình phối hợp Di Linh năm 2026 “Di Linh out door festival 2026”; giải Việt Nam FesTrival 3 môn phối hợp Lâm Đồng năm 2026; giải Siêu Marathon Đà Lạt ULtra Trail 2026; lễ khai mạc hè, phát động bơi an toàn phòng, chống đuối nước năm 2026; lớp tập huấn bơi an toàn, phòng, chống đuối nước trẻ em trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2026 (KV1); hội thi bơi, cứu đuối tỉnh Lâm Đồng năm 2026; giải cúp các CLB Yoga tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026; giải chạy “Dalat Music Night Run 2026”. - Thể thao thành tích cao: Trong 6 tháng đầu năm, tỉnh đã cử 778 vận động viên tham gia 44 giải thể thao quốc gia, quốc tế. Kết quả đã đạt được 254 huy chương (45 HCV, 70 HCB, 139 HCĐ); trong đó có 01 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 09 huy chương quốc tế (03 HCV, 1 HCB, 5 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Trong tháng tập trung triển khai công tác chuẩn bị tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, nhất là việc rà soát cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự phục vụ kỳ thi; xây dựng phương án bảo đảm an ninh, an toàn, phòng chống gian lận thi cử và các điều kiện phục vụ tổ chức kỳ thi trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên cập nhật các thông tin liên quan đến việc tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẵng. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, toàn tỉnh có 91 điểm thi được bố trí tại các xã, phường, đặc khu; toàn tỉnh có 1.845 phòng thi với 41.309 thí sinh đăng ký dự thi (trong đó có 39.594 thí sinh đang học lớp 12 tại các trường THPT, GDTX và 1.715 thí sinh tự do). Kỳ thi THPH năm 2026 (từ ngày 11-12/6/2026) được diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Theo kế hoạch, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ công bố điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào ngày 01/7/2026. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 526 cơ sở giáo dục mầm non với 10.662 nhóm, lớp và 155.054 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (289 trường đạt chuẩn quốc gia) với 10.382 lớp và 327.349 học sinh; 366 trường trung học cơ sở (234 trường đạt chuẩn quốc gia) với 6.238 lớp và 248.983 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (52 trường chuẩn quốc gia) với 2.876 lớp và 116.160 học sinh. Toàn tỉnh có 78 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN), gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó: 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm, nhất là phòng, chống dịch bệnh do vi rút Ebola; tiếp tục thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 174 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 05 ca so với tháng trước (169 ca) và giảm 99 ca so với cùng kỳ năm trước (273 ca), không có trường hợp tử vong. Lũy kế từ đầu năm đến 31/5/2026, toàn tỉnh có 1.155 ca mắc; ước 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.766 ca mắc. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 30 ổ dịch, Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã phát hiện xử lý 155 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 593 ca mắc, giảm 156 ca so với tháng trước và tăng 207 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 2.709 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 23 ca mắc, tăng 13 ca so với tháng trước và giảm 218 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 76 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.877 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.337 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.220 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.277 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.818 trẻ, mũi 2 cho 3.834 trẻ và mũi 3 cho 7.228 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.651 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 03 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân. Số bệnh nhân tăng thêm trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân chuyển về cư trú lại). Bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 186 bệnh nhân (05 bệnh nhân /100.000 dân); bệnh nhân lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 BN/100.000 dân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 09 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 03 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.827 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.790 người, tử vong 1.577 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 429.377 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.813 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 223.477 ngày, xét nghiệm cho 584.145 tiêu bản, chẩn đoán 130.951 hình ảnh và phẫu thuật 6.168 trường hợp. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 2.524.114 lượt người; 204.599 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.256.544 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,01 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 80,0%; ước xét nghiệm cho 3.318.303 tiêu bản; chẩn đoán 756.752 hình ảnh và phẫu thuật cho 32.742 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 119 cơ sở thực phầm, phát hiện 18 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 142,5 triệu đồng (trong đó: 02 đoàn kiểm tra tại 62 cơ sở theo kế hoạch kiểm tra liên ngành Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2026). Trong tháng không xảy ra ngộ độc thực phẩm; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (do ăn bánh mì tại phường Phan Thiết) làm 97 người mắc, không có tử vong. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tuyên truyền kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền chuỗi hoạt động “Chào mùa Du lịch hè năm 2026”,... đồng thời thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Đã ban hành Kế hoạch số 6842/KH-UBND ngày 14/5/2026 về thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên đại bàn tỉnh Lâm Đồng; đồng thời triển khai thuê phần mềm giám sát thông tin trên không gian mạng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã cấp 13 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 02 giấy phép tổ chức hội chợ triển lãm xuất bản phẩm. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu tiếp tục được quan tâm đầu tư, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy, qua đó góp phần nâng cao điều kiện sinh hoạt, học tập và chăm sóc sức khỏe người dân. - Kết quả giải ngân Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS: Tổng kế hoạch vốn giao thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2025, kéo dài sang năm 2026 thực hiện 1.140.892,89 triệu đồng (gồm: vốn đầu tư phát triển 725.335,61 triệu đồng và vốn sự nghiệp 415.557,28 triệu đồng); kết quả đến tháng 6/2026 đã giải ngân 871.158,59 triệu đồng, đạt 76,36% kế hoạch (trong đó: vốn đầu tư: 560.268,49 triệu đồng, vốn sự nghiệp: 290.890,1 triệu đồng). Hiện nay các xã và các đơn vị được giao chủ đầu tư đang khẩn trương triển khai thực hiện và giải ngân theo kế hoạch. - Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất cho vùng đồng bào DTTS và miền núi: Đã triển khai cho 991 hộ dân đăng ký nhu cầu hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất bắp lai, lúa nước năm 2026 với diện tích là 5.916,15 ha; tổ chức 12 lớp tập huấn, tư vấn kỹ thuật sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và quy trình thâm canh bắp lai, lúa nước cho hơn 800 lượt hộ dân; tiếp tục thực hiện cung ứng dịch vụ công ích sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định, gồm: vận chuyển và cung ứng 15 tấn lúa giống, 10 tấn bắp giống, 500 tấn phân bón; hỗ trợ tiêu thụ 3.500 tấn bắp lai thương phẩm và 10 tấn mủ cao su,… qua đó đảm bảo cung ứng giống, vật tư và các yếu tố đầu vào thiết yếu, góp phần giúp hộ đồng bào DTTS ổn định đời sống và phát triển sản xuất; từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế hộ, nâng cao thu nhập và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo được thực hiện hiệu quả; công tác giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện kịp thời, đúng quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và bộ thủ tục hành chính, qua đó đáp ứng nhu cầu chính đáng của các tổ chức, cá nhân theo các tôn giáo. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh chấp thuận thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc 25 trường hợp; chia tách tổ chức tôn giáo trực thuộc 01 trường hợp; chấp thuận các tổ chức tôn giáo bổ nhiệm 25 chức việc; mở 22 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo; sự cần thiết và quy mô xây dựng công trình tôn giáo trong khuôn viên 08 trường hợp; xác nhận tiếp nhận thông báo phong phẩm chức sắc 80 trường hợp của các tôn giáo; thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung 01; thuyên chuyển địa bàn hoạt động tôn giáo 27 chức sắc,… Nhìn chung, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt các quy định của pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa và phong tục, tập quán của đồng bào, địa phương, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy các giá trị văn hóa tôn giáo và ổn định đời sống tinh thần của người dân. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 324 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chuẩn bị kế hoạch triển khai các hoạt động kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026) và triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. Công tác chăm lo đời sống cho người có công cách mạng được thực hiện hiệu quả. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh tổ chức thăm, tặng quà tết theo Quyết định số 01/QĐ-CTN ngày 05/01/2026 của Chủ tịch nước 27.201 suất với tổng số tiền hơn 8,3 tỷ đồng; thăm tặng quà theo Nghị quyết số 92/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 của HĐND tỉnh Lâm Đồng 65.234 suất với tổng kinh phí hơn 83,8 tỷ đồng. Đã giải quyết cho 18.315 đối tượng hưởng trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng với tổng kinh phí gần 46,3 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay, tỉnh phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 đối tượng (47 căn xây mới, 40 căn sửa chữa); tổ chức 04 đợt điều dưỡng tập trung đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ tại Trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công Khánh Hòa, Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng với 425 lượt người; ban hành Quyết định điều dưỡng tại nhà đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với 3.745 người, tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng và giải quyết 1.875 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Thực hiện chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền cho đối tượng người có công với cách mạng 13.802 người với tổng kinh phí 182,24 tỷ đồng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết tháng 5 năm 2026, toàn tỉnh có 317.946 người tham gia BHXH, tăng 1,10% so với tháng trước; có 240.259 người tham gia BHTN, tăng 0,85%; số người tham gia BHYT là 3.110.300 người, tăng 1,17% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 91,81% dân số. Trong tháng đã giải quyết mới 10.864 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.248 người (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 213 người; trợ cấp 1 lần cho 2.600 người; chế độ ốm đau cho 6.172 người; chế độ thai sản cho 1.437 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 442 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.106 người và hỗ trợ học nghề cho 142 người). Lũy kế đến ngày 31/5/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 47.218 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 7.332 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 735 người; trợ cấp 1 lần cho 11.131 người; chế độ ốm đau cho 27.313 người; chế độ thai sản cho 6.270 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 1.769 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 6.967 người và hỗ trợ học nghề cho 365 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/5 - 14/6/2026) Trong tháng xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, tăng 13 vụ so với tháng trước và giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 40 người, tăng 13 người so với tháng trước và bằng cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 41 người, tăng 23 người so với tháng trước và giảm 14 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 345 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 89 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 223 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 230 người, giảm 121 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 26/5-23/6/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 vụ thiên tai do mưa kèm theo dông lốc; thiên tai đã làm 02 người bị thương, 06 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 02 căn nhà bị hư hỏng, 0,6 ha lúa mới gieo xạ bị vùi lấp, 03 tàu cá bị chìm, 01 trụ sở trường học tốc mái, 02 căn phòng làm việc (tại trụ sở UBND phường Hàm Thắng) bị tốc mái hoàn toàn và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 21,595 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ thiên tai làm 01 người chết, 02 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 11 căn nhà bị hư hỏng, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 0,6 ha lúa mới gieo xạ bị vùi lấp, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại là 29,5 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/5-15/6/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy nổ, giảm 07 vụ so với tháng trước và bằng so với cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 248,5 triệu đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 39 vụ cháy, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 02 người bị thương; có 30 vụ đã được thống kê thiệt hại với số tiền là 2.975 triệu đồng, 09 vụ đang thống kê thiệt hại. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra (tháng 6/2025 xảy ra 04 vụ vi phạm và xử phạt 600 triệu đồng). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 15 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 415,0 triệu đồng (6 tháng đầu năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phục hồi, duy trì tăng trưởng khá và có chuyển biến rõ hơn trong quý II. GRDP 6 tháng ước tăng 7,90% so với cùng kỳ, riêng quý II tăng 9,22%, cao hơn quý I, cho thấy tác động tích cực của các giải pháp chỉ đạo, điều hành. Nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ đỡ ổn định; công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch và vận tải đều tăng, tạo nền tảng quan trọng cho mục tiêu phát triển cả năm. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là khu vực giữ vai trò ổn định nền kinh tế. Diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng so với cùng kỳ; một số cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, rau, hoa duy trì quy mô sản xuất lớn; chăn nuôi phát triển khá, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng tăng 9,69%; sản lượng sữa tăng 25,96%. Sản xuất thủy sản tăng 2,99%; sản xuất tôm giống tăng 10,01%. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông, sản xuất an toàn bền vững, liên kết sản xuất và Chương trình OCOP tiếp tục được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng và khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng khá, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chủ yếu. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm tăng 9,60%. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ như đá các loại, thủy sản chế biến, rau quả chế biến, đồ uống, giày dép, phân bón, gạch xây dựng, bê tông trộn sẵn, điện thương phẩm. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm so với cùng kỳ, cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm có chuyển biến tích cực. Hoạt động xây dựng và đầu tư phát triển tiếp tục được thúc đẩy. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 14,38%; trong đó vốn ngoài nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ lực, tăng 16,16%. Một số dự án hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, đô thị, hàng không, thủy lợi và công nghiệp quy mô lớn tiếp tục được triển khai, tạo nền tảng cho tăng trưởng các quý tiếp theo và trung hạn. Thương mại, dịch vụ và du lịch tăng khá trong 6 tháng đầu năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng 17,33%. Hoạt động du lịch tiếp tục đóng vai trò động lực của khu vực dịch vụ, với tổng lượt khách phục vụ đạt gần 12 triệu lượt, tăng 18,08%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 22,15%. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng khá, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa, du lịch và sản xuất kinh doanh. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt kết quả tích cực, tổng thu 6 tháng đạt tăng 11,06% so với cùng kỳ; trong đó thu nội địa tăng 8,71%. Hoạt động tín dụng tiếp tục bảo đảm vốn cho nền kinh tế; huy động vốn đến cuối tháng 6 ước tăng 5,99% so với cuối năm 2025. Tình hình đăng ký doanh nghiệp có tín hiệu tích cực, 6 tháng đầu năm số doanh nghiệp thành lập mới tăng 58,38%; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 10,76%; số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao hơn nhiều so với số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, bảo tồn di sản được tổ chức, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và phục vụ đời sống tinh thần của Nhân dân. Công tác giáo dục tập trung hoàn thành nhiệm vụ năm học, chuẩn bị và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 an toàn, nghiêm túc. Ngành y tế chủ động giám sát, phòng chống dịch bệnh, duy trì công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Các chính sách đối với người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tiếp tục được triển khai, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đời sống dân cư. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm vẫn còn một số vấn đề cần chú ý. Tăng trưởng giữa các khu vực kinh tế chưa thật sự đồng đều. Một số ngành, lĩnh vực có quy mô lớn tuy duy trì mức tăng so với cùng kỳ nhưng tốc độ tăng chưa tương xứng với yêu cầu tăng trưởng cao của cả năm. Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi, nhiều sản phẩm chủ yếu tăng khá; tuy nhiên, mức tăng của một số sản phẩm còn thấp, chưa đồng đều giữa các nhóm ngành. Trong lĩnh vực xây dựng và đầu tư phát triển, giá trị sản xuất xây dựng và vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục tăng, song tiến độ thực hiện một số công trình, dự án trọng điểm còn phụ thuộc nhiều vào công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, thủ tục đầu tư và biến động giá nguyên vật liệu xây dựng. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 6 tháng đạt 22,57% kế hoạch năm, cho thấy khối lượng cần thực hiện trong các tháng cuối năm còn lớn. Trong lĩnh vực nông nghiệp, mặc dù sản xuất cơ bản ổn định, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro do dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, biến động giá vật tư đầu vào, chi phí vận chuyển và thời tiết bất thường. Một số cây trồng như điều, chè giảm diện tích hoặc sản lượng so với cùng kỳ; dịch tả lợn Châu Phi còn phát sinh tại một số địa bàn; tình hình vi phạm lâm luật, phá rừng và cháy rừng tăng so với cùng kỳ. Thiên tai, mưa dông, lốc, cháy nổ, tai nạn giao thông, bệnh tay chân miệng và một số dịch bệnh truyền nhiễm vẫn cần được theo dõi chặt chẽ, không để phát sinh thành điểm nóng ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   01/06/2026 14:31

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tương đối ổn định. Các địa phương trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành thu hoạch vụ Đông xuân và đang xuống giống vụ Hè thu; cây trồng lâu năm đang được người dân tích cực đầu tư, chăm sóc; các loại dịch bệnh trên cây trồng xảy ra không đáng kể. Chăn nuôi ổn định, quy mô đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ; dịch bệnh trên vật nuôi xảy ra cục bộ tại một số địa phương và đã được kiểm soát. Hoạt động trồng rừng được triển khai; công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng được tập trung tăng cường. Khai thác thủy sản tăng so với cùng kỳ. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tính đến ngày 15/5/2026 ước đạt 134.789 ha, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: diện tích lúa ước đạt 61.740 ha, tăng 2,1%; diện tích cây ngô ước đạt 11.580 ha, tăng 2,2%; diện tích cây khoai lang ước đạt 3.350 ha, tăng 3,48%; diện tích đậu các loại ước đạt 3.351 ha, tăng 2,6%; diện tích rau các loại ước đạt 37.680 ha, tăng 4,83%; diện tích hoa các loại ước đạt 5.340 ha, tăng 4,76%. 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh bắt đầu bước vào mùa mưa trên diện rộng, giảm chi phí tưới nước sau mùa khô kéo dài; người dân đang tiếp tục chăm sóc các loại cây trồng lâu năm và chuẩn bị đầu tư trồng mới. - Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.732 ha; người dân chủ động tưới nước, chăm sóc tốt ở vùng trọng điểm như Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’lấp; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.371 ha; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện. Trong thời gian tới, diện tích trồng mới cao su có khả năng tăng nhưng với tốc độ chậm do biến động về giá và chi phí đầu tư; - Cây điều: Diện tích hiện có 45.483 ha; hiện đã hoàn tất thu hoạch năm 2026; diện tích điều chủ yếu già cỗi, giống cũ, kỹ thuật chăm sóc chưa đồng đều, kèm theo sự bất lợi của thời tiết mưa trái mùa trong giai đoạn ra hoa và nắng nóng kéo dài, năng suất và sản lượng điều đều giảm so với năm trước. Hiện hiệu quả kinh tế của cây điều không cao, người dân đang có xu hướng chuyển sang các loại cây trồng khác như sầu riêng, cây ăn quả,...; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.230 ha; hiện đang giai đoạn chăm sóc nuôi trái, sinh trưởng tương đối ổn định. Diện tích trồng mới đang tiếp tục được mở rộng trong thời gian tới do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh; - Cây tiêu: Diện tích hiện có 37.719 ha; người dân đang hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025 - 2026. Giá hồ tiêu duy trì ở mức cao (khoảng 148.000 - 151.000 đồng/kg) là điểm sáng của ngành hồ tiêu trên địa bàn tỉnh, giúp người dân duy trì sản xuất; tuy nhiên vấn đề sâu bệnh vẫn là rủi ro lớn gây ảnh hưởng đến phát triển của ngành hồ tiêu. Năm 2026, cây tiêu ở Lâm Đồng được đánh giá phát triển theo hướng tập trung nâng cao năng suất và chất lượng, hạn chế mở rộng diện tích tự phát; mô hình trồng tiêu xen cà phê kết hợp canh tác hữu cơ và sinh thái đang được đẩy mạnh nhằm giảm chi phí; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.820 ha; cây sinh trưởng tương đối ổn định, sâu bệnh phát sinh ít, chi phí sản xuất tăng do nhu cầu tưới nước và xử lý hoa trái vụ; giá thanh long đang ở mức trung bình - khá, giúp người dân duy trì sản xuất. Cây thanh long đang chuyển từ mở rộng diện tích sang nâng cao năng suất, chất lượng như mở rộng sản xuất VietGAP, GloabaGAP; - Cây chè: Diện tích hiện có 9.200 ha; cây chè sinh trưởng và cho thu hoạch liên tục, đều đặn theo lứa, đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến. Giá chè duy trì ổn định, thị trường tiêu thụ thuận lợi, góp phần duy trì hiệu quả sản xuất của ngành chè trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên diện tích chè chủ yếu đã già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp nên người dân đang dần chuyển đổi sang cây cà phê, sầu riêng,...; 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp trong những tháng mùa khô; diện tích canh tác được tưới đạt 75% diện tích cần tưới (trong đó, diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt 24,5%). Tổng dung tích tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh khoảng 382,4 triệu m3, đạt trung bình khoảng 44,5% so với dung tích thiết kế, giảm 77,4 m3 so với tháng trước. 2. Chăn nuôi Trong tháng, tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì ổn định, chuyển từ quy mô nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, liên kết sản xuất theo chuỗi, quy mô đàn các loại vật nuôi đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù còn chịu áp lực từ chi phí đầu vào và nguy cơ dịch bệnh, song với giá bán nhiều sản phẩm chăn nuôi ở mức khá đã thúc đẩy người chăn nuôi tiếp tục đầu tư, tái đàn. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 33.517,2 tấn, tăng 6,0% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 161.743,9 tấn, tăng 9,51%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,4 nghìn con, tăng 0,46% so với cùng kỳ. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,0 nghìn con, tăng 1,54% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 30,2 nghìn con, tăng 3,61%). Chăn nuôi bò sữa tiếp tục phát triển ổn định, các trang trại tận dụng tối đa lợi thế về khí hậu mát mẻ và diện tích đồng cỏ dồi dào; cùng với việc chú trọng cải thiện con giống, nâng cao kỹ thuật chăm sóc, áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.496 nghìn con, tăng 5,98% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.221 nghìn con, tăng 6,86%). Giá lợn hơi trong tháng dao động theo xu hướng tăng nhẹ, giúp người chăn nuôi mạnh dạn tái đàn. Khu vực chăn nuôi trang trại và doanh nghiệp tiếp tục giữ vai trò chủ lực với mô hình sản xuất khép kín, an toàn sinh học và liên kết tiêu thụ ổn định. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.720 nghìn con gia cầm, tăng 7,17% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.120 nghìn con, chiếm 70,95% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,18%). Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển nhờ thời gian quay vòng vốn nhanh, nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định. Nhiều cơ sở chăn nuôi đã chú trọng áp dụng quy trình an toàn sinh học, vệ sinh chuồng trại và tiêm phòng định kỳ nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh dịch bệnh. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, tại xã Đạ Tẻh 3 phát sinh 01 cơ sở chăn nuôi có lợn mắc bệnh, đã tiêu hủy 9.081 con với tổng trọng lượng 257.811 kg. Lũy kế từ ngày 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 11.787 con lợn mắc bệnh, tương đương 633.872 kg. Hiện nay, xã Đạ Tẻh 3 vẫn còn ổ dịch chưa qua 21 ngày theo quy định. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...): không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện tiêu hủy, khoanh vùng xử lý bệnh DTLCP phát sinh; triển khai tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường, tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi (đã thực hiện phân bổ 1.500 liều vắc xin phòng bệnh Lở mồm long móng và 50 lít hóa chất cho xã Tánh Linh và xã Đạ Tẻh 3 để tổ chức tiêm phòng cho đàn vật nuôi). 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, hoạt động trồng rừng được triển khai, diện tích rừng trồng mới ước đạt 2.005 ha, tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước; diện tích trồng cây phân tán ước đạt 2,3 triệu cây, tăng 3,91%. Tỉnh đã tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô năm 2026. Tuy nhiên, trong tháng đã xảy ra 04 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 0,9 ha; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 1,8 ha (so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 01 vụ, diện tích rừng thiệt hại tăng 0,6 ha). - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 43.425 m3, tăng 5,02% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 190.584 m3, tăng 3,66%. - Sản lượng củi khai thác ước đạt 30.035 ste, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 149.958 ste, tăng 2,02%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/4 - 10/5/2026) là 53 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 26 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 3,9 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 18 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 15 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,9 ha). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 - 10/5/2026), tổng số vụ vi phạm là 240 vụ, tăng 18 vụ so với cùng kỳ năm trước (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 105 vụ, giảm 11 vụ; diện tích rừng bị thiệt hại 17,5 ha, giảm 0,3 ha). 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, tình hình nuôi trồng thủy sản tương đối ổn định; công tác hỗ trợ kỹ thuật, phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi trồng thủy sản được chú trọng. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 490,2 ha, tăng 2,07% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.385,6 ha, tăng 1,40% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 2.143,7 ha, tăng 1,27%; diện tích nuôi tôm đạt 222,1 ha, tăng 2,90%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.318,8 tấn, giảm 0,37% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 390,3 tấn, tăng 5,18%). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 11.589,7 tấn, tăng 0,72% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.920 tấn, tăng 4,07%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi; nguồn lợi cá cơm xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho các tàu nghề vây cá nồi nhỏ, nghề pha xúc đánh bắt. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 21.686 tấn, tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 21.600 tấn, tăng 3,03%). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 94.125,9 tấn, tăng 3,0 (sản lượng khai thác biển đạt 93.811,6 tấn, tăng 2,93%). - Sản xuất giống thủy sản: Hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên, chất lượng tôm giống được giữ vững trên thị trường. Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,3 tỷ post, tăng 9,57% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 10,4 tỷ post, tăng 5,27%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Những tháng đầu năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục phục hồi và tăng trưởng khá, nhiều ngành chủ lực duy trì đà phát triển ổn định. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực tăng trưởng chính, cùng với sự tăng trưởng của ngành khai khoáng và các ngành hạ tầng thiết yếu như điện, nước và xử lý rác thải. Nhờ đó, sản xuất công nghiệp toàn tỉnh trong tháng Năm và 5 tháng đầu năm đều đạt mức tăng tích cực so với cùng kỳ năm trước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 12,03% so với tháng trước và tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 22,44% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 22,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,14%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,94%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,04% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,01%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,71%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,81%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 394.477 m3, giảm 5,04% so với tháng trước và tăng 22,05% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu  năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.698.630 m3, tăng 20,63% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang tập trung nhiều giải pháp để giải ngân vốn đầu tư công cũng như đạt chỉ tiêu về vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026; tháng 5 giảm so với tháng 4 là do trong tháng có kỳ nghỉ lễ 30/4-01/5/2026 được nghỉ liên tiếp trong các ngày đầu tháng 5/2026. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.511 tấn, giảm 0,77% so với tháng trước và tăng 16,62% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 15.941 tấn, tăng 12,49% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu và chủ động nguồn hàng cho các tháng sắp tới. - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.313 tấn, tăng 32,29% so với tháng trước và tăng 13,92% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 10.052 tấn, tăng 18,05% so với cùng kỳ. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 19.491 nghìn lít, tăng 7,39% so với tháng trước và tăng 25,12% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 101.409 nghìn lít, tăng 16,52% so với cùng kỳ, nguyên nhân là các do doanh nghiệp tăng cường sản xuất các sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Ước trong tháng sản lượng đạt 746 nghìn đôi, tăng 17,43% so với tháng trước và tăng 21,70% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.956 nghìn đôi, tăng 25,18% so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 10.848 tấn, tăng 3,14% so với tháng trước và tăng 14,30% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 56.394 tấn, tăng 36,64% so với cùng kỳ; nguyên nhân là do các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất phục vụ mùa sản xuất nông nghiệp năm 2026. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Ước trong tháng đạt 121,993 nghìn tấn, tăng 2,51% so với tháng trước và tăng 5,68% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 642,801 nghìn tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.843 triệu kwh, tăng 17,65% so với tháng trước và tăng 11,85% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 15.186 triệu kwh, tăng 2,03% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 507 triệu kwh, giảm 3,19% so với tháng trước nhưng tăng 14,37% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.525 triệu kwh tăng 7,0% so với cùng kỳ. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,87% so với tháng trước và tăng 8,37% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,26%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,85%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,69%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,41%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động tháng 5/2026 của khối doanh nghiệp nhà nước giảm 1,01% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 13,22%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 4,95%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 6,19%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,96%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,19%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,63%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,75%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2025 và xu hướng cao hơn bình quân các tháng đầu năm 2026 là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong tháng (từ ngày 15/4 - 15/5/2026) đã thu hút 01 dự án đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh (Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà; vốn đầu tư 80 tỷ, diện tích đất thuê lại 1,098 ha). Lũy kế từ đầu năm 2026 đến nay đã thu hút được 06 dự án đầu tư (trong đó có 01 dự án nước ngoài và 05 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 258,7 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích đất thuê lại 5,18 ha. Lũy kế đến nay, trong các KCN trên địa bàn tỉnh có 244 dự án (58 dự án FDI và 186 dự án trong nước) với tổng vốn đăng ký đầu tư là 46.728,8 tỷ đồng và 515,132 triệu USD, diện tích đất đăng ký 727,11 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 53,88%. Hiện nay, trong các KCN có 175 doanh nghiệp đi vào hoạt động; kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thực hiện đến tháng 5/2025: doanh thu đạt 10.335 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 219,6 triệu USD; nộp ngân sách đạt 672,2 tỷ đồng. Công tác đầu tư hạ tầng các KCN được các chủ đầu tư quan tâm triển khai. Trong tháng, có 6/14 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị là 20,41/881,6 tỷ đồng đạt 2,32% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026, tăng 13,90% so với cùng kỳ (17,9 tỷ đồng). Cụ thể: - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Chủ đầu tư duy tu cây xanh. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,01/0,8 tỷ đồng đạt 1,22% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm I: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, duy tu giao thông trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,10/22,8 tỷ đồng đạt 0,44% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm II: Chủ đầu tư san lấp mặt bằng KCN; duy tu cây xanh trong KCN; duy tu và thi công các tuyến đường trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 10,0/205,0 tỷ đồng đạt 4,88% kế hoạch năm 2026. - KCN Sông Bình: Chủ đầu tư duy tu cây xanh trong KCN; tiếp tục thi công các tuyến đường giao thông (đường D1, D3, N4, N6) trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,1/59,1 tỷ đồng đạt 0,17% kế hoạch năm 2026. - KCN Tuy Phong: Chủ đầu tư triển khai thi công hệ thống thoát nước mưa tuyến D2 và các tuyến giao thông. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,2 tỷ đồng. - KCN Tân Đức: Chủ đầu tư tiếp tục đền bù giải tỏa KCN những diện tích đất còn lại; dọn dẹp và thi công san lấp mặt bằng KCN, thi công các tuyến đường trong KCN (D2, D3, D4, N1, N2, N3), nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 10,0/473 tỷ đồng đạt 2,11% kế hoạch năm 2026. - KCN Lộc Sơn: Thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phú Hội: Thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết: Giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Tâm Thắng: Đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Nhân Cơ: Thu hút được 01 dự án. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 860,1 tỷ đồng, tăng 2,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 801,6 tỷ đồng, chiếm 93,2% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn, tăng 2,52% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh trong tháng đạt 368,7 tỷ đồng, tăng 34,01% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 110,6 tỷ đồng, giảm 49,11% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 13,2 tỷ đồng, giảm 26,03% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 303,8 tỷ đồng, tăng 13,02% so với cùng kỳ; vốn khác 5,4 tỷ đồng, tăng 91,2% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 58,5 tỷ đồng, chiếm 6,8% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn và tăng 4,24% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.552,9 tỷ đồng, đạt 23,34% so với kế hoạch năm, tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 3.312,8 tỷ đồng, tăng 4,06% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.539,61 tỷ đồng, tăng 21,85% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 471,03 tỷ đồng, giảm 46,54% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 53,78 tỷ đồng, giảm 28,55% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 1.227,24 tỷ đồng, tăng 28,98% so với cùng kỳ; vốn khác 21,14 tỷ đồng, tăng 76,82% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 240,1 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến ngày 14/5/2026, toàn tỉnh có 2.019 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 96,2% so với cùng kỳ năm trước; 1.086 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 3,12%; 393 doanh nghiệp giải thể, tăng 88,9%; 508 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 15,72%. Tổng số vốn trong 5 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp đã đăng ký 9.808,4 tỷ đồng, tăng 49,53% so với cùng kỳ năm trước.. Tình hình thu hút đầu tư (từ đầu năm đến ngày 22/5/2026), toàn tỉnh có 22 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 115.171,5 tỷ đồng; 20 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Về giải ngân vốn đầu tư công, đến ngày 21/5/2026, toàn tỉnh giải ngân 1.097,8 tỷ đồng, đạt 7,4% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Kết quả này cho thấy áp lực giải ngân trong các tháng còn lại là rất lớn. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Tình hình thương mại và dịch vụ trong tháng tiếp tục phát triển tích cực, các ngành, lĩnh vực duy trì ổn định. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị thương mại diễn ra bình thường; nhiều siêu thị, trung tâm thương mại triển khai chương trình khuyến mãi nhằm kích cầu tiêu dùng. Lĩnh vực lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác đã chủ động chuẩn bị nhân lực, hàng hóa và cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu du khách trong các dịp lễ lớn như Giỗ Tổ Hùng Vương, ngày 30/4 và 01/5 với thời gian nghỉ kéo dài. Các doanh nghiệp thương mại, du lịch và vận tải cũng tăng cường quảng bá, khuyến mãi để thu hút khách du lịch, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại và dịch vụ trong mùa du lịch hè năm 2026. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Tình hình thị trường trong tháng tương đối ổn định, sức mua người dân tăng so với tháng trước, các nhóm hàng tăng trưởng ổn định. Nhu cầu người dân tập trung vào những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu cá nhân và gia đình. Tại địa phương công tác kích cầu tiêu dùng được tăng cường nhiều mặt, các hệ thống siêu thị, cửa hàng điện máy, siêu thị tiện ích thường xuyên có các chương trình khuyến mãi, giảm giá nhiều mặt hàng khuyến khích nhu cầu mua sắm của người dân. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 16.791,8 tỷ đồng, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 20,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.402,5 tỷ đồng, tăng 2,69% so với tháng trước và tăng 20,88% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.330,7 tỷ đồng, tăng 8,4% so với tháng trước và tăng 18,51% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.058,7 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 22,79% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 80.343,5 tỷ đồng, tăng 16,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 49.960,2 tỷ đồng, tăng 15,08% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 15.791,3 tỷ đồng, tăng 20,01% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 14.591,9 tỷ đồng, tăng 15,88% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu; đồng thời đẩy mạnh đấu tranh với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và kiểm soát thị trường đối với mặt hàng gạo, vật liệu xây dựng. Công tác theo dõi cung cầu, giá bán xăng dầu cũng được tăng cường nhằm kịp thời phát hiện các dấu hiệu bất thường như tăng giá bất hợp lý, gián đoạn nguồn cung hoặc ngừng bán hàng không đúng quy định. Trong tháng, lực lượng chức năng đã kiểm tra 159 vụ, phát hiện 151 vụ vi phạm, xử lý 150 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 1,1 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/5/2026, đã kiểm tra 629 vụ, với 603 tổng số vụ vi phạm; 604 tổng số vụ xử lý (05 vụ kỳ trước chuyển sang, 03 vụ đoàn kiểm tra liên ngành chuyển sang) với tổng số tiền xử phạt gần 4,8 tỷ đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng    Trong tháng và 5 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân cơ bản ổn định. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa và dịch vụ vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố như biến động giá nhiên liệu, chi phí vận tải, nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ, cùng với diễn biến giá cả trên thị trường thế giới, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,21% so với tháng trước. So với tháng 12/2025, CPI trong tháng tăng 0,76% và tăng 4,66% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 5 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,47% so với bình quân cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 07 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,48%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,08%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; Giao thông tăng 0,26%; Giáo dục tăng 0,02%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,12%. Có 04 nhóm hàng giảm giá: May mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,11%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,16%; Thông tin và truyền thông giảm 0,17%; Hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,2%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá xăng tăng 1,39% so với tháng trước, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá trong tháng. Giá nhóm lương thực tăng 0,22% so tháng trước, trong đó chủ yếu các mặt hàng gạo tăng 0,28%; nguyên nhân, do thương lái thu mua lúa giá có phần cao so tháng trước, tác động giá bán thị trường tăng theo; bên cạnh đó, giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và giá vật tư phân bón, nguyên liệu đầu vào sản xuất đang ở mức cao. Giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 0,55% so tháng trước, do giá nguyên vật liệu chế biến, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng; đồng thời trong tháng có kỳ nghỉ Lễ 30/4-01/5 kéo dài nhiều ngày nhu cầu ăn uống bên ngoài tăng. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,56% do chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là giá nguyên, nhiên liệu sản xuất và chi phí vận chuyển tăng, tác động đẩy giá các loại vật liệu như: cát, đá, xi măng, thép, gạch... tăng so tháng trước. - Nguyên nhân giảm: Giá gas trong tháng giảm 2,92% so với tháng trước, mặc dù giá gas thế giới đi ngang ở mức 775 USD/tấn, giá bán lẻ trong nước công ty điều chỉnh giảm 22.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 07, 14 và 21 tháng 5/2026, tính bình quân chung tháng 5/2026 chỉ số giá mặt hàng dầu hỏa giảm 21,08% so với tháng trước; giá dầu diezel giảm 16,44% so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng đầu năm 2026 tăng 4,47% so với bình quân cùng kỳ năm 2025. * Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2026 CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng thiết yếu tăng so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm lương thực tăng 2,52%, làm CPI chung tăng 1,13 điểm phần trăm; riêng giá gạo tăng 1,14% do chịu tác động từ giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng tăng trong dịp lễ, Tết. Nhóm thực phẩm tăng 4,94%, làm CPI chung tăng 1,23 điểm phần trăm, đáng chú ý là giá thịt lợn tăng 6,15%, thịt gia cầm tăng 4,36% do nguồn cung thiếu hụt, nhu cầu tiêu dùng tăng và chi phí chăn nuôi còn ở mức cao. Nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 4,97%, làm CPI chung tăng 0,42 điểm phần trăm, do giá lương thực, thực phẩm, gas, chi phí thuê mặt bằng và nhân công tăng. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,99%, tác động làm CPI tăng 1,07 điểm phần trăm, chủ yếu do giá vật liệu xây dựng như xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào; giá thuê nhà ở tăng; giá gas tăng 10,38% và giá dầu hỏa tăng 39,62% theo biến động giá thế giới. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng, dịch vụ khác cũng tạo áp lực tăng CPI, như: đồ uống và thuốc lá tăng 3,36%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,12%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,49% do nhu cầu tiêu dùng dịp Tết tăng, trong khi chi phí sản xuất, vận chuyển và nguyên liệu đầu vào tăng. Nhóm giao thông tăng 5,34%, làm CPI chung tăng 0,61 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 9,24% và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 25,57%. Nhóm giáo dục tăng 7,20%, làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm, do một số cơ sở giáo dục ngoài công lập điều chỉnh tăng học phí thường niên. Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,25%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá một số dòng điện thoại thế hệ cũ giảm khi doanh nghiệp triển khai các chương trình khuyến mại, kích cầu tiêu dùng. 3. Hoạt động du lịch Dịp lễ năm nay, nhờ giao thông thuận lợi, thời tiết mát mẻ và nhu cầu nghỉ dưỡng tăng cao, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, thu hút đông đảo du khách. Các điểm đến như Mũi Né, Phan Thiết, Tiến Thành và Đà Lạt tiếp tục được nhiều du khách lựa chọn nhờ kết hợp hài hòa giữa nghỉ dưỡng, vui chơi và trải nghiệm biển. Trong tháng diễn ra nhiều hoạt động hấp dẫn như Lễ hội thả diều “Hello Sunny 2026”, Lễ hội Diều khổng lồ Sky Fest tại Bikini Beach với nhiều chương trình biểu diễn, âm nhạc và pháo hoa. Đặc khu Phú Quý cũng đưa vào hoạt động khu ẩm thực đêm phục vụ du lịch, góp phần hình thành sản phẩm du lịch đêm mới. Bên cạnh đó, ngành đường sắt đã thử nghiệm tour trải nghiệm “Hành trình đêm Đà Lạt” trên tuyến tàu cổ từ Ga Đà Lạt đến Ga Trại Mát, tạo thêm điểm nhấn thu hút du khách. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.115,8 nghìn lượt, tăng 4,52% so tháng trước và tăng 19,39% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 71,5 nghìn lượt, tăng 2,08% so với tháng trước và tăng 13,09% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.909 nghìn ngày khách, tăng 4,21% so với tháng trước và tăng 21,95% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 119 nghìn lượt khách, tăng 8,77% so với tháng trước và tăng 20,96% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 380,7 nghìn ngày khách, tăng 9,52% so với tháng trước và tăng 27,17% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 9.996,5 nghìn lượt, tăng 19,54% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 357,4 nghìn lượt, tăng 16,31% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 18.778,5 nghìn ngày khách, tăng 21,66% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 đạt 724,8 nghìn lượt, tăng 18,76% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.311,2 nghìn ngày khách, tăng 22,41% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến tỉnh trong 5 tháng đầu năm 2026 chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc, Đức, Mỹ, Pháp, Anh. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 654,8 tỷ đồng, tăng 6,38% so với tháng trước và tăng 14,26% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.621,1 tỷ đồng, tăng 9% so với tháng trước và tăng 19,24% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 54,8 tỷ đồng, tăng 5,08% so với tháng trước và tăng 39,84% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 3.262,6 tỷ đồng, tăng 21,89% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 12.265,6 tỷ đồng, tăng 19,15% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 263,1 tỷ đồng, tăng 39,99% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.986,5 tỷ đồng, tăng 4,46% so với tháng trước và tăng 23,17% so với cùng kỳ. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 27.763,1 tỷ đồng, tăng 24,06% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.058,7 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 22,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 712,6 tỷ đồng, tăng 2,06% so với tháng trước và tăng 12,79% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 167,7 tỷ đồng, tăng 0,05% so với tháng trước và tăng 8,81% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148,1 tỷ đồng, giảm 0,39% so với tháng trước và tăng 25,64% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 239,8 tỷ đồng, tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 13,20% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.478,7 tỷ đồng, giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 34,20% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 311,8 tỷ đồng, tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 14.591,9 tỷ đồng, tăng 15,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 3.557,8 tỷ đồng, tăng 10,69% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 833,5 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 728,1 tỷ đồng, tăng 18,37% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.198,3 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 6.781,9 tỷ đồng, tăng 20,78% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.492,3 tỷ đồng, tăng 9,75% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trong tháng diễn ra sôi động nhờ nhu cầu đi lại, tham quan tăng cao trong kỳ nghỉ lễ 30/4 và 01/5 kéo dài. Cùng với đó, thời tiết biển thuận lợi, sóng êm đã giúp các tuyến vận tải thủy nội địa, đặc biệt tuyến ra đảo Phú Quý, tăng cường tần suất hoạt động, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và du khách. Doanh thu vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.236,4 tỷ đồng, tăng 3,49% so với tháng trước và tăng 26,62% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.894,6 tỷ đồng, tăng 22,96% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.815,0 nghìn HK, tăng 3,78% so với tháng trước và tăng 10,86% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 407.296,7 nghìn HK.Km, tăng 3,90% so với tháng trước và tăng 11,88% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 13.775,2 nghìn HK, tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.988.465,3 nghìn HK.Km, tăng 16,18% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 1.982,6 nghìn tấn, tăng 2,59% so với tháng trước và tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 292.351,8 nghìn tấn.Km, tăng 2,77% so với tháng trước và tăng 15,96% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 9.909,7 nghìn tấn, tăng 14,37% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.458.211,3 nghìn tấn.Km, tăng 14,90% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.236,4 tỷ đồng, tăng 3,49% so với tháng trước và tăng 26,62% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.894,6 tỷ đồng, tăng 22,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.012,6 tỷ đồng, tăng 26,69% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.889,6 tỷ đồng, tăng 25,58% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 770,6 tỷ đồng, tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 221,8 tỷ đồng, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.135,8 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 972,8 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 163 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.527,2,9 tỷ đồng, tăng 3,78% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước thực hiện 16.300 tỷ đồng, bằng 47,34% kế hoạch năm và tăng 17,76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước thực hiện 15.150 tỷ đồng, bằng 46,37% kế hoạch năm và tăng 15,03%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 1.150 tỷ đồng, bằng 65,34% kế hoạch năm và tăng 71,43% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 2.227 tỷ đồng (bằng 58,55% kế hoạch năm và tăng 7,41% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 745 tỷ đồng (bằng 54% kế hoạch năm và tăng 11,4%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 4.286 tỷ đồng (bằng 64,09% kế hoạch năm và tăng 62,62%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 1.418 tỷ đồng (bằng 51,94% kế hoạch năm và tăng 5,6%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 1.786,2 tỷ đồng (bằng 24,22% kế hoạch năm và giảm 7,33%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 2.800 tỷ đồng (bằng 48,28% kế hoạch năm và tăng 9,51%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước 3.892,2 tỷ đồng; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước 20.976,6 tỷ đồng, bằng 47,15% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 9.046,1 tỷ đồng, bằng 68,46% kế hoạch năm; chi thường xuyên 11.928,2 tỷ đồng, bằng 39,29% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) trong tỉnh ở mức 0,17% - 0,42%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; ở mức 4,28% - 4,74%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; ở mức 6,73% -8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; ở mức 6,88% - 7,98%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh NHTM ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ 9,06%/năm - 10,84%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,3% - 4,66%/năm. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đến 30/4/2026,  đạt 237.889 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 8.614 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,76%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 233.187 tỷ đồng (chiếm 98,86% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.702 tỷ đồng, (chiếm 1,14% tổng huy động vốn). Ước đến 31/5/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 239.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 9.725 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4,2%. Dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đến 30/4/2026, đạt 373.244 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 2.260 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,361. Trong đó: Dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 370.659 tỷ đồng (chiếm 99,31% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.585 tỷ đồng (chiếm 0,69% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn 264.088 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 109.156 tỷ đồng. Ước đến 31/5/2026, dư nợ cho vay đạt 374.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1%. Đến 30/4/2026, dư nợ cho vay ngành dịch vụ, du lịch, thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 185.088 tỷ đồng, chiếm 49,59% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.630 tỷ đồng, chiếm 8,74% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm thủy sản đạt 155.526 tỷ đồng, chiếm 41,6% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.186 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,7% trong tổng dư nợ tín dụng. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thay mới và trang trí pano các loại, biểu trưng, cổng hơi, cờ hồng, cờ lá pano,… phục vụ công tác tuyên truyền trực quan các nhiệm vụ chính trị và chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026) theo Công văn số 98-CV/BTGDVĐU ngày 14/5/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy về “Đẩy mạnh tuyên truyền Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026)”; đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026) và chương trình Dạ hội Điện ảnh chủ đề “Lâm Đồng - Đại ngàn, hoa và biển” tại Đặc khu Phú Quý; ngoài ra đã thực hiện 55 buổi chiếu phim lưu động tại cơ sở để phục vụ người dân và du khách. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 29.510 lượt khách, trong đó có 1.813 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 6.074 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.706 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 1.183 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 13.867 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 4.680 lượt). Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026 đã đón 146.423 lượt khách, trong đó có 13.065 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 41.075 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 27.272 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 6.307 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 64.835 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 6.934 lượt). Ngoài ra đã tổ chức triển lãm ảnh chuyên đề “Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử”; chương trình giáo dục trải nghiệm “Chúng em làm chiến sĩ Điện Biên” và tổ chức trưng bày triển lãm chuyên đề “Sắc màu di sản văn hóa, thiên nhiên và nghề thủ công truyền thống tỉnh Lâm Đồng” tại Trường THCS Nguyễn Du, xã Thuận Hạnh. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ tiếp đón 256 đoàn với 21.838 lượt khách (trong đó có 14 khách quốc tế); phục vụ 45 lễ viếng, lễ kết nạp Đảng, sinh hoạt chuyên đề. Luỹ kế từ ngày 01/01 - 12/5/2026 đã đón 850 đoàn với 55.246 lượt khách (trong đó có 237 khách quốc tế); phục vụ 93 lễ viếng, 03 báo công, 05 kết nạp Đoàn, 01 kết nạp Đảng,... đồng thời tổ chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 22 đoàn khách với 3.310 lượt khách; luỹ kế từ ngày 01/01 - 13/5/2026 đã đón 67 đoàn với 11.290 lượt khách (có 17 lượt khách quốc tế) đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 4.848 thẻ (4.029 thẻ thiếu nhi), phục vụ 387.324 lượt bạn đọc, luân chuyển 173.873 lượt tài liệu, trưng bày 129.450 bản sách, giới thiệu trên mạng xã hội 48 bản sách mới, sưu tầm 185 tin bài tỉnh Lâm Đồng và giới thiệu 92 bản sách theo chuyên đề. Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026 đã cấp mới và gia hạn 5.457 thẻ (4.206 thẻ thiếu nhi), phục vụ 1.271.644 lượt bạn đọc, luân chuyển 374.514 lượt tài liệu, trưng bày 141.426 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Lễ khai mạc hè, phát động bơi an toàn phòng, chống đuối nước năm 2026; lớp tập huấn bơi an toàn, phòng, chống đuối nước trẻ em trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2026 (KV1); Hội thi bơi, cứu đuối tỉnh Lâm Đồng năm 2026; Giải thể dục thể hình và nữ fitness vô địch các CLB tỉnh; Môn Cờ tướng - Đại hội Thể dục thể thao tỉnh lần thứ I năm 2026; Giải Vô địch Thể hình các Câu lạc bộ toàn quốc năm 2026. - Thể thao thành tích cao: Trong tháng tổ chức Giải Quần vợt quốc tế NovaWorld Phan Thiet U16 ATF Tennis Classic và UTR Pro Tennis Tour năm 2026; Giải cúp các CLB Yoga tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026; Giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2026 và cử đoàn vận động viên tham gia 12 giải thể thao quốc gia, kết quả đạt được 155 huy chương (20 HCV, 45 HCB, 90 HCĐ). Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026, đã đạt được 222 huy chương (35 HCV, 58 HCB, 129 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Trong tháng, các cơ sở giáo dục tập trung tổ chức dạy và học, ôn thi học kỳ II năm học 2025 - 2026 theo kế hoạch; tiếp tục thực hiện công tác xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích, an toàn giao thông, phòng chống đuối nước cho trẻ em, phòng chống cháy nổ, các loại tội phạm; đẩy mạnh tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, vệ sinh cảnh quan môi trường “Xanh - Sạch - Đẹp” trong các cơ sở giáo dục và đẩy mạnh công tác chuyển đổi số trong quản lý, giảng dạy. Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 1.593 cơ sở giáo dục với 24.494 lớp và 818.588 học sinh, gồm: 526 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó 400 công lập) với 5.707 lớp và 151.943 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó 558 công lập) với 10.210 lớp và 321.257 học sinh; 365 trường trung học cơ sở (trong đó 363 công lập) với 6.016 lớp và 240.603 học sinh; 122 trường trung học phổ thông với 2.561 lớp và 104.785 học sinh; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó 02 công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ - Tin học; 11 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập với 7.529 học viên. Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Toàn tỉnh có 78 cơ sở GDNN, gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. Tính đến thời điểm 14/5/2026, toàn tỉnh có 931/1.434 trường công lập đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 64,92%); trong đó cấp mầm non 247/400 trường (đạt tỷ lệ 61.75%), cấp tiểu học 355/557 trường (đạt tỷ lệ 63,73%), cấp trung học cơ sở 256/363 trường (đạt tỷ lệ 70,52%) và cấp trung học phổ thông 73/114 trường (đạt tỷ lệ 64,04%). Hiện nay tỉnh tập trung rà soát cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự phục vụ kỳ thi; xây dựng phương án bảo đảm an ninh, an toàn, phòng chống gian lận thi cử và các điều kiện phục vụ tổ chức kỳ thi. Kỳ thi năm 2026, toàn tỉnh có 91 điểm thi được bố trí tại các xã, phường, đặc khu; số phòng thi dự kiến: 1.845 phòng; số lượng thí sinh dự kiến đăng ký: 41.309 thí sinh (trong đó thí sinh đang học lớp 12 tại các trường THPT, GDTX: 39.594 thí sinh; thí sinh tự do: 1.715 thí sinh). 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; đồng thời đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 164 ca mắc sốt xuất huyết mới, bằng so với tháng trước và giảm 35 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong, phát hiện và xử lý 26 ổ dịch. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.600 ca mắc và phát hiện xử lý 125 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 749 ca mắc, tăng 296 ca so với tháng trước và tăng 535 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 2.080 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 10 ca mắc, giảm 06 ca so với tháng trước và giảm 716 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 53 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.673 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.337 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.201 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.289 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.907 trẻ, mũi 2 cho 3.900 trẻ và mũi 3 cho 4.445 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.722 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 03 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân. Bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 163 bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân lao mới các thể/dân số là 04  bệnh nhân/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03  bệnh nhân/100.000 dân; bệnh nhân lao kháng thuốc trong tháng là 04 bệnh nhân . - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 05 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 02 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.818 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.789 người, tử vong 1.574 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 473.726 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.342 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 234.326 ngày, xét nghiệm cho 671.773 tiêu bản, chẩn đoán 145.500 hình ảnh và phẫu thuật 5.528 trường hợp. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 2.161.490 lượt người; 171.671 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.035.416 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,27 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 85,0%; ước xét nghiệm cho 2.593.528 tiêu bản; chẩn đoán 627.601 hình ảnh và phẫu thuật cho 24.561 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 44 cơ sở (trong đó 05 bếp ăn tập thể và bếp ăn trường học, cả 05 cơ sở đều đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm), kết quả có 8 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 52,5 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 4.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy. Hiện nay, do ảnh hưởng của giá xăng, dầu tăng cao, tình trạng thiếu nước tưới trong mùa khô xảy ra ở một số địa phương đã hưởng đến đời sống, sinh hoạt và sản xuất của người dân, trong đó có đồng bào DTTS. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng. Các hoạt động thể thao truyền thống, trò chơi dân gian, hoạt động vui chơi giải trí được quan tâm tổ chức; công tác quảng bá các sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương gắn liền với bản sắc văn hóa vùng đồng bào DTTS được triển khai thông qua các chương trình kích cầu du lịch hè 2026, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS. - Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Công tác xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và vùng sâu, vùng xa được triển khai tích cực để đầu năm học 2026 - 2027 đưa vào sử dụng. Hiện nay, các trường học vùng đồng bào DTTS của tỉnh tập trung vào tổ chức kỳ thi học kỳ II năm học 2025 - 2026 và chuẩn bị tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ học sinh yếu kém và đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng cho học sinh vùng đồng bào DTTS. - Hệ thống Y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Các hoạt động khám chữa bệnh, tiêm chủng,… tiếp tục được triển khai có hiệu quả. Trong tháng, tỉnh đã xây dựng Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT tỉnh Lâm Đồng năm 2026; trong đó, trọng tâm là tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân, BHYT hộ gia đình, tỷ lệ tham gia BHXH, BHXH tự nguyện năm 2026 và xây dựng chính sách hỗ trợ đóng BHYT cho đồng bào người DTTS đang sinh sống tại địa bàn các xã, thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh. 4.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng ban hành Kế hoạch hướng dẫn tổ chức Đại lễ Phật đản năm 2026 và tổ chức các hoạt động nhân dịp kỷ niện Đại lễ Phật đản năm 2026, qua đó phần lan tỏa giá trị hòa bình, nhân ái, hướng thiện và gắn kết cộng đồng; tổ chức mở lớp bồi dưỡng cho 52 chư Ni hệ phái khất sỹ tại Tịnh xá Ngọc Cảnh, phường Xuân Hương - Đà Lạt; Ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh, thuộc Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Lâm Đồng tổ chức Trại Huấn luyện Huynh trưởng cấp II - Huyền Trang 1-2026 tại Chùa Linh Quang, đặc khu Phú Quý, có khoảng 120 trại sinh tham dự. Các cơ sở Công giáo trên địa bàn tỉnh tổ chức hoạt động tôn giáo theo kế hoạch. Tu hội Truyền giáo Thánh Vinh Sơn - Tỉnh dòng Việt Nam, phường Xuân Hương- Đà Lạt tổ chức Thánh lễ bế mạc năm Thánh và kỷ niệm 400 năm thành lập Tu hội, 70 năm Tu hội hiện diện tại Việt Nam, có khoảng 2.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong và ngoài tỉnh tham dự; Giáo phận Ban Mê Thuột tổ chức Thánh lễ tạ ơn thành lập Giáo xứ Hòa Thuận, xã Quảng Tín và bổ nhiệm linh mục quản xứ tiên khởi, có khoảng 1.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận tham dự; Giám mục Giáo phận Đà Lạt, Giáo phận Phan Thiết và Giáo phận Ban Mê Thuột tham gia cùng Phái đoàn Hội đồng Giám mục Việt Nam (gồm 37 chức sắc, chức việc) hoạt động tôn giáo tại Toà Thánh Vatican; các Giáo xứ thuộc các Giáo phận trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tổ chức Thánh lễ, dâng hoa, rước kiệu mừng kính Đức Mẹ Maria trong chuỗi sự kiện của Tháng Hoa năm 2026. Ban Đại điện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh tổ chức lễ ra mắt công nhận Chi hội và bổ nhiệm chức việc làm quản nhiệm Chi hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam) xã Ka Đô và xã Tà Hine, có khoảng 1.600 người là chức sắc, chức việc, tín đồ trong và ngoài tỉnh tham dự; tổ chức huấn luyện chấp sự, đặc trách các điểm nhóm, tại Chi hội Tin Lành Liên Nghĩa, xã Đức Trọng và Chi hội Tin Lành Bảo Lộc, phường 1 Bảo Lộc, có khoảng 1.000 người tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 4.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 402 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Tổ chức thăm, tặng quà người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Miền nam, thống nhất đất nước; đồng thời tổ chức đưa 189 lượt người có công với cách mạng đi điều dưỡng tập trung tại trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công tỉnh Khánh Hòa và Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng. Từ đầu năm đến nay đã giải quyết 1.551 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chi trả trợ cấp hàng tháng không dùng tiền mặt cho 13.802 người có công với cách mạng với tổng kinh phí 182,24 tỷ đồng. Phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 người (47 căn xây mới, 40 căn sửa chữa). Tổ chức 04 đợt điều dưỡng tập trung đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ tại Trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công Khánh Hòa, Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng với 425 lượt người. Phê duyệt Quyết định điều dưỡng tại nhà đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với 3.745 người, tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng. 5. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết ngày 30/4/2026, toàn tỉnh có 314.472 người tham gia BHXH, tăng 0,75% so với tháng trước; có 238.238 người tham gia BHTN, tăng 0,4%; 3.074.232 người tham gia BHYT, tăng 0,87% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 90,75% dân số. Trong tháng đã giải quyết mới 10.708 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.682 người (trong đó: 120 người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; 2.555 người hưởng trợ cấp 1 lần; 6.500 người hưởng chế độ ốm đau; 1.193 người hưởng chế độ thai sản; 340 người hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; 1.592 người hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng và 90 người được hỗ trợ học nghề). Lũy kế đến ngày 30/4/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 36.354 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 5.084 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 522 người; trợ cấp 1 lần cho 8.531 người; chế độ ốm đau cho 21.141 người; chế độ thai sản cho 4.833 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 1.327 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 4.861 người và hỗ trợ học nghề cho 223 người).  6. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/4 - 14/5/2026) Trong tháng xảy ra 41 vụ tai nạn giao thông, giảm 13 vụ so với tháng trước và giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 27 người, giảm 12 người so với tháng trước và giảm 04 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 18 người, giảm 19 người so với tháng trước và giảm 39 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 xảy ra 291 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 78 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 183 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 189 người, giảm 107 người so với cùng kỳ năm trước. 7. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 23/4 - 25/5/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ thiên tai do mưa lớn kèm theo giông lốc, sét xảy ra tại xã Đạ Huoai 2, xã Hàm Kiệm, xã Đạ Huoai 2, xã Nâm Nung và xã Cát Tiên 3. Thiên tai đã làm cuốn trôi và mất tích 01 người, 09 căn nhà bị tốc mái (01 nhà bị tốc mái hoàn toàn), 35 ha cây sầu riêng, sét đánh làm cháy hệ thống điện làm chết khoảng 70.000 con gà của Công ty TaFa Việt, xã Trà Tân; ước thiệt hại khoảng 17,25 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 28/12/2025 đến nay xảy ra 08 vụ thiên tai, làm tốc mái 26 căn nhà (03 nhà bị sập tốc mái hoàn toàn) và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 17,90 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/4 - 15/5/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 09 vụ cháy nổ, giảm 03 vụ so với tháng trước và bằng với số vụ của cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 248,5 triệu đồng. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 37 vụ cháy, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 03 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại 2.819 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra vi phạm (cùng kỳ năm trước xảy ra 03 vụ vi phạm và xử phạt 585 triệu đồng). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 415,0 triệu đồng. * Đánh giá chung Trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực trên nhiều lĩnh vực. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định; diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 3,2% so với cùng kỳ; chăn nuôi tiếp tục phát triển, tổng sản lượng thịt hơi 5 tháng tăng 9,51%; khai thác thủy sản duy trì. Sản xuất công nghiệp phục hồi rõ nét, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 5 tháng đầu năm tăng 8,04%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,01%, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Khu vực thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục là điểm sáng nổi bật. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 5 tháng tăng 16,17% so với cùng kỳ; trong đó doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành tăng 20,01%. Hoạt động du lịch phục hồi mạnh, toàn tỉnh đón gần 10 triệu lượt khách, tăng 19,54%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 24,06%. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng trưởng khá, doanh thu 5 tháng tăng 22,96%, phản ánh nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hóa và hoạt động du lịch tiếp tục sôi động. Hoạt động đầu tư, phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư có chuyển biến tích cực. Số doanh nghiệp thành lập mới, tăng 96,2%; số doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 15,72%; thu hút 22 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký 115.171,5 tỷ đồng. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn bằng 47,34% dự toán năm và tăng 17,76% so với cùng kỳ. Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện; các hoạt động tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức phù hợp với nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân. Công tác giáo dục tập trung hoàn thành chương trình năm học, chuẩn bị các điều kiện tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026. Công tác y tế, phòng chống dịch bệnh và khám chữa bệnh tiếp tục được triển khai. Các chính sách dân tộc, tôn giáo, người có công và bảo hiểm xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn tỉnh đạt 90,75% dân số. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số khó khăn. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn thấp so với yêu cầu, trong khi khối lượng vốn còn lại phải thực hiện trong các tháng cuối năm rất lớn. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng tăng 4,47%, trong đó nhiều nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, nhà ở, vật liệu xây dựng, giao thông, giáo dục tăng, tạo áp lực nhất định đến chi phí sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân. Hoạt động doanh nghiệp tuy có tín hiệu tích cực về số doanh nghiệp thành lập mới, nhưng có 1.086 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động và 393 doanh nghiệp giải thể. Trong nông nghiệp, dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục là yếu tố rủi ro cần theo dõi, kiểm soát chặt chẽ để hạn chế lây lan, bảo đảm ổn định sản xuất chăn nuôi. Một số vấn đề xã hội như dịch bệnh ở người, tai nạn giao thông, thiên tai, giông lốc, sét, thiếu nước tưới cục bộ trong mùa khô vẫn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất và an sinh xã hội. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG-----

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   03/05/2026 08:53

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tương đối ổn định. Các địa phương trên địa bàn tỉnh tích cực thu hoạch cho vụ Đông xuân và xuống giống cho vụ Hè thu. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát hiệu quả, không có dịch bệnh nghiêm trọng xảy ra. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào khâu chăm sóc rừng, ươm cây giống lâm nghiệp. Khai thác thủy sản giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước do giá nhiên liệu cao, một số đội tàu khai thác xa bờ tạm dừng khai thác. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tính đến ngày 15/4/2026 ước đạt 116.049 ha, tăng 3,14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 57.690 ha, tăng 2% (diện tích lúa tăng chủ yếu ở các xã Đức Linh, xã Tánh Linh xuống giống sớm trong vụ Hè thu); cây ngô, diện tích ước đạt 6.280 ha, tăng 2,36%; rau các loại, diện tích ước đạt 32.380 ha, tăng 4,85%; hoa các loại, diện tích ước đạt 4.900 ha, tăng 4,90%; đậu các loại, diện tích ước đạt 2.910 ha, tăng 2,16%; cây hàng năm còn lại, diện tích ước đạt 11.889 ha, tăng 4,13%. 1.2. Cây lâu nămTrong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung đầu tư, chăm sóc các loại cây trồng lâu năm; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện mưa cục bộ một số nơi, lượng nước mùa khô cơ bản đủ cung cấp cho cây trồng. - Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.732 ha; cây đang trong giai đoạn đậu quả, người dân chủ động tưới nước, chăm sóc tốt ở vùng trọng điểm như Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’lấp;- Cây cao su: Diện tích hiện có 75.371 ha; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện;- Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.224 ha; hiện đang giai đoạn chăm sóc nuôi trái, sinh trưởng tương đối ổn định; nhờ hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác nên người dân đang tích cực đầu tư, tăng năng suất. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhất là nhu cầu từ Trung Quốc, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh;- Cây tiêu: Diện tích hiện có 37.760 ha; người dân đang hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026. Giá hồ tiêu duy trì ở mức cao (khoảng 148.000 - 151.000 đồng/kg) đã góp phần cải thiện thu nhập cho người sản xuất;- Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.802 ha; cây sinh trưởng tương đối ổn định, sâu bệnh phát sinh ít; người dân đang chuyển từ mở rộng diện tích sang nâng cao năng suất, chất lượng như mở rộng sản xuất VietGAP, GloabaGAP;- Cây chè: Diện tích hiện có 9.282 ha; giá chè duy trì ổn định, thị trường tiêu thụ thuận lợi, góp phần duy trì hiệu quả sản xuất của ngành chè trên địa bàn tỉnh; tuy nhiên diện tích chè chủ yếu đã già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp nên người dân đang dần chuyển đổi sang cây cà phê, sầu riêng,...;- Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.217 ha; những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp trong những tháng mùa khô; tổng diện tích được cấp nước tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện là 99.242 ha, đạt 22,8% diện tích sản xuất nông nghiệp được tưới. Chuẩn bị bước vào mùa mưa công tác phòng, chống thiên tai được chủ động triển khai, rà soát, cập nhật phương án phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý an toàn công trình thủy lợi, hồ đập. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 80 ha, bệnh đạo ôn lá gây hại 377 ha, chuột gây hại 290 ha, rầy nâu gây hại 249 ha (so với tháng trước, sâu đục thân gây hại giảm 142 ha, bệnh đạo ôn lá gây hại giảm 167 ha, chuột gây hại giảm 73 ha, rầy nâu gây hại tăng 109 ha); Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 1.796 ha (tăng 35 ha so với tháng trước); Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.661 ha (tăng 771 ha so với tháng trước); Bọ xít muỗi gây hại 1.585 ha cà phê chè (giảm 581 ha so với tháng trước); Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.931 ha (tăng 680 ha so với tháng trước), bệnh thán thư gây hại 2.919 ha (giảm 176 ha so với tháng trước); Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 92 ha (tăng 27 ha so với tháng trước); Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 527 ha (giảm 95 ha so với tháng trước); bệnh thối rễ tóp cành gây hại 119 ha (giảm 03 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 137 ha (tăng 24 ha so với tháng trước); 2. Chăn nuôi Trong tháng, tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì và phát triển ổn định; quy mô đàn các loại vật nuôi đều có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn do giá thức ăn tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 34.998 tấn, tăng 12,17% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 128.226,7tấn, tăng 10,47%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,8 nghìn con, tăng 0,45% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tăng nhẹ cho thấy sự ổn định của loại vật nuôi này trong điều kiện hiệu quả kinh tế chưa thật sự nổi trội. Người dân chủ yếu duy trì quy mô đàn để phục vụ nhu cầu sản nuất nông nghiệp và cung cấp thịt tại chỗ. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,5 nghìn con, tăng 1,69% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 30,1 nghìn con, tăng 3,81%). Quy mô đàn bò được duy trì mức tăng bền vững nhờ thị trường tiêu thụ tương đối ổn định. Việc chú trọng cải thiện con giống, nâng cao kỹ thuật chăm sóc và áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.498 nghìn con, tăng 6,09% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.225 nghìn con, tăng 7,19%). Quy mô đàn lợn tăng chủ yếu từ khu vực chăn nuôi trang trại và doanh nghiệp, với xu hướng mở rộng quy mô, đầu tư bài bản và liên kết sản xuất theo chuỗi. Công tác kiểm soát dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn châu Phi, được triển khai hiệu quả đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái đàn và phát triển đàn lợn. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.600 nghìn con gia cầm, tăng 7,11% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.200 nghìn con, chiếm 71,68% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,88%). Với ưu thế thời gian nuôi ngắn, chi phí đầu tư linh hoạt và khả năng quay vòng vốn nhanh, chăn nuôi gia cầm tiếp tục là lựa chọn phù hợp của nhiều hộ dân và doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng thịt và trứng duy trì ổn định. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, tại phường Bắc Gia Nghĩa, xã Đạ Tẻh 3, xã Đạ Hoai phát sinh 03 hộ có lợn mắc bệnh và chưa qua 21 ngày, với số lợn bị tiêu hủy 1.132 con. Lũy kế từ ngày 01/01/2026 đến nay, tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 2.231 con. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện tiêu hủy, khoanh vùng xử lý bệnh DTLCP phát sinh; triển khai tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường, tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, hoạt động trồng rừng chưa được triển khai, chủ yếu tập trung chăm sóc rừng, chuẩn bị mặt bằng, ươm giống cây trồng. Tỉnh đã tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, trong tháng đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 0,87 ha; lũy kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 0,87 ha (so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng giảm 03 vụ, diện tích rừng thiệt hại giảm 0,3 ha). - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 43.094 m3, tăng 5,09% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 147.159 m3, tăng 3,26%. - Sản lượng củi khai thác ước đạt 26.464 ste, tăng 1,46% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 119.923 ste, tăng 1,97%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/3 - 10/4/2026) là 48 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 30 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 6,9 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 11 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 18 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 5,6 ha). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/4/2026), tổng số vụ vi phạm là 187 vụ bằng cùng kỳ năm trước (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 79 vụ, giảm 26 vụ; diện tích rừng bị thiệt hại 13,5 ha, giảm 1,6 ha). 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 467,9 ha, tăng 2,26% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.895,4 ha, tăng 1,17% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 1.703,7 ha, tăng 1,15%; diện tích nuôi tôm (chủ yếu là tôm thẻ trắng) đạt 175 ha, tăng 1,93%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.315 tấn, tăng 0,80% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 380 tấn, tăng 4,08%). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 9.270,9 tấn, tăng 1,0% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.530 tấn, tăng 3,79%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền khai thác quyết tâm bám biển khai thác dù giá dầu tăng cao; đặc biệt nguồn lợi cá cơm xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho các tàu nghề vây cá nồi nhỏ, nghề pha xúc đánh bắt. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 18.670 tấn, giảm 1,31% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 18.590 tấn, giảm 1,48%). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 72.354,7 tấn, tăng 2,82 (sản lượng khai thác biển đạt 71.711,8 tấn, tăng 2,18%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên, chất lượng tôm giống được giữ vững trên thị trường. Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,2 tỷ post, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 8,1 tỷ post, tăng 4,11%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Những tháng đầu năm ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có nhiều chuyển biến tích cực, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 12,90% so với tháng trước, tính chung 4 tháng đầu năm 2026 tăng 8,07% so với cùng kỳ, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,65%. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 12,90% so với tháng trước và tăng 15,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 7,04% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 19,72%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 13,53%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,40%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,96%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,65%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,93%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,71%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 415.415 m3, tăng 8,40% so với tháng trước và tăng 8,31% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.306.321 m3, tăng 17,71% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang tập trung nhiều giải pháp để giải ngân vốn đầu tư công cũng như đạt chỉ tiêu về vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.520 tấn, giảm 5,49% so với tháng trước nhưng tăng 8,17% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 12.486 tấn, tăng 10% so với cùng kỳ. - Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 1.835 tấn, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 19,11% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 7.827 tấn, tăng 23,90% so với cùng kỳ. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 22.440 nghìn lít, tăng 7,58% so với tháng trước và tăng 21,75% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 86.208 nghìn lít, tăng 16,11% so với cùng kỳ do các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 646 nghìn đôi, tăng 7,52% so với tháng trước và tăng 20,06% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.220 nghìn đôi, tăng 27,02% so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng mới ngay từ các tháng đầu năm. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 11.095 tấn giảm 20,84% so với tháng trước nhưng tăng 40,71% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 46.123 tấn, tăng 50,92% so với cùng kỳ, nguyên nhân trong tháng giảm do ảnh hưởng của giá xăng dầu nên các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, tuy nhiên so với cùng kỳ và cộng dồn vẫn tăng cao là do các doanh nghiệp đã chủ động cho kế hoạch cả năm 2026. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 126,5 nghìn tấn, tăng 9,13% so với tháng trước và tăng 3,85% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 528,313 nghìn tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.649 triệu kwh, tăng 19,64% so với tháng trước và tăng 13,5% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 11.420 triệu kwh, tăng 2,69% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 505 triệu kwh, giảm 4,68% so với tháng trước nhưng tăng 4,76% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.001 triệu kwh tăng 5,62% so với cùng kỳ. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 2,98% so với tháng trước và tăng 8,74% so cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,82%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,32%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,75%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,13%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, Chỉ số sử dụng lao động tăng 6,09%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,33%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,01%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,02%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,47%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước và xu hướng cao hơn bình quân các tháng đầu năm 2026 là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Hiện nay trong các KCN có khoảng 166 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh. Lũy kế đến hết tháng 3/2026, doanh thu đạt 9.300 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 171,6 triệu USD; nộp ngân sách đạt 551 tỷ đồng. Đầu năm đến nay thu hút được 05 dự án đầu tư, trong đó có 01 dự án nước ngoài và 04 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký 178,66 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích 4,08 ha. Cụ thể: - Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina (vốn 0,2 triệu USD, thuê lại 0,3 ha nhà xưởng) tại KCN Lộc Sơn. - Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam của Công ty TNHH may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam (vốn 26 tỷ, diện tích 0,3128 ha) tại KCN Lộc Sơn. - Kho Transimex Phú Hội của Công ty cổ phần Transimex Logistics (vốn 98,658 tỷ, diện tích 1,29 ha). - Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV nhựa Stroman Lâm Đồng (vốn đầu tư 40 tỷ đồng, diện tích 1,3879 ha) tại KCN Phú Hội. - Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm của Công ty TNHH Trường Phát Tâm (vốn đầu tư 14 tỷ đồng, diện tích 1,0887 ha) tại KCN Phú Hội. Công tác đầu tư hạ tầng các KCN được các chủ đầu tư quan tâm triển khai, có 5/14 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị khoảng 2,82 tỷ đồng đạt 0,32% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026, giảm 89,258% so với cùng kỳ (43,82 tỷ đồng), gồm: KCN Phan Thiết giai đoạn 1; KCN Hàm Kiệm I; KCN Hàm Kiệm II; KCN Sông Bình; KCN Tân Đức. Tình hình thu hút dự án đến nay: - KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn 6 nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước. - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài). - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Trong tháng, tình hình thực hiện vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh ghi nhận sự chuyển động tích cực với mục tiêu trọng tâm là hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các tuyến giao thông kết nối vùng. Tỉnh tập trung cao độ các nguồn lực để triển khai đồng loạt các dự án trọng điểm và khẩn trương hoàn thiện hồ sơ pháp lý cho 43 dự án khởi công mới trong năm. Tuy nhiên, công tác thực hiện các dự án chưa đạt kỳ vọng do vướng mắc kéo dài trong giải phóng mặt bằng và sự chồng lấn quy hoạch khai thác khoáng sản. Bên cạnh đó, áp lực từ việc tăng giá nhiên liệu cùng tình trạng khan hiếm nguồn cung vật liệu xây dựng tại chỗ đã gây ra những trở ngại lớn cho năng lực thực thi của các đơn vị thi công. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 769,9 tỷ đồng, tăng 3,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 718,1 tỷ đồng, chiếm 93,27% và tăng 3,21% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 331,7 tỷ đồng, tăng 33,08% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 102,6 tỷ đồng, giảm 45,5% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 11,2 tỷ đồng, giảm 31,91% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 267,8 tỷ đồng, tăng 11,91% so với cùng kỳ; vốn khác 4,8 tỷ đồng, tăng 86,1% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 51,8 tỷ đồng, chiếm 6,73% và tăng 1,8% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.680,6 tỷ đồng, đạt 17,61% so với kế hoạch năm, tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.500,4 tỷ đồng, tăng 4,12% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.166,2 tỷ đồng, tăng 17,98% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 358,6 tỷ đồng, giảm 45,98% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 40,6 tỷ đồng, giảm 29,4% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 919,4 tỷ đồng, tăng 34,67% so với cùng kỳ; vốn khác 15,7 tỷ đồng, tăng 71,89% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 180,2 tỷ đồng, tăng 3,06% so với cùng kỳ. Tình hình phát triển doanh nghiệp tính từ ngày 01/01/2026 đến ngày 20/4/2026, toàn tỉnh có 1.715 doanh nghiệp thành lập mới, gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm trước; 1.004 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 4,74%; 332 doanh nghiệp giải thể, gấp 2,1 lần; 474 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 15,3%. Tổng số vốn trong 4 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp đã đăng ký 8.731,2 tỷ đồng, tăng 56,61% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình thu hút đầu tư (từ đầu năm đến ngày 23/4/2026), toàn tỉnh có 18 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 55.281,1 tỷ đồng; 18 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Trong tháng, hoạt động thương mại của tỉnh tiếp tục duy trì sự ổn định với sức mua tăng trưởng tích cực, đặc biệt trong các dịp lễ và cuối tuần. Nguồn cung hàng hóa dồi dào, đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu dùng; mặt bằng giá cả tuy chịu tác động từ biến động giá xăng dầu nhưng vẫn được kiểm soát, không xảy ra tăng giá đột biến. Du lịch ghi nhận sự khởi sắc rõ rệt nhờ nhiều sự kiện hấp dẫn, góp phần thúc đẩy lượng khách và doanh thu tăng so với tháng trước và cùng kỳ. Các ngành dịch vụ như ăn uống, vận tải tiếp tục hoạt động hiệu quả, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và du khách trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Hoạt động vận tải và kho bãi duy trì ổn định, đảm bảo lưu thông hàng hóa và phục vụ nhu cầu đi lại, góp phần hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế địa phương. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Thị trường hàng hóa trong tháng tiếp tục đà tăng trưởng. Nhu cầu tiêu dùng từ người dân và du khách tăng cao, đặc biệt trong dịp lễ, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng thiết yếu như thực phẩm, thủy hải sản,... Các hệ thống siêu thị, cửa hàng điện máy và bán lẻ địa phương đã góp phần quan trọng bình ổn thị trường và kích cầu hiệu quả qua các chương trình khuyến mãi. Hoạt động các ngành dịch vụ khác diễn ra khá nhộn nhịp, đặc biệt là hoạt động du lịch, vui chơi giải trí trong dịp lễ sắp đến. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 16.414,2 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 18,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: uớc tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 10.409,6 tỷ đồng, tăng 2,83% so với tháng trước và tăng 18,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.121,8 tỷ đồng, tăng 13,19% so với tháng trước và tăng 14,77% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.882,7 tỷ đồng, tăng 3,42% so với tháng trước và tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 63.725,4 tỷ đồng, tăng 15,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 39.837,8 tỷ đồng, tăng 14,46% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 12.510 tỷ đồng, tăng 20,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 11.377,6 tỷ đồng, tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Quản lý thị trường đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu; đồng thời siết chặt giám sát đối với mặt hàng gạo và vật liệu xây dựng. Công tác đấu tranh chống hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ được đẩy mạnh, song song với việc theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả xăng dầu để kịp thời phát hiện các dấu hiệu bất thường như tăng giá bất hợp lý hay gián đoạn nguồn cung. Kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường lũy kế từ 15/12/2025 đến 14/4/2026: đã kiểm tra 470 vụ, phát hiện 452 vụ vi phạm và xử lý 454 vụ, tổng số tiền xử phạt đạt 3,65 tỷ đồng; trị giá hàng hóa vi phạm hơn 863,6 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng Giá gas, giá dầu trong nước tăng cao theo giá nhiên liệu thế giới, cùng với giá vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào và chi phí vận chuyển tăng, là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,56% so với tháng trước, CPI trong tháng tăng 4,62% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2026 tăng 4,42% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 09 nhóm hàng tăng giá: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,40%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,50%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,69%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,44%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; Thông tin và truyền thông tăng 0,05%; Giáo dục tăng 0,04%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24%. Có 02 nhóm hàng giảm giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,18%; Giao thông giảm 0,8%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 02, 03, 08, 09, 16, 21 và 23 tháng 4/2026, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng dầu hỏa tăng 26,54% so với tháng trước; giá dầu diezel tăng 18,35% so với tháng trước; Giá gas trong tháng tăng 48,86% so với tháng trước do từ ngày 01/4/2026, giá gas 12 ký trong nước điều chỉnh tăng 95.000 đồng/bình sau khi giá gas thế giới tăng 232,5 USD/tấn (từ mức 537,5 USD/tấn lên mức 770 USD/tấn); Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 3,26% do chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là giá nguyên, nhiên liệu sản xuất và chi phí vận chuyển tăng, tác động đẩy giá các loại vật liệu như: cát, đá, xi măng, thép, gạch... tăng so tháng trước. - Nguyên nhân giảm: Giá rau tươi giảm 0,7% so tháng trước, do một số loại rau đang vào vụ thu hoạch và thời tiết thuận lợi nên sản lượng rau tươi dồi dào, nhiều chủng loại; Giá nhóm lương thực giảm 0,33% so tháng trước, trong đó giảm chủ yếu các mặt hàng gạo giảm 0,51%. Nguyên nhân, do nguồn cung được đảm bảo vì một số khu vực đang trong kỳ thu hoạch lúa vụ đông xuân. Đồng thời ảnh hưởng giá gạo xuất khẩu giảm do nguồn cung gạo thế giới tăng; Nguồn cung sản lượng gia cầm, trứng các loại tại địa phương dồi dào tác động làm cho giá các loại thịt gia cầm tươi sống giảm 2,08%, giá trứng các loại giảm 1,84% so với tháng trước; Giá các loại quả tươi giảm 2,70% so với tháng trước, trong đó giảm mạnh nhất giá xoài các loại giảm 8,01%; quả có múi giảm 1,70%; chuối giảm 2,27%; quả tươi khác giảm 2,57%. Nguyên nhân, hiện nay một số loại trái cây đang vào mùa vụ thu hoạch nguồn cung nhiều, nhu cầu tiêu dùng giảm tác động giá bán thị trường có phần giảm so tháng trước; Giá xăng giảm 3,93% so với tháng trước, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá trong tháng. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2026 tăng 4,42% so với bình quân cùng kỳ năm 2025. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2026 - Nguyên nhân tăng: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 1,13 điểm phần trăm, trong đó tăng do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo 4 tháng đầu năm 2026 tăng 1,21% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 5,61% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 1,40 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng mạnh 7,96%; giá thịt gia cầm tăng 5,39, so cùng kỳ tăng do thiếu hụt nguồn cung trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết và chi phí chăn nuôi ở mức cao. Chỉ số giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 5,23% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 0,44 điểm phần trăm, do giá lương thực thực phẩm đang ở mức tăng cao so cùng kỳ, giá gas, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng. Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,57% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI tăng 0,99 điểm phần trăm, do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào và giá thuê nhà ở tăng cao. Chỉ số giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, giá gas 4 tháng đầu năm 2026 tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá dầu hỏa tăng 32,03% do điều chỉnh giá dầu trong nước tăng theo biến động giá thế giới. Chỉ số giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng 3,46%; hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,28% và các thiết bị đồ dùng gia đình tăng 3,51%, do nhu cầu tiêu dùng cao trong dịp Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất, vận chuyển tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán sản phẩm. Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 3,79% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung tăng 0,43 điểm phần trăm, trong đó giá tăng chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu tăng 5,63%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước; giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 22,26% do giá xăng dầu đang mức tăng cao nên các công ty vận tải hành khách tăng giá vé so cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 7,19%, làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Nguyên nhân giảm: Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,21%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng có các kỳ nghỉ lễ dài ngày như Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), Lễ 30/4 và 1/5. Trên địa bàn tỉnh diễn ra các sự kiện như Giải vô địch các đội mạnh Lân - Sư - Rồng quốc gia năm 2026; Giải đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026 “Non sông liền một dải”. Bên cạnh đó hưởng ứng chương trình kích cầu du lịch tỉnh Lâm Đồng năm 2026, các doanh nghiệp du lịch, dịch vụ trên địa bàn tỉnh đăng ký tham gia chương trình với nhiều gói khuyến mãi, giảm giá, dịch vụ tặng kèm quà tặng hấp dẫn dành cho nhiều đối tượng khách lựa chọn Lâm Đồng cho chuyến tham quan và nghỉ dưỡng trong thời gian tới. Hầu hết các cơ sở lưu trú đăng ký tham gia đều giảm giá trung bình từ 10 - 30% tập trung vào mùa du lịch hè sắp tới, kèm theo nhiều ưu đãi như miễn phí các dịch vụ, tham gia các hoạt động văn hóa - thể thao do cơ sở tổ chức phục vụ khách, quà tặng lưu niệm, xe đưa đón miễn phí, hướng dẫn tham quan các địa điểm du lịch nổi tiếng. Đặc biệt, là các gói khuyến mãi “đặt ăn” có nhiều quà tặng hấp dẫn và các chương trình nghệ thuật đặc sắc miễn phí. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.080 nghìn lượt, tăng 14,85% so tháng trước và tăng 24% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 75 nghìn lượt, tăng 18,2% so với tháng trước và tăng 24,46% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.886 nghìn ngày khách, tăng 13,52% so với tháng trước và tăng 26,97% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 135 nghìn lượt khách, giảm 8,78% so với tháng trước và tăng 34,64% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 436 nghìn ngày khách, giảm 10,05% so với tháng trước và tăng 41,76% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, lượt khách phục vụ đạt 7.936,4 nghìn lượt, tăng 20,42% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 290,8 nghìn lượt, tăng 19,16% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 15.004,6 nghìn ngày khách, tăng 22,69% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 đạt 631,3 nghìn lượt, tăng 23,33% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.018,8 nghìn ngày khách, tăng 27,07% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến tỉnh trong 4 tháng đầu năm 2026 chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc, Đức, Mỹ, Pháp, Anh.... Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 617,9 tỷ đồng, tăng 15,33% so với tháng trước và tăng 14,13% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.449,1 tỷ đồng, tăng 12,94% so với tháng trước và tăng 14,32% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 54,8 tỷ đồng, tăng 1,93% so với tháng trước và tăng 51,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 2.610,2 tỷ đồng, tăng 24,08% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 9.688,8 tỷ đồng, tăng 19,67% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 211 tỷ đồng, tăng 41,81% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.891,3 tỷ đồng, tăng 17,58% so với tháng trước và tăng 26,82% so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 21.907,7 tỷ đồng, tăng 25,05% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.882,7 tỷ đồng, tăng 3,42% so với tháng trước và tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 702,5 tỷ đồng, tăng 1,29% so với tháng trước và tăng 17,32% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 169,4 tỷ đồng, tăng 4,79% so với tháng trước và tăng 13,39% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148 tỷ đồng, tăng 4,86% so với tháng trước và tăng 17,69% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 254,8 tỷ đồng, tăng 5,31% so với tháng trước và tăng 22,47% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.305,7 tỷ đồng, tăng 4,25% so với tháng trước và tăng 22,06% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 302,4 tỷ đồng, tăng 1,90% so với tháng trước và tăng 11,75% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 11.377,6 tỷ đồng, tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.849,4 tỷ đồng, tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 667,6 tỷ đồng, tăng 12,49% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 579,4 tỷ đồng, tăng 16,51% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 974,3 tỷ đồng, tăng 17,56% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 5.127,9 tỷ đồng, tăng 13,62% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.179 tỷ đồng, tăng 8,54% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trong tháng diễn ra khá nhộn nhịp, đáp ứng nhu cầu đi lại, du lịch và tiêu dùng tăng cao của người dân trong chuỗi nghỉ lễ kéo dài (Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch, 30/4 và 1/5) đã thúc đẩy lưu lượng giao thông và vận chuyển hàng hóa phục vụ lễ hội diễn ra sôi nổi. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.235,8 tỷ đồng, tăng 6,71% so với tháng trước và tăng 29,58% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.699,4 tỷ đồng, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.703 nghìn HK, tăng 5,39% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 392.145,3 nghìn HK.Km, tăng 5,93% so với tháng trước và tăng 16,31% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 10.950,7 nghìn HK, tăng 16,39% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.581.298,9 nghìn HK.Km, tăng 17,35% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 1.956 nghìn tấn, tăng 4,78% so với tháng trước và tăng 13,11% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 288.878,2 nghìn tấn.Km, tăng 5,27% so với tháng trước và tăng 14,05% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 7.950,5 nghìn tấn, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.170.264,9 nghìn tấn.Km, tăng 15,07% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.235,8 tỷ đồng, tăng 6,71% so với tháng trước và tăng 29,58% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.699,4 tỷ đồng, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.594,3 tỷ đồng, tăng 27,42% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.306,9 tỷ đồng, tăng 25,12% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 614,6 tỷ đồng, tăng 12,41% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 183,6 tỷ đồng, tăng 4,47% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 857,5 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 725,1 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 132,4 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.090,9 tỷ đồng, giảm 20,66% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước thực hiện 13.268,1 tỷ đồng, bằng 38,53% kế hoạch năm và tăng 16,33% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 12.480 tỷ đồng, bằng 38,19% kế hoạch năm và tăng 14,39%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 788,1 tỷ đồng, bằng 44,78% kế hoạch năm và tăng 58,81% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 2.022,7 tỷ đồng (bằng 53,18% kế hoạch năm và tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 607 tỷ đồng (bằng 44% kế hoạch năm và tăng 1,34%);[T1]  khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 3.435,5 tỷ đồng (bằng 51,37% kế hoạch năm và tăng 51,65%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 1.137 tỷ đồng (bằng 41,65% kế hoạch năm và tăng 3,78%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 1.359,3 tỷ đồng (bằng 18,43% kế hoạch năm và giảm 1,38%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 2.503 tỷ đồng (bằng 43,16% kế hoạch năm và tăng 7,31%). 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước 4.707,2 tỷ đồng, lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước 20.877 tỷ đồng, bằng 46,93% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 9.160,3 tỷ đồng, bằng 69,33% kế hoạch năm; chi thường xuyên 11.716,1 tỷ đồng, bằng 38,59% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) trong tỉnh ở mức 0,21% - 0,41%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; ở mức 4,17% - 4,65%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; ở mức 6,67% -7,64%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; ở mức 7,02% - 7,79%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh NHTM ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ 8,89%/năm - 10,73%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,34% - 4,65%/năm. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đến 31/3/2026, đạt 236.394 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 7.188 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,11%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 233.275 tỷ đồng (chiếm 98,68% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 3.119 tỷ đồng, (chiếm 1,32% tổng huy động vốn). Ước đến 30/4/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 238.400 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 9.124 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4%. Dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đến 31/3/2026, đạt 372.289 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 1.305 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,35%. Trong đó: Dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 369.935 tỷ đồng (chiếm 99,37% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.354 tỷ đồng (chiếm 0,63% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn 264.156 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 108.133 tỷ đồng. Ước đến 30/4/2026, dư nợ cho vay đạt 374.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1%. Đến 31/3/2026, dư nợ cho vay ngành dịch vụ, du lịch, thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 186.497 tỷ đồng, chiếm 50,09% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.013 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm thủy sản đạt 153.779 tỷ đồng, chiếm 41,31% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.945 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,87% trong tổng dư nợ tín dụng. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện trang trí pano cổ động trực quan tuyên truyền tấm lớn, pano bảng, tiêu đề, pano xe loa, biểu trưng,… phục vụ công tác tuyên truyền nhiệm vụ chính trị và chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Đà Lạt (03/4/1975 - 03/4/2026), Ngày giải phóng Phan Thiết (19/4/1975 - 19/4/2026), Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch) và 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng và thi thiết kế cổng chào bằng hoa tươi tại chân đèo Prenn (đợt 2). - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương: Tổ chức Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2026 tại 03 khu vực (Đền thờ Âu Lạc tại Phường Xuân Hương - Đà Lạt; xã Phan Rí Cửa và xã Tuy Đức); tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng thành công Cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031; chương trình văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày kỷ niệm của địa phương và đất nước; duy trì biểu diễn chương trình Âm nhạc đường phố tại khu vực Hồ Xuân Hương phục vụ nhân dân, du khách; ngoài ra đã thực hiện 55 buổi chiếu phim lưu động tại cơ sở và 05 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị khác. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 41.627 lượt khách, trong đó có 2.329 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 12.935 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 10.204 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 1.851 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 15.948 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 689 lượt khách); lũy kế từ ngày 01/01 đến ngày 13/4/2026, Bảo tàng tỉnh đã đón 116.913 lượt khách, trong đó có 11.252 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 35.001 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 23.566 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 5.124 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 50.968 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 2.254 lượt khách). Tổ chức khảo sát, thu thập tư liệu phục vụ công tác lập hồ sơ khoa học “Nghề làm nước mắm truyền thống Phan Thiết” trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam xem xét đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; xây dựng Hồ sơ hiện vật Linga - Yoni Mường Mán và Linga thạch anh trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, đề nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 147 đoàn với 11.504 lượt khách; phục vụ 32 lễ viếng Bác, lễ kết nạp Đoàn, sinh hoạt chuyên đề; lũy kế từ 01/01 đến 13/4/2026, Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận đón 517 đoàn 28.009 lượt khách. Ngoài ra, đã tổ chức trưng bày triển lãm 95 hình ảnh với chuyên đề: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc” tại Khu Di tích Dục Thanh phục vụ người dân và du khách. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 22 đoàn khách với 3.316 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm; lũy kế từ ngày 01/01 đến ngày 15/4/2026 đã đón 45 đoàn với 7.980 lượt khách. Ngoài ra, đã thực hiện triển lãm ảnh chủ đề “Lâm Đồng gắn kết lịch sử - Khát vọng vươn xa” và phối hợp tổ chức Giải leo núi “Hành trình về Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận” lần thứ nhất, thu hút đông đảo vận động viên tham gia. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 174 thẻ (49 thẻ thiếu nhi), phục vụ 268.325 lượt bạn đọc, luân chuyển 118.637 lượt tài liệu và trưng bày 3.876 bản sách; lũy kế từ 01/01 đến 10/4/2026, Thư viện tỉnh cấp mới và gia hạn 609 thẻ (thiếu nhi 177 thẻ), phục vụ 884.320 lượt bạn đọc, luân chuyển 200.641 lượt tài liệu và trưng bày 17.976 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị. Ngoài ra, đã tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ V năm 2026; trưng bày, triển lãm và giới thiệu sách với chủ đề “Sách - Tri thức - Khát vọng phát triển đất nước”; tọa đàm chuyên đề “Sáng tạo từ bản sắc: Đưa di sản thiên nhiên và văn hóa địa phương vào trang sách của trẻ em” tại trường THCS Nguyễn Du, phường Phan Thiết và tổ chức chương trình bồi dưỡng “Kỹ năng siêu đọc sách - Giải tỏa áp lực học đường”. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Giải Thể dục dưỡng sinh tỉnh Lâm Đồng mở rộng lần thứ VI - năm 2026; Giải Xe đạp Cúp Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026; phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Giải Golf Audi by Cội nguồn 2026 và Giải Yoga Cúp các câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026. - Thể thao thành tích cao: Đăng cai tổ chức Giải Vô địch Cầu lông đồng đội nam nữ hỗn hợp quốc gia 2026; Giải Vô địch các đội mạnh Lân Sư Rồng toàn quốc lần thứ II năm 2026. Tổ chức Giải Pickleball, Giải Golf, Giải Xe đạp trong chương trình Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026. Phối hợp tổ chức Giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2026 (trên Sân vận động Đà Lạt). Cử đoàn vận động viên tham gia 11 giải thể thao quốc gia và 1 giải thể thao quốc tế, kết quả đạt được 38 huy chương (06 HCV, 11 HCB, 21 HCĐ); thành tích đạt được tính đến thời điểm báo cáo (14/4/2026): 67 huy chương (15 HCV, 16 HCB, 36 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2025-2026. Thực hiện công tác xây dựng trường học an toàn phòng, chống tai nạn thương tích, an toàn giao thông, phòng chống đuối nước cho trẻ em, phòng chống cháy nổ, tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, vệ sinh cảnh quan môi trường “Xanh - Sạch - Đẹp”; đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số trong quản lý và giảng dạy, tăng cường huy động xã hội hóa giáo dục và phát triển trường ngoài công lập. Bên cạnh đó tập trung rà soát, củng cố điều kiện cơ sở vật chất, thiệt bị, đội ngũ nhà giáo để ổn định công tác dạy và học. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.593 cơ sở giáo dục với 24.494 lớp và 818.588 học sinh, gồm: 526 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó: 400 công lập) với 5.707 lớp và 151.943 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó: 558 công lập) với 10.210 lớp và 321.257 học sinh; 365 trường trung học cơ sở (trong đó: 363 công lập) với 6.016 lớp và 240.603 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (trong đó: 114 công lập; trong tổng số có 02 trường phổ thông dân tộc nội trú, 09 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông, 11 trường trung học cơ sở - trung học phổ thông và 100 trường trung học phổ thông) với 2.561 lớp và 104.785 học sinh; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó: 02 công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ - Tin học; 11 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập với 7.529 học viên. Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Toàn tỉnh có 78 cơ sở GDNN, gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó: 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. Công tác đánh giá, kiểm định chất lượng và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia được chú trọng. Tính đến thời điểm 31/3/2026, toàn tỉnh có 912/1.434 trường công lập đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 63,60%); trong đó: cấp mầm non có 246/400 trường (đạt tỷ lệ 61.50%), cấp tiểu học có 342/557 trường (đạt tỷ lệ 61,40%), cấp trung học cơ sở có 253/363 trường (đạt tỷ lệ 69,70%) và cấp trung học phổ thông có 71/114 trường (đạt tỷ lệ 62,28%). 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các bệnh truyền nhiễm; đảm bảo đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 162 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 37 ca so với tháng trước và giảm 23 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.436 ca mắc. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 33 ổ dịch, bốn tháng đầu năm 2026 đã phát hiện xử lý 99 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 453 ca mắc, tăng 228 ca so với tháng trước và tăng 347 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 1.331 ca mắc.- Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 16 ca mắc, tăng 02 ca so với tháng trước và giảm 973 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 43 ca mắc.- Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 4.261 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.527 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.323 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.390 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 4.269 trẻ, mũi 2 cho 4.349 trẻ và mũi 3 cho 4.562 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.749 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng phát hiện 02 bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 02 bệnh nhân; đang giám sát 09 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 6 người.- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 179 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 5 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 BN/100.000 dân; BN lao kháng thuốc trong tháng là 05 người.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 14 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 03 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.813 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.787 người, tử vong 1.572 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 484.848 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 38.018 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 221.631 ngày, xét nghiệm cho 612.199 tiêu bản, chẩn đoán 142.247 hình ảnh và phẫu thuật 5.494 trường hợp. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 1.719.671 lượt người; 137.600 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 800.478 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,03 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 90,83%; ước xét nghiệm cho 2.079.629 tiêu bản; chẩn đoán 488.672 hình ảnh và phẫu thuật cho 18.590 trường hợp.- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 3.741 cơ sở, kết quả có 38 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 147 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm.4. Thông tin, báo chí, xuất bản- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tuyên truyền kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2026; chuỗi hoạt động “Chào mùa Du lịch hè năm 2026”. Thực hiện hướng dẫn cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp triển khai Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số trên địa bàn tỉnh; đồng thời thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng.- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Đã xây dựng dự thảo Kế hoạch thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 03 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; công tác chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được quan tâm; các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo được triển khai thực hiện. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy. Tuy nhiên do ảnh hưởng của giá xăng, dầu tăng cao, tình trạng thiếu nước tưới trong mùa khô xảy ra cục bộ ở một số địa phương đã hưởng đến đời sống, sinh hoạt và sản xuất của người dân, trong đó có đồng bào DTTS.- Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng. Các lễ hội truyền thống như: Tết Chol Chnam Thmay của đồng bào Khmer, Lễ mừng lúa mới của dân tộc Kho, Mạ, Chu Ru sau khi đã thu hoạch xong vụ mùa cũ,… được tổ chức chu đáo, mang đậm bản sắc văn hóa của đồng bào, qua đó góp phần tạo không khí vui tươi, nâng cao tinh thần đoàn kết và duy trì bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS.- Mạng lưới trường lớp vùng đồng bào DTTS ngày càng hoàn thiện. Sĩ số học sinh là người DTTS tiếp tục được duy trì ổn định. Các trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú thực hiện việc trang cấp các vật dụng thiết yếu như chăn, màn, chiếu, gối, quần áo đồng phục và học phẩm cho học sinh. Các chính sách miễn, giảm học phí; hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở nội trú, bán trú,… được thực hiện theo đúng chế độ quy định. Các mô hình đưa văn hóa truyền thống vào trường học và dạy tiếng K'ho (điển hình là Trường THCS Tân Thượng, xã Đinh Trang Thượng) đang phát huy hiệu quả, giúp học sinh DTTS giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình. Công tác phòng chống bạo lực học đường và xây dựng môi trường giáo dục an toàn được tuyên truyền, triển khai đến tất cả các trường ở vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh. - Hệ thống Y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Công tác y tế vùng đồng bào DTTS đang chuyển dịch từ “điều trị” sang “chủ động phòng bệnh”. Các hoạt động khám sàng lọc bệnh không lây nhiễm (huyết áp, tiểu đường), tư vấn dinh dưỡng, cấp thuốc miễn phí cho người già và trẻ em thường xuyên được các bác sĩ trẻ tình nguyện tổ chức tại các xã khó khăn và vùng DTTS. Công tác tiêm chủng, tiêm bù, tiêm vét cho trẻ em vùng sâu, vùng xa chưa tiêm đủ mũi theo chương trình tiếp tục được triển khai. Từ quý I/2026, vắc - xin phế cầu bắt đầu đưa vào chương trình tiêm chủng miễn phí cho trẻ em vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) ban hành Giáo chỉ số 29-TCĐ/GC-HĐCM tấn phong giáo phẩm cho 70 chức sắc tỉnh Lâm Đồng; tổ chức khóa tu truyền thống khất sỹ lần thứ 40 cho 100 chư Tăng tại Tịnh xá Ngọc Thiền, phường Xuân Hương- Đà Lạt; Phân ban Ni giới tỉnh tổ chức Đại lễ tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Đại Ái đạo tại Quảng trường Lâm Viên, phường Xuân Hương - Đà Lạt, có khoảng 2.000 Phật tử tham dự, qua đó trao tặng 01 căn nhà tình thương (trị giá 100,0 triệu đồng) cho 01 em học sinh, 120 phần học bổng (mỗi phần trị giá 1,0 triệu đồng) cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn và 36 phần học bổng cho 36 tăng ni sinh đang theo học tại Trường Trung cấp Phật học tỉnh Lâm Đồng. Các cơ sở Công giáo trên địa bàn tỉnh tổ chức các hoạt động mừng lễ Phục sinh năm 2026 vào ngày 05/4/2026; Toà Giám mục Giáo phận Phan Thiết tổ chức Thánh lễ hành hương cho Hội Lòng Chúa Thương xót Giáo phận tại Trung tâm Thánh Mẫu Tàpao, xã Đồng Kho; Thánh lễ Kinh thánh Giuse tại Nhà hưu dưỡng linh mục Phan Thiết, xã Tân Lập. Đạo Tin Lành tổ chức Lễ Phục sinh năm 2026 trong không khí vui tươi, trang trọng; Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh tổ chức lễ công bố thành lập chi hội và bổ nhiệm chức việc làm quản nhiệm 04 chi hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam); Giáo hội Báp Tít Việt Nam tổ chức Đại Hội đồng lần thứ V, nhiệm kỳ 2026-2030, đoàn tỉnh Lâm Đồng có 28 người tham dự; Hội thánh Tin Lành Trưởng Lão Việt Nam tổ chức lễ công bố Quyết định thành lập Hội thánh Trung Thành, xã Tà Đùng với khoảng 600 người là chức sắc, chức việc, tín đồ trong và ngoài tỉnh tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 429 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Thực hiện chi trả trợ cấp hàng tháng không dùng tiền mặt cho 13.919 người có công với cách mạng với tổng kinh phí 48.057.554.478 đồng. Phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 đối tượng (xây mới: 47 căn, sửa chữa: 40 căn). Tổ chức đưa 189 lượt người có công với cách mạng đi điều dưỡng tập trung tại trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công tỉnh Khánh Hòa và Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết 31/3/2026, toàn tỉnh có 312.140 người tham gia BHXH, tăng 1,18% so với tháng trước; có 237.284 người tham gia BHTN, tăng 5,57%; số người tham gia BHYT là 3.047.805 người, tăng 2,65% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 89,97% dân số. Trong tháng đã giải quyết mới 10.993 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.198 người (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 115 người; trợ cấp 1 lần cho 2.944 người; chế độ ốm đau cho 5.919 người; chế độ thai sản cho 1.567 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 448 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 1.144 người và hỗ trợ học nghề cho 54 người). Lũy kế đến 31/3/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 25.646 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 3.402 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 402 người; trợ cấp 1 lần cho 5.976 người; chế độ ốm đau cho 14.641 người; chế độ thai sản cho 3.640 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 987 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 3.269 người và hỗ trợ học nghề cho 133 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/3/2026 - 15/4/2026) Trong tháng xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, giảm 08 vụ so với tháng trước và giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 39 người, tăng 01 người so với tháng trước và giảm 02 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 37 người, tăng 15 người so với tháng trước và giảm 30 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 250 vụ (trong đó có 04 vụ đường sắt), giảm 51 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 156 người, tăng 18 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 171 người, giảm 68 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 28/3/2026 đến 22/4/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ thiên tai (mưa lớn kèm theo giông lốc) tại khu vực phường 1, 2, 3 Bảo Lộc, xã Đam Rông 2 và xã Nhân Cơ; thiên tai làm tốc mái 16 nhà dân, sập 0,9 ha giàn chanh giây, một số cây xanh và tường rào bệnh viện ngã đổ; ước thiệt hại khoảng 650 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 04 vụ thiên tai, làm tốc mái 17 căn nhà, sạt lở 375m bờ biển và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; chưa thống kê giá trị thiệt hại. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 15/3 đến ngày 15/4/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 12 vụ cháy nổ, tăng 07 vụ so với tháng trước và tăng 05 vụ so với cùng kỳ năm trước; ước thiệt hại 1.542 triệu đồng. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 28 vụ cháy (tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước), làm chết 02 người và bị thương 03 người; ước tổng giá trị thiệt hại 2.570 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ vi phạm môi trường, đã xử phạt 65 triệu đồng. Lũy kế từ 4 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 08 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt là 415 triệu đồng. * Đánh giá chung Trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực trên hầu hết các ngành, lĩnh vực. Hoạt động sản xuất nông nghiệp cơ bản ổn định, sản xuất vụ Đông xuân đạt tiến độ, chăn nuôi phát triển khá, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Công nghiệp tiếp tục tăng với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 4 tháng đầu năm tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,65%. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 15,33%, tổng lượt khách du lịch phục vụ đạt gần 7,94 triệu lượt, tăng 20,42% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động vận tải, lưu thông hàng hóa cơ bản thông suốt, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và du lịch. Thu ngân sách nhà nước đạt khá với tổng thu 4 tháng đầu năm ước tăng 16,33% so với cùng kỳ; môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, số doanh nghiệp thành lập mới gấp 2,1 lần cùng kỳ năm trước. Bên cạnh những kết quả tích cực, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số khó khăn, thách thức cần lưu ý. Giá xăng dầu, khí đốt và vật liệu xây dựng tăng cao tiếp tục gây áp lực lên chi phí sản xuất, vận tải và mặt bằng giá cả; CPI bình quân 4 tháng đầu năm tăng 4,42% so với cùng kỳ năm trước. Tiến độ thực hiện và giải ngân một số dự án đầu tư công còn chậm do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, quy hoạch khoáng sản và thiếu nguồn vật liệu xây dựng. Hoạt động khai thác thủy sản còn chịu tác động bởi chi phí nhiên liệu tăng; dịch tả lợn châu Phi vẫn phát sinh cục bộ tại một số địa phương. Bên cạnh đó, tình hình vi phạm lâm luật còn diễn biến phức tạp; thị trường tiêu thụ một số nông sản chủ lực tiềm ẩn rủi ro khi diện tích mở rộng nhanh và phụ thuộc lớn vào thị trường xuất khẩu.THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG  [T1]Giảm so với quý 1/2026 là do Công ty TNHH Linkfarm (Khu vực Đầu tư nước ngoài-xã Hồng Sơn) do Công ty nộp nhầm phân bổ thuế TNDN 303 tỷ

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   06/04/2026 11:03

Trong tháng và quý I năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng diễn ra trong bối cảnh thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, khó lường; căng thẳng địa chính trị, biến động giá năng lượng, thị trường tài chính và thời tiết cực đoan đã tạo thêm áp lực đối với quá trình phục hồi kinh tế. Ở trong nước, kinh tế tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt của các cấp, các ngành, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng cơ bản giữ vững ổn định, nhiều lĩnh vực tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống Nhân dân từng bước được cải thiện. I. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý I năm 2026 ước tăng 7,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,39%, đóng góp 1,29 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,91%, đóng góp 1,94 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,20%, đóng góp 3,77 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,52%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm. II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Quý I năm 2026, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng ổn định, đồng thời thể hiện rõ sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng. Vụ Đông xuân được triển khai đúng lịch thời vụ, bảo đảm tiến độ; các địa phương chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng kỹ thuật mới và tăng cường phòng chống dịch bệnh; diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm hầu hết tăng so với cùng kỳ; sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao tiếp tục được chú trọng. Chăn nuôi duy trì đà tăng trưởng ổn định, quy mô đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi cơ bản được kiểm soát, không xảy ra dịch lớn trên diện rộng. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng và ươm cây giống lâm nghiệp. Khai thác thủy sản tiếp tục tăng trưởng về sản lượng nuôi trồng và khai thác, góp phần đảm bảo nguồn cung trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn do tăng giá xăng, dầu làm gia tăng chi phí đầu vào, chi phí vận chuyển và giá vật tư nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của người dân. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Vụ Đông xuân 2026, nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất, tăng cường tiết kiệm nguồn nước tưới và hạn chế sâu bệnh, người dân đã chuyển đổi sang cây trồng khác trên đất trồng lúa với diện tích 1.870 ha. Tính đến ngày 15/3/2026, tổng diện tích gieo trồng vụ Đông xuân ước đạt 108.931 ha, tăng 3,14% so với vụ Đông xuân năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 56.400 ha, tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước; cây ngô, diện tích ước đạt 6.150 ha, tăng 2,34%; cây khoai lang, diện tích ước đạt 2.250 ha, tăng 2,86%; cây đậu các loại diện tích ước đạt 2.750 ha, tăng 2,14%; cây lạc, diện tích ước dạt 1.400 ha, tăng 3,33%; cây rau các loại, diện tích ước đạt 28.100 ha, tăng 5,13%; hoa các loại, diện tích ước đạt 4.450 ha, tăng 4,90%,... Sản xuất rau và hoa trên địa bàn tỉnh ngày càng chuyển mạnh sang hướng nông nghiệp công nghệ cao, ứng dụng nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới tự động và các quy trình sản xuất an toàn như VietGAP, GlobalGAP; nhờ đó năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm được nâng cao, nhiều sản phẩm rau của tỉnh đã tham gia vào chuỗi cung ứng cho các hệ thống siêu thị, doanh nghiệp chế biến và thị trường xuất khẩu. 1.2. Cây lâu năm Trong quý I năm 2026, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm. Cụ thể một số loại cây chính như sau: - Cây chè: Diện tích hiện có 9.282 ha, giảm 1,52% so với cùng kỳ năm trước; diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...; - Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.732 ha, tăng 1,05% so với cùng kỳ năm trước (toàn tỉnh hiện có hơn 22.700 ha cà phê được canh tác theo hướng ứng dụng công nghệ cao; đang xây dựng 5 vùng sản xuất cà phê công nghệ cao với quy mô gần 1.750 ha, trong đó có 3 vùng đã được công nhận); hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tưới, tỉa cành, làm cỏ,...; - Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.216,9 ha, tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích; - Cây sầu riêng: Hiện đang giai đoạn chăm sóc, xử lý để đậu hoa kết trái; diện tích hiện có 44.224,2 ha, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; nhờ hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác nên người dân đang tích cực đầu tư, tăng năng suất. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhất là nhu cầu từ Trung Quốc, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh; - Cây thanh long: Trong quý I chủ yếu là vụ nghịch mùa, người nông dân đang xử lý ra hoa bằng chong đèn, chi phí sản xuất cao; diện tích hiện có 25.801,7 ha, giảm 0,69% so với cùng kỳ năm trước (diện tích thanh long có 09 mã số vùng trồng xuất khẩu đi thị trường Hoa Kỳ với diện tích là 171,6 ha). Diện tích giảm so với cùng kỳ do một số vùng bị thiệt hại do lũ vừa qua và một số vườn thanh long già cỗi, người trồng thanh long không tiếp tục đầu tư và chuyển sang canh tác các loại cây trồng khác; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.371,4 ha, tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện. - Cây điều: Diện tích điều hiện có 50.150 ha, tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026 là thời kỳ quan trọng của vụ điều, là giai đoạn ra hoa, phát triển trái, bắt đầu bước vào mùa thu hoạch; một số địa phương trong tỉnh tiếp tục khuyến khích duy trì và phát triển cây điều gắn với chế biến, góp phần ổn định sinh kế cho người dân; - Cây hồ tiêu: Hiện đang là vụ thu hoạch chính của cây hồ tiêu; diện tích hồ tiêu hiện có 37.759,5 ha, tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích và sản lượng hồ tiêu có xu hướng ổn định và tích cực, nhờ giá mặt hàng này duy trì ở mức cao và ổn định, người dân mở rộng diện tích cũng như tăng cường thâm canh để nâng cao năng suất. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Trong quý I năm 2026, hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định tình hình sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Công tác phòng, chống hạn hán, thiếu nước được tăng cường thông qua việc theo dõi sát diễn biến thời tiết, tích trữ nguồn nước và áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm; việc kiểm tra an toàn công trình thủy lợi, đặc biệt là các hồ chứa và đập dâng, được thực hiện thường xuyên. Tỉnh đã chủ động triển khai kế hoạch phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn mùa khô năm 2026; thực hiện các giải pháp ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh mùa khô 2026 trên địa bàn; đến nay trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra tình trạng hạn hán. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng 3 và quý I năm 2026, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; công tác dự báo luôn được tăng cường nên không xảy ra dịch bệnh nghiêm trọng trên diện rộng. Một số loại sâu bệnh hại xuất hiện rải rác trên các loại cây trồng chủ lực như lúa, rau màu, cây công nghiệp và cây ăn quả; tuy nhiên mức độ gây hại thấp, cụ thể: Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 219 ha, Bệnh đạo ôn lá gây hại 468,3 ha; Cây cà chua: Sâu đục lá cà chua Nam Mỹ gây hại 0,5 ha, Bệnh xoăn lá virus gây hại 64 ha; Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 320,4 ha; Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại 46,9 ha; Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.164,3 ha (109 ha nhiễm nặng); Cây cà phê chè: Bọ xít muỗi gây hại 2.117,2 ha; Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.312 ha, Bệnh thán thư gây hại 2.972 ha; Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha, Bệnh thán thư cành, quả gây hại 213 ha, ốc sên gây hại 321 ha. 1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao tiếp tục được chú trọng. Đến nay, toàn tỉnh có 107.456 ha diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, chiếm 10% diện tích gieo trồng toàn tỉnh (trong đó có khoảng 1.200 ha ứng dụng nông nghiệp thông minh); có 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa); có 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật được công nhận (Công ty TNHH Dalat Hasfarm; Công ty TNHH Hoa Mặt Trời; Công ty TNHH Trang trại Langbiang; Công ty TNHH SX-TM-NS Phong Thúy; Công ty TNHH Quang Nguyên Đà Lạt; Công ty CP cây giống Cao Nguyên; Công ty CP INNO GENETICS).  2. Chăn nuôi Trong quý, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định và có xu hướng tăng ở hầu hết các vật nuôi chủ lực. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với cùng kỳ năm trước, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính tháng 3/2026 đạt 34.999,1 tấn, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026 ước đạt 93.228,7 tấn, tăng 9,84%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,9 nghìn con trâu, tăng 0,75% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tăng nhẹ do giá bán tương đối ổn định, người chăn nuôi duy trì đàn phục vụ sản xuất và cung cấp thịt cho thị trường. Tuy nhiên, do thời gian nuôi dài và hiệu quả kinh tế chưa cao nên việc mở rộng quy mô còn hạn chế. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,3 nghìn con bò, tăng 1,69% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 30,1 nghìn con, tăng 3,79%). Quy mô đàn bò tiếp tục được duy trì nhờ đầu ra sản phẩm thịt và sữa tương đối ổn định; nhiều cơ sở chăn nuôi chú trọng cải thiện con giống và áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.495 nghìn con, tăng 6,03% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.228 nghìn con, tăng 7,45%). Quy mô đàn lợn tăng nhờ một số doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn mở rộng sản xuất, nâng công suất chuồng trại, tăng cường liên kết chăn nuôi gia công với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, công tác phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn châu Phi, được triển khai chặt chẽ nên nguy cơ phát sinh dịch bệnh cơ bản được kiểm soát. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.500 nghìn con, tăng 7,14% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.150 nghìn con, chiếm 71,78% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,95%). Quy mô đàn gia cầm tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định, thời gian nuôi ngắn và khả năng quay vòng vốn nhanh nên người chăn nuôi dễ dàng điều chỉnh quy mô đàn theo nhu cầu thị trường. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Trong Quý I năm 2026, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Các loại dịch bệnh nguy hiểm như: lở mồm long móng, tai xanh ở lợn, viêm da nổi cục... không xảy ra trên địa bàn tỉnh. Công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất, nhập tỉnh được duy trì thực hiện theo đúng quy định; công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y tiếp tục được tăng cường. - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong quý I/2026, đã xảy ra tại 03 hộ/03 thôn/03 xã với tổng số 1.099 con lợn chết và tiêu hủy, trọng lượng tiêu hủy 53.254 kg. Các địa phương đã triển khai đồng bộ các biện pháp chống dịch, thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc tại khu vực có dịch, nơi có ổ dịch cũ và những nơi có nguy cơ cao; xử lý dứt điểm, không để dịch bệnh kéo dài. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong quý, thời tiết trên địa bàn tỉnh đang vào mùa khô, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung, chủ yếu gieo tạo giống cây rừng phục vụ công tác trồng rừng khi điều kiện thời tiết thuận lợi. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 3 năm 2026 ước đạt 36.682,9 m3, tăng 4,93% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 104.065 m3, tăng 2,52%. - Sản lượng củi khai thác tháng 3 năm 2026 ước đạt 32.172,2 ste, tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 93.459 ste, tăng 2,12%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/02/2026 - 10/3/2026) là 19 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 07 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 1,03 ha; trong đó 01 vụ vi phạm khai thác rừng trái pháp luật có tính chất phức tạp, nổi cộm xảy ra tại xã Tân Lập, thiệt hại 1.161 gốc cây gỗ Tếch, tương đương 126,9 m3 gỗ); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm giảm 46 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 39 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 6,9 ha). Quý I năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/3/2026), tổng số vụ vi phạm là 139 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 49 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 6,6 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm giảm 11 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 44 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 7,2 ha). 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, các địa phương tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra, giám sát môi trường và chú ý phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi thủy sản; tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 472,8 ha, tăng 1,05% so với cùng kỳ; lũy kế 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.427,5 ha, tăng 0,89% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 423,7 ha, tăng 1,15%; diện tích nuôi tôm (chủ yếu là tôm thẻ trắng) đạt 130 ha, tăng 1,83%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.320,4 tấn, giảm 0,39% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 420 tấn, tăng 4,74%); quý I năm 2026 ước đạt 6.955,9 tấn, tăng 1,07% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.150,5 tấn, tăng 3,07%). - Khai thác thủy sản: Những tháng đầu năm, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền bám biển hoạt động khai thác ổn định; nguồn lợi cá cơm xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho các tàu nghề vây cá nổi nhỏ, nghề pha xúc đánh bắt. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn,... Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 16.209,6 tấn, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 16.159 tấn, tăng 3,02%); quý I năm 2026 ước đạt 53.257,3 tấn, tăng 3,5% (sản lượng khai thác biển đạt 53.109 tấn, tăng 3,5%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,06 tỷ post, tăng 3,73% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026 ước đạt 5,9 tỷ post, tăng 2,24%. 5. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông vào sản xuất Trong quý I năm 2026, công tác ứng dụng khoa học, công nghệ và khuyến nông tiếp tục được quan tâm triển khai gắn với phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản. Ngành chức năng tiếp tục theo dõi, thực hiện 07 mô hình chuyển tiếp từ năm 2025 về sản xuất lúa, tái canh cà phê, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu. Công tác sản xuất, cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản được duy trì hiệu quả, đáp ứng nhu cầu sản xuất. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục được đẩy mạnh; toàn tỉnh có 107.456 ha ứng dụng công nghệ cao, chiếm khoảng 10% diện tích gieo trồng, trong đó khoảng 1.200 ha ứng dụng nông nghiệp thông minh; có 16 vùng trồng trọt và 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng và tính bền vững của ngành nông nghiệp. 6. Chương trình xây dựng nông thôn mới Trong quý I năm 2026, các chương trình mục tiêu quốc gia tiếp tục được triển khai đồng bộ, bao gồm xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 (giai đoạn I: 2026-2030); đồng thời xây dựng dự thảo phân loại nhóm xã thực hiện Chương trình nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 và rà soát, lập kế hoạch triển khai nhiệm vụ cho giai đoạn 2026-2030 và năm 2026. Kinh tế tập thể tiếp tục được củng cố với 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp hoạt động theo Luật HTX năm 2023, gồm 45 HTX thành viên; toàn tỉnh có 959 HTX nông nghiệp với 19.582 thành viên (trong đó có 166 HTX ngừng hoạt động). Hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh với 428 chuỗi liên kết, thu hút 47.590 hộ tham gia; diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85 nghìn ha, sản lượng khoảng 920 nghìn tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt 2.230 nghìn con, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Chương trình OCOP tiếp tục được triển khai hiệu quả với 945 sản phẩm còn hạn chứng nhận, trong đó có 08 sản phẩm đang đề nghị đánh giá 5 sao, 80 sản phẩm 4 sao và 857 sản phẩm 3 sao, với 530 chủ thể tham gia; đồng thời tăng cường quảng bá, tiêu thụ, mở rộng mạng lưới phân phối, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu sản phẩm đặc trưng của địa phương. III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh ước tháng 3 và quý I năm 2026 với mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp khai khoáng; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao là động lực chính cho tăng trưởng toàn ngành; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải hoạt động ổn định. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 43,32% so với tháng trước và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,2%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 27,3%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,72%. Tính chung quý I năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,20% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,68%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 19,50%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,30%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,53%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 404.989 m3, tăng 2,3 lần so với tháng trước và tăng 11,75% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 888.739 m3, tăng 16,68% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình đầu tư công đang gấp rút giải ngân vốn năm 2025. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.594 tấn, tăng 45,1% so với tháng trước và tăng 9,47% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 8.892 tấn, tăng 5,18% so với cùng kỳ. - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.240 tấn, tăng 30,99% so với tháng trước và tăng 24,72% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 5.991 tấn, tăng 29,02% so với cùng kỳ. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 12.426 nghìn lít, giảm 50,3% so với tháng trước và tăng 6,99% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 63.768 nghìn lít, tăng 17,1% so với cùng kỳ do các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 585 nghìn đôi, tăng 81,55% so với tháng trước và tăng 9,69% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.558 nghìn đôi, tăng 28,77% so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 17.166 tấn tăng 52,75% so với tháng trước và tăng 12,57% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 35.028 tấn, tăng 28,69% so với cùng kỳ, nguyên nhân do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng để chuẩn bị cho mùa vụ 2026 và nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông đi vào sản xuất từ tháng 3/2025 nên so với cùng kỳ tăng khá cao. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 138,9 nghìn tấn, tăng 4,09% so với tháng trước và tăng 9,34% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 401,8 nghìn tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.147 triệu kwh, tăng 40,1% so với tháng trước và giảm 2,92% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 8.077 triệu kwh tăng 1,91% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 533 triệu kwh, tăng 12,66% so với tháng trước và tăng 3,61% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.496 triệu kwh tăng 4,47% so với cùng kỳ. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 0,78% so với tháng trước và tăng 6,29% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 0,07%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,92%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,74%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động của khối doanh nghiệp nhà nước giảm 1,97% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 11,25%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,06%. Tính chung quý I năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,38%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,52%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,10%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,52%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,30%. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 43,38% so với tháng trước và tăng 2,08% so với cùng kỳ; lũy kế quý I năm 2026 chỉ số tiêu thụ tăng 0,05% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 18,36%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 16,01%; chế biến gỗ tăng 2,84%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 27,78%; in và sao chép bản ghi các loại tăng 16,88%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,17%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 8,63%; sản xuất kim loại tăng 1,28%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 88,41%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: sản xuất đồ uống giảm 3,78%; ngành dệt giảm 11,47%; sản xuất trang phục giảm 34,38%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 11,68%... 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 7,28% so với tháng trước và tăng 1,37% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 5,09%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,36%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 6,80%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 121,76%… Ngược lại những ngành giảm như: ngành dệt giảm 59,76%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ giảm 49,18%; sản xuất kim loại giảm 1%. 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Sản xuất kinh doanh quý I năm 2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 31,65% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 21,59% đánh giá khó khăn hơn và 46,76% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi. Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 32,17% có chiều hướng thuận lợi; 43,48% có chiều hướng không thay đổi và 24,35% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 37,50% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 43,75% có chiều hướng không thay đổi và 18,75% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong doanh nghiệp nhà nước đánh giá 25,00% có chiều hướng thuận lợi; 62,50% có chiều hướng không thay đổi và 12,50% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I năm 2026, có 50,36% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 20,86% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 52,52% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 11,51% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 37,41% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 26,62% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 21,58% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 22,30% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 20,14% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 4,32% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 15,11% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 2,88% lý do khác. Dự kiến tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm 2026 so với quý I năm 2026: Có 84,17% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và tốt hơn (37,41% doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt hơn, 46,76% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định); 15,83% dự báo khó khăn hơn. 1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong Quý I năm 2026 thu hút được 05 dự án đầu tư, trong đó có 1 dự án nước ngoài và 04 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 178,6 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích 4,08 ha. Lũy kế đến nay, trong các KCN trên địa bàn tỉnh có 246 dự án (58 dự án FDI và 188 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 44.780,238 tỷ đồng và 514,788 triệu USD và diện tích đất đăng ký 731,2 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 54,18%. Hiện nay có 166 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện lũy kế đến nay: Doanh thu đạt 3.765 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 49 triệu USD; nộp ngân sách đạt 191 tỷ đồng. Trong Quý I năm 2026, có 5/14 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị khoảng 2,8/881,6 tỷ đồng đạt 0,32% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026, giảm 89,26% so với cùng kỳ (43,8 tỷ đồng). - KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,8ha/132,6 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%. - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 0,02/0,8 tỷ đồng đạt 1,22% kế hoạch năm 2026. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 15 dự án vốn đầu tư trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,7 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 0,20/22,8 tỷ đồng đạt 0,88% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,9 ha/276,9 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 1,00/205 tỷ đồng đạt 0,49% kế hoạch năm 2026. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,4 ha/202,3 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 0,10/59,1 tỷ đồng đạt 0,17% kế hoạch năm 2026. - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,1 ha/210,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 1,5/473 tỷ đồng đạt 0,32% kế hoạch năm 2026. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130,6 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,4 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Trong Quý I năm 2026, hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục giữ vai trò là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Việc đẩy mạnh triển khai các dự án đầu tư công, đặc biệt là các công trình hạ tầng giao thông liên vùng, cùng với sự phát triển của các dự án đô thị, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao đã góp phần duy trì đà tăng trưởng ổn định của ngành. Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I năm 2026 ước đạt 12.308 tỷ đồng, tăng 13,45% so cùng kỳ. Trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 56 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,45%), tăng 94,27% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 7.041,1 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 57,21%), tăng 16,2% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 93 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,76%), giảm 39,46% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 5.117,9 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 41,58%), tăng 11,1% so với cùng kỳ. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý I năm 2026 phân theo loại công trình: Nhà ở đạt 5.038,3 tỷ đồng, tăng 11,47% so với cùng kỳ; nhà không để ở đạt 2.588,1 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 3.122 tỷ đồng, tăng 14,91% so với cùng kỳ (tăng chủ yếu một số công trình giao thông trọng điểm); hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 1.559,7 tỷ đồng, tăng 14,33% so với cùng kỳ. Kết quả khảo sát xu hướng hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp xây dựng quý I năm 2026 so quý IV năm 2025 với 6,4% doanh nghiệp nhận định hoạt động thuận lợi hơn, 35,8% doanh nghiệp nhận định hoạt động ổn định và 57,8% doanh nghiệp nhận định hoạt động khó khăn hơn. Dự báo quý II năm 2026 so với quý I/2026, các doanh nghiệp xây dựng nhận định hoạt động SXKD tốt lên với 11,6% doanh nghiệp dự báo thuận lợi hơn; 39,3% nhận định ổn định và 49,1% dự báo khó khăn hơn. 3. Đầu tư phát triển Trong quý I năm 2026, cùng với việc tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tiếp tục có chuyển biến tích cực. Nhằm tạo thêm động lực cho tăng trưởng, tỉnh xác định 20 dự án trọng điểm trong năm 2026, với tổng vốn trên 88 nghìn tỷ đồng. Trong đó, có 10 dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, 02 dự án thực hiện theo phương thức đối tác công tư (PPP) và 08 dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách. Việc lựa chọn danh mục dự án được thực hiện trên cơ sở tính cấp thiết, khả năng triển khai, hiệu quả kinh tế - xã hội, thứ tự ưu tiên bố trí vốn và năng lực tổ chức thực hiện, qua đó tạo tiền đề quan trọng để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển của tỉnh. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 715,1 tỷ đồng, tăng 6,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 669 tỷ đồng, chiếm 93,35% và tăng 7,03% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 314,6 tỷ đồng, tăng 3,6% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 96,8 tỷ đồng, giảm 43,64% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 10,6 tỷ đồng, giảm 29,88% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 243 tỷ đồng, tăng 80,11% so với cùng kỳ; vốn khác 4 tỷ đồng, tăng 58,26% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 46,1 tỷ đồng, chiếm 6,45% và tăng 3,39% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.918,3 tỷ đồng, đạt 12,60% so với kế hoạch năm, tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.790,2 tỷ đồng, tăng 4,95% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 839,5 tỷ đồng, tăng 2,47% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 255,6 tỷ đồng, giảm 46,24% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 29,6 tỷ đồng, giảm 27,89% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 655 tỷ đồng, tăng 80,25% so với cùng kỳ; vốn khác 10,5 tỷ đồng, tăng 60,09% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 128,1 tỷ đồng, tăng 3,39% so với cùng kỳ. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn trong quý I năm 2026 ước đạt 22.007,4 tỷ đồng, tăng 11,27% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vốn nhà nước đạt 3.488,4 tỷ đồng, tăng 5,36%, chiếm 15,85% trong tổng nguồn vốn; vốn ngoài nhà nước đạt 17.745,9 tỷ đồng, tăng 12,85%, chiếm 80,64%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 773,1 tỷ đồng, tăng 4%, chiếm 3,51%. Tình hình phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư tiếp tục có chuyển biến tích cực. Tính đến ngày 18/3/2026, trong tháng toàn tỉnh có 400 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 43,88% so với tháng trước và tăng 51,52% so với cùng kỳ năm trước; 45 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; 60 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động; 70 doanh nghiệp giải thể. Tính chung quý I năm 2026, toàn tỉnh có 1.349 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 2,0 lần so với cùng kỳ; 433 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 16,71%; 889 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 7,2%; 263 doanh nghiệp giải thể, tăng 2,1 lần. Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 5.032 tỷ đồng, tăng 10,5%; bình quân mỗi tháng có gần 600 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Về thu hút đầu tư, từ đầu năm đến ngày 18/3/2026, toàn tỉnh có 10 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký 54.648 tỷ đồng; 12 dự án được chấp thuận điều chỉnh quy mô, tổng mức đầu tư, tiến độ thực hiện và một số nội dung liên quan. Tính đến ngày 18/3/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.938 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký khoảng 828.602 tỷ đồng; trong đó có 237 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 224.297 tỷ đồng. * Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm Trong quý I năm 2026, tỉnh tiếp tục tập trung triển khai các công trình, dự án trọng điểm trên các lĩnh vực giao thông, hàng không, thủy lợi, công nghiệp và hạ tầng đô thị, tạo nền tảng quan trọng cho liên kết vùng, thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng. Về giao thông, dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành có chiều dài 124,13 km, đi qua địa bàn 2 tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, được chia thành 5 dự án thành phần; trong đó khu vực Đắk Nông cũ phụ trách 2 dự án thành phần, gồm dự án đường gom và cầu vượt với sơ bộ mức đầu tư khoảng 338 tỷ đồng, và dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư với tổng mức đầu tư khoảng 662 tỷ đồng. Dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc dài khoảng 66 km, tổng mức đầu tư hơn 18.000 tỷ đồng theo hình thức PPP, BOT. Dự án cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương giai đoạn 1 dài 73,6 km, tổng mức đầu tư khoảng 17.718 tỷ đồng, được bố trí kế hoạch vốn năm 2026 là 3.110 tỷ đồng. Về hạ tầng hàng không và đường sắt, dự án nâng cấp Cảng hàng không Liên Khương có tổng vốn gần 5.000 tỷ đồng, đang được triển khai nhằm đưa Liên Khương trở thành cảng hàng không quốc tế. Dự án Cảng hàng không Phan Thiết có công suất thiết kế 2 triệu hành khách/năm, tổng mức đầu tư hạng mục dân dụng khoảng 3.800 tỷ đồng. Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh có chiều dài 156,5 km, đi qua 18 phường, xã, có 02 nhà ga, 04 trạm bảo dưỡng, diện tích giải phóng mặt bằng khoảng 1.046,4 ha, ảnh hưởng đến 2.441 hộ gia đình, 35 tổ chức và dự kiến bố trí tái định cư cho 991 hộ. Trong lĩnh vực thủy lợi, dự án hồ chứa nước KaZam có tổng mức đầu tư 495,5 tỷ đồng, lũy kế giải ngân đạt 407,16/495,50 tỷ đồng, bằng 82% tổng vốn; riêng năm 2025 giải ngân 60,89/149,28 tỷ đồng, đạt 41%. Hồ chứa nước Ka Pét có tổng mức đầu tư 874,09 tỷ đồng, đến nay đã giải ngân 48,92 tỷ đồng/267,52 tỷ đồng kế hoạch vốn năm. Dự án hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây, Đạ Sị có tổng mức đầu tư 565,35 tỷ đồng, phục vụ tưới cho khoảng 2.900 ha đất nông nghiệp, song đến nay chưa thể triển khai do chưa hoàn tất thủ tục nhiệm vụ - dự toán và đo đạc giải thửa phục vụ giải phóng mặt bằng. Dự án hồ Đắk Gang có tổng vốn đầu tư 1.082 tỷ đồng, dung tích hồ khoảng 15 triệu m³, cung cấp nước tưới cho khoảng 2.000 - 2.500 ha cây trồng. Trong lĩnh vực công nghiệp và đô thị, dự án Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông có tổng mức đầu tư trên 28.000 tỷ đồng, công suất thiết kế 450.000 tấn nhôm nguyên chất/năm, dự kiến vận hành phân kỳ đầu tiên trong quý III năm 2026. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1 có quy mô 1.070 ha, Khu công nghiệp Sơn Mỹ 2 giai đoạn 1 có quy mô 1.225 ha, định hướng phát triển các ngành năng lượng, vật liệu xây dựng, điện tử, chế tạo máy, công nghiệp công nghệ cao và logistics. Dự án cải thiện môi trường đô thị các thành phố loại II - Hợp phần tỉnh Đắk Nông cũ có tổng mức đầu tư 1.499 tỷ đồng, được bố trí kế hoạch vốn năm 2026 là 62,5 tỷ đồng. Nhìn chung, các công trình trọng điểm đang từng bước được triển khai, song một số dự án còn gặp khó khăn về thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, tái định cư và lựa chọn nhà đầu tư, cần tiếp tục tập trung tháo gỡ để đẩy nhanh tiến độ thực hiện. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Hoạt động thương mại trong quý I/2026 diễn ra sôi động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, chủng loại phong phú, cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu mua sắm của người dân và khách du lịch, nhất là trong các dịp lễ, tết và cuối tuần. Hoạt động du lịch tiếp tục khởi sắc; các cơ sở lưu trú, nhà hàng và dịch vụ lữ hành duy trì hoạt động ổn định, phục vụ tốt nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng. Cùng với đó, hoạt động vận tải, kho bãi được duy trì thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại của Nhân dân và vận chuyển hàng hóa trên địa bàn. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Trong tháng, thị trường trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định; hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường, sức mua của người dân tăng nhẹ so với tháng trước, chủ yếu tập trung vào các mặt hàng thiết yếu. Nguồn cung hàng hóa dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng, không xảy ra tình trạng khan hiếm hoặc biến động bất thường. Các dịch vụ ăn uống, lưu trú và dịch vụ liên quan tiếp tục duy trì ổn định, phục vụ tốt nhu cầu của người dân và du khách. Tính chung quý I năm 2026, thị trường hàng hóa và giá cả nhìn chung ổn định, lượng hàng hóa lưu thông tăng, hệ thống phân phối chủ động nguồn hàng và triển khai nhiều chương trình khuyến mãi, góp phần kích cầu tiêu dùng và nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại trên địa bàn. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 15.420,9 tỷ đồng, giảm 0,92% so với tháng trước và tăng 14,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: uớc tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 9.689,1 tỷ đồng, tăng 1,17% so với tháng trước và tăng 14,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 2.825 tỷ đồng, giảm 8,91% so với tháng trước và tăng 13,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.906,8 tỷ đồng, tăng 0,75% so với tháng trước và tăng 16,06% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 46.619 tỷ đồng, tăng 12,73% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 28.991,7 tỷ đồng, tăng 11,31% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 9.013,1 tỷ đồng, tăng 18,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 8.614,2 tỷ đồng, tăng 12,18% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong thời gian qua, tình trạng vi phạm trong hoạt động kinh doanh trên địa bàn vẫn còn xảy ra, chủ yếu tập trung ở các mặt hàng như thời trang, mỹ phẩm và thực phẩm. Các hành vi vi phạm phổ biến gồm kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ. Trước thực tế đó, lực lượng chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đặc biệt đối với một số sản phẩm có dấu hiệu vi phạm như thực phẩm chức năng mang nhãn hiệu “DOPPELHERZ” và thuốc Clorocid TW3. Đồng thời, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, nhất là trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán; chú trọng rà soát, xử lý các sản phẩm mỹ phẩm vi phạm, tăng cường quản lý trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng. Kết quả, từ ngày 05/02 đến 14/3/2026, lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm tra 299 vụ, phát hiện 290 vụ vi phạm và xử lý 287 vụ; hiện còn 03 vụ đang tiếp tục xử lý. Tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính đạt 2.488,63 triệu đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy ước tính 854,55 triệu đồng. Qua đó cho thấy công tác quản lý thị trường được triển khai quyết liệt, góp phần ổn định môi trường kinh doanh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. 2. Giá cả 2.1. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 giảm 0,39% so với tháng trước, tăng 0,01% so với tháng 12/2025 và so với cùng kỳ năm trước tăng 4,26%. Tính chung quý I năm 2026, CPI tăng 4,36% so với cùng kỳ năm trước. - Nguyên nhân tăng CPI bình quân quý I năm 2026: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,82% làm CPI chung tăng 1,15 điểm phần trăm, trong đó tăng do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo quý I/2026 tăng 1,50% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 6,78% làm CPI chung tăng 1,64 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng mạnh 10,72%; giá thịt gia cầm tăng 7,15%, so cùng kỳ tăng do thiếu hụt nguồn cung trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết; Chỉ số giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 5,75%, do giá lương thực thực phẩm đang mức tăng cao so cùng kỳ, giá gas, giá thuê mặt bằng và nhân công tăng; Chỉ số giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,79% do giá xi măng, cát, đá tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào và giá nhà thuê tăng, làm CPI chung tăng 0,86 điểm phần trăm; Chỉ số giá dầu hỏa tăng 12,33% do điều chỉnh giá dầu trong nước tăng theo biến động giá thế giới; Chỉ số giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng 3,59%; hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,46% và các thiết bị đồ dùng gia đình tăng 3,40%, do nhu cầu tiêu dùng cao trong dịp Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán sản phẩm; Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 1,52% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó giá tăng chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu tăng 0,58%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước; giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 16,57% do giá xăng dầu đang mức tăng cao nên các công ty vận tải hành khách tăng giá vé so cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 7,17%, làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Nguyên nhân giảm CPI bình quân quý I năm 2026: Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,21%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian. Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, bình quân quý I/2026 giá gas giảm 5,55% so với cùng kỳ năm trước. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất Trong Quý I năm 2026, giá nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu phục vụ sản xuất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có xu hướng tăng nhẹ, phù hợp với diễn biến chung của cả nước trong bối cảnh mặt bằng giá đầu vào vẫn duy trì ở mức cao. Sự gia tăng này chịu tác động từ nhiều yếu tố như biến động giá năng lượng, chi phí vận chuyển và nhu cầu sản xuất, đầu tư phục hồi. Biến động giá đầu vào đã ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, làm tăng giá thành sản phẩm và tạo áp lực nhất định lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tính chung trong quý, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 6,72% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh áp lực chi phí vẫn còn hiện hữu. Xét theo nhóm hàng, cả 7 nhóm sản phẩm chính đều ghi nhận mức tăng giá so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 18,34%, nhóm nông, lâm, thủy sản tăng 6,73%, dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,84%, điện, khí đốt và điều hòa không khí tăng 4,79%, nguyên vật liệu khác tăng 4,5%, sản phẩm xây dựng tăng 3,87% và nước tự nhiên khai thác tăng 0,9%. Diễn biến này cho thấy áp lực chi phí đầu vào lan tỏa trên nhiều lĩnh vực sản xuất, không chỉ tập trung ở một số ngành riêng lẻ. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý I năm 2026 tăng 1,93% so với quý trước và tăng 5,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 5,06% so với quý trước, tăng 17,44% so cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,52% so với quý trước, tăng 4,87% so cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,2% so với quý trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước (nguyên nhân chủ yếu là do các nhà máy thủy điện áp dụng giá điện mùa khô, cùng với sản lượng phát điện vượt giá hợp đồng tại một số nhà máy, kéo theo chỉ số giá nhóm thủy điện tăng. Đồng thời, chi phí đầu vào như than, dầu, điện và chi phí bảo trì ở mức cao cũng làm tăng giá nhiệt điện và các dịch vụ liên quan); chỉ số giá sản phẩm nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,32% so với quý trước, tăng 0,78% so cùng kỳ năm trước, giá nhiên liệu và chi phí vận hành tăng nên một số công ty điều chỉnh tăng giá dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu phù hợp với tình hình thực tế.. Nhìn chung, diễn biến giá trong quý cho thấy áp lực chi phí sản xuất vẫn còn, đòi hỏi các doanh nghiệp cần chủ động thích ứng, tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động trong bối cảnh giá đầu vào còn nhiều biến động. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều sự kiện văn hóa, thể thao phục vụ Nhân dân và du khách, như: Giải xe đạp nữ quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh - Cúp BIWASE, Giải Việt Nam Festival 3 môn thể thao địa hình lần thứ 4, Lễ hội các môn thể thao địa hình phối hợp Di Linh năm 2026 “Di Linh Outdoor Festival 2026”, Giải chạy địa hình Dalat Ultra Trail 2026... Các cơ sở kinh doanh ăn uống, vui chơi giải trí duy trì hoạt động ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của người dân và du khách. Tính chung quý I năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, lượng khách đến địa phương trong các dịp lễ, tết tăng khá. Địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động đón và quảng bá hình ảnh du lịch, như chào đón những du khách đầu tiên đến bằng đường hàng không trong dịp năm mới, tặng quà đặc sản địa phương tại sân bay Liên Khương,…; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch Lâm Đồng thân thiện, hấp dẫn. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.865,1 ngàn lượt, giảm 9% so tháng trước và tăng 22,23% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 65,5 ngàn lượt, giảm 11% so với tháng trước và tăng 18,87% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.536 ngàn ngày khách, giảm 8,99% so với tháng trước và tăng 23,76% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 160 ngàn lượt khách, giảm 5,21% so với tháng trước và tăng 18,57% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 517,5 ngàn ngày khách, giảm 6,39% so với tháng trước và tăng 22,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 5.910,4 ngàn lượt, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 217,8 ngàn lượt, tăng 18,51% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 11.231,4 ngàn ngày khách, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế quý I năm 2026 đạt 508,3 ngàn lượt, tăng 23,49% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 1.615,6 ngàn ngày khách, tăng 26,1% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 570,2 tỷ đồng, giảm 8,32% so với tháng trước và tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.209,3 tỷ đồng, giảm 9,05% so với tháng trước và tăng 12,39% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 45,4 tỷ đồng, giảm 9,38% so với tháng trước và tăng 26,82% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.886,8 tỷ đồng, tăng 20,77% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 6.980,5 tỷ đồng, tăng 17,25% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 145,8 tỷ đồng, tăng 29,6% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.083,3 tỷ đồng, giảm 7,3% so với tháng trước và tăng 26,86% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 16.070,4 tỷ đồng, tăng 24,84% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.906,8 tỷ đồng, tăng 0,75% so với tháng trước và tăng 16,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 717,7 tỷ đồng, tăng 2,34% so với tháng trước và tăng 17,57% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 169,4 tỷ đồng, tăng 0,29% so với tháng trước và tăng 16,68% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 140,1 tỷ đồng, tăng 0,01% so với tháng trước và tăng 22% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 242,7 tỷ đồng, tăng 1,10% so với tháng trước và tăng 19,97% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.332,9 tỷ đồng, tăng 0,02% so với tháng trước và tăng 14,59% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 304 tỷ đồng, tăng 0,61% so với tháng trước và tăng 13,12% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 8.614,2 tỷ đồng, tăng 12,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.171,1 tỷ đồng, tăng 9,45% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 506,1 tỷ đồng, tăng 13,97% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 430,3 tỷ đồng, tăng 15,83% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 720,3 tỷ đồng, tăng 16,03% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 3.902,5 tỷ đồng, tăng 13,33% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác đạt 883,9 tỷ đồng, tăng 8,36% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông ước đạt 179 tỷ đồng, tăng 0,94% so với quý trước và tăng 10,44% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 635,3 tỷ đồng, tăng 0,26% so với quý trước và tăng 14,26% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong Quý I năm 2026, hoạt động vận tải và kho bãi trên địa bàn tỉnh duy trì mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên có sự giảm nhẹ vào thời điểm sau Tết Nguyên đán. Nguyên nhân chủ yếu do lượng khách du lịch giảm sau kỳ nghỉ lễ, kéo theo nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa phục vụ du lịch không còn sôi động như giai đoạn trước Tết. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.833,8 nghìn HK, giảm 3,19% so với tháng trước và tăng 22,13% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 409.716,4 nghìn HK.Km, giảm 2,74% so với tháng trước và tăng 23,28% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 8.516,6 nghìn HK, tăng 20,74% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.228.677,7 nghìn HK.Km, tăng 21,62% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.057,3 nghìn tấn, giảm 3,59% so với tháng trước và tăng 20,92% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 303.193,3 nghìn tấn.Km, giảm 3,30% so với tháng trước và tăng 21,67% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 6.185,0 nghìn tấn, tăng 18,62% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 910.160,3 nghìn tấn.Km, tăng 19,17% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.184,1 tỷ đồng, giảm 1,53% so với tháng trước và tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 ước đạt 3.488,7 tỷ đồng, tăng 21,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.189,8 tỷ đồng, tăng 26,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.706,5 tỷ đồng, tăng 23,25% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 455,2 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 137,2 tỷ đồng, tăng 3,86% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Quý I năm 2026 ước đạt 585 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 509,4 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 75,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.906 tỷ đồng, tăng 33,74% so với tháng trước và tăng 7,96% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 ước đạt 11.070,7 tỷ đồng, bằng 32,15% kế hoạch năm và tăng 26,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 10.518,3 tỷ đồng, bằng 30,82% kế hoạch năm và tăng 24,45%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 552,3 tỷ đồng, bằng 31,38% kế hoạch năm và tăng 73,24% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa quý I năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 1.689 tỷ đồng (bằng 44,41% kế hoạch năm và tăng 30,49% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 784 tỷ đồng (bằng 56,80% kế hoạch năm và tăng 62,39%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 2.851 tỷ đồng (bằng 42,63% kế hoạch năm và tăng 63,30%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 905 tỷ đồng (bằng 33,16% kế hoạch năm và tăng 10,04%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 1.017 tỷ đồng (bằng 13,79% kế hoạch năm và tăng 2,02%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 2.183 tỷ đồng (bằng 37,64% kế hoạch năm và tăng 7,70%). 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh quý I năm 2026 ước thực hiện 13.233 tỷ đồng (bằng 29,75% kế hoạch, tăng 15,75% so với cùng kỳ), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 6.213 tỷ đồng, tăng 37,75% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 7.020 tỷ đồng, tăng 1,42% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: đến 28/02/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 233.566 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 4.291 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,87%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 230.499 tỷ đồng (chiếm 98,69% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 3.067 tỷ đồng, (chiếm 1,31% tổng huy động vốn). Ước 31/3/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 236.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 6.725 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,0%. Hoạt động tín dụng: đến 28/02/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 371.093 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 110 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,03%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 368.832 tỷ đồng (chiếm 99,39% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.261 tỷ đồng (chiếm 0,61% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 263.534 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 107.559 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/3/2026, dư nợ cho vay đạt 374.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,0%. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng bình quân trong tỉnh ở mức 0,16% - 0,32%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; ở mức 3,41% - 4,69%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; ở mức 5,69% - 7,12%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; ở mức 5,9% - 6,23%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh NHTM ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Đối với lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay bằng VND bình quân vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn 7,84%/năm, trung dài hạn 9,40%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,02% - 4,15%/năm. Dư nợ cho vay các lĩnh vực: đến 28/02/2026, dư nợ cho vay ngành dịch vụ, du lịch, thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 186.999 tỷ đồng, chiếm 50,39% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32727 tỷ đồng, chiếm 8,82% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm thủy sản đạt 151367 tỷ đồng, chiếm 40,79% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.862 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,80% trong tổng dư nợ tín dụng. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thiết kế, in ấn và thi công các biểu tượng trang trí, pano, băng rôn, hình ảnh, cờ hồng,... phục vụ công tác tuyên truyền bầu cử Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, phát động Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng, Cuộc thi thiết kế cổng chào bằng hoa tươi tại chân đèo Prenn và tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị của địa phương, góp phần lan tỏa giá trị văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần của người dân. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tập trung tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương: Tổ chức 10 buổi biểu diễn văn nghệ phục vụ cơ sở tuyên truyền chào mừng Đại hội đại biểu Đảng các cấp tại một số xã trên địa bàn tỉnh; thực hiện 49 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị và phát sinh (trong đó biểu diễn phục vụ cơ sở là 38 buổi); thực hiện 202 buổi chiếu phim lưu động thu hút trên 50.000 lượt người xem và duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né). Ngoài ra trong quý I năm 2026, tỉnh đã tổ chức thành công các hoạt động mừng Đảng - mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026; chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhiệm kỳ 2025 - 2030; chương trình nghệ thuật phục vụ gặp mặt kiều bào; chương trình văn nghệ mừng Đảng - mừng xuân Bính Ngọ 2026 tại 03 khu vực; biểu diễn chương trình nghệ thuật phục vụ Nhân dân và du khách từ mùng 01 Tết đến mùng 03 Tết; chiếu phim, chương trình văn nghệ chủ đề “Mùa Xuân Hy Vọng” phục vụ cán bộ, chiến sĩ và phạm nhân tại Trại giam Đại Bình nhân dịp Xuân Bính Ngọ năm 2026; tổ chức Hội Tết Bính Ngọ; Hội Báo xuân Bính Ngọ (trưng bày sách, báo tạp chí, ấn phẩm xuân với 3.605 bản sách; xếp 11 mô hình sách nghệ thuật…); triển lãm chào mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 với chủ đề “Sắc xuân đại ngàn”; “Sắc xuân Đà Lạt”; “Cổ vật và sắc xuân”; “Lâm Đồng vào xuân”; “Vùng đất và con người Lâm Đồng” và các hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026),… phục vụ người dân và du khách. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 75.286 lượt khách, trong đó có 8.923 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 22.066 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 13.362 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 3.273 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 35.020 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 1.565 lượt khách). Tổ chức sưu tầm 55 hiện vật, hình ảnh, tư liệu; xây dựng hồ sơ hiện vật Linga - Yoni và Linga thạch anh để UBND tỉnh trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, đề nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 324 đoàn với 12.859 lượt khách, trong đó có 131 khách nước ngoài. Phục vụ 28 lễ viếng, 01 kết nạp Đoàn và 02 sinh hoạt chuyên đề. Trưng bày triển lãm 130 ảnh chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh với những chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng với tên gọi “Dục Thanh nhớ Bác”; trưng bày ảnh nghệ thuật, ảnh tư liệu “Sắc xuân Lâm Đồng” và “Xuân về dưới mái Trường Dục Thanh” tại khu di tích Dục Thanh; tiếp nhận 02 tượng đồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hưng đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn; phối hợp với Báo và Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng thực hiện phóng sự “Triển lãm ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích Dục Thanh”, Báo Lâm Đồng điện tử thực hiện phóng sự “Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận - Lâm Đồng” thu hút hơn 134.000 lượt khách hưởng thụ văn hóa. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 4.664 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Sưu tầm được 04 hiện vật là ảnh tư liệu liên quan hoạt động cách mạng của cán bộ, chiến sĩ cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 435 thẻ (128 thẻ thiếu nhi); phục vụ 615.905 lượt bạn đọc; luân chuyển 82.004 lượt tài liệu; bổ sung 2.091 cuốn sách; đăng tải 339 bài viết về hoạt động Thư viện trên Fanpage; giới thiệu 364 đầu sách trên mạng xã hội; giới thiệu 10 video clip; cập nhật 420 tin bài lên trang website của Thư viện và sưu tầm 243 tin bài về Lâm Đồng. 1.2. Hoạt động thể thao Tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” với phương châm đưa thể dục thể thao về cơ sở nhằm duy trì và phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng. - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Lễ phát động Tháng hoạt động TDTT cho mọi người và Ngày chạy Olympic vì sức khoẻ toàn dân năm 2026; Giải chạy bộ “Vietnam Highlands Trail - Lâm Đồng”; Giải chạy Chinh phục thử thách lần thứ 3 “Prenn Trail Summit”; Giải đua thuyền truyền thống Phan Thiết mở rộng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; Giải Võ thuật Cổ truyền tỉnh Lâm Đồng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; môn Việt dã - Leo núi Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026 - Giải Leo núi Tà Cú tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; Giải Pickleball tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; lễ hội các môn thể thao địa hình phối hợp Di Linh năm 2026 “DI LINH OUT DOOR FESTIVAL 2026”; Giải Việt Nam FesTrival 3 môn phối hợp Lâm Đồng năm 2026; Giải Siêu Marathon Đà Lạt ULtra Trail 2026. - Thể thao thành tích cao: Đã ban hành Quyết định cử đoàn vận động viên tham gia 07 giải thể thao quốc gia theo kế hoạch. Thành tích đạt được tính đến thời điểm báo cáo (12/3/2026) là 22 huy chương (05 HCV, 05 HCB, 12 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2025-2026. Công tác chuyên môn, nghiệp vụ được triển khai toàn diện ở tất cả các cấp học; chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục. Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 1.593 cơ sở giáo dục với 24.494 lớp và 818.588 học sinh, gồm: 526 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó: 400 công lập và 126 ngoài công lập) với 5.707 lớp và 151.943 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó: 558 công lập và 06 ngoài công lập) với 10.210 lớp và 321.257 học sinh; 365 trường trung học cơ sở (trong đó: 363 công lập và 02 ngoài công lập) với 6.016 lớp và 240.603 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (trong đó: 114 công lập và 08 ngoài công lập; trong tổng số có 02 trường phổ thông dân tộc nội trú, 09 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông, 11 trường trung học cơ sở - trung học phổ thông và 100 trường trung học phổ thông) với 2.561 lớp và 104.785 học sinh; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó: 02 công lập và 01 ngoài công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ - Tin học; 11 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập với 7.529 học viên. Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên toàn tỉnh là 50.702 người. Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Toàn tỉnh có 78 cơ sở GDNN, gồm: 06 trường cao đẳng (trong đó: 04 trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý, 02 trường thuộc bộ, ngành quản lý); 05 trường trung cấp (trong đó: 01 trường trung cấp công lập và 04 trường trung cấp tư thục); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập, 16 tư thục); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. Kết quả kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026: Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hàng năm nhằm phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, nâng cao chất lượng dạy và học. Kết quả, toàn tỉnh giành 104 giải, gồm: 01 giải nhất, 11 giải nhì, 29 giải ba và 63 giải khuyến khích. 3. Y tế Trong tháng tập trung công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý ngay khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 199 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 250 ca so với tháng trước và giảm 48 ca so với cùng kỳ năm trước; không có trường hợp tử vong. Quý I năm 2026, toàn tỉnh có 1.274 ca mắc. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 19 ổ dịch, quý I đã phát hiện xử lý 66 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 01 ca mắc; quý I năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 225 ca mắc, giảm 111 ca so với tháng trước và tăng 197 ca so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, toàn tỉnh ước có 878 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 14 ca mắc, tăng 07 ca so với tháng trước và giảm 756 ca so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, toàn tỉnh ước có 27 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, đã tiêm chủng đầy đủ cho 2.128 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 2.796 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 2.194 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 2.262 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 2.104 trẻ, mũi 2 cho 1.808 trẻ và mũi 3 cho 2.109 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 1.999 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 441 bệnh nhân, đang điều trị 01 bệnh nhân; đang giám sát 11 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 434 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 4 người.- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 122 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 3 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03 BN/100.000 dân; BN lao kháng thuốc trong tháng là 06 người.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 04 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 01 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.799 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.784 người, tử vong 1.569 người.- Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 318.612 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 29.747 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 154.801 ngày, xét nghiệm cho 400.330 tiêu bản, chẩn đoán 90.484 hình ảnh và phẫu thuật 3.636 trường hợp. Quý I năm 2026 ước khám bệnh cho 1.205.709 lượt người; 95.777 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 577.418 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,2 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 68%; ước xét nghiệm cho 1.683.550 tiêu bản; chẩn đoán 339.649 hình ảnh và phẫu thuật cho 12.295 trường hợp.- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 3.638 cơ sở, kết quả có 31 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 209,15 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và các ngày lễ, sự kiện chính trị quan trọng. Công tác thông tin, tuyên truyền về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được triển khai kịp thời trên báo chí và hệ thống thông tin cơ sở. Kịp thời cung cấp, theo dõi và tổng hợp thông tin báo chí, dư luận xã hội về tỉnh Lâm Đồng; thực hiện điểm báo, báo cáo định kỳ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh.- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách mới, sự kiện quan trọng và quảng bá hình ảnh tỉnh Lâm Đồng được tăng cường với nhiều hình thức; đã xây dựng Kế hoạch thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 04 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được cải thiện, các chương trình mục tiêu quốc gia, các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh đã quan tâm, tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ gạo,... cho hộ nghèo, gia đình chính sách và người có uy tín với số tiền hơn 300 tỷ đồng, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao trong vùng đồng bào DTTS phát triển sâu rộng, phong phú với các lễ hội truyền thống như: Lễ hội Lồng tồng, Lễ hội mừng lúa mới (tết đầu lúa), giữ gìn văn hóa cồng chiêng, duy trì tổ chức các trò chơi truyền thống; qua đó góp phần tạo không khí vui tươi, nâng cao tinh thần đoàn kết và duy trì bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS. Trong dịp Tết Bính Ngọ 2026, một số xã vùng DTTS và biên giới như Nâm Nung, Đắk Mil, Quảng Trực, Quảng Hòa, Đạ Tẻh, Cát Tiên 3, Đam Rông 4,... tổ chức bắn pháo hoa tầm thấp vào thời khắc giao thừa và các chương trình văn nghệ “Mừng Đảng - Mừng Xuân”, thu hút đông đảo người dân tham gia, hưởng thụ. - Mạng lưới trường lớp vùng đồng bào DTTS ngày càng hoàn thiện. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú duy trì sĩ số học sinh ổn định. Các chính sách miễn, giảm học phí; hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở nội trú, bán trú,… được thực hiện theo đúng chế độ quy định. Việc dạy tiếng Chăm, Ê đê, M’nông, K’ho trong nhà trường tiếp tục được triển khai, qua đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. - Hệ thống Y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Tiếp tục thực hiện chủ trương nâng cao tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ, hướng tới mục tiêu giúp đồng bào DTTS tiếp cận dịch vụ y tế hiện đại và chăm sóc sức khỏe toàn diện; công tác đào tạo nhân lực y tế là người DTTS được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng công tác y tế vùng đồng bào DTTS. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, hệ thống y tế cơ sở tại 100% các xã vùng DTTS đảm bảo trực và chăm sóc sức khỏe người dân. - Công tác phục vụ người dân vùng đồng bào DTTS trong dịp Tết Đầu lúa và Tết Nguyên đán 2026 được quan tâm triển khai, đã dự trữ đầy đủ các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu và hoàn thành việc cung ứng hàng hóa xuống hệ thống các cửa hàng, đại lý trực thuộc trước Tết Đầu lúa và Tết Nguyên đán, bảo đảm nguồn cung ổn định, kịp thời phục vụ nhu cầu mua sắm của ngưởi dân. Tại các điểm bán hàng, giá cả được niêm yết công khai, hàng hóa bảo đảm rõ nguồn gốc, xuất xứ; các mặt hàng tham gia chương trình bình ổn giá được thông báo công khai, góp phần ổn định thị trường, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh tổ chức Đại giới đàn Chơn Thành tại Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Thiện, xã Tân Lập; tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác phật sự năm 2025; đăng ký bổ nhiệm Trụ trì 08 cơ sở Phật giáo; đề nghị thành lập 12 Ban Quản trị các cơ sở tự viện trong tỉnh; Thiền viện Linh Ẩn, xã Nam Ban - Lâm Hà tổ chức lễ Cầu quốc thái dân an thu hút khoảng 1.000 tăng ni, phật tử (trong đó có 04 tu sỹ người Nepal, Ấn Độ) tham dự. Cộng đoàn Don Bosco Đà Lạt tổ chức Hội chợ mừng năm mới 2026 cho hơn 1.700 em thiếu nhi thuộc các Giáo hạt: Đà Lạt, Đơn Dương và Đức Trọng tham dự; Giám mục Giáo phận Đà Lạt chủ trì Thánh lễ tạ ơn, khánh thành Quần thể mục vụ Giáo xứ Ka La, xã Bảo Thuận với khoảng 3.000 linh mục, tu sĩ, giáo dân tham dự; Giáo xứ Chính Toà, phường Xuân Hương - Đà Lạt tổ chức Thánh lễ Tạ ơn Tất Niên năm 2025, họp mặt mừng Xuân Bính Ngọ 2026 và phát 280 phần quà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn; Nữ Đan viện Xitô Thánh Mẫu Phước Hải tổ chức Thánh lễ Tạ ơn Thiết lập Nữ Đan viện Xitô Thánh Mẫu Phước Thanh, xã Bảo Lâm 1 với khoảng 500 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân tham dự. Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh tổ chức lễ công bố quyết định thành lập Chi hội và bổ nhiệm quản nhiệm Chi hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam) Hang Hớt, xã Nam Ban Lâm Hà với khoảng 1.000 người là chức sắc, tín đồ tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Công tác chăm lo Tết và thực hiện chính sách an sinh xã hội cho các đối tượng là người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí và đối tượng yếu thế được quan tâm thực hiện. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã chi 114.302,982 triệu đồng thăm hỏi, động viên người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng; 37.449,6 triệu đồng hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn và 1.220 triệu đồng hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội. Trong quý I năm 2026, đã giải quyết 501 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chi trả trợ cấp hằng tháng cho đối tượng người có công với cách mạng 13.802 người với tổng kinh phí 134.183.118.738 đồng. Giải quyết chế độ mai táng phí cho 212 hồ sơ. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 28/02/2026, toàn tỉnh có 292.335 người tham gia BHXH, giảm 0,95% so với tháng trước; có 224.773 người tham gia BHTN, tăng 1,36%; số người tham gia BHYT là 2.848.381 người, tăng 2,06% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 84,08% dân số. Trong 2 tháng đầu năm 2026, đã giải quyết mới 5.853 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 934 người (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 91 người; trợ cấp 1 lần cho 1.395 người; chế độ ốm đau cho 3.328 người; chế độ thai sản cho 814 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 225 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 933 người và hỗ trợ học nghề cho 01 người). Lũy kế đến ngày 28/02/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 16.857 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 2.204 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 287 người; trợ cấp 1 lần cho 3.032 người; chế độ ốm đau cho 8.722 người; chế độ thai sản cho 2.073 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 539 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.125 người và hỗ trợ học nghề cho 79 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/02/2026 - 14/3/2026) Trong tháng xảy ra 46 vụ tai nạn giao thông, giảm 42 vụ so với tháng trước và giảm 12 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 38 người, giảm 07 người so với tháng trước và tăng 08 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 22 người, giảm 45 người so với tháng trước và giảm 24 người so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 196 vụ (trong đó có 2 vụ đường sắt), giảm 24 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 117 người, tăng 20 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 134 người, giảm 38 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 26/02 đến ngày 28/3/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ mưa lốc, giông tại xã Đạ Tẻh 2 làm 01 căn nhà tốc mái. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 02 vụ thiên tai, làm sạt lở 375 m chiều dài bờ biển tại xã Tân Thành và 01 căn nhà bị tốc mái; chưa thống kê giá trị thiệt hại. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 15/02 đến ngày 15/3/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 05 vụ cháy (tăng 02 vụ so với tháng trước và tăng 02 vụ so với cùng kỳ năm trước), làm bị thương 02 người, ước thiệt hại 988 triệu đồng. Quý I năm 2026 (tính đến 15/3/2026), toàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy (tăng 08 vụ so với cùng kỳ năm trước), làm bị thương 02 người; ước tổng giá trị thiệt hại 1.028 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 02 vụ, giảm 7 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 350 triệu đồng. * Đánh giá chung Trong tháng 3 và quý I năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng nhìn chung tiếp tục duy trì xu hướng ổn định và tăng trưởng khá trong bối cảnh tình hình thế giới còn nhiều yếu tố biến động, giá cả một số yếu tố đầu vào sản xuất ở mức cao, tác động nhất định đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trên địa bàn tỉnh, nhiều ngành, lĩnh vực chủ yếu tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. GRDP quý I ước tăng 7,47% so với cùng kỳ năm trước; cả ba khu vực kinh tế đều duy trì đà tăng, trong đó khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực tăng trưởng nổi bật. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò nền tảng ổn định của nền kinh tế. Sản xuất nông nghiệp được triển khai đúng thời vụ, tổng diện tích gieo trồng vụ Đông xuân đạt 108.931 ha, tăng 3,14% so với cùng kỳ; chăn nuôi và thủy sản duy trì phát triển ổn định; sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tiếp tục được mở rộng với 107.456 ha. Khu vực công nghiệp, xây dựng và đầu tư tiếp tục duy trì xu hướng tăng khá. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I tăng 8,20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao. Vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn ước tăng 11,27%, cho thấy hoạt động đầu tư, xây dựng và mở rộng năng lực sản xuất tiếp tục được duy trì. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch tăng khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 12,73%, lượng khách du lịch tăng 20,30% so với cùng kỳ, hoạt động vận tải đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa, cho thấy sức mua, nhu cầu tiêu dùng và các hoạt động lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí phục hồi tích cực. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 26,22%. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện; công tác y tế, giáo dục, an sinh xã hội, chăm lo người có công, hộ nghèo và các đối tượng yếu thế được triển khai tương đối đầy đủ, kịp thời. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, một số khó khăn, hạn chế vẫn còn cần lưu ý. Chi phí đầu vào sản xuất còn ở mức cao, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và người sản xuất; mặc dù CPI tháng 3/2026 giảm 0,39% so với tháng trước, nhưng nhóm giao thông tăng 12,51%; trong đó giá nhiên liệu tăng 29,49%, giá xăng tăng 31,06%, giá dầu diezen tăng 57,71% và giá dầu hỏa tăng 63,25% gây áp lực chi phí vận tải, logistics, ảnh hưởng đến sản xuất và lưu thông hàng hóa. Dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi tuy cơ bản được kiểm soát nhưng vẫn còn phát sinh cục bộ; tăng trưởng công nghiệp chưa thật sự đồng đều giữa các ngành; công tác quản lý, bảo vệ rừng vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ vi phạm. Đây là những yếu tố cần tiếp tục theo dõi sát và có giải pháp phù hợp nhằm củng cố tính ổn định, bền vững của tăng trưởng trong thời gian tới.TKT Lâm Đồng

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và 02 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   03/03/2026 13:19

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng và hai tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì phát triển ổn định. Các địa phương trên địa bàn tỉnh tích cực xuống giống từ những tháng đầu năm, chủ yếu là lúa, rau màu, cây ngắn ngày, đảm bảo đúng tiến độ thời vụ. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát hiệu quả, không có dịch bệnh nghiêm trọng xảy ra. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào khâu chăm sóc rừng, ươm cây giống. Khai thác thuỷ sản giữ ổn định. Hầu hết các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng, giá bán giữ ổn định trong dịp Tết Nguyên đán 2026. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Vụ Đông xuân năm 2026 được triển khai đúng lịch thời vụ; diện tích gieo trồng tăng so với vụ Đông xuân năm trước. Cơ cấu cây trồng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng diện tích cây có giá trị kinh tế cao như rau, hoa. Tiến độ gieo trồng vụ Đông xuân năm 2026 (tính đến ngày 15/02/2026), tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 100.942,7 ha, tăng 2,94% so với vụ Đông xuân năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 52.524,7 ha, tăng 2,39% so với cùng kỳ năm trước; cây ngô, diện tích ước đạt 5.607 ha, tăng 2,67%; rau các loại, diện tích ước đạt 31.280,8 ha, tăng 3,81%; hoa các loại, diện tích ước đạt 4.362,7 ha, tăng 3,47%; đậu các loại, diện tích ước đạt 1.749,1 ha, tăng 3,55%; cây hàng năm còn lại, diện tích ước đạt 2.711 ha, tăng 3,53%. Diện tích rau, hoa tăng chủ yếu do nông dân tập trung xuống giống phục vụ nhu cầu Tết Nguyên đán của người dân. Các loại rau phục vụ Tết tập trung vào các nhóm rau truyền thống như: Rau ăn lá, rau ăn củ, rau ăn quả, đồng thời mở rộng các dòng rau cao cấp có giá trị kinh tế cao; nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi trong giai đoạn gần Tết, sản xuất rau sinh trưởng ổn định, bảo đảm sản lượng và chất lượng phục vụ kịp thời thị trường Tết.1.2. Cây lâu nămTrong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm; thị trường tiêu thụ, giá bán một số loại cây chủ lực của tỉnh nhìn chung có lợi cho người sản xuất. Cụ thể một số loại cây chính như sau:- Cây chè: Diện tích hiện có 9.310 ha, giảm 1,22% so với cùng kỳ năm trước; diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...;- Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.745 ha, tăng 1,06% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tưới, tỉa cành, làm cỏ,...;- Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.230 ha, tăng 4,10% so với cùng kỳ năm trước. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích;- Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.239 ha, tăng 4,23% so với cùng kỳ năm trước; nhờ hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác nên người dân đang tích cực đầu tư, tăng năng suất. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhất là nhu cầu từ Trung Quốc, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh;- Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.850 ha, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích giảm so với cùng kỳ do một số vùng bị thiệt hại do lũ vừa qua và một số vườn thanh long già cỗi, người trồng thanh long không tiếp tục đầu tư và chuyển sang canh tác các loại cây trồng khác;- Cây cao su: Diện tích hiện có 75.340 ha, tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Trong những tháng đầu năm 2026, tỉnh đã triển khai đồng bộ, bảo đảm nguồn nước phục vụ kịp thời nhu cầu sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Các địa phương chủ động kiểm tra, duy tu, nạo vét hệ thống kênh mương, hồ đập; xây dựng kế hoạch điều tiết nước hợp lý, đáp ứng yêu cầu tưới tiêu cho sản xuất vụ Đông xuân năm 2026. Công tác phòng, chống hạn hán, thiếu nước được tăng cường thông qua việc theo dõi sát diễn biến thời tiết, tích trữ nguồn nước và áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm. Đồng thời, việc kiểm tra an toàn công trình thủy lợi, đặc biệt là các hồ chứa và đập dâng, được thực hiện thường xuyên nhằm hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn sản xuất và đời sống nhân dân. Nhìn chung, hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định tình hình nông nghiệp trong những tháng đầu năm. Tổng dung tích tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh khoảng 676,4 triệu m3, đạt trung bình khoảng 78,7% so với dung tích thiết kế. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 267 ha; Bệnh đạo ôn lá gây hại 208 ha; chuột gây hại 160 ha; rầy nâu gây hại 69 ha; - Cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus gây hại rải rác ở tất cả các vùng trồng cà chua với diện tích gây hại 64 ha; sâu đục lá cà chua Nam Mỹ gây hại 1,5 ha tại xã Hiệp Thạnh; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 320,4 ha tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.164,3 ha tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, Đắk Song, Thuận An, Đắk Mil, Đắk Sắk, Đức An, Thuận Hạnh, Đức Lập, phường Đông Gia Nghĩa, phường Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại chủ yếu ở xã Bảo Lâm và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác với diện tích nhiễm bệnh 1.660 ha; Bọ xít muỗi gây hại 2.006,2 ha cà phê chè tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.019,7 ha và bệnh thán thư gây hại 2.828 ha tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1, Đam Rông 2, Đam Rông 3, Đam Rông 4, Tánh Linh, Suối Kiết, Tân Minh, Nam Thành; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha, bệnh thối rễ tóp cành gây hại 287 ha, ốc sên gây hại 321 ha tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Tân Thành, Tiến Thành, Tân Lập, Tân Hải, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Liên Hương.1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ caoĐến nay, toàn tỉnh có 107.306 ha diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao; có 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa); diện tích ứng dụng nông nghiệp thông minh đạt khoảng 1.200 ha; có 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật được công nhận (Công ty TNHH Dalat Hasfarm; Công ty TNHH Hoa Mặt Trời; Công ty TNHH Trang trại Langbiang; Công ty TNHH SX-TM-NS Phong Thúy; Công ty TNHH Quang Nguyên Đà Lạt; Công ty CP cây giống Cao Nguyên; Công ty CP INNO GENETICS).  2. Chăn nuôiTrong tháng, tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi; công tác kiểm dịch, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện tốt nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với cùng kỳ. Nguồn cung thịt hơi, trứng và các sản phẩm chăn nuôi cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Nguyên đán, đồng thời bảo đảm cung ứng ra thị trường ngoài tỉnh, góp phần bình ổn giá cả và giữ vững ổn định thị trường. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính tháng 02/2026 đạt 28.950 tấn, tăng 7,54% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 58.229,6 tấn, tăng 8,39%.- Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27 nghìn con trâu, tăng 0,75% so với cùng kỳ; mặc dù tổng đàn trâu có xu hướng tăng nhẹ nhưng việc phát triển chăn nuôi trâu vẫn gặp nhiều khó khăn do hiệu quả kinh tế chưa cao. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,2 nghìn con bò, tăng 1,82% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 28,9 nghìn con, tăng 1,58%); quy mô đàn bò được duy trì và phát triển nhờ thị trường tiêu thụ tương đối ổn định, giá cả cơ bản thuận lợi; các cơ sở chăn nuôi chú trọng tái đàn có kiểm soát, cải thiện chất lượng con giống và đẩy mạnh áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.540 nghìn con, tăng 4,05% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.228 nghìn con, tăng 7,46%); đàn lợn tăng do có thêm đóng góp của một số doanh nghiệp và chi nhánh chính thức đi vào hoạt động; đồng thời các trang trại chăn nuôi gia công tiếp tục mở rộng sản xuất, nâng công suất chuồng trại và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong chuỗi tiêu thụ. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.420 nghìn con gia cầm, tăng 8,15% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.200 nghìn con, chiếm 72,26% trong tổng đàn gia cầm, tăng 11,29%); đàn gia cầm tăng cao do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm tăng cao trong dịp cuối năm và Tết Nguyên đán, người chăn nuôi chủ động điều chỉnh quy mô đàn để đáp ứng nhu cầu của thị trường. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, tại xã Tân Hội (xã cũ) phát sinh 01 hộ có lợn mắc bệnh, với số lợn bị tiêu hủy 05 con/94 kg. Lũy kế từ ngày 01/01/2026 đến nay, tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 1.085 con/52.022 kg và chỉ còn xã Tân Hội dịch bệnh chưa qua 21 ngày theo quy định. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện tiêu hủy, khoanh vùng xử lý bệnh DTLCP phát sinh; hướng dẫn UBND xã Phúc Thọ Lâm Hà khắc phục tồn tại và nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về phòng, chống bệnh DTLCP. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh đang vào mùa khô, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 33.801 m3, tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 67.382,1 m3, tăng 1,25%. - Sản lượng củi khai thác ước đạt 30.631,1 ste, tăng 0,79% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 61.287 ste, tăng 1,41%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/01/2026 - 10/02/2026) là 52 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 25 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 3,4 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 35 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 05 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 0,3 ha). Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/02/2026), tổng số vụ vi phạm là 120 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 42 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 5,5 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 35 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 05 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 0,3 ha). 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, tình hình nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định, thời tiết thuận lợi, không có dịch bệnh xảy ra. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 210,2 ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 467,2 ha, tăng 0,03% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 420 ha, giảm 0,4%; diện tích nuôi tôm (chủ yếu là tôm thẻ trắng) đạt 84 ha, tăng 4,24%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.360,5 tấn, tăng 3,62% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 370 tấn, tăng 2,78%); lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.665,5 tấn, tăng 2,47% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 720 tấn, tăng 1,69%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng tàu thuyền khai thác tích cực bám biển đánh bắt thủy sản nhằm phục vụ nhu cầu tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán. Những ngày đầu tháng tình hình thời tiết chưa thuận lợi, do ảnh hưởng của gió Đông Bắc; tuy nhiên nguồn lợi hải sản vẫn còn xuất hiện nhiều, đặc biệt là nguồn cá chỉ, cá cơm với mật độ dày nên tàu thuyền hoạt động đánh bắt hiệu quả cao, đều trên các tuyến. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn,... Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 15.768 tấn, tăng 5,72% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 15.768 tấn, tăng 5,72%). Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 35.127,7 tấn, tăng 3,73% (sản lượng khai thác biển đạt 35.030 tấn, tăng 3,72%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản nên sản xuất tôm giống ổn định với sản lượng ước đạt 1,98 tỷ post, tăng 2,59% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3,84 tỷ post, tăng 1,45%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp trong tháng trùng vào thời gian nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ nên các doanh nghiệp ngành khai khoáng; chế biến, chế tạo sản xuất không cao. Các ngành sản xuất, phân phối điện; cung cấp nước hoạt động ổn định. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, ngành công nghiệp tăng trưởng khá tích cực, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 8,24% so với cùng kỳ năm trước. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước giảm 16,5% so với tháng trước và tăng 1,42% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,90%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 2,0%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,98%. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 21,18%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,46%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 5,51%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,94%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong tháng Hai và 02 tháng đầu năm 2026, các sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp tăng trưởng tốt so với cùng kỳ, cụ thể một số sản phẩm chủ yếu như sau: - Sản phẩm đá xây dựng: trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 176.919 m3, chỉ bằng 57,66 % so với tháng trước và tăng 9,23% so với cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 21,16%, nguyên nhân do tháng 02/2026 các doanh nghiệp nghỉ trước và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ thời gian kéo dài. Tuy nhiên, so với tháng cùng kỳ và cộng dồn so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn vật liệu xây dựng trong điều kiện đẩy mạnh đầu tư công, các doanh nghiệp khai thác đá đã chủ động tăng sản lượng ngay từ những tháng đầu năm để phục vụ nhu cầu xây dựng tăng mạnh trong năm. - Sản phẩm thủy sản chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.174 tấn, tăng 6,51% so với tháng trước, tăng 52,08% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 57,53% do các doanh nghiệp tăng cường sản xuất và để chủ động nguồn hàng trong các tháng trong năm. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 2.478 tấn, giảm 12,13% so với tháng trước, giảm 15% so với tháng cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 2,46%, nguyên nhân do tháng này các doanh nghiệp nghỉ trước và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu và nền tảng công nghệ sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản có cơ sở vững chắc để phát triển trong thời gian tới. - Sản phẩm đồ uống: Ước trong tháng sản lượng đạt 25.018 nghìn lít, giảm 4,96% so với tháng trước nhưng tăng 7,43% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 19,84%. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên vật liệu tăng cao so với năm trước (như: Malt, gạo, đường) cũng như sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm bia trong thời gian gần đây và sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa và thế giới. Tuy nhiên, so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn hàng phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ (đặc biệt sản phẩm rượu vang trái cây đang ngày càng được ưa chuộng). - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng sản lượng ước đạt 383 nghìn đôi, chỉ bằng 58,89% so với tháng trước nhưng tăng 17,81% so với tháng cùng kỳ và lũy kế 02 tháng năm 2026 tăng 52,87%, nguyên nhân giảm so với tháng trước là do tháng 02/2026 doanh nghiệp nghỉ Tết dài ngày và so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do phục vụ nhu cầu cuối năm. - Sản phẩm phân bón: Ước trong tháng sản lượng sản xuất 6.195 tấn, giảm 6,47% so với tháng trước nhưng tăng 23,38% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 48,19%. Nguyên nhân giảm mạnh so với tháng trước một phần do nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong mùa khô có xu hướng giảm, mặt khác do Công ty TNHH chế biến khoảng sản Thân Gia đã ngừng hoạt động. Tuy nhiên, so với tháng cùng kỳ năm trước vẫn tăng mạnh do trên địa bàn có Nhà máy hóa chất Đức Giang Đăk Nông đi vào sản xuất từ quý II/2025. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 121 nghìn tấn, giảm 6,41% so với tháng trước và giảm 2,25% so với cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 giảm 0,53%. - Điiảm 0,53%. 1 Ước trong tháng sản lượng đạt 2.246,4 triệu kwh, giảm 16,28% so với tháng trước và giảm 2,0% so với cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 5,26%. - Điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 472 triệu kwh, giảm 3,59% so với tháng trước nhưng tăng 4,4% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 4,84%. Do tháng 02/2026 nghỉ Tết dài ngày nên lượng điện thương phẩm giảm so với tháng trước (chủ yếu là điện sử dụng trong các nhà máy sản xuất công nghiệp). 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 5,27% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,97%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,98%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,89%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,74%. Khối doanh nghiệp nhà nước giảm 1,93% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 8,79%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,27%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,06% so với cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,04%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,93%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,30%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,04%. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) - KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,77ha/132,62 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%. - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 55,95 ha/74,58 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,44 ha/51,44 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,09 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn 6 nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,66 ha/90,78 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,88 ha/276,93 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,35 ha/202,32 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,1 ha/210,84 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130,6 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,42 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Việc triển khai thực hiện hiệu quả vốn đầu tư công không những giúp tỉnh Lâm Đồng hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của năm, mà còn tạo động lực cho đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030. Năm 2026, tỉnh Lâm Đồng dự kiến triển khai 43 dự án mới trên nhiều lĩnh vực và là các dự án trọng điểm không chỉ đơn thuần là xây dựng hạ tầng mà còn đóng vai chiến lược để khơi thông nguồn lực, tạo đột phá cho giai đoạn mới. Trong tháng trùng vào dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ nhưng với mục tiêu thực hiện 100% kế hoạch vốn đầu tư công nhiều công trình vẫn tiếp tục được triển khai thực hiện nhằm đảm bảo đúng tiến độ. Bên cạnh đó, tỉnh cũng giao kế hoạch vốn 2026 để khởi công cho 07 dự án mới đủ điều kiện thực hiện và tiếp tục thúc đẩy tiến độ hoàn thiện trình tự, thủ tục để sớm khởi công các dự án còn lại. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 590,8 tỷ đồng, giảm 0,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 555,4 tỷ đồng, giảm 0,46% (vốn cân đối ngân sách tỉnh tháng 02/2026 ước đạt 260,95 tỷ đồng, giảm 2,46% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 78,12 tỷ đồng, giảm 50,69% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 9 tỷ đồng, giảm 31,97% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 204,4 tỷ đồng, tăng 75,1% so với cùng kỳ; vốn khác 2,96 tỷ đồng, tăng 44,94% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 35,4 tỷ đồng, giảm 3,34% so với cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.212,2 tỷ đồng, tăng 4,51% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.129,8 tỷ đồng, tăng 4,54% (vốn cân đối ngân sách tỉnh 02 tháng đầu năm ước đạt 528,41 tỷ đồng, tăng 2,49% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 161,14 tỷ đồng, giảm 46,97% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 19,19 tỷ đồng, giảm 25,92% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 414,53 tỷ đồng, tăng 79,15% so với cùng kỳ; vốn khác 6,54 tỷ đồng, tăng 61,88% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 82,4 tỷ đồng, tăng 4,11% so với cùng kỳ. Tình hình phát triển doanh nghiệp: tính đến ngày 23/02/2026, toàn tỉnh có 900 doanh nghiệp thành lập mới, gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm trước; 823 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 7,84%; 175 doanh nghiệp giải thể, gấp 2 lần; 386 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 16,62%. Tổng số vốn trong 02 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp đã đăng ký 3.242 tỷ đồng, giảm 1,84% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình thu hút đầu tư: tính đến ngày 23/02/2026, toàn tỉnh có 07 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 54.320 tỷ đồng; 07 dự án xin điều chỉnh quy mô dự án, tổng mức đầu tư, tiến độ thực hiện dự án và một số nội dung khác. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh có 2.935 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 828.274 tỷ đồng (trong đó có 236 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 224.284 tỷ đồng). III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải 1. Thương mại Trong tháng, hoạt động của các cơ sở kinh doanh trước, trong và sau Tết Nguyên đán ổn định; hàng hóa đáp ứng kịp thời nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng cho Tết Nguyên đán. Thị trường hàng hóa phục vụ dịp Tết sôi động, các mặt hàng phong phú và đa dạng. Sau Tết Nguyên đán, tình hình thương mại của tỉnh đã trở lại bình thường; các chợ, trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị đã mở cửa phục vụ sớm cho nhu cầu người dân địa phương và du khách. Hoạt động du lịch trong tháng diễn ra khá sôi động, lượng khách đến tăng cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước; các điểm du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch triển khai thực hiện tốt công tác phục vụ khách du lịch trong dịp Tết Nguyên đán. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa kịp thời; các phương tiện đường thuỷ vận tải hành khách và hàng hóa thông suốt đảm bảo hàng hóa phục vụ Tết cho người dân đảo Phú Quý. 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Trong tháng, các ngành, lĩnh vực phát triển ổn định, góp phần bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn. Công tác chuẩn bị nguồn hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân và du khách được triển khai chủ động, kịp thời, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Giá cả các mặt hàng thiết yếu cơ bản ổn định; không xảy ra tình trạng thiếu hàng, gián đoạn nguồn cung hay đầu cơ, tăng giá bất hợp lý; góp phần bảo đảm an sinh xã hội và giữ vững ổn định kinh tế - xã hội của tỉnh. Tỉnh đã triển khai các giải pháp thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp; hoạt động xúc tiến thương mại được tăng cường, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Nhờ đó, lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn cơ bản thông suốt; nguồn cung dồi dào, đa dạng, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng[1]. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.172,3 tỷ đồng, tăng 13,17% so với tháng trước và tăng 27,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.466,2 tỷ đồng, tăng 11,31% so với tháng trước và tăng 23,34% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.585,8 tỷ đồng, tăng 21,61% so với tháng trước và tăng 43,02% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.120,3 tỷ đồng, tăng 10,56% so với tháng trước và tăng 23,81% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 32.345,7 tỷ đồng, tăng 16,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 19.868,7 tỷ đồng, tăng 13,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 6.534,4 tỷ đồng, tăng 27,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 5.942,6 tỷ đồng, tăng 14,85% so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 10.466,2 tỷ đồng, tăng 11,31% so với tháng trước và tăng 23,34% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 19.868,7 tỷ đồng, tăng 13,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ như: lương thực, thực phẩm ước đạt 7.528,5 tỷ đồng, tăng 18,14% so với cùng kỳ năm trước; may mặc ước đạt 1.342,4 tỷ đồng, tăng 16,95% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 2.971,3 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.558,9 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 2.593,1 tỷ đồng, tăng 11,51% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Tình hình lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra thuận lợi, các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cơ sở kinh doanh bán lẻ hoạt động bình thường, cung ứng lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng về chủng loại, phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, không có tình trạng găm hàng, sốt giá; không có hiện tượng mất an toàn thực phẩm; các cửa hàng xăng dầu trên địa bàn tỉnh cung ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân. Từ ngày 13/01 đến ngày 13/02/2026, tổng số vụ kiểm tra là 154 vụ, số vụ vi phạm là 153 vụ, số vụ xử lý là 167 vụ (01 vụ kỳ trước chuyển sang), số vụ đang xử lý là 01 vụ (từ kỳ trước chuyển sang). Tổng số tiền xử phạt là 1.647 triệu đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy là 522,73 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng Do tháng Hai có Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao theo quy luật tiêu dùng vào dịp Tết; giá xăng dầu trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới; giá gas trong nước tăng theo giá gas thế giới; giá thịt lợn tăng do ảnh hưởng dịch bệnh nên nguồn cung ít; giá ăn uống ngoài gia đình và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng theo nhu cầu tiêu dùng là những nguyên chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng tháng 02/2026 tăng 0,61% so với tháng trước; tăng 0,40% so với tháng 12/2025 và tăng 4,52% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 02 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước. * CPI tháng Hai so với tháng trước - Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 10 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,31%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,65%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,98%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,42%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,51%; Giao thông tăng 1,36%; Thông tin và truyền thông tăng 0,11%; Giáo dục tăng 0,02%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,95%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,92%. Có 01 nhóm hàng giá ổn định: Thuốc và dịch vụ y tế 100%. - Các nguyên nhân làm tăng/giảm CPI trong tháng + Nguyên nhân tăng: Giá gas trong tháng tăng 1,37% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh tăng 5.184 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới (Giá gas thế giới bình quân tháng 02/2026 công bố ở mức 542,5 USD/tấn, tăng 20 USD/tấn so với tháng 01/2026). Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 05, 12, 20 và 26 tháng 02/2026, tính bình quân chung tháng 02/2026 chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu tăng 2,01% so với tháng trước. Nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thực phẩm, đồ uống, may mặc chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên Đán tăng cao hơn tháng trước, trong đó nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng ở mức 0,98% so tháng trước. Nhu cầu đi lại và bảo dưỡng phương tiện cuối năm tăng nên giá dịch vụ giao thông công cộng và bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng so với tháng trước. + Nguyên nhân giảm: Giá rau tươi giảm 10,12% so tháng trước, do đang vào vụ thu hoạch rau và thời tiết thuận lợi nên sản lượng rau tươi dồi dào, nhiều chủng loại. Giá nhóm lương thực giảm 0,58% so tháng trước, trong đó giảm chủ yếu các mặt hàng gạo tẻ thường và gạo tẻ ngon. Nguyên nhân, do nguồn cung thị trường nhiều và ảnh hưởng giá gạo xuất khẩu giảm do nguồn cung gạo thế giới tăng. * CPI bình quân 02 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025: tăng 4,40%. - Nguyên nhân tăng: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,99%, trong đó tăng do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo 2 tháng đầu năm 2026 tăng 1,72% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 8,63%, làm CPI chung tăng 1,95 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng mạnh 14,98% do thiếu hụt nguồn cung trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết; Chỉ số giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 6,95%, do giá lương thực, thực phẩm, giá gas, giá thuê mặt bằng và nhân công tăng. Do đó các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình có giá phụ thu trong dịp Tết tăng từ 20 - 30% so ngày thường như: Phở/bún/miến/mỳ, cơm bình dân, trà sữa, nước cam, các loại sinh tố trái cây, chè lipton…; Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,84% do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào; Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 7,16%, làm CPI chung tăng 0,48 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Nguyên nhân giảm: Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,91% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,28 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 8,98%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước; Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,19%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú, tạo không khí vui tươi, phấn khởi phục vụ Nhân dân và du khách dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Nổi bật là Chợ hoa Xuân và mua sắm Tết “Lâm Đồng đại ngàn 2026”, Hội Tết Bính Ngọ, các chương trình nghệ thuật đặc sắc mừng xuân; Giải võ thuật cổ truyền tỉnh Lâm Đồng; Giải Việt dã - leo núi Tà Cú trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh lần thứ I; vòng loại “Race to Legends” thuộc Vietnam Legends Festival 2026; Giải Lướt ván buồm quốc tế Fun Cup lần thứ 25 năm 2026. Tại Di tích tháp Pô Sah Inư, các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian Chăm được tổ chức, góp phần quảng bá giá trị truyền thống và đáp ứng nhu cầu tham quan, thưởng lãm của người dân và du khách. Song song đó, nhiều doanh nghiệp lưu trú chủ động tổ chức các chương trình đón Tết đặc sắc nhằm gia tăng trải nghiệm cho du khách. Khu nghỉ dưỡng biển Asteria Mũi Né triển khai chuỗi hoạt động mừng Tết từ ngày 14/2 đến 22/2 (27 đến mùng 6 Tết) với không gian đậm phong vị Tết cổ truyền; The Cliff Resort & Residences tổ chức Lễ hội Bánh chưng lần thứ 13 năm 2026; Radisson Phan Thiết Resort xây dựng chương trình chủ đề “Tết Xưa” diễn ra từ ngày 15-19/2 (28 đến mùng 3 Tết); TTC World - Thung lũng Tình Yêu khởi động chuỗi hoạt động “Vui xuân rộn ràng - Lộc xuân gõ cửa”. Hoạt động lữ hành được chuẩn bị chủ động với các tour đầu năm phục vụ du khách. Hệ thống nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống duy trì hoạt động ổn định, bảo đảm chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, niêm yết giá công khai và tuân thủ quy định quản lý, góp phần giữ vững hình ảnh điểm đến an toàn, thân thiện và hấp dẫn. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.965,6 nghìn lượt, tăng 18,69% so tháng trước và tăng 40,16% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 82 nghìn lượt, tăng 17,95% so với tháng trước và tăng 33,85% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.664,1 nghìn ngày khách, tăng 18,65% so với tháng trước và tăng 42,38% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 190 nghìn lượt khách, tăng 5,88% so với tháng trước và tăng 39,05% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 588,8 nghìn ngày khách, tăng 6,03% so với tháng trước và tăng 43,25% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 3.621,6 nghìn lượt, tăng 27,96% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 151,5 nghìn lượt, tăng 24,69% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 6.752,1 nghìn ngày khách, tăng 30,06% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 đạt 369,4 nghìn lượt, tăng 43,93% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 1.144,1 nghìn ngày khách, tăng 47,21% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 742,1 tỷ đồng, tăng 20,51% so với tháng trước và tăng 39,27% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.795,1 tỷ đồng, tăng 22,21% so với tháng trước và tăng 44,16% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 48,7 tỷ đồng, tăng 6,77% so với tháng trước và tăng 37,45% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.357,8 tỷ đồng, tăng 27,24% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 5.082,2 tỷ đồng, tăng 27,44% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 94,3 tỷ đồng, tăng 22,93% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.570,9 tỷ đồng, tăng 19,42% so với tháng trước và tăng 43,46% so với cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 10.236,1 tỷ đồng, tăng 30,67% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.120,3 tỷ đồng, tăng 10,56% so với tháng trước và tăng 23,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 738,6 tỷ đồng, giảm 1,81% so với tháng trước (nhu cầu mua bán và cho thuê bất động sản giảm hơn so với tháng trước do rơi vào kỳ nghỉ Tết Nguyên đán) và tăng 10,99% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 186,6 tỷ đồng, tăng 11,43% so với tháng trước và tăng 26,82% so với cùng kỳ (tăng chủ yếu ở các nhóm ngành cho thuê xe ô tô, xe máy và máy móc thiết bị thể thao...); Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 150,1 tỷ đồng, giảm 0,1% so với tháng trước và tăng 26,31% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 252,6 tỷ đồng, tăng 6,34% so với tháng trước và tăng 29,53% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.459,2 tỷ đồng, tăng 17,95% so với tháng trước (trong tháng các khu vui chơi giải trí hoạt động khá nhộn nhịp nhằm phục vụ cho người dân và du khách dịp nghỉ tết) và tăng 29,82% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 333,2 tỷ đồng, tăng 19,97% so với tháng trước (nhu cầu sửa chữa đồ dùng cá nhân và gia đình dịp trước tết tăng khá, bên cạnh đó nhu cầu làm đẹp để đón tết cũng tăng hơn) và tăng 23,5% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 5.942,6 tỷ đồng, tăng 14,85% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 1.490,7 tỷ đồng, tăng 8,56% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 354,4 tỷ đồng, tăng 18,59% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 300,3 tỷ đồng, tăng 16,96% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 490,1 tỷ đồng, tăng 17,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 2.696,2 tỷ đồng, tăng 18,24% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 610,8 tỷ đồng, tăng 11,69% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng các đơn vị kinh doanh du lịch đã tích cực phục vụ du khách trong dịp Tết Nguyên đán. Lượng khách du lịch nhất là khách nội địa đến tham quan và nghỉ dưỡng tại Lâm Đồng tăng hơn so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ (do Tết Nguyên đán năm trước diễn ra trong tháng 01). Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước tăng 12,75% so với tháng trước và tăng 30,29% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước tăng 21,79% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.078,0 nghìn HK, tăng 11,7% so với tháng trước và tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 437.365,1 nghìn HK.Km, tăng 9,98% so với tháng trước và tăng 27,65% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 5.833,6 nghìn HK, tăng 23,24% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 835.058,4 nghìn HK.Km, tăng 23,17% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.242,2 nghìn tấn, tăng 12,46% so với tháng trước và tăng 31,04% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 327.299,7 nghìn tấn.Km, tăng 11,55% so với tháng trước và tăng 30,6% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 4.236,0 nghìn tấn, tăng 20,58% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 620.710,3 nghìn tấn.Km, tăng 20,64% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.242,6 tỷ đồng tăng 12,75% so với tháng trước và tăng 30,29% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.344,6 tỷ đồng, tăng 21,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 793,9 tỷ đồng, tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.138,9 tỷ đồng, tăng 22,09% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 319,7 tỷ đồng, tăng 16,96% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 92,1 tỷ đồng, tăng 2,95% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 420 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 344,3 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 75,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 1.159 tỷ đồng, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.273,4 tỷ đồng, bằng 21,12% kế hoạch năm và tăng 20,15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 6.812,9 tỷ đồng, bằng 20,85% kế hoạch năm và tăng 16,43% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 338,2 tỷ đồng, bằng 19,21% kế hoạch năm và tăng 67,39% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa 02 tháng đầu năm 2026: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 849 tỷ đồng (bằng 22,31% kế hoạch năm và tăng 21,99% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 601 tỷ đồng (bằng 43,56% kế hoạch năm và tăng 65,94%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 2.042 tỷ đồng (bằng 30,53% kế hoạch năm và tăng 60,28%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 442 tỷ đồng (bằng 16,20% kế hoạch năm và giảm 22,36%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 669 tỷ đồng (bằng 9,07% kế hoạch năm và tăng 19,88%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 1.596 tỷ đồng (bằng 27,51% kế hoạch năm và giảm 2,06%). 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước 4.224 tỷ đồng, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước 7.224 tỷ đồng, bằng 14,81% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 560 tỷ đồng, bằng 4,24% kế hoạch năm; chi thường xuyên 5.395 tỷ đồng, bằng 17,77% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: đến 31/01/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 234.498 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 5.223 tỷ đồng[2], với tỷ lệ tăng 2,20%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 231.781 tỷ đồng (chiếm 98,84% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.717 tỷ đồng, (chiếm 1,16% tổng huy động vốn). Ước 28/02/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 236.800 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 7.525 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,28%. Hoạt động tín dụng: đến 31/01/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 371.456 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 473 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,10%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 368.861 tỷ đồng (chiếm 99,30% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.595 tỷ đồng (chiếm 0,70% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 264.875 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 106.581 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 28/02/2026, dư nợ cho vay đạt 371.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,10%. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,33% - 0,37%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 4,3% - 4,75%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 5,93% - 7,36%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 5,84% - 7,06%/năm; lãi suất huy động USD: 0%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4,00%/năm; cho vay đối với các khoản vay mới ở mức 7,37% - 9,74%/năm. Lãi suất cho vay USD đối với các khoản cho vay mới ở mức 3,97% - 4,19%/năm. Dư nợ cho vay: đến 31/01/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 188.722 tỷ đồng, chiếm 50,81% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.235 tỷ đồng, chiếm 8,68% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm nghiệp đạt 150.499 tỷ đồng, chiếm 40,51% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.675 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,80% trong tổng dư nợ tín dụng. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026); tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền cổ động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 trên các tuyến đường chính, khu vực trung tâm các xã, phường, đặc khu; tổ chức tuyên truyền công tác đảm bảo an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm; công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; phòng, chống gian lận thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng hóa kém chất lượng nhằm đảm bảo an toàn cho người dân vui Xuân đón Tết. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ mừng Đảng mừng Xuân Bính Ngọ 2026: Chương trình bắn pháo hoa nổ tầm thấp đón giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 tại 11 địa phương trên địa bàn tỉnh; chương trình nghệ thuật phục vụ gặp mặt kiều bào; chương trình biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân và du khách từ mùng 01 đến mùng 03 Tết; tổ chức chiếu phim, chương trình văn nghệ và Hội Báo xuân tại Trại giam Đại Bình; Hội chợ hoa xuân và mua sắm Tết; Hội Tết Bính Ngọ; Hội Báo xuân Bính Ngọ; triển lãm chào mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 với chủ đề “Sắc xuân đại ngàn”; “Sắc xuân Đà Lạt”; “Cổ vật và sắc xuân”; “Lâm Đồng vào xuân”; “Vùng đất và con người Lâm Đồng”; Chương trình “Xuân Chiến sĩ” lần thứ XI năm 2026; bên cạnh đó, các địa phương đã tổ chức Giải đua truyền thống tại đặc khu Phú Quý, Lễ hội Lồng Tồng tại xã Cát Tiên 2, Lễ hội cúng bến nước tại xã Quảng Khê,... Ngoài ra, đã thực hiện 21 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Đón 34.073 lượt khách, trong đó có 3.674 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 12.556 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 7.914 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 1.297 lượt; Cơ sở 1 - Đông Lâm Đồng: 11.931 lượt; Cơ sở 2 - Tây Lâm Đồng: 375 lượt). Ngoài ra, đã tổ chức thu thập tư liệu về lễ tấu chức hệ phái thầy vỗ (Muduen) - trống Baranung trong lễ hội Rija của người Chăm tại xã Bắc Bình phục vụ công tác thuyết minh, giới thiệu khách tham quan, nghiên cứu tại Trung tâm trưng bày văn hóa Chăm; đồng thời duy trì thường xuyên các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian phục vụ du khách tại Trung tâm Trưng bày văn hóa Chăm; di tích Tháp Pô Sah Inư; di tích Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt và di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận tỉnh Lâm Đồng: Tổ chức phục vụ 77 đoàn với 5.373 lượt người, trong đó có 105 khách nước ngoài. Phục vụ 08 lễ viếng và 01 buổi xem phim tư liệu. Tổ chức các hoạt động mừng Đảng - mừng Xuân Bính Ngọ và kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026). Trưng bày triển lãm 130 ảnh chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những chặng đường cách mạng với tên gọi “Dục Thanh nhớ Bác”; trưng bày ảnh nghệ thuật, ảnh tư liệu “Sắc xuân Lâm Đồng” và “Xuân về dưới mái Trường Dục Thanh” tại khu di tích Dục Thanh. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 1.050 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Thường xuyên sưu tầm tài liệu, hiện vật, các mẩu chuyện kể của cán bộ, chiến sĩ cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ phục vụ trưng bày bổ sung tại nhà Tưởng niệm - Trưng bày Khu di tích. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 149 thẻ (34 thẻ thiếu nhi); phục vụ 249.629 lượt bạn đọc; luân chuyển 34.997 lượt tài liệu; bổ sung 782 bản sách từ nguồn biếu tặng; số hóa 3.959 trang tài liệu. Trưng bày theo chuyên đề 05 đợt với 2.982 tài liệu; trưng bày, giới thiệu 133 bản sách mới; cập nhật 241 tin bài lên trang website và phát hành 02 tập Thông tin Tư liệu Lâm Đồng - Khu vực Đông Lâm Đồng với 190 tin bài. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Giải Việt dã - Leo núi, thuộc khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026 gắn với Giải Leo núi Tà Cú tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026 tại Khu du lịch Cáp treo Tà Cú, xã Hàm Thuận Nam; Giải Đua thuyền truyền thống Phan Thiết mở rộng - Mừng Xuân Bính Ngọ 2026; Giải Võ thuật Cổ truyền tỉnh Lâm Đồng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; tổ chức Đại hội Thể dục thể thao ngành Giáo dục lần thứ I năm 2026; doanh nghiệp tư nhân Trăng Tròn tổ chức Giải Lướt ván buồm lần thứ 25 - Mui Ne Fun Cup. Ngoài ra, đã thành lập đội bóng đá nữ dân tộc thiểu số tham gia thi đấu “Giải bóng đá nữ các dân tộc thiểu số lần thứ nhất - năm 2026”. - Thể thao thành tích cao: Số huy chương đạt được từ đầu năm tính đến 13/02/2026: Đạt 15 huy chương (03 HCV, 03 HCB, 09 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Tiếp tục chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục; tăng cường giáo dục thể chất, hoạt động thể thao, y tế học đường, rèn luyện đạo đức, kỹ năng sống và bảo đảm an toàn trường học. Trong tháng, đã tổ chức Chương trình trao học bổng cho học sinh-sinh viên nghèo học giỏi do Tập đoàn CJ CheilJedang tài trợ cho 100 học sinh, sinh viên với tổng giá trị 510 triệu đồng. Phối hợp với Quỹ vì Trẻ em khuyết tật Việt Nam tổ chức trao tặng học bổng cho 82 học sinh khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông cũ với tổng số tiền 205 triệu đồng, trao học bổng “Hoa Xương Rồng” năm 2026 cho 200 học sinh khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập, với tổng giá trị học bổng 1.000 triệu đồng. Cuối học kỳ I năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.592 cơ sở giáo dục và đào tạo, bao gồm: 525 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó: 400 công lập và 125 ngoài công lập); 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó 558 công lập và 06 ngoài công lập); 365 trường trung học cơ sở (trong đó 363 công lập và 02 ngoài công lập); 122 trường trung học phổ thông, trong đó 02 trường phổ thông dân tộc nội trú; 09 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông; 11 trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông; 100 trường trung học phổ thông; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó: 02 công lập và 01 ngoài công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ, Tin học; 10 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập; 02 trường trung cấp (ngoài công lập). Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên toàn tỉnh là 50.702 người. Đến nay, 100% xã, phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh có cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo đạt 90,45%, riêng trẻ 5 - 6 tuổi đạt 99,79%. Toàn tỉnh có 79 cơ sở Giáo dục nghề nghiệp (GDNN): 06 trường cao đẳng (trong đó 04 trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý, 02 trường thuộc bộ, ngành quản lý); 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập và 04 trường trung cấp tư thục); 29 trung tâm GDNN (13 công lập, 16 tư thục); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 đơn vị GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. 3. Y tế Trong tháng tập trung cho công tác chăm sóc sức khỏe người dân, xây dựng phương án sẵn sàng ứng phó với các tình huống của dịch bệnh; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, qua đó góp phần kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe để người dân vui Xuân đón Tết. * Tình hình dịch bệnh xảy ra trong tháng - Phòng chống sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 447 ca mắc, giảm 179 ca so với tháng trước và tăng 179 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.073 ca mắc. Trong tháng triển khai giám sát lăng quăng tại 71 điểm, đã phát hiện và xử lý 47 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng không phát hiện trường hợp mắc bệnh sốt rét; lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 01 ca mắc sốt rét ngoại lai. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 336 ca mắc, tăng 10 ca so với tháng trước và tăng 312 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 662 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 07 ca mắc, giảm 02 ca so với tháng trước và giảm 985 ca so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 16 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.181 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.245 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.272 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.044 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 2.262 trẻ, mũi 2 cho 3.491 trẻ và mũi 3 cho 1.932 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 2.865 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 445 bệnh nhân, đang điều trị 01 bệnh nhân; 11 bệnh nhân đang giám sát; chăm sóc tàn tật cho 438 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 6 người. - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 212 người, bệnh nhân lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) là 163 người, bệnh nhân lao kháng thuốc phát hiện, thu nhận là 05 người. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 04 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 02 trường hợp chuyển AIDS và 03 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.795 người mắc HIV, chuyển AIDS 1.784 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 437.951 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 32.826 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 203.704 ngày, xét nghiệm cho 497.033 tiêu bản, chẩn đoán 116.224 hình ảnh và phẫu thuật 4.323 trường hợp. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 916.211 lượt người; 69.835 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 424.046 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,2 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 80%; đã xét nghiệm cho 1.067.100 tiêu bản; chẩn đoán 255.941 hình ảnh và phẫu thuật cho 9.460 trường hợp. Tình hình khám chữa bệnh trong 07 ngày nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 từ ngày 16/02/2026 (ngày 29 âm lịch) đến hết ngày 22/02/2026 (Mùng 6 âm lịch): Tổng số bệnh nhân khám bệnh, cấp cứu là 6.528 người (tăng 1.614 người so với năm 2025); trong đó: Tai nạn giao thông đến điều trị 629 người (có 02 trường hợp tử vong tại bệnh viện và 03 trường hợp tử vong trên đường đến cơ sở y tế); tại nạn do pháo nổ 11 người (có 06 trường hợp nhập viện điều trị). - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 1.301 cơ sở, kết quả có 18 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 76,0 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương, địa phương và các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026. Chủ động cung cấp, theo dõi và tổng hợp thông tin báo chí, dư luận xã hội về tỉnh Lâm Đồng; thực hiện điểm báo, báo cáo định kỳ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Ban hành Kế hoạch công tác thông tin đối ngoại tỉnh Lâm Đồng và triển khai các hoạt động thông tin đối ngoại năm 2026. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 01 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, công tác an sinh xã hội được triển khai đồng bộ, đồng bào các DTTS đón Tết trong không khí vui tươi, phấn khởi. Các địa phương tổ chức lễ hội truyền thống, giao lưu cồng chiêng tại các buôn làng trong dịp Tết và tổ chức chương trình văn nghệ “Mừng Đảng - Mừng Xuân” mang đậm bản sắc dân tộc; tại một số xã vùng DTTS và biên giới như Nâm Nung, Đắk Mil, Quảng Trực, Quảng Hòa, Đạ Tẻh, Cát Tiên 3, Đam Rông 4,... tổ chức bắn pháo hoa tầm thấp vào thời khắc giao thừa để phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân. - Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo vùng đồng bào DTTS. Bên cạnh đó, tỉnh đã thăm, chúc Tết đối với cán bộ, chiến sĩ, công chức, người lao động và người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào DTTS, trong đó triển khai thực hiện chính sách đối với 883 người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào DTTS với tổng kinh phí 441,5 triệu đồng, qua đó kịp thời động viên, khích lệ, phát huy vai trò nòng cốt của người có uy tín trong công tác tuyên truyền, vận động đồng bào chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. - Công tác phục vụ người dân vùng đồng bào DTTS trong dịp Tết Nguyên đán 2026 được quan tâm triển khai, đã hoàn thành việc cung ứng hàng hóa xuống hệ thống các cửa hàng, đại lý trực thuộc trước Tết Đầu lúa và Tết Nguyên đán, qua đó bảo đảm nguồn cung ổn định, kịp thời phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân. Tại các điểm bán hàng, giá cả được niêm yết công khai, hàng hóa bảo đảm rõ nguồn gốc, xuất xứ; các mặt hàng tham gia chương trình bình ổn giá được thông báo công khai, góp phần ổn định thị trường, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Ban Trị sự GHPGVN tỉnh tổ chức Khánh tuế ân 2 sư, chúc thọ một số phật tử cao niên tại địa phương; một số nhà thờ, giáo xứ tham gia Hội chợ không đồng; tổ chức các gian hàng ẩm thực, phiên chợ đầu xuân và các trò chơi dân gian, bốc thăm trúng thưởng; lễ mừng xuân Bính Ngọ 2026; lễ cầu cho ông bà ngày Tết… Bên cạnh đó, tỉnh đã tổ chức các đoàn đi thăm, chúc mừng và động viên một số chức sắc, cơ sở thờ tự tiêu biểu, các cơ sở tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương đối với các tổ chức tôn giáo. Nhìn chung, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt các quy định của pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa và phong tục, tập quán của đồng bào, địa phương, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy các giá trị văn hóa tôn giáo và ổn định đời sống tinh thần của người dân. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng, tỉnh đã chú trọng chăm lo Tết cho người dân, thực hiện an sinh xã hội cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, gia đình bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, đồng bào vùng sâu, vùng xa, người có công với cách mạng, người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số. Trong dịp Tết Bính Ngọ 2026, tỉnh đã chi 153.774,6 triệu đồng (quà và tiền mặt) hỗ trợ; trong đó: 114.302,98 triệu đồng hỗ trợ cho người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng; 37.449,6 triệu đồng hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn; 1.220 triệu đồng hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội,… Nhìn chung, công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với người có công với cách mạng, gia đình liệt sĩ và các đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, đối tượng khó khăn,... luôn được lãnh đạo, chính quyền và cộng đồng quan tâm, góp phần cho người có công, gia đình liệt sĩ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội đón Tết vui tươi, đầm ấm. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 31/01/2026, toàn tỉnh có 308.982 người tham gia BHXH, tăng 0,28% so với tháng trước; có 221.748 người tham gia BHTN, giảm 6,0%; số người tham gia BHYT là 2.790.785 người, giảm 6,94% so với tháng trước (giảm do xã Phước Thể cũ không còn là xã đảo nên người dân không được hưởng lợi BHYT miễn phí và Hộ NLTS có thu nhập trung bình chưa được phê duyệt cấp thẻ BHYT). Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 82,38% dân số. Trong tháng 01 năm 2026, đã giải quyết mới 8.800 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.270 người (Trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 196 người; trợ cấp 1 lần cho 1.637 người; chế độ ốm đau cho 5.394 người; chế độ thai sản cho 1.259 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 314 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 1.192 người và hỗ trợ học nghề cho 78 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/01/2026 - 14/02/2026) Trong tháng xảy ra 88 vụ tai nạn giao thông, tăng 26 vụ so với tháng trước và tăng 10 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 45 người, tăng 11 người so với tháng trước và tăng 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 67 người, tăng 22 người so với tháng trước và tăng 10 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 150 vụ (trong đó có 2 vụ đường sắt), giảm 12 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 79 người, tăng 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 112 người, giảm 14 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng không xảy ra thiên tai. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 01 vụ, chưa thống kê giá trị thiệt hại. - Cháy, nổ: Từ ngày 16/01 đến ngày 15/02/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, giảm 5 vụ so với tháng trước và giảm 1 vụ so với cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 40,0 triệu đồng. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 11 vụ cháy, tăng 6 vụ so với cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 40 triệu đồng; không có thiệt hại về người. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 xảy ra 01 vụ vi phạm, giảm 6 vụ so cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 210 triệu đồng. * Đánh giá chung Trong 02 tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng ghi nhận nhiều tín hiệu khởi sắc, tạo nền tảng thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển của cả năm. Sản xuất nông nghiệp được triển khai đúng thời vụ, diện tích gieo trồng bảo đảm kế hoạch; chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản duy trì ổn định, không phát sinh dịch bệnh lớn. Khu vực công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng với chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,24% so với cùng kỳ. Hoạt động thương mại - dịch vụ diễn ra sôi động, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 16,09%, nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả cơ bản ổn định. Du lịch phục hồi mạnh mẽ với lượng khách tăng 27,96% và doanh thu tăng 30,67%, cho thấy sức hấp dẫn và năng lực phục vụ của địa phương ngày càng được nâng cao. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 20,15% so với cùng kỳ, bảo đảm nguồn lực cho chi đầu tư phát triển và các nhiệm vụ an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm; công tác chăm lo Tết cho Nhân dân được triển khai kịp thời, đúng đối tượng, góp phần giữ vững ổn định xã hội. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Tuy vậy, một số lĩnh vực vẫn chịu tác động của biến động thị trường và yếu tố thời tiết; tiến độ triển khai một số dự án và giải ngân vốn đầu tư công cần tiếp tục được đẩy nhanh để tạo động lực tăng trưởng bền vững trong thời gian tới. TKT Lâm Đồng [1] Kế hoạch số 3364/KH-UBND ngày 23/12/2025 của UBND tỉnh về dự trữ hàng hóa và bình ổn thị trường cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. [2] Tăng chủ yếu từ nguồn tiền gửi không kỳ hạn của Trung tâm phát triển quỹ đất phục vụ công tác đền bù giải phóng mặt bằng cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc, Bảo Lộc - Liên Khương.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   04/02/2026 10:19

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi; giá các mặt hàng nông sản ổn định, thúc đẩy người nông dân tích cực sản xuất, tập trung vào gieo cấy, chăm sóc lúa Vụ Đông xuân và các loại cây hoa màu khác. Các địa phương trên địa bàn tỉnh đã chủ động phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn phục vụ sản xuất nông nghiệp trong mùa khô năm 2026. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ (đặc biệt là đàn lợn). Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát hiệu quả, không có dịch bệnh nghiêm trọng xảy ra. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào khâu chăm sóc rừng, ươm cây giống cho công tác trồng rừng sắp tới. Sản lượng khai thác thuỷ sản biển tăng khá so với cùng kỳ năm trước. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tiến độ sản xuất cây hàng năm vụ Đông xuân năm 2026 (tính đến ngày 20/01/2026), tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 74.202,8 ha, tăng 1,42% so với vụ Đông xuân năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 41.378,8 ha, giảm 0,38% so với cùng kỳ năm trước (diện tích gieo trồng lúa giảm chủ yếu do vụ Đông xuân năm nay xuống giống muộn tại xã Trà Tân và xã Hoài Đức); cây ngô, diện tích ước đạt 3.914,4 ha, tăng 1,17%; rau các loại, diện tích ước đạt 21.218,1 ha, tăng 4,51%; hoa các loại, diện tích ước đạt 2.499,5 ha, tăng 2,60%; đậu các loại, diện tích ước đạt 1.306,2 ha, tăng 3,74%; cây hàng năm còn lại, diện tích ước đạt 3.885,8 ha, tăng 3,43%. Nhìn chung tiến độ gieo trồng vụ Đông xuân ổn định so với cùng kỳ năm trước do thời tiết trong vụ thuận lợi, người dân xuống giống gieo trồng đúng lịch thời vụ. 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm. Tổng diện tích các loại cây lâu năm trên địa bàn tỉnh ước đạt 622.873,0 ha, tăng 1,24% so với cùng kỳ năm trước. Một số loại cây trồng chính: Cây cà phê diện tích ước đạt 328.650 ha, tăng 1,03%; Cây chè diện tích ước đạt 9.329,3 ha, giảm 5,48%; Cây điều diện tích ước đạt 50.215 ha, tăng 1,49%; Cây tiêu diện tích ước đạt 37.193 ha, tăng 0,02%; Cây dâu tằm diện tích ước đạt 11.320,4 ha, tăng 4,93%; Cây sầu riêng diện tích ước đạt 44.283,5 ha, tăng 4,34%; Cây bơ diện tích ước đạt 9.050,0 ha, giảm 1,56%; Cây thanh long diện tích ước đạt 26.126 ha, tăng 0,56%; Cây ca cao diện tích ước đạt 426,1 ha, tăng 0,48%; Cây cao su diện tích ước đạt 75.381 ha, tăng 2,6%; Cây mắc ca diện tích ước đạt 11.316,9 ha, tăng 2,55%; Cây chanh leo diện tích ước đạt 1.813,2 ha, tăng 3,27%. 1.3. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 676 ha (tại các xã La Gi, Phước Hội, Hải Ninh, Hồng Thái, Liên Hương, Bắc Bình, Cát Tiên); bệnh đạo ôn lá gây hại 208 ha (tại các xã La Gi, Phước Hội, Nghị Đức, Đức Linh, Đồng Kho, Nam Thành, Tánh Linh, Hàm Thuận, Hồng Sơn, Bắc Bình, Hồng Thái, Hải Ninh, Liên Hương, Vĩnh Hảo); chuột gây hại 160 ha (tại các xã Tánh Linh, Nam Thành, Đồng Kho, Bắc Bình); ốc bươu vàng gây hại 207 ha (tại các xã Cát Tiên 2, Bắc Bình, Nam Thành, Tánh Linh, Hồng Thái); - Cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus gây hại 64 ha; bệnh mốc sương gây hại 131 ha (tại các xã Hiệp Thạnh, Đức Trọng, Tân Hội, Ninh Gia, Tà Hine, Tà Năng, D’Ran, Quảng Lập, Đơn Dương, Ka Đô); sâu đục lá cà chua Nam Mỹ gây hại 01 ha (tại xã Hiệp Thạnh); - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.660 ha (tại các xã Gia Hiệp, Phường 1 Bảo Lộc, Phường 2 Bảo Lộc, Phường 3 Bảo Lộc, Phường B’Lao, Bảo Lâm 1, Bảo Lâm 2, Bảo Lâm 4, Di Linh, Hiệp Thạnh, Đức Trọng, Tân Hội, Ninh Gia, Tà Hine, Tà Năng, Đam Rông 1, Đam Rông 2, Đam Rông 3); bọ xít muỗi gây hại 2.006,2 ha (tại các phường Cam Ly, Xuân Trường, Lang Biang, Lạc Dương, Di Linh); Bệnh chết khô ngọn gây hại 28 ha (tại xã Bảo Lâm 1, Bảo Lâm 5); - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 1.717 ha (tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Tân Lập, Tuyên Quang, Tân Hải, Bình Thuận); Bệnh thối rễ tóp cành gây hại 287 ha (tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Thuận Nam, Hàm Kiệm, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Hàm Thuận Bắc); - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.019,7 ha (tại các xã Hiệp Thạnh, xã Đức Trọng, xã Tân Hội, xã Trà Tân, xã Hoài Đức, xã Bắc Ruộng, phường Đông Gia Nghĩa, phường Bắc Gia Nghĩa, xã Quảng Sơn, xã Trường Xuân, xã Đắk Song, xã Thuận Hạnh, xã Đức An, xã Thuận An, xã Đăk Mil); Bệnh tuyến trùng gây hại 391,1 ha (tại các phường Nam Gia Nghĩa, phường Bắc Gia Nghĩa, xã Trường Xuân, xã Quảng Sơn, xã Quảng Khê); - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 320,4 ha (tại xã Đạ Tẻh 3); - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha (tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Tân Lập, Tuyên Quang, Tân Hải, Bình Thuận); Bệnh thối rễ tóp cành gây hại 287 ha (tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Thuận Nam, Hàm Kiệm, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Hàm Thuận Bắc). 2. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi;công tác kiểm dịch, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện tốt (đặc biệt là trại chăn nuôi gia công) nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính tháng 01/2026 đạt 28.729,6 tấn, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27,1 nghìn con trâu, tăng 0,74% so với cùng kỳ; mặc dù tổng đàn trâu có xu hướng tăng nhẹ nhưng việc phát triển chăn nuôi trâu vẫn gặp nhiều khó khăn do hiệu quả kinh tế chưa cao, giá bán thiếu ổn định, chi phí chăn nuôi có xu hướng tăng. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319 nghìn con bò, tăng 1,77% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 28,9 nghìn con, tăng 1,51%); giá thức ăn chăn nuôi và chi phí đầu vào vẫn ở mức cao, hiệu quả kinh tế chưa thật sự hấp dẫn, nhờ thị trường tiêu thụ tương đối ổn định cùng với việc triển khai các chính sách hỗ trợ chăn nuôi kịp thời, quy mô đàn bò trên địa bản tỉnh vẫn duy trì xu hướng tăng. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.533 nghìn con, tăng 4,07% (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.227,9 nghìn con, tăng 7,46%); đàn lợn tăng do có thêm đóng góp của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thái Việt Corporation với quy mô hơn 35.000 con, Công ty Thái Thịnh Tây Nguyên với quy mô hơn 8.000 con đi vào hoạt động từ giữa năm 2025. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.400 nghìn con gia cầm, tăng 8,07% (trong đó gà các loại 16.100 nghìn con, chiếm 71,88% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,61%); đàn gia cầm tăng cao do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm tăng cao trong dịp cuối năm và Tết Nguyên đán sắp đến, người chăn nuôi chủ động điều chỉnh quy mô đàn để đáp ứng nhu cầu của thị trường. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, bệnh DTLCP phát sinh tại 01 hộ tại xã Tân Hội với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 05 con. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh đang vào mùa khô, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 33.581 m3, tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác ước đạt 30.655,9 ste, tăng 2,03%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/12/2025-10/01/2026) là 68 vụ (đã xử lý 67 vụ), diện tích thiệt hại do phá rừng 2,1 ha. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 36 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 0,05 ha. 4. Thuỷ sản - Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.305 tấn, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 350 tấn, tăng 0,57%). - Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 19.312,7 tấn, tăng 2,15% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 19.262 tấn, tăng 2,15%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản nên sản xuất tôm giống ổn định. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 1,86 tỷ post, tăng 0,27% so với cùng kỳ năm trước. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp trong tháng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 15,64% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 28,03%, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 17,01%. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước giảm 2,67% so với tháng trước và tăng 15,64% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 28,03% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 17,01%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 14,83%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,65%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 318.361 m3, giảm 11,92% so với tháng trước và tăng 29,26% so với cùng kỳ năm trước. Nhằm chủ động tránh tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng trong điều kiện đẩy mạnh đầu tư công, các doanh nghiệp khai thác đá đã chủ động tăng sản lượng ngay từ những tháng đầu năm để phục vụ nhu cầu xây dựng tăng mạnh trong năm. - Sản phẩm thủy sản chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 1.672 tấn, giảm 6,85% so với tháng trước và tăng 34,20% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp chủ động tăng cường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tồn kho phục vụ nhu cầu trong dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ. - Sản phẩm rau, quả chế biến, bảo quản: Sản lượng trong tháng ước đạt 3.098 tấn, tăng 4,65% so với tháng trước và tăng 37,38% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu tiêu dùng trong nước có xu hướng tăng cũng như đơn hàng xuất khẩu tăng. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu và nền tảng công nghệ sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản có cơ sở vững chắc để phát triển trong thời gian tới. - Sản phẩm đồ uống: Ước trong tháng sản lượng đạt 26.094 nghìn lít, giảm 14,61% so với tháng trước và tăng 30,11% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên vật liệu tăng cao so với năm trước (như: Malt, gạo, đường) cũng như sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm bia trong thời gian gần đây, bên cạnh đó là sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa và thế giới. Tuy nhiên, so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn hàng phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ sắp đến (đặc biệt sản phẩm rượu vang trái cây đang ngày càng được ưa chuộng). - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng sản lượng ước đạt 571 nghìn đôi, giảm 17,08% so với tháng trước và tăng 62,51% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân giảm so với tháng trước là do doanh nghiệp tiếp tục tiêu thụ sản phẩm tồn kho và so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do phục vụ nhu cầu cuối năm và tháng cùng kỳ năm trước là tháng Tết Ất Tỵ nên số ngày hoạt động giảm so với tháng 01/2026. - Sản phẩm phân bón: Ước trong tháng sản lượng sản xuất 5.940 tấn, giảm 27,43% so với tháng trước và tăng 60,14% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm mạnh so với tháng trước một phần do nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong mùa khô có xu hướng giảm, mặt khác do Công ty TNHH chế biến khoảng sản Thân Gia đã ngừng hoạt động. Tuy nhiên, so với tháng cùng kỳ năm trước vẫn tăng mạnh do trên địa bàn có Nhà máy hóa chất Đức Giang Đắk Nông đi vào sản xuất từ quý II/2025. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng, sản lượng ước đạt 129,3 nghìn tấn, tăng 19,62% so với tháng trước và tăng 1,13% so với cùng kỳ năm trước. - Điện sản xuất: Sản lượng trong tháng ước đạt 2.670 triệu kwh, giảm 3,84% so với tháng trước và tăng 15,26% so với cùng kỳ năm trước. - Điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 509 triệu kwh, tăng 3,48% so với tháng trước và tăng 12,33% so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 7,01% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,89%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,15%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,48%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,25%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 0,34% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 11,09%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,84%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng so với cùng kỳ năm trước là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho thời gian hoạt động sản xuất sản phẩm dịp tết Nguyên đán; dự báo thị trường lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong tháng, các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh tiếp tục thu hút đầu tư, với 02 dự án đầu tư mới, tổng vốn đăng ký 54 tỷ đồng, diện tích 24.766 m². Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 243 dự án còn hiệu lực, gồm 57 dự án FDI và 186 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 44.655,58 tỷ đồng và 514,588 triệu USD, diện tích đất đăng ký 729,59 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 54%. Hiện nay, 166 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các KCN, ước thực hiện trong tháng đạt doanh thu 2.135 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu 20 triệu USD và nộp ngân sách 92 tỷ đồng, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Cụ thể theo từng KCN: - KCN Lộc Sơn thu hút 55 dự án (09 FDI, 46 trong nước), tổng vốn đăng ký 3.120,43 tỷ đồng và 48,63 triệu USD; diện tích cho thuê 115,77/132,62 ha, tỷ lệ lấp đầy 87,29%. - KCN Phú Hội có 32 dự án (11 FDI, 21 trong nước), tổng vốn 2.384,12 tỷ đồng và 77,10 triệu USD; diện tích cho thuê 55,95/74,58 ha, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút 39 dự án, tổng vốn 857,94 tỷ đồng và 74,8 triệu USD; diện tích cho thuê 51,44/51,44 ha, đạt 100% lấp đầy. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 có 12 dự án, tổng vốn 548,08 tỷ đồng và 11,85 triệu USD; diện tích cho thuê 23,01/28,09 ha, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút 21 dự án, tổng vốn 1.676,9 tỷ đồng và 56,18 triệu USD; diện tích cho thuê 59,25/90,78 ha, tỷ lệ lấp đầy 65,27%. - KCN Hàm Kiệm II có 17 dự án, tổng vốn 772,41 tỷ đồng và 185,58 triệu USD; diện tích cho thuê 87,99/276,93 ha, tỷ lệ lấp đầy 31,77%. - KCN Sông Bình thu hút 03 dự án trong nước, tổng vốn 13.544,93 tỷ đồng; diện tích cho thuê 58,35/202,32 ha, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức có 01 dự án trong nước, vốn đăng ký 100 tỷ đồng; diện tích cho thuê 1,5/210,84 ha, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. - KCN Tâm Thắng thu hút 47 dự án (04 FDI, 43 trong nước), tổng vốn 1.948,8 tỷ đồng và 12,3 triệu USD; diện tích cho thuê 130/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ thu hút 01 dự án, quy mô 129,42 ha, tổng vốn đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lấp đầy 87,44%. Hiện nay, một số KCN đang trong giai đoạn xây dựng và chưa thu hút dự án đầu tư, gồm: KCN Tuy Phong, KCN Sơn Mỹ 1, KCN Sơn Mỹ 2, KCN Phú Bình và KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2026-2030; theo đó, ngày 16/01/2026, UBND tỉnh đã ban hành chỉ thị 04/CT-UBND về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm đẩy mạnh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công với mục tiêu phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch, góp phần hoàn thành mục tiêu tăng trưởng (GRDP) hai con số năm 2026 của Tỉnh. Kế hoạch tổng nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2026 là 15.221,6 tỷ đồng. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 609,1 tỷ đồng, tăng 7,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 563,2 tỷ đồng, tăng 7,74%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 45,8 tỷ đồng, tăng gần 7,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh trong tháng ước đạt 261,9 tỷ đồng, tăng 5,58% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục giữ vai trò nguồn lực chủ đạo cho đầu tư phát triển địa phương; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 82,7 tỷ đồng, giảm 43,51%; vốn nước ngoài 10,1 tỷ đồng, giảm 20,31% so với cùng kỳ năm trước; vốn xổ số kiến thiết 205 tỷ đồng, tăng mạnh 78,79%; vốn khác 3,6 tỷ đồng, tăng 78,71%, góp phần bù đắp sự sụt giảm của một số nguồn vốn và tạo thêm dư địa cho đầu tư công trên địa bàn. Tình hình phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng (tính đến ngày 18/01/2026) ghi nhận nhiều biến động đan xen. Toàn tỉnh có 341 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 19,19% so với tháng trước, tăng gấp 2,7 lần so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký đạt 1.223 tỷ đồng, giảm mạnh 65,21% so với tháng trước và giảm 37,7% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy quy mô vốn của doanh nghiệp mới thành lập có xu hướng thu hẹp; 343 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 3,57 lần so với tháng trước và tăng 27,51% so với cùng kỳ năm trước, đây là tín hiệu phục hồi tích cực; 716 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,8 lần so với tháng trước và giảm 8,91% so với cùng kỳ năm trước; 45 doanh nghiệp giải thể, giảm 38,36% so với tháng trước và tăng 50% so với cùng kỳ năm trước[1]. Tình hình thu hút đầu tư: tính đến ngày 20/01/2026, toàn tỉnh có 01 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 6,4 tỷ đồng; 01 dự án xin điều chỉnh. Lũy kế đến ngày 20/01/2026, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có 2.928 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 2.009.980 tỷ đồng (trong đó có 236 dự án FDI, tổng vốn đầu tư là 224.284 tỷ đồng). III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải 1. Thương mại Trong tháng, các cơ sở kinh doanh chuẩn bị hàng hóa đáp ứng kịp thời nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng chuẩn bị cho Tết Nguyên đán sắp tới. Thị trường hàng hóa phục vụ dịp tết sôi động, các mặt hàng phong phú và đa dạng. Hoạt động du lịch trong tháng có chuyển biến tốt, lượng khách đến tăng so với tháng trước, dịch vụ ăn uống và dịch vụ khác hoạt động ổn định. Các công ty du lịch lữ hành đã chuẩn bị kế hoạch cho các tour du lịch trong đầu năm mới. Các phương tiện đường thuỷ vận tải hành khách và hàng hóa thông suốt đảm bảo hàng hóa phục vụ Tết cho người dân đảo Phú Quý. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa kịp thời. 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Tình hình thị trường trong tháng, lượng hàng hóa lưu thông đa dạng về chủng loại, phong phú về kiểu dáng. Sức mua của người dân tăng, tập trung vào một số mặt hàng chủ yếu như lương thực thực phẩm, quần áo, giầy dép và một số mặt hàng thiết yếu khác phục vụ cho nhu cầu ngày Tết. Để phục vụ kịp thời cho nhu cầu tiêu dùng của người dân và khách du lịch trong dịp Tết Bính Ngọ, các cửa hàng tạp hóa đến các kios chợ, siêu thị …đã bày bán đủ các loại mặt hàng với nhiều mẫu mã đa dạng, đảm bảo chất lượng để người mua có thể lựa chọn. Công tác kích cầu tiêu dùng được tăng cường thực hiện trong kinh doanh, các siêu thị giảm giá nhiều mặt hàng như các mặt hàng thực phẩm, quần áo may sẵn, đồ gia dụng..., các cửa hàng điện máy, trung tâm mua sắm tăng cường khuyến mãi. Các ngành dịch vụ kinh doanh ăn uống, nhà hàng, cơ sở lưu trú và dịch vụ khác tiếp tục hoạt động phục vụ cho người dân địa phương và du khách trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 21.408,2 tỷ đồng, tăng 4,74% so với tháng trước và tăng 16,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.199,2 tỷ đồng, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.211,9 tỷ đồng, tăng 6,19% so với tháng trước và tăng 22,31% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.997,1 tỷ đồng, tăng 8,22% so với tháng trước và tăng 18,36% so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 15.199,2 tỷ đồng, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ như: lương thực, thực phẩm ước đạt 6.504,4 tỷ đồng, tăng 5,59% so với tháng trước và tăng 19,24% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.700,2 tỷ đồng, tăng 3,86% so với tháng trước và tăng 11,78% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 905,9 tỷ đồng, tăng 2,65% so với tháng trước và tăng 18,72% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 2.200,6 tỷ đồng, giảm 0,72% so với tháng trước và tăng 7,18% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng tình hình thị trường trên địa bàn tỉnh ổn định, không có nhiều biến động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đa dạng, phong phú, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn cũng như khách du lịch đến tham quan. Trên địa bàn không có hiện tượng găm hàng, tăng giá quá mức để thu lợi bất chính. Từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/01/2026, đã tiến hành kiểm tra, phát hiện 106 vụ vi phạm, xử lý 88 vụ, tổng số tiền xử phạt 684,13 triệu đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 309,38 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng Giá lương thực, thực phẩm giảm do đang vào vụ thu hoạch rộ nguồn cung dồi dào; giá nhiên liệu giảm do điều chỉnh giá xăng dầu trong nước là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng giảm 0,22% so với tháng trước tăng 4,29% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 08 nhóm hàng tăng giá: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,81%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,59%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,47%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,45%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,34%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,16%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; Giáo dục tăng 0,03%. Có 03 nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 2,16%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33%; Thông tin và truyền thông giảm 0,09%. * Các nguyên nhân làm giảm CPI trong tháng: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33% so với tháng trước, do đang vào thời điểm thu hoạch, nguồn cung các mặt hàng gạo; rau tươi dồi dào nên giá lương thực, thực phẩm giảm so với tháng trước. Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 08, 15 và 22 tháng 01/2026, tính bình quân chung tháng 01/2026 chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu giảm 5,06% so với tháng trước. * Các nguyên nhân làm tăng CPI trong tháng: Giá gas trong tháng tăng 3,14% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh tăng 19.000 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới (giá gas thế giới bình quân tháng 01/2026 công bố ở mức 522,5 USD/tấn, tăng 32,5 USD/tấn so với tháng 12/2025). Nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng đồ uống và thuốc lá, may mặc chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ tăng cao hơn tháng trước, trong đó nhóm hàng đồ uống và thuốc lá tăng cao nhất ở mức 0,81% so tháng trước. Nhu cầu đi lại và bảo dưỡng phương tiện cuối năm tăng nên giá dịch vụ giao thông công cộng và bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng so với tháng trước. Vào tháng cuối năm nhu cầu sửa chữa nhà cửa tăng làm cho giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,19%; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,33%. 3. Hoạt động du lịch Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.766,1 nghìn lượt, tăng 5,65% so tháng trước và tăng 23,69% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 77,5 nghìn lượt, tăng 10,35% so với tháng trước và tăng 28,61% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.290,7 nghìn ngày khách, tăng 6,67% so với tháng trước và tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 170 nghìn lượt khách, tăng 15,54% so với tháng trước và tăng 41,63% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 525,4 nghìn ngày khách, tăng 15,65% so với tháng trước và tăng 43,47% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 645,1 tỷ đồng, tăng 5,79% so với tháng trước và tăng 20,72% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.517,1 tỷ đồng, tăng 6,33% so với tháng trước và tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 49,8 tỷ đồng, tăng 4,16% so với tháng trước và tăng 23,37% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 4.945,8 tỷ đồng, tăng 7,24% so với tháng trước và tăng 25,19% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.977,1 tỷ đồng, tăng 8,22% so với tháng trước và tăng 18,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 706,5 tỷ đồng, tăng 0,57% so với tháng trước và tăng 16,55% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 177,3 tỷ đồng, tăng 3,82% so với tháng trước và tăng 16,54% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 160,5 tỷ đồng, tăng 0,25% so với tháng trước và tăng 18,07% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 265,8 tỷ đồng, tăng 0,12% so với tháng trước và tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.393,2 tỷ đồng, tăng 17,55% so với tháng trước và tăng 21,44% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 293,7 tỷ đồng, tăng 2,98% so với tháng trước và tăng 11,12% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng hoạt động vận tải kho bãi trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và có xu hướng tăng so với tháng trước. Bên cạnh đó, do thời tiết thuận lợi và nhiều lễ hội, sự kiện du lịch diễn ra trong tháng, lượng hành khách và hàng hóa vận chuyển tăng, kéo theo doanh thu vận tải và dịch vụ kho bãi đều tăng. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.353,0 tỷ đồng tăng 3,58% so với tháng trước và tăng 17,76% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.217,0 nghìn HK, tăng 3,03% so với tháng trước và tăng 11,51% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 598.034,4 nghìn HK.Km, tăng 3,55% so với tháng trước và tăng 8,30% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.197,5 nghìn tấn, tăng 4,01% so với tháng trước và tăng 14,17% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 321.671,2 nghìn tấn.Km, tăng 4,45% so với tháng trước và tăng 18,06% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.353,0 tỷ đồng tăng 3,58% so với tháng trước và tăng 17,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 557,3 tỷ đồng, tăng 3,28% so với tháng trước và tăng 15,99% so với cùng kỳ năm trước; danh thu vận tải hàng hóa ước đạt 590,2 tỷ đồng, tăng 4,11% so với tháng trước và tăng 17,67% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 200,1 tỷ đồng, tăng 2,89% so với tháng trước và tăng 23,87% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 5,4 tỷ đồng, tăng 3,01% so với tháng trước và tăng 1,10% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng ước đạt 4.027 tỷ đồng, bằng 11,7% dự toán năm, tăng 7,0% so cùng kỳ. Trong đó: thu nội địa ước đạt 3.872 tỷ đồng bằng 11,85% dự toán năm, tăng 6,02% so cùng kỳ; thu cân đối xuất nhập khẩu ước đạt 155 tỷ đồng, bằng 8,83% dự toán năm, tăng 39,05% so cùng kỳ. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa như: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 278 tỷ đồng bằng 7,31% dự toán năm, tăng 4,76% so cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 281 tỷ đồng bằng 20,35% dự toán năm, giảm 3,33% so cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 730 tỷ đồng bằng 10,92% dự toán năm, giảm 3,8% so cùng kỳ; thuế thu nhập cá nhân ước đạt 340 tỷ đồng bằng 12,45% dự toán năm, tăng 27,6% so cùng kỳ; các khoản thu về nhà, đất ước đạt 420 tỷ đồng bằng 5,69% dự toán năm, tăng 45,03% so cùng kỳ; thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 1.370 tỷ đồng bằng 23,62% dự toán năm, tăng 0,36% so cùng kỳ. 2. Chi ngân sách Nhà nước Chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng 01/2026 ước đạt 3.000 tỷ đồng, bằng 6,15% dự toán năm. Trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 300 tỷ đồng, bằng 2,27% dự toán năm; chi thường xuyên ước đạt 2.500 tỷ đồng, bằng 8,24% dự toán năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: đến 31/12/2025, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 229.275 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 33.386 tỷ đồng, tăng 17,04%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 226.479 tỷ đồng (chiếm 98,78% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.796 tỷ đồng, (chiếm 1,22% tổng huy động vốn). Ước đến 31/01/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 228.500 tỷ đồng, giảm 0,30% so với đầu năm, tương ứng giảm 775 tỷ đồng. Hoạt động tín dụng: đến 31/12/2025, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 370.984 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 31.521 tỷ đồng, tăng 9,29%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 368.617 tỷ đồng (chiếm 99,36% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.367 tỷ đồng (chiếm 0,64% tổng dư nợ tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 265.205 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 105.778 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/01/2026, dư nợ cho vay đạt 371.700 tỷ đồng, tăng 0,20% so với đầu năm, tương ứng tăng 717 tỷ đồng. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,14% - 0,30%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 3,42% - 4,75%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 5,13% - 6,68%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 5,22% - 6,38%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 3,99%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,92% - 10,48%/năm, trung dài hạn 8,92% - 10,87%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,94% - 4,18%/năm. Dư nợ cho vay: đến 31/12/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 189.802 tỷ đồng, chiếm 51,16% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.602 tỷ đồng, chiếm 8,79% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm nghiệp đạt 148.580 tỷ đồng, chiếm 40,05% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu đạt 7.368 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2,00% trong tổng dư nợ trên địa bàn. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1 Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thiết kế, in ấn và thi công các biểu tượng trang trí, pano tấm lớn, pano dọc, pano phướn, pano tranh cổ động, standee, băng rôn,... phục vụ công tác tuyên truyền cổ động trực quan cho các sự kiện, chương trình chính trị - văn hóa trên địa bàn tỉnh: Chương trình Countdown - Chào năm mới 2026; tuyên truyền nhiệm vụ chiến lược tại Phường Xuân Hương - Đà Lạt và khu vực giáp ranh các tỉnh Khánh Hòa, Đắk Lắk; tuyên truyền chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; Chương trình Nâng cao nhận thức cộng đồng cho học sinh về Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Đắk Nông - tỉnh Lâm Đồng; Chương trình Giao lưu các Câu lạc bộ Văn hóa - Văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân năm mới 2026 với chủ đề “Mùa Xuân Cao Nguyên”;… - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức bắn pháo hoa nghệ thuật tầm thấp chào đón Tết Dương lịch năm 2026 tại 03 địa điểm: Phường Xuân Hương, phường Phan Thiết và phường Nam Gia Nghĩa; chương trình chào xuân 2026 gồm các tiết mục nghệ thuật mang thông điệp “Lâm Đồng chào xuân”, “Sức sống Lâm Đồng”, “Sắc màu của biển”, “Đại ngàn chào xuân”; chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 chủ đề “Mùa Xuân hy vọng” cho phạm nhân tại Trại giam Đại Bình; phối hợp với Công ty Cổ phần truyền thông - giải trí - sáng tạo Viet Vision tổ chức đêm biểu diễn nghệ thuật THE ROSE; phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng chuẩn bị tổ chức Chương trình “Xuân Chiến sĩ” lần thứ XI năm 2026. Ngoài ra, đã thực hiện 41 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở, trường học và 09 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng đã đón 15.110 lượt khách (Nhà trưng bày chính: 2.970 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 2.976 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 898 lượt; Cơ sở 1- Đông Lâm Đồng: 8.186 lượt; Cơ sở 2 - Tây Lâm Đồng: 80 lượt). Tổ chức triển lãm chuyên đề “Đảng Cộng sản Việt Nam - Từ Đại hội đến Đại hội” từ ngày 15/01/2026 đến hết ngày 28/02/2026 tại Nhà trưng bày - Bảo tàng tỉnh. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng tổ chức phục vụ 119 đoàn với 5.551 lượt người, trong đó có 41 khách nước ngoài; phục vụ 10 lễ viếng, 01 lễ kết nạp Đoàn và 01 đợt sinh hoạt chuyên đề. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 1.449 lượt khách (13 lượt khách quốc tế) đến thăm viếng, tham quan, nghiên cứu, trải nghiệm. Thường xuyên triển khai sưu tầm tài liệu, hiện vật, các mẩu chuyện kể của cán bộ, chiến sĩ cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ phục vụ trưng bày bổ sung tại Nhà tưởng niệm - Trưng bày Khu di tích. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 122 thẻ bạn đọc (37 thẻ thiếu nhi); phục vụ 226.763 lượt bạn đọc; luân chuyển 17.759 lượt tài liệu; bổ sung 793 bản sách từ nguồn biếu, tặng; số hóa 7.520 trang tài liệu địa chí/38 tài liệu. Trưng bày 307 tài liệu nhân các ngày kỷ niệm; cập nhật 53 tin bài lên trang website; chia sẻ bài lên trang fanpage Thư viện 197 lượt/29 bài; sưu tầm 79 tin bài về Lâm Đồng. Ngoài ra tổ chức phục vụ xe ô tô thư viện lưu động đa phương tiện với chủ đề “Đọc sách mỗi ngày - Nuôi dưỡng tương lai” tại trường Tiểu học N’Trang Lơng và trường THCS-THPT Nguyễn Khuyến phường Nam Gia Nghĩa. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Trong tháng tổ chức Giải Pickleball tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; Giải chạy bộ “Vietnam Highlands Trail - Lâm Đồng”; 02 giải Quần vợt ATP Challenger 50 tại NovaWolrd Phan Thiet; Giải Golf đồng đội quốc tế Việt Nam-Vietnam International Team Golf Championship 2026; Giải chạy Chinh phục thử thách lần thứ 3 “Prenn Trail Summit 2025”. - Thể thao thành tích cao: Cử đoàn vận động viên tham gia 03 giải thể thao quốc gia. Kết quả đạt được 15 huy chương (03 HCV, 03 HCB, 09 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2025-2026, đảm bảo ổn định nề nếp dạy học, chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục. Năm học 2025–2026, toàn tỉnh có 1.603 trường học và cơ sở giáo dục với 818.588 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 526 trường với 151.943 trẻ; cấp tiểu học có 564 trường với 321.257 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 240.603 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 104.785 học sinh. Trong tháng đã tổ chức thành công kỳ thi chọn học sinh giỏi THPT cấp tỉnh năm học 2025 - 2026 với gần 5.000 học sinh lớp 10, 11, 12 dự thi tại 07 điểm thi với 245 phòng thi. Đây là kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh với quy mô lớn nhằm phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, khuyến khích học sinh và giáo viên nâng cao chất lượng dạy và học. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoang vùng, xử lý khi phát hiện các bệnh truyền nhiễm; đảm bảo đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. - Phòng chống sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 626 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 229 ca so với tháng trước và tăng 31 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong. Trong tháng, triển khai giám sát lăng quăng tại 73 điểm với 124 lượt giám sát; đã phát hiện xử lý 40 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 01 ca mắc sốt rét ngoại lai (khu vực Đắk Song, bệnh nhân đi từ Conggo về). - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 326 ca mắc, tăng 70 ca so với tháng trước và tăng 281 ca với cùng kỳ năm trước. Khu vực có số ca mắc nhiều nhất là La Gi và Gia Nghĩa chiếm 7,4% số ca mắc toàn tỉnh. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 09 ca mắc, giảm 05 ca so với tháng trước và giảm 949 ca so với cùng kỳ năm trước. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.334 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.773 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.403 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.262 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 2.737 trẻ, mũi 2 cho 3.583 trẻ và mũi 3 cho 3.594 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 33.315 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng phát hiện 01 bệnh nhân phong mới tại xã Liên Hương. Hiện nay toàn tỉnh đang quản lý 451 bệnh nhân phong; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 12 người (5 trả về cộng đồng hết giám sát, không tàn tật, 7 tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, khám phát hiện 15 bệnh nhân lao mới, trong đó có 04 bệnh nhân lao phổi AFB (+). - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 62 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 05 trường hợp chuyển AIDS và 03 trường họp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.791 người mắc HIV, chuyển AIDS 1.782 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 478.260 lượt bệnh nhân; số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.009 lượt người; tổng số ngày điều trị nội trú là 220.342 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 80%. Đã thực hiện xét nghiệm cho 570.067 tiêu bản; chẩn đoán 139.717 hình ảnh và phẫu thuật 5.137 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 16 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 419 cơ sở, kết quả có 01 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 8 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương. Trong tháng đã ban hành Giấy phép xuất bản đặc san Dalat Info của Trung tâm Xúc tiến, Đầu tư Thương mại và Du lịch tỉnh Lâm Đồng. Cung cấp, theo dõi và tổng hợp thông tin báo chí, dư luận xã hội về tỉnh Lâm Đồng; thực hiện điểm báo, báo cáo định kỳ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh tỉnh Lâm Đồng được tăng cường với nhiều hình thức, tận dụng hiệu quả các nền tảng truyền thông đa phương tiện; phản ánh kịp thời, toàn diện các hoạt động đối nội, đối ngoại và các vấn đề, sự kiện nổi bật của tỉnh, trong nước và quốc tế. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 10 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc -  Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được cải thiện, các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo được triển khai đồng bộ, hiệu quả; hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; nhiều lễ hội truyền thống như Katê của người Chăm, Lễ mừng lúa mới của người K’ho, Lễ cúng bến nước của người M’nông, lễ hội của người Churu, Mạ... được duy trì, phục dựng và tổ chức trang trọng; các trò chơi dân gian, phong tục tập quán tốt đẹp được khơi dậy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng; toàn tỉnh có trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao phục vụ sinh hoạt cộng đồng. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình và internet; các chương trình bằng tiếng dân tộc được phát sóng, qua đó giúp đồng bào dễ dàng tiếp cận các thông tin, chủ trương, chính sách của Nhà nước. - Mạng lưới trường lớp vùng đồng bào DTTS ngày càng hoàn thiện. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú duy trì sĩ số học sinh ổn định. Các chính sách miễn, giảm học phí; hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở nội trú, bán trú… được thực hiện theo đúng chế độ quy định. Việc dạy tiếng Chăm, Ê đê, M’nông, K’ho trong nhà trường tiếp tục được triển khai, qua đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. - Y tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân. Tiếp tục thực hiện chủ trương nâng cao tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ, hướng tới mục tiêu giúp đồng bào DTTS tiếp cận dịch vụ y tế hiện đại và chăm sóc sức khỏe toàn diện; công tác đào tạo nhân lực y tế là người DTTS được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng công tác y tế vùng đồng bào DTTS. - Tiếp tục thực hiện cung ứng các mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống vùng đồng bào DTTS, nhất là nhu cầu sản xuất lúa nước vụ Đông xuân tại các địa phương; tập trung thu mua hết sản lượng bắp lai thương phẩm và mủ cao su; triển khai cho hộ dân đăng ký nhu cầu nhận hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất bắp lai, lúa nước năm 2026; đồng thời thông báo tạm ngưng khai thác mủ cao su và vận động đồng bào chăm sóc, phòng chống cháy cao su trong mùa khô năm 2026. 5.2. Chính sách tôn giáo Tình hình hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh tổ chức Đại giới đàn Chơn Thành tại Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Thiện, xã Tân Lập cho 1.282 giới tử; đăng ký bổ nhiệm Trụ trì 02 cơ sở Phật giáo chùa An Sơn, phường Xuân Hương và chùa Vạn Thọ, xã Tà Hine; Thiền viện Linh Ẩn, xã Nam Ban Lâm Hà tổ chức Lễ cầu quốc thái dân an diễn ra từ ngày 16-19/01/2026 với khoảng 1.000 tăng ni; trong đó, có 04 tu sỹ người Nepal, Ấn Độ tham dự. Đồng bào Công giáo trên địa bàn tỉnh tổ chức Lễ Giáng sinh diễn ra an lành, hạnh phúc; Cộng đoàn Don Bosco Đà Lạt tổ chức Hội chợ mừng năm mới 2026 cho hơn 1.700 em thiếu nhi tham dự với chủ đề của hội chợ: “Sống xanh mỗi ngày”; Giám mục Giáo phận Đà Lạt chủ trì Thánh lễ tạ ơn, Khánh thành Quần thể mục vụ Giáo xứ Ka La, xã Bảo Thuận với khoảng 3.000 linh mục, tu sĩ, giáo dân địa phương tham dự. Các chi hội, điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung thuộc Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tổ chức Lễ Giáng sinh năm 2025 với chủ đề “Chúa vào đời”… Hoạt động các tổ chức tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã rà soát, phê duyệt danh sách quà tặng của Chủ tịch nước đối với người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 của các xã, phường và đặc khu; ngoài ra đã giải quyết 315 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 31/12/2025, toàn tỉnh có 308.119 người tham gia BHXH, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 259.739 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước; 48.380 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước); có 235.941 người tham gia BHTN, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 3.122.547 người, tăng 3,22% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 93,0% dân số năm 2025. Trong năm 2025, đã giải quyết mới 145.357 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.433 người (Trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 4.571 người; trợ cấp 1 lần cho 30.430 người; chế độ ốm đau cho 68.163 người; chế độ thai sản cho 14.871 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 4.284 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 20.605 người và hỗ trợ học nghề cho 2.433 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/12/2025 - 15/01/2026) Trong tháng xảy ra 62 vụ tai nạn giao thông, giảm 12 vụ so với tháng trước (tháng 12/2025) và giảm 22 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 34 người, giảm 01 người so với tháng trước và tương đương so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 45 người, giảm 12 người so với tháng trước và giảm 24 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Từ ngày 27/12/2025 đến 18/01/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ sạt lở, sụt lún bờ biển, bờ sông tại xã Tân Thành; hiện nay chưa thống kê giá trị thiệt hại. - Cháy, nổ: Từ ngày 15/12/2025 đến 15/01/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 08 vụ cháy, nổ; không có thiệt hại về người; so với tháng trước giảm 03 vụ và tăng 07 vụ so với cùng kỳ năm trước. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ vi phạm môi trường, đã xử phạt 210 triệu đồng; so với tháng trước tăng 01 vụ và giảm 05 vụ so với cùng kỳ năm trước. * Đánh giá chung Trong tháng Một, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng duy trì xu hướng ổn định và khởi sắc, tạo nền tảng thuận lợi cho việc triển khai các nhiệm vụ phát triển ngay từ đầu năm. Hoạt động nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát triển ổn định nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và giá nông sản cơ bản ổn định; diện tích gieo trồng vụ Đông xuân tăng 1,42%, tổng đàn vật nuôi duy trì đà tăng, sản lượng khai thác thủy sản tăng 2,15%. Hoạt động đầu tư phát triển được triển khai sớm và có tín hiệu tích cực, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh tăng 5,58% so với cùng kỳ; đặc biệt, vốn từ xổ số kiến thiết tăng mạnh 78,79%, góp phần thúc đẩy đầu tư công và hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội. Sản xuất công nghiệp duy trì mức tăng trưởng khá; thương mại, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động trong thời điểm cận Tết Nguyên đán, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và đi lại của người dân. Hoạt động vận tải thông suốt, bảo đảm lưu thông hàng hóa và hành khách. Thu ngân sách và hoạt động tín dụng cơ bản ổn định, kịp thời hỗ trợ sản xuất, kinh doanh. Hoạt động doanh nghiệp ghi nhận sự phục hồi về số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn những khó khăn liên quan đến vốn và tính bền vững. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm, an sinh xã hội được bảo đảm; quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. TKT Lâm Đồng [1] Số liệu được cập nhật đến ngày 18/01/2026 của Sở Tài chính.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 12, quý IV và năm 2025 tỉnh Lâm Đồng
  •   07/01/2026 08:32

Năm 2025, kinh tế thế giới được các tổ chức quốc tế lớn như IMF, EU và Fitch Ratings nhận định có triển vọng khả quan hơn với mức dự báo tăng trưởng được điều chỉnh tăng nhẹ so với các kỳ đánh giá trước, dao động trong khoảng từ 2,5% đến 3,2%, trong khi OECD giữ nguyên dự báo ở mức 3,2%; thương mại hàng hóa toàn cầu dự kiến tăng trưởng ổn định ở mức 2,4% theo dự báo của WTO và lạm phát toàn cầu tiếp tục xu hướng giảm trên diện rộng xuống mức 4,2%. Trong bối cảnh đó, khu vực Đông Nam Á chứng kiến sự phân hóa về tốc độ phục hồi, song Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá là quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực, với các mức dự báo cụ thể: ADB lạc quan nhất ở mức 7,4%, tiếp đến là WB 6,6%, IMF 6,5% và OECD 6,2%. Động lực tăng trưởng chủ yếu của Việt Nam trong năm 2025 được xác định dựa trên đà phục hồi mạnh mẽ của kim ngạch xuất khẩu và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; kết hợp với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) duy trì đà tăng trưởng tích cực, mặc dù nền kinh tế vẫn đối mặt với thách thức từ rủi ro thiên tai và những bất định trong chính sách thương mại toàn cầu. Hòa cùng xu thế chung của cả nước, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng năm 2025 tiếp tục phục hồi và phát triển theo hướng ổn định, tích cực trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức từ kinh tế thế giới và trong nước. Hoạt động sản xuất, kinh doanh trên hầu hết các lĩnh vực duy trì đà tăng trưởng; thị trường hàng hóa, dịch vụ ổn định; đầu tư xã hội và du lịch tiếp tục được thúc đẩy; an sinh xã hội được bảo đảm. Sự đóng góp đồng đều của cả ba khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực dịch vụ, đã tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng chung của nền kinh tế địa phương trong năm. I. Tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025, tăng 6,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,10%, đóng góp 1,68 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,54%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm (riêng công nghiệp, tăng 4,80%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ tăng 8,28%, đóng góp 3,33 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm. Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 so với cùng kỳ (%) Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,1% (cùng kỳ tăng 5,02%), đóng góp 1,68 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; trong đó nông nghiệp tăng 5,22% (cùng kỳ tăng 5,13%), đóng góp 1,5 điểm phần trăm; thủy sản tăng 4,47% (cùng kỳ tăng 3,97%), đóng góp 0,16 điểm phần trăm; lâm nghiệp tăng 3,22%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,54%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm; trong đó xây dựng tăng 7,35%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm; công nghiệp tăng 4,8%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ đạt mức tăng 8,28% cao nhất trong 3 năm gần đây (năm 2023: 8,06%; năm 2024: 6,97%), đóng góp 3,33 điểm phần trăm, với nhiều ngành tăng trưởng mạnh như: bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 10,55%, đóng góp 0,79 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 15,07%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,79%, đóng góp 0,66 điểm phần trăm; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 11,38%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 10,52%, đóng góp 0,16 điểm phần trăm. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các chính sách xúc tiến, kích cầu, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ, sau khi bộ máy và địa giới hành chính được sắp xếp, vận hành ổn định. Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế của tỉnh chiếm 38,59%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,87%; khu vực dịch vụ chiếm 35,83%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm, chiếm 4,71% (cơ cấu tương ứng của năm 2024 là 38,06%; 21,52%; 35,59%; 4,83%). Nhìn chung, nền kinh tế của tỉnh ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao do từ năm 2024 trở lại đây mặt hàng nông sản chủ lực đang ở mức giá rất cao lên người dân mạnh dạn đầu tư, chăm sóc hơn; song khu vực dịch vụ đang dần có sự chuyển biến tích cực hơn.Cơ cấu kinh tế trong GRDP (ĐVT: %) Về quy mô GRDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 105,24 triệu đồng/người, tăng 12,7% (tăng 11,86 triệu đồng/người), tương đương 4.047,6 USD/người. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 186,02 triệu đồng/lao động, tăng 13 triệu đồng/người so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng năng suất lao động luôn được cải thiện rõ rệt và ổn định qua từng năm (từ mức 109,1 năm 2020 lên 186,0 năm 2025). II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Năm 2025, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng của thiên tai, mưa lớn và lũ quét xảy ra trong hai tháng cuối năm, gây thiệt hại về cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trong năm vẫn duy trì và phát triển ổn định. Diện tích các loại cây trồng hàng năm tăng nhẹ so với năm trước. Chăn nuôi phát triển theo hướng thích ứng thị trường, người chăn nuôi chủ động chuyển sang nuôi gia cầm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và nâng cao hiệu quả kinh tế. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, nhất là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát hiệu quả, giúp người dân yên tâm đầu tư. Sản lượng khai thác thuỷ sản biển ổn định. Công tác phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và Chương trình OCOP được chú trọng; nhiều doanh nghiệp, chủ thể sản xuất được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông sản chủ lực, sản phẩm OCOP tại các hội nghị, triển lãm trong cả nước, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu nông nghiệp của tỉnh. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Diện tích gieo trồng cây hàng năm sơ bộ năm 2025 ước đạt 425.790,4 ha, tăng 1,43% so với năm trước và tăng ở hầu hết các loại cây trồng (chỉ có cây ngô diện tích gieo trồng giảm 5,2% và cây đậu tương diện tích gieo trồng giảm 1,6% so với năm trước). Trong đó: Diện tích cây lương thực có hạt sơ bộ đạt 223.293,7ha, giảm 0,43%; sản lượng lương thực ước đạt 1.392.779,1 tấn, giảm 0,9% so với năm trước (cây lúa diện tích sơ bộ đạt 167.429,8 ha, tăng 1,28%; sản lượng ước đạt 1.006.108 tấn, giảm 0,78%. Cây ngô diện tích sơ bộ đạt 55.863,9 ha, giảm 5,2%; sản lượng ước đạt 386.671,1 tấn, giảm 1,21%). Cụ thể: - Vụ Đông xuân diện tích gieo trồng đạt 105.612 ha, tăng 1,5% so với vụ Đông Xuân năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 61.323,3 ha, tăng 2% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 55.314 ha, tăng 2,54%; sản lượng đạt 365.836,8 tấn, tăng 2,94%; năng suất đạt 66,1 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 26.727,6 ha, bằng so với cùng vụ năm trước; sản lượng đạt 872.364,2 tấn; tăng 1,1%; năng suất đạt 326,4 tạ/ha, tăng 3,5 tạ/ha. - Vụ Hè thu diện tích gieo trồng đạt 144.100,5 ha, tăng 0,04% so với vụ hè thu năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 79.012,4 ha, giảm 0,34% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 48.232 ha, tăng 0,23%; sản lượng đạt 262.651,1 tấn, giảm 8,67%; năng suất đạt 54,5 tạ/ha, giảm 5,3 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 32.767,3 ha, tăng 0,66%; sản lượng đạt 989.956,1 tấn; giảm 0,86%; năng suất đạt 302,1 tạ/ha, giảm 4,6 tạ/ha. - Vụ Mùa diện tích gieo trồng đạt 176.077,9 ha, tăng 1,4% so với vụ mùa năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 85.544,9 ha, tăng 0,83% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 63.883,8 ha, tăng 0,99%; sản lượng đạt 377.620,1 tấn, tăng 1,76%; năng suất đạt 59,1 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 31.167 ha, tăng 2,9%; sản lượng đạt 961.051,6 tấn; tăng 3,5%; năng suất đạt 308,4 tạ/ha.Diện tích gieo trồng cây hàng năm qua các năm 1.2. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh duy trì phát triển ổn định, tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nền nông nghiệp của tỉnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. Tổng diện tích trồng cây lâu năm sơ bộ đạt 622.873,0 ha, tăng 1,24% so với năm trước (cây ăn quả các loại diện tích đạt 107.152,3 ha, tăng 1,83%). Cụ thể một số cây trồng chính như sau: - Cây chè: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 9.329,3 ha, giảm 5,48%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 8.938,3 ha, giảm 1,39%; sản lượng ước đạt 116.699,1 tấn, giảm 0,49%; năng suất ước đạt 130,6 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với năm trước. Diện tích chè giảm do nhiều hộ chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, bơ, chanh dây,...; - Cây cà phê: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 328.650 ha, tăng 1,03%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 312.859,2 ha, tăng 1,71%; sản lượng ước đạt 1.028.393 tấn, tăng 5,57%; năng suất ước đạt 32,9 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với năm trước; - Cây cao su: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 75.381 ha, tăng 2,6%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 63.718,6 ha, tăng 3,05%; sản lượng ước đạt 112.026 tấn, tăng 3,95%; năng suất ước đạt 17,6 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha so với năm trước. Cao su chủ yếu tập trung ở khu vực Bình Thuận và Đắk Nông; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện; - Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 37.193 ha, tăng 0,02%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 34.613,8 ha, tăng 3,61%; sản lượng ước đạt 89.865 tấn, tăng 7,28%; năng suất ước đạt 26 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với năm trước. Trong năm, giá hồ tiêu duy trì ở mức cao và ổn định, người dân mở rộng diện tích cũng như tăng cường thâm canh để nâng cao năng suất vườn cây; - Cây điều: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 50.215 ha, tăng 1.49%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 47.857,9 ha, tăng 0,64%; sản lượng ước đạt 39.970 tấn, tăng 2,31%; năng suất ước đạt 8,4 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so với năm trước; - Cây dâu tằm: Trong thời gian gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định (180.000 đ - 200.000 đ/kg) nên người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. Diện tích hiện có sơ bộ đạt 11.320,4 ha, tăng 4,93%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 11.048,6 ha, tăng 6,99%; sản lượng ước đạt 289.405 tấn, tăng 5,6%; năng suất ước đạt 261,9 tạ/ha, giảm 3,5 tạ/ha so với năm trước; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 44.283,5 ha, tăng 4,34%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 23.070,2 ha, tăng 11,54%; sản lượng ước đạt 290.266 tấn, tăng 11,34%; năng suất ước đạt 125,8 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha so với năm trước. Trong thời gian tới, diện tích sầu riêng tiếp tục có xu hướng tăng do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác; - Cây thanh long: Trong năm 2025, giá bán thanh long tương đối ổn định, dù vẫn xuất hiện những biến động ngắn hạn theo mùa vụ (một số thời điểm, giá tăng cao nhờ nhu cầu xuất khẩu khả quan, nhất là các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á), mức giá thuận lợi này đã khuyến khích nhiều hộ tập trung chong đèn trái vụ. Diện tích hiện có sơ bộ đạt 26.126 ha, tăng 0,56%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 26.108,7 ha, tăng 1,06%; sản lượng ước đạt 577.731 tấn, tăng 2,92%; năng suất ước đạt 221,3 tạ/ha, tăng 4 tạ/ha so với năm trước. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Toàn tỉnh hiện có 966 công trình thủy lợi, trong đó: có 536 hồ chứa; 255 đập dâng; 13 cống dâng; 51 trạm bơm; 91 đập tạm; 20 kênh tiêu cùng với khoảng 3.632 km kênh mương (đã kiên cố hóa được khoảng 1.940 km, đạt 53,4%) và hệ thống đê biển, kè biển, kè sông. Trong năm 2025, diện tích canh tác được tưới đạt trên 73,45% diện tích cần tưới, trong đó: diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt khoảng 150.128 ha; diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt khoảng 97.202 ha. 1.4. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng Trong tháng 12/2025, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 433 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại 980 ha; chuột gây hại 310 ha; rầy nâu gây hại 171 ha (so với tháng trước, sâu đục thân gây hại tăng 39 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại tăng 465 ha; chuột gây hại tăng 60 ha; rầy nâu gây hại tăng 20 ha); - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.252,8 ha (tăng 16,8 ha so với tháng trước) tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, phường Đông Gia Nghĩa, phường Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.366 ha (tăng 36 ha so với tháng trước) tại các xã Bảo Lâm 1,2,3,4,5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác; bọ xít muỗi gây hại 2.047,2 ha cà phê chè (tăng 26,8 ha so với tháng trước) tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; Bệnh chết khô ngọn gây hại 30 ha tại Bảo Lâm 1; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.205,4 ha (tăng 319,1 ha so với tháng trước); bệnh thán thư gây hại 2.876 ha (tăng ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1,2,3,4, Tánh Linh, Suối Kiết, Tân Minh, Nam Thành; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 316 ha (tăng 02 ha so với tháng trước) tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 4.069 ha (tăng 920 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 916 ha (tăng 06 ha so với tháng trước) tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Tân Thành, Tiến Thành, Tân Lập, Tân Hải, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Liên Hương. Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất. 1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao đến nay đạt 107.217 ha, với 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa) và có 08 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận. - Quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói: + Mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói xuất khẩu: Trong năm 2025, toàn tỉnh đã được cấp 952 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích 39.182 ha và 341 cơ sở đóng gói với tổng diện tích 533.659 m2; số hồ sơ gửi và đang chờ phê duyệt có 75 hồ sơ đề nghị cấp mã vùng trồng với quy mô 659,43 ha và 69 hồ sơ đề nghị cấp mã cơ sở đóng gói với tổng diện tích nhà xưởng 144.527,85 m2. + Vùng sản xuất hạt giống rau xuất khẩu sang thị trường EU: Có 12 mã số vùng trồng với sản lượng trên 7.000 kg hạt giống ớt, cà chua/vụ. Bên cạnh đó, có 05 mã vùng trồng cây giống, ngọn giống của Công ty TNHH Đà Lạt Hasfarm đăng ký xuất khẩu quy mô gần 300.000 ngọn giống, cây giống/vụ. + Mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt: Trong năm 2025, toàn tỉnh đã được cấp 271 mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt với tổng diện tích 2.641,58 ha. 1.6. Chương trình OCOP Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 926 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP đã được chứng nhận, trong đó có: 75 sản phẩm 4 sao và 844 sản phẩm 3 sao; trong năm có 07 sản phẩm OCOP tham gia đánh giá phân hạng cấp quốc gia 5 sao với 529 chủ thể tham gia. Kết quả dự kiến có 07 sản phẩm đề xuất đánh giá, phân hạng cấp Quốc gia đạt 5 sao (gồm 02 sản phẩm đánh giá, phân hạng lại và 04 sản phẩm nâng hạng lên 5 sao); 05 sản phẩm đạt hạng 4 sao (01 sản phẩm đánh giá, phân hạng lại và 04 sản phẩm nâng hạng từ 3 sao lên 4 sao); 09 sản phẩm đạt hạng 3 sao. 2. Chăn nuôi Trong năm 2025, ngành chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển thuận lợi; mặc dù giá thức ăn, con giống gia súc ở mức cao, dịch bệnh tiêu chảy trên đàn bò sữa và bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại một số nơi trên địa bàn tỉnh nhưng nhờ công tác kiểm dịch và quản lý tốt tại các trang trại (đặc biệt là trại chăn nuôi gia công) nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với năm trước.Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm(ĐVT: 1.000 con) - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27,3 nghìn con trâu, tăng 1,21% so với cùng thời điểm năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 406 tấn, tăng 1,95% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 1.628,3 tấn, tăng 1,83%. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 318,7 nghìn con bò, tăng 1,67% so với cùng thời điểm năm trước (trong đó đàn bò sữa 28,9 nghìn con, tăng 1,51%). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 4.399,5 tấn, tăng 2,37% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 17.506,3 tấn, tăng 2,12%. Sản lượng sữa bò quý IV/2025 ước đạt 23.950 tấn, giảm 0,8% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 95.031,7 tấn, tăng 0,8%. - Đàn lợn: Trong năm 2025 có thêm sự đóng góp của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thái Việt Corporation với quy mô hơn 35.000 con lợn và Công ty Thái Thịnh Tây Nguyên với quy mô hơn 8.000 con lợn nên tổng đàn cũng như sản lượng thịt hơn tăng cao so với năm trước. Tổng đàn lợn hiện có 1.532,3 nghìn con, tăng 4,06% so với cùng thời điểm năm trước (lợn không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.227,8 nghìn con, tăng 7,48%); sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 85.789,2 tấn, tăng 10,26% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 240.000,6 tấn, tăng 6,59%. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.395,6 nghìn con, tăng 8,05% so với cùng thời điểm năm trước (trong đó gà các loại 16.029,8 nghìn con, chiếm 71,58% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,13%); sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 25.094,5 tấn, tăng 10,95% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 77.340,8 tấn, tăng 10,75%; sản lượng trứng quý IV/2025 ước đạt 312,3 triệu quả, tăng 2,6%, sản lượng trứng cả năm ước đạt 1.249,1 triệu quả, tăng 4,41%. Tổng đàn gia cầm và sản lượt thịt hơn tăng cao so với năm trước nhờ sự đóng góp của Công ty cổ phần MeBi Farm với quy mô trên 202 nghìn con gà đẻ trứng đã góp phần đáng kể vào việc nâng tổng đàn. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, bệnh DTLCP phát sinh tại 13 hộ tại 09 thôn của 04 xã với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 575 con/28.942 kg. Lũy kế, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 2.480 con/131.692,2 kg. Đến nay, có 21/25 xã đã qua 21 ngày không phát sinh lợn mắc bệnh, 04/25 xã dịch bệnh chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong năm 2025, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có nhiều chuyển biến tích cực; công tác trồng rừng, khôi phục và bảo vệ rừng thực hiện hiệu quả; diện tích rừng trồng mới và số cây xanh phân tán đều vượt kế hoạch; số vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp giảm so với cùng kỳ năm 2024. Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh đã vào mùa khô, không phát sinh thêm diện tích rừng trồng mới tập trung, giảm 1.705,7 ha so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 diện tích rừng trồng mới ước đạt 532 ha, giảm 54,22%; lũy kế năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 5.030 ha, giảm 22,61% so với năm trước; trồng cây xanh phân tán ước đạt 17,42 triệu cây. Trong tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 50.605,2 m3, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 ước đạt 85.697 m3, giảm 4,43%; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 368.390 m3, giảm 3,88%. Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 13.530 ste, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 ước đạt 42.326 ste, tăng 0,54%; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 270.472 ste, tăng 6,95%. Trong năm 2025, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 390 vụ (179 vụ đã xác định được đối tượng vi phạm), trong đó có 173 vụ phá rừng trái pháp luật (80 vụ xác định được đối tượng vi phạm) với diện tích rừng thiệt hại 29,99 ha. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ vi phạm giảm 365 vụ (số vụ phá rừng giảm 133 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại do phá rừng giảm 24,6 ha. 4. Thuỷ sản Trong năm 2025, sản lượng nuôi trồng giảm và khai thác đều tăng so với năm trước; hoạt động sản xuất giống, nhất là tôm giống được duy trì tốt nhờ kiểm soát chất lượng giống và hệ thống xét nghiệm chặt chẽ; đẩy mạnh công tác chống khai thác IUU. - Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 5.702,5 tấn, tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 513,5 tấn, tăng 2,68%); quý IV/2025 ước đạt 5.420 tấn, giảm 0,33% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.500 tấn, tăng 11,11%); lũy kế năm 2025 ước đạt 28.727 tấn, giảm 5,55% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 5.100 tấn, tăng 3,13%). - Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 20.865,3 tấn, tăng 8,74% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 19.901,1 tấn, tăng 6,18%); quý IV/2025 ước đạt 69.730 tấn, tăng 4,43% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế năm 2025, sản lượng khai thác đạt 252.530 tấn, tăng 4,89% (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 251.920 tấn, tăng 5,39%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Trong năm 2025 hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Công tác quản lý chất lượng giống thuỷ sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,08 tỷ post, giảm 2,92% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế năm 2025 ước đạt 24,63 tỷ post, tăng 6,32% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản qua các năm III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp năm 2025, duy trì đà phục hồi và tăng trưởng ổn định, cơ cấu ngành chuyển biến theo hướng tích cực, tiêu thụ sản phẩm cải thiện, tồn kho được kiểm soát, các khu công nghiệp tiếp tục thu hút đầu tư, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển công nghiệp trong thời gian tới. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 2,14% so với tháng trước và tăng 12,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 9,32% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 18,20%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,64%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,02%. Dự ước quý IV/2025 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 11,63% so với quý trước và tăng 10,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,09%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 13,61%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,05%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,71%. Tính chung cả năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,46%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,01%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,9%. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) qua các năm 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 401.399 m3, giảm 1,17% so với tháng trước và tăng 18,69% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 973.399 m3, tăng 6,29% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 4.199.087 m3, tăng 10,21% so với cùng kỳ. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.167 tấn, tăng 10,44% so với tháng trước và tăng 13,52% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 8.967 tấn, tăng 16,81% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 37.063 tấn, tăng 17,52% so với cùng kỳ. Một số công ty đã đưa được sản phẩm vào siêu thị Mega mark và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua Malaisya, Indonexia. - Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.622 tấn, tăng 4,46% so với tháng trước và tăng 37,59% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 5.984 tấn, tăng 0,16% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 22.584 tấn, tăng 0,03% so với cùng kỳ. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 862 nghìn đôi, tăng 35,20% so với tháng trước và tăng 66,83% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 2.052 nghìn đôi, tăng 45,09% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 6.548 nghìn đôi, tăng gấp 1,78 lần so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng vào các tháng cuối năm và năng lực tăng thêm ở Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 9.172 tấn tăng 32,45% so với tháng trước và tăng 23,87% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 29.412 tấn, tăng 35,02% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 127.695 tấn, tăng 22,71% so với cùng kỳ, nguyên nhân do năm 2025 nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông đi vào sản xuất. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 176,8 nghìn tấn, tăng 1,48% so với tháng trước và tăng 44,80% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 374,857 nghìn tấn, tăng 11,74% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 1.584,396 nghìn tấn, tăng 4,39% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 4.552 triệu kwh, tăng 4,23% so với tháng trước và tăng 15,01% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 9.015 triệu kwh tăng 7,51% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 36.652 triệu kwh, tăng 2,04% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 459 triệu kwh, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 3,31% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 1.370 triệu kwh tăng 1,35% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 5.483 triệu kwh, giảm 0,19% so với cùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 5,61% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,68%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,09%; trong khi ngành khai khoáng giảm 0,83% và ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6%. Tính chung cả năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,69% so với năm trước, chủ yếu nhờ mức tăng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,27% và ngành sản xuất, phân phối điện tăng 2,72%; ngành khai khoáng giảm mạnh 16,06%. Theo loại hình doanh nghiệp, so với cùng kỳ năm trước chỉ số sử dụng lao động trong tháng của doanh nghiệp nhà nước tăng 0,26%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 7,70% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5,32%. Mức tăng cao của chỉ số sử dụng lao động trong tháng và xu hướng cao hơn bình quân năm 2025 cho thấy tín hiệu tích cực của thị trường lao động, phản ánh nhu cầu tuyển dụng tăng nhằm phục vụ sản xuất, kinh doanh cuối năm và triển vọng phát triển của các ngành công nghiệp trong thời gian tới. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 2,26% so với tháng trước và giảm 5,94% so với cùng kỳ; lũy kế năm 2025 chỉ số tiêu thụ tăng 7,68% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ năm 2025 tăng như: sản xuất thực phẩm tăng 2,46%; dệt tăng 5,87%; sản xuất trang phục tăng 22,65%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 72,35%; chế biến gỗ tăng 15,60%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 18,75%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 23,72%... Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: sản xuất đồ uống giảm 8,16%;... Nhìn chung chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm 2025 tăng so với cùng kỳ là một tín hiệu tốt trong nền kinh tế nói chung và sản xuất công nghiệp nói riêng đang chịu ảnh hưởng của những biến động khó lường từ tình hình kinh tế thế giới. 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 1,80% so với tháng trước và tăng 7,84% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,60%; ngành dệt tăng 3,12%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 194,97%;… Ngược lại những ngành giảm như: sản xuất đồ uống giảm 92,95%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 14,05%. 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Theo kết quả khảo sát các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, trong quý IV/2025 so với quý III/2025, có 30,82% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn, 39,73% doanh nghiệp cho rằng ổn định và 29,45% doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn. Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh gồm: 53,70% doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 48,15% doanh nghiệp đánh giá tính cạnh tranh của hàng trong nước cao; 31,48% doanh nghiệp cho biết không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 25,93% doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính; 24,07% doanh nghiệp phản ánh thiếu nguyên, nhiên vật liệu và 24,07% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp. Ngoài ra, 16,67% doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao; 14,81% doanh nghiệp đánh giá tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; và 22,22% doanh nghiệp cho rằng chính sách pháp luật của Nhà nước cùng một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Dự báo quý I/2026 so với quý IV/2025, có 75,34% doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và thuận lợi hơn, trong đó 28,08% doanh nghiệp dự báo tốt hơn và 47,26% doanh nghiệp cho rằng ổn định; 24,66% doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Chỉ số cân bằng của chỉ tiêu tình hình sản xuất kinh doanh đạt +3,42%, cho thấy môi trường kinh doanh có xu hướng cải thiện; doanh nghiệp kỳ vọng nền kinh tế tiếp tục ổn định, khó khăn của thị trường trong nước và quốc tế dần được tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh trong thời gian tới.Tỷ lệ các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý IV/2025 (%) 1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Các KCN trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 06 dự án đầu tư (01 dự án FDI và 05 dự án đầu tư trong nước) với diện tích khoảng 22,23 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 452 tỷ đồng và 35 triệu USD. Lũy kế đến nay có 228 dự án (51 dự án FDI và 177 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 43.326,61 tỷ đồng và 466,44 triệu USD và diện tích đất đăng ký 712,68 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,24%. Cụ thể: - KCN Lộc Sơn thu hút được 55 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 46 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 3.120,43 tỷ đồng và 48,63 triệu USD, diện tích đất đã cho thuê lại 115,77ha/132,62 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 87,29%. - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 2.384,12 tỷ đồng và 77,10 triệu USD, diện tích đất cho thuê lại 55,95 ha/74,58 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 74,8 triệu USD và 857,94 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 51,44 ha/51,44 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với tổng vốn đầu tư đăng ký 11,85 triệu USD và 548,08 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,09 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 21 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 13 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.676,9 tỷ đồng và 56,18 triệu USD, diện tích đất cho thuê 59,25 ha/90,78 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 65,27%. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 17 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 772,41 tỷ đồng và 185,58 triệu USD, diện tích đất cho thuê 87,99 ha/276,93 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 31,77%. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 13.544,93 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 58,35 ha/202,32 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức thu hút được 01 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 100 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 1,5 ha/210,84 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 47 dự án đầu tư (gồm 04 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 43 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký đầu tư 1.948,8 tỷ đồng và 12,3 triệu USD; diện tích thuê lại 130 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,42 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Hoạt động ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá, giá trị sản xuất tăng so với năm trước; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giữ vai trò chủ lực, trong khi xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng và nhà ở là động lực tăng trưởng chính. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng nhìn chung ổn định và có triển vọng tích cực, tạo nền tảng thuận lợi cho ngành xây dựng tiếp tục phát triển. Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý IV/2025 theo giá hiện hành ước đạt 19.531 tỷ đồng, tăng 8,45% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025, giá trị sản xuất xây dựng ước đạt 62.658,8 tỷ đồng, tăng 9,67% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất với 34.983,9 tỷ đồng (55,83%), tăng 13,65%; loại hình kinh tế khác đạt 26.869,8 tỷ đồng (42,88%), tăng 9,15%. Ngược lại, doanh nghiệp nhà nước chỉ đạt 102,1 tỷ đồng (0,16%), giảm 79,43%, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 702,8 tỷ đồng (1,12%), giảm 43,11% so với cùng kỳ. Theo loại công trình, quý IV/2025, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành của công trình nhà ở ước đạt 7.991,42 tỷ đồng, tăng 1,38% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 4.148 tỷ đồng, tăng 23,96%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 5.375,9 tỷ đồng, tăng mạnh 79,51%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.016,4 tỷ đồng, tăng 7,76%. Lũy kế năm 2025, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành của công trình nhà ở ước đạt 26.715,8 tỷ đồng, tăng 11,57% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 11.977,9 tỷ đồng, tăng 0,68%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 16.883,6 tỷ đồng, tăng 13,29%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 7.081,5 tỷ đồng, tăng 10,83% so với cùng kỳ.Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trìnhqua các năm (theo giá so sánh 2010) - (ĐVT: Tỷ đồng) Kết quả khảo sát xu hướng hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy 73,5% doanh nghiệp xây dựng nhận định tình hình sản xuất trong quý IV/2025 ổn định hoặc thuận lợi hơn quý III/2025, trong đó giá trị xây dựng dân dụng tăng 13,24% so với quý III/2025, phản ánh nhiều tín hiệu tích cực của lĩnh vực xây dựng. Bên cạnh đó, 72% doanh nghiệp xây dựng dự báo tình hình sản xuất trong quý I/2026 sẽ ổn định hoặc thuận lợi hơn quý IV/2025. Dự kiến trong năm 2026, ngành xây dựng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ tổng vốn đầu tư công ở mức cao, tập trung vào giao thông, kết nối vùng, cùng với việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công và tăng tốc triển khai các dự án hạ tầng, đô thị và du lịch, tạo động lực thúc đẩy thị trường vật liệu xây dựng và xây dựng dân dụng phát triển. 3. Đầu tư phát triển Tình hình hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng so với cùng kỳ; môi trường đầu tư cải thiện với số doanh nghiệp thành lập mới và quay lại hoạt động tăng mạnh. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân và triển khai một số dự án, công trình trọng điểm còn chậm do vướng mắc về mặt bằng, thủ tục và năng lực nhà thầu, đòi hỏi tiếp tục tập trung tháo gỡ để tạo động lực tăng trưởng thời gian tới. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn quý IV/2025 ước đạt 35.403,9 tỷ đồng, tăng 11,51% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 111.398,2 tỷ đồng, tăng 8,48% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn nhà nước đạt 24.830,5 tỷ đồng (chiếm 22,29%), tăng 4,14%; vốn ngoài nhà nước đạt 82.649,3 tỷ đồng (chiếm 74,19%), tăng 10,01%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 3.918,4 tỷ đồng (chiếm 3,52%), tăng 5,41%. Đáng chú ý, dự án Nhà máy chế biến khoai lang cắt lát đông lạnh tại KCN Tâm Thắng của Công ty TNHH Sejin F&S Vina (Hàn Quốc) với tổng vốn đầu tư hơn 155 tỷ đồng được khởi công đầu năm 2025, dự kiến đi vào hoạt động đầu năm 2026.Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn qua các năm(ĐVT: Tỷ đồng) Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng ước đạt 1.768,2 tỷ đồng, tăng 5,79% so với tháng trước và giảm 1,35% so với tháng cùng kỳ năm trước do cuối năm điều chỉnh giảm kế hoạch vốn. Lũy kế cả năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 14.411,5 tỷ đồng, tăng 5,41% so với cùng kỳ năm trước, đạt 90,74% so với kế hoạch. Trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 14.371,2 tỷ đồng, tăng 5,52% so với cùng kỳ năm trước, đạt 90,82% so với kế hoạch; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 40,3 tỷ đồng, giảm 23,88% so với cùng kỳ năm trước, đạt 69,53% so với kế hoạch. Trong năm 2025 (tính đến 22/12/2025), toàn tỉnh có 48 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký 19.384,4 tỷ đồng. Lũy kế đến thời điểm hiện nay, tỉnh Lâm Đồng có 2.927 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn khoảng 2.009.973,8 tỷ đồng, trong đó có 236 dự án FDI với tổng vốn 224.284 tỷ đồng. Trong tháng (tính đến 18/12/2025), có 422 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 4,98% so với tháng trước và tăng 119,79% so với cùng kỳ; 96 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 123,26%; 56 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 28,21%; 73 doanh nghiệp giải thể, giảm 19,78% so với tháng trước. Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh có 4.183 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 78,61%; 822 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 22,14%; 1.713 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 12,4%; 833 doanh nghiệp giải thể, tăng 76,48% so với cùng kỳ. Tổng vốn đăng ký đạt 22.959 tỷ đồng, tăng 18,76%; số lao động đăng ký 16.558 người, tăng 19,12%. Bình quân mỗi tháng có trên 400 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, trong khi gần 70 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. * Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm Trong năm 2025, việc triển khai các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là tiến độ giải ngân vốn chậm so với kế hoạch do vướng mắc về quy hoạch khoáng sản, cấp phép vật liệu xây dựng, năng lực một số nhà thầu và công tác giải phóng mặt bằng; tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện. - Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành có tổng chiều dài 124,13 km, quy mô 4 làn xe, chia thành 5 dự án thành phần; trong đó các dự án thành phần do tỉnh Đắk Nông (cũ) phụ trách gồm dự án đường gom, cầu vượt với vốn bố trí 32,5 tỷ đồng, giải ngân 17,3 tỷ đồng, đạt 22,13%, và dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được bố trí 217,5 tỷ đồng. - Dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc đã hoàn thành công tác cắm cọc, bàn giao mặt bằng tại các địa phương có tuyến đi qua, dự kiến giải ngân khoảng 1.200 tỷ đồng đến ngày 31/01/2026. - Dự án cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương (giai đoạn 1) đã khởi công hơn 5 tháng nhưng chưa thể triển khai thi công do vướng mặt bằng; đến đầu tháng 12/2025, công tác giải phóng mặt bằng đạt 98,36% với 2.404/2.440 hồ sơ được kiểm đếm, song vẫn còn một số khó khăn liên quan đến giá bồi thường và hồ sơ đất đai. - Dự án đường Đạo Nghĩa - Quảng Khê giai đoạn 2 có tổng mức đầu tư 830 tỷ đồng, chiều dài 25,8 km hiện chưa có mặt bằng sạch, tiến độ chậm, tỉnh đã xem xét điều chuyển một phần vốn sang các dự án có khả năng triển khai nhanh hơn. - Dự án Nâng cấp Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Nông (cũ) có tổng mức đầu tư 753 tỷ đồng, kế hoạch vốn năm 2025 là 270,4 tỷ đồng; đến nay các hạng mục chính đạt 95–98% khối lượng và dự kiến hoàn thành, đưa vào sử dụng cuối tháng 12/2025. - Dự án Quảng trường trung tâm thành phố Gia Nghĩa (cũ) với tổng mức đầu tư hơn 400 tỷ đồng đang được đẩy nhanh tiến độ, tập trung hoàn thiện các hạng mục mặt sân, hạ tầng kỹ thuật và cảnh quan. - Dự án cải thiện môi trường đô thị Gia Nghĩa được phê duyệt tại Quyết định số 405/QĐ-UBND ngày 21/3/2025 với tổng mức đầu tư 1.499,21 tỷ đồng (vốn vay ADB 1.001,94 tỷ đồng, vốn đối ứng 497,28 tỷ đồng) và đã chính thức khởi công trong năm 2025. - Các dự án cải tạo, nâng cấp Tỉnh lộ 1, 2, 3 tiếp tục triển khai, trong đó Tỉnh lộ 1 hoàn thành khoảng 30% khối lượng, Tỉnh lộ 2 đã thông xe kỹ thuật trước Tết Nguyên đán 2026, Tỉnh lộ 3 dự kiến đưa vào sử dụng trong quý I/2026 nhưng còn bị ảnh hưởng bởi chồng lấn quy hoạch bô-xít. - Dự án Cảng hàng không Phan Thiết (hạng mục hàng không dân dụng theo hình thức BOT) và Khu đô thị sân bay Phan Thiết có tổng mức đầu tư dự kiến 3.797 tỷ đồng, công suất thiết kế 2 triệu hành khách/năm đến năm 2030. - Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh đang hoàn thiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư, đồng thời triển khai xây dựng 8 khu tái định cư với tổng diện tích 27,7 ha, tổng vốn khoảng 429 tỷ đồng; đã niêm yết phương án bồi thường 100/111 trường hợp và phê duyệt 14/111 trường hợp. - Dự án đường và quỹ đất từ Lê Duẩn lên đường bộ cao tốc đã cơ bản hoàn thành công tác cắm cọc, đang hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi, với diện tích thu hồi khoảng 242 ha. - Dự án đường trục ven biển ĐT.719B đoạn Phan Thiết - Kê Gà đã đưa vào khai thác 17,8 km, phần còn lại 3,88 km tiếp tục vướng mặt bằng khu vực mỏ titan; đoạn Hòn Lan - Tân Hải đang duy trì thi công song tiến độ vẫn chịu ảnh hưởng bởi mặt bằng. - Dự án cầu Văn Thánh tiếp tục chậm tiến độ do vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. - Dự án nâng cấp Quốc lộ 28B có tổng chiều dài 68 km, tổng mức đầu tư hơn 1.400 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành tháng 3/2026; dự án sửa chữa Quốc lộ 27, 27C, 55 đoạn Km106-Km116 có kinh phí 52,8 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành cuối năm 2025. - Các dự án thủy lợi như hồ Ka Zam (495,5 tỷ đồng), hồ Ta Hoét (981,6 tỷ đồng) và hồ Ka Pét tiếp tục gặp khó khăn về giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư. - Dự án cải thiện cơ sở hạ tầng phát triển nông nghiệp từ nguồn vốn ODA của Nhật Bản có tổng mức đầu tư 1.159,44 tỷ đồng đang triển khai công tác bồi thường và lựa chọn nhà thầu. - Dự án đường Cam Ly - Phước Thành đạt khoảng 73,11% giá trị hợp đồng; dự án xây dựng thay thế 5 cầu yếu đã hoàn thành 3 cầu; dự án hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây - Đạ Sị đang thực hiện đo đạc, kiểm đếm phục vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Trong năm 2025 hoạt động thương mại, dịch vụ ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đời sống, sinh hoạt của nhân dân; lưu thông hàng hóa thông suốt, tình hình thị trường và giá cả hàng hóa trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định, không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá quá mức; xúc tiến thương mại trong và ngoài nước tiếp tục được quan tâm; du lịch tiếp tục phát triển ổn định, thúc đẩy tăng trưởng các ngành kinh tế tại địa phương; vận tải kho bãi diễn ra khá nhộn nhịp, tăng khá so với cùng kỳ năm trước. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Tình hình thị trường bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng trưởng ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân, nhất là trong dịp cuối tuần, lễ, tết. Các trung tâm siêu thị, chợ, các cơ sở kinh doanh tăng cường phục vụ người dân và du khách, không để xảy ra gián đoạn kinh doanh, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa; giá cả thị trường hàng hóa luôn ổn định, không tăng đột biến. Hoạt động du lịch, nhà hàng, cơ sở ăn uống, cơ sở lưu trú và các dịch vụ khác luôn mở cửa phục vụ cho người dân và du khách. Trong tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 25.203,5 tỷ đồng, tăng 5,49% so với tháng trước và tăng 24,41% so với cùng kỳ; trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 16.879,2 tỷ đồng, tăng 4,57% so với tháng trước và tăng 22,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 5.688,1 tỷ đồng, tăng 8,89% so với tháng trước và tăng 33,38% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.636,2 tỷ đồng, tăng 4,34% so với tháng trước và tăng 16,68% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 73.109 tỷ đồng, tăng 7,87% so với quý trước và tăng 23,29% so với cùng kỳ; trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 49.131,4 tỷ đồng, tăng 9,47% so với quý trước và tăng 22,36% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 16.296,6 tỷ đồng, tăng 10,9% so với quý trước và tăng 30,34% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 7.678 tỷ đồng, giảm 6,29% so với quý trước và tăng 15,62% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông quý IV/2025 ước đạt 117,4 tỷ đồng, tăng 3,06% so với quý trước và tăng 4,25% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 263,6 tỷ đồng, tăng 4,19% so với quý trước và tăng 10,29% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 261.381,8 tỷ đồng, tăng 16,28% so với cùng kỳ năm trước; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 175.214,4 tỷ đồng, tăng 16,25%; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 57.254,8 tỷ đồng, tăng 19,06%; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 28.912,6 tỷ đồng và tăng 11,31%. Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông đạt 449,2 tỷ đồng, tăng 3,81% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 969,5 tỷ đồng, tăng 7,46%. Nhìn chung, thị trường bán lẻ và dịch vụ năm 2025 tăng trưởng ổn định, nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và du lịch, đặc biệt trong các dịp lễ, tết.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ qua các năm (ĐVT: tỷ đồng) Riêng tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 16.879,2 tỷ đồng, tăng 4,57% so với tháng trước và tăng 22,89% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 49.134,4 tỷ đồng, tăng 9,47% so với quý trước và tăng 22,36% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 175.214,4 tỷ đồng, tăng 16,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: lương thực, thực phẩm ước đạt 81.422,4 tỷ đồng, tăng 21,22% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 17.714,2 tỷ đồng, tăng 16,29% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 16.399,1 tỷ đồng, tăng 6,94% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 23.000,3 tỷ đồng, tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Tình hình lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra thuận lợi, các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cơ sở kinh doanh bán lẻ hoạt động bình thường, cung ứng lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng về chủng loại, phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, không có tình trạng găm hàng, sốt giá; không có hiện tượng mất an toàn thực phẩm. Các cửa hàng xăng dầu trên địa bàn tỉnh cung ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân. Kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường từ ngày 15/11-14/12/2025: Tổng số vụ kiểm tra: 70 vụ; tổng số vụ vi phạm: 69 vụ; tổng số vụ xử lý: 75 vụ (06 vụ kỳ trước chuyển sang); số vụ đang xử lý: 01 vụ (từ kỳ trước chuyển sang); tổng số tiền xử phạt: 442,75 triệu đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy: 317,85 triệu đồng. Kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/12/2025: Tổng số vụ kiểm tra: 752 vụ; tổng số vụ vi phạm và xử lý hành chính: 678 vụ (01 vụ thanh tra kỳ trước chuyển sang); tổng số vụ chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra: 02 vụ; số vụ đang xử lý: 01 vụ; tổng số tiền xử phạt: 5.282,86 triệu đồng; trị giá hàng hóa vi phạm: 3.430,37 triệu đồng. 2. Giá cả 2.1. Giá tiêu dùng (CPI) Giá lương thực, thực phẩm, giá gas, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 5,86% so với cùng kỳ năm trước, CPI bình quân 12 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,56%.Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 12 so với cùng kỳ qua các năm (ĐVT: %) So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 07 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,26%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,67%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,54%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,33%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,27%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,05%; Giáo dục tăng 0,05%. Có 01 nhóm hàng giá ổn định: Thuốc và dịch vụ y tế 100%. Có 03 nhóm hàng giảm giá: Đồ uống và thuốc lá giảm 0,06%; Thông tin và truyền thông giảm 0,12%; Giao thông giảm 1,03%. * Nguyên nhân làm tăng, giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng CPI: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,26% so với tháng trước, do ảnh hưởng ngập lụt, nguồn cung các mặt hàng như gạo, rau tươi, thịt lợn, thịt gia cầm tăng nên giá lương thực, thực phẩm tăng so với tháng trước. Đồng thời tháng 12 đang là mùa cưới hỏi, mùa Noel, Tết Dương lịch sắp đến, nhu cầu tiêu dùng thị trường tăng cao. Giá gas tháng 12/2025 tăng 2,18% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh tăng 8.500 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới. Giá gas thế giới bình quân tháng 12/2025 công bố ở mức 490 USD/tấn, tăng 22,5 USD/tấn so với tháng 11/2025. Chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,63% do giá xi măng, cát, đá, gạch xây, gạch bê tông, tấm lợp, sơn tường… tăng theo giá nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất và nhu cầu sửa chữa, xây dựng cuối năm tăng cao. - Nguyên nhân làm giảm CPI: Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 04, 11, 18 và 25 tháng 12/2025, tính bình quân chung tháng 12/2025 chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu giảm 2,37% so với tháng trước. Giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,12% so tháng trước, do các cửa hàng điện máy xanh, cửa hàng thế giới di động đang có chương trình khuyến mãi nhân dịp cuối năm các mặt hàng điện thoại, phụ kiện điện thoại… * Các yếu tố làm tăng, giảm CPI năm 2025 so bình quân cùng kỳ - Các yếu tố làm tăng CPI bình quân năm 2025: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 13,82% làm CPI chung tăng 0,85 điểm phần trăm, áp dụng giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế; Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,34% làm CPI chung tăng 0,80 điểm phần trăm, do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 8,38% do nhu cầu sử dụng điện tăng đồng thời ngày 09/5/2025 EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân; Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,62% làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó các mặt hàng trang sức bằng vàng tăng 29,41% do ảnh hưởng giá vàng trong trước tăng theo giá vàng thế giới; giá bảo hiểm y tế tăng 14,02% do tăng theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng từ 1.800.000 đồng lên 2.340.000 đồng, theo đó bảo hiểm y tế cho cán bộ công chức và người lao động cũng được tăng theo; Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,01% tác động làm CPI chung tăng 1,41 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 4,51%, tác động làm CPI chung tăng 1,02 điểm phần trăm, tăng mạnh chủ yếu giá thịt lợn tăng 10,35%. Nguyên nhân do nguồn cung ít, nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp Lễ, Tết; Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,92%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,75%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,38%. Nguyên nhân do tăng cao trong dịp Lễ Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán thị trường tiêu dùng; Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 2,39%, làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Các yếu tố làm giảm CPI bình quân năm 2025: Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, bình quân năm 2025 giảm 2,36% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 1,58% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,15 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 7,86%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất - Giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản: Quý IV/2025, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,46% so với quý trước và tăng 7,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá sản phẩm nông nghiệp tăng mạnh, chủ yếu do giá cây lâu năm và một số nông sản chủ lực tiếp tục duy trì ở mức cao nhờ nhu cầu thị trường ổn định và chi phí đầu vào tăng. Giá sản phẩm chăn nuôi có xu hướng tăng chậm hơn do nguồn cung dồi dào, trong khi giá lâm nghiệp và thủy sản biến động nhẹ, chịu tác động của điều kiện thời tiết và chi phí khai thác. Tính chung năm 2025, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 16,11% so với năm trước; trong đó nông nghiệp tăng 17,25%, chăn nuôi tăng 8,87%, lâm nghiệp tăng 3,07% và thủy sản tăng 4,25%. Mức tăng này phản ánh rõ tác động của biến động thời tiết, chi phí vật tư nông nghiệp tăng và nhu cầu tiêu thụ, xuất khẩu nông sản cải thiện. - Giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất: Quý IV/2025, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước, tập trung chủ yếu ở nhóm sản phẩm khai khoáng, điện, khí đốt và hơi nước. Giá một số loại vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất công nghiệp và xây dựng duy trì ở mức cao do chi phí năng lượng, vận chuyển và nhập khẩu tăng. Bình quân năm 2025, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu tăng 2,83% so với năm trước; trong 7 nhóm sản phẩm chính, các nhóm hàng đều tăng giá so với cùng kỳ năm trước, gồm: nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,22%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 10,26%; nguyên vật liệu khác tăng 0,11%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,77%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,53%; sản phẩm xây dựng tăng 3,31%; dịch vụ chuyên môn khoa học và công nghệ tăng 3,75%. Nhìn chung, giá nguyên, nhiên vật liệu trong quý IV và cả năm 2025 có xu hướng tăng, phản ánh chi phí đầu vào gia tăng do tác động của giá năng lượng và nguyên liệu cơ bản; tuy nhiên mức tăng bình quân năm vẫn được kiểm soát, cho thấy công tác điều hành giá hiệu quả và phù hợp với đà phục hồi, mở rộng sản xuất của các ngành kinh tế. - Giá sản xuất công nghiệp: Quý IV/2025, giá sản xuất công nghiệp tiếp tục chịu tác động từ biến động tăng của giá nguyên, nhiên vật liệu, đặc biệt là điện, nhiên liệu và khoáng sản, làm chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên. Tuy nhiên, mức tăng giá được kiểm soát nhờ năng lực điều tiết sản xuất và thị trường tiêu thụ tương đối ổn định. Tính chung năm 2025, giá sản xuất công nghiệp biến động phù hợp với xu hướng tăng của giá đầu vào, phản ánh áp lực chi phí đối với hoạt động sản xuất công nghiệp, đồng thời đặt ra yêu cầu doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản trị, tiết giảm chi phí và thích ứng với biến động giá trong thời gian tới. 3. Hoạt động du lịch Hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng tích cực, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội. Riêng tháng 12/2025, nhiều sự kiện văn hóa, du lịch quy mô lớn được tổ chức như Lễ hội Cồng chiêng Đông Nam Á 2025 với chủ đề “Âm vang Di sản - Gắn kết tương lai”, Lễ hội Trà quốc tế - World Tea Fest 2025, Trình diễn thời trang thổ cẩm, Lễ hội Di sản Cà phê toàn cầu 2025 (gồm không gian trưng bày “Cà phê và Di sản Việt Nam”, không gian ẩm thực - thưởng thức cà phê, triển lãm lịch sử cà phê, trải nghiệm pha chế, đêm nhạc “Coffee Music Night”) và Chương trình Countdown chào đón năm mới 2026, đã thu hút đông đảo người dân và du khách. Hoạt động lữ hành và các dịch vụ hỗ trợ được tăng cường, đáp ứng tốt nhu cầu tham quan, trải nghiệm. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch và liên kết vùng tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hình ảnh điểm đến; nhiều khu, điểm du lịch như NovaWorld Phan Thiết, Phú Quý, Thung lũng Tình yêu, Hồ Xuân Hương, thác Prenn, Cù Lao Câu ngày càng khẳng định sức hút, tạo động lực cho tăng trưởng du lịch bền vững trong năm 2025. Trong tháng, lượt khách du lịch ước đạt 1.852,1 nghìn lượt khách, tăng 10,22% so với tháng trước và tăng 23,86% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khách trong ngày đạt 66,2 nghìn lượt, tăng 5,86% so với tháng trước và tăng 8,58% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 3.453,7 nghìn ngày, tăng 10,88% so với tháng trước và tăng 33,48% so với cùng kỳ; lượt khách quốc tế đạt 130 nghìn lượt, tăng 15,59% so với tháng trước và tăng 58,03% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ đạt 349,3 nghìn ngày khách, tăng 16,81% so với tháng trước và tăng 69,93% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025, lượt khách du lịch ước đạt 5.424 nghìn lượt, tăng 9,1% so với quý trước và tăng 17,64% so với cùng kỳ (trong đó khách trong ngày đạt 204,9 nghìn lượt, tăng 11,03% so với quý trước và tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 9.658,4 nghìn ngày, tăng 7,36% so với quý trước và tăng 18,27% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách quốc tế đạt 330,9 nghìn lượt, tăng 27,05% so với quý trước và tăng 41,66% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ đạt 929,5 nghìn ngày khách, tăng 13,46% so với quý trước và tăng 59,24% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, lượt khách du lịch tiếp tục là điểm sáng của khu vực dịch vụ, với 20.733,1 nghìn lượt khách, tăng 17,91% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 809,9 nghìn lượt, tăng 9,99%); ngày khách phục vụ ước đạt 38.145,6 nghìn ngày khách, tăng 22,65%; lượt khách quốc tế ước đạt 1.287 nghìn lượt khách, tăng 39,78%; ngày khách phục vụ ước đạt 4.018,8 nghìn ngày khách, tăng 61,74%. Thị trường khách quốc tế đến tỉnh chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Mỹ, Đài Loan, Đức, Anh, Malaixia.... Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 1.117,3 tỷ đồng, tăng 11,3% so với tháng trước và tăng 45,56% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.466,2 tỷ đồng, tăng 8,39% so với tháng trước và tăng 29,09% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 104,6 tỷ đồng, tăng 5,25% so với tháng trước và tăng 2,8 lần so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 3.181,2 tỷ đồng, tăng 13,48% so với quý trước và tăng 37,91% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 12.891,7 tỷ đồng, tăng 9,02% so với quý trước và tăng 27,73% so với quý cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 223,7 tỷ đồng, tăng 3,3 lần so với quý trước và tăng 2,16 lần so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 11.007,3 tỷ đồng, tăng 21,48% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 45.599,1 tỷ đồng, tăng 17,93% so cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 648,3 tỷ đồng, tăng 78,47% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.094,1 tỷ đồng, tăng 10,88% so với tháng trước và tăng 21,61% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 ước đạt 14.307,6 tỷ đồng, tăng 8,05% so với quý trước và tăng 23,45% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 ước đạt 56.610,6 tỷ đồng, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách và ngày khách phục vụ qua các năm 4. Hoạt động dịch vụ khác Trong năm, tình hình hoạt động các ngành dịch vụ khác duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh nhu cầu xã hội phục hồi và mở rộng, đặc biệt ở các lĩnh vực bất động sản, giáo dục - đào tạo, y tế và dịch vụ vui chơi, giải trí; tuy có biến động giảm theo quý do yếu tố mùa vụ nhưng xu hướng chung cả năm vẫn tích cực. Trong tháng, tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.636,2 tỷ đồng, tăng 4,34% so với tháng trước và tăng 16,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 315 tỷ đồng, tăng 1,89% so với tháng trước và tăng 12,94% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 116,7 tỷ đồng, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 87,3 tỷ đồng, tăng 3,81% so với tháng trước và tăng 12,93% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 156,6 tỷ đồng, tăng 3,67% so với tháng trước và tăng 28,97% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.412,7 tỷ đồng, tăng 5% so với tháng trước và tăng 18,17% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 547,8 tỷ đồng, tăng 4,41% so với tháng trước và tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025, tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 7.678 tỷ đồng, giảm 6,29% so với quý trước và tăng 15,62% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 921 tỷ đồng, tăng 5,79% so với quý trước và tăng 12,84% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 337,2 tỷ đồng, giảm 10,11% so với quý trước và tăng 8,49% so với quý cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 258 tỷ đồng, tăng 1,04% so với quý trước và tăng 14,33% so với quý cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 458,6 tỷ đồng, giảm 4,49% so với quý trước và tăng 29,21% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 4.110,7 tỷ đồng, giảm 9,73% so với quý trước và tăng 16,76% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.592,4 tỷ đồng, giảm 3,99% so với quý trước và tăng 12,9% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 28.912,6 tỷ đồng, tăng 11,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 3.262,6 tỷ đồng, tăng 14,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 1.290,3 tỷ đồng, tăng 13,83% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 929,5 tỷ đồng, tăng 28,99% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 1.567,1 tỷ đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 15.810 tỷ đồng, tăng 9,75% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 6.053 tỷ đồng, tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Tình hình hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá và ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hóa và phát triển sản xuất, kinh doanh. Vận tải hành khách và hàng hóa đều tăng cả về khối lượng vận chuyển và luân chuyển; doanh thu vận tải, kho bãi tăng khá, đặc biệt là dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải. Hoạt động thông quan hàng hóa qua Cảng quốc tế Vĩnh Tân diễn ra ổn định, chủ yếu là xuất khẩu các mặt hàng vật liệu và sản phẩm công nghiệp, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa và tăng trưởng kinh tế địa phương. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.088,2 nghìn HK, tăng 5,32% so với tháng trước và tăng 17,38% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 577.285,4 nghìn HK.Km, tăng 5,36% so với tháng trước và tăng 12,44% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 lượt khách vận chuyển ước đạt 11.872,1 nghìn HK, tăng 15,56% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.675.560,5 nghìn HK.Km, tăng 11,45% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 46.326,2 nghìn HK, tăng 12,11% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 6.727.883,2 nghìn HK.Km, tăng 12,66% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng 2025 ước đạt 2.112,9 nghìn tấn, tăng 3,50% so với tháng trước và tăng 12,12% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 307.978,1 nghìn tấn.Km, tăng 3,78% so với tháng trước và tăng 16,36% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 khối lượng vận chuyển ước đạt 6.247,4 nghìn tấn, tăng 11,41% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 902.500,5 nghìn tấn.Km, tăng 12,91% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 22.984,9 nghìn tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 3.367.443 nghìn tấn.Km, tăng 8,23% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.306,6 tỷ đồng, tăng 4,97% so với tháng trước và tăng 18,98% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 ước đạt 3.785,6 tỷ đồng, tăng 16,50% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 ước đạt 14.416,3 tỷ đồng, tăng 15,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 6.132,1 tỷ đồng, tăng 19,31% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 6.105,1 tỷ đồng, tăng 6,81%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 2.116,5 tỷ đồng, tăng 34,11%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 62,5 tỷ đồng, tăng 15,52%. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Năm 2025 ước đạt 2.466,1 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.277,2 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 188,9 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi qua các năm (ĐVT: Tỷ đồng) V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng1. Thu ngân sách nhà nước Ước thu ngân sách nhà nước trong tháng đạt 2.928 tỷ đồng, giảm 30,66% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 ước đạt 31.319 tỷ đồng (bằng110,86% kế hoạch, tăng 9,59% so cùng kỳ). Trong đó: thu nội địa ước đạt 29.680 tỷ đồng (bằng 111,53% kế hoạch, tăng 16,38% so cùng kỳ); thu xuất nhập khẩu ước đạt 1.639 tỷ đồng, (bằng 100,00% kế hoạch, giảm 46,69% so cùng kỳ). Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa như: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.924 tỷ đồng (bằng 156,25% kế hoạch năm và tăng 71,80% so với cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.515 tỷ đồng (bằng 123,29% kế hoạch năm và tăng 10,50%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 7.035 tỷ đồng (bằng 110,91% kế hoạch năm và tăng 4,83%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 3.052 tỷ đồng (bằng 118,19% kế hoạch năm và tăng 17,95%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 4.789 tỷ đồng (bằng 94,77% kế hoạch năm và tăng 24,76%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.660 tỷ đồng (bằng 103,74% kế hoạch năm và tăng 7,88%).Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn qua các năm 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh năm 2025 ước đạt 47.984 tỷ đồng (bằng 100% kế hoạch, tăng 17,85% so với cùng kỳ). Trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 13.748 tỷ đồng, tăng 17,26% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 33.342 tỷ đồng, tăng 15,73% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động tín dụng - Công tác huy động vốn: đến 30/11/2025, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 225.531 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 29.641 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 15,13%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 223.098 tỷ đồng (chiếm 99% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.433 tỷ đồng, (chiếm 1% tổng huy động vốn). Ước đến 31/12/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 227.500 tỷ đồng, tăng 15,96 so với đầu năm, tương ứng tăng 36.316 tỷ đồng. - Hoạt động tín dụng: đến 30/11/2025, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 367.468 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 28.005 tỷ đồng, tăng 8,25%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 365.197 tỷ đồng (chiếm 99% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.271 tỷ đồng (chiếm 1% tổng dư nợ tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 263.023 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 104.445 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/12/2025, dư nợ cho vay đạt 373.000 tỷ đồng, tăng 9,89% so với đầu năm, tăng 33.577 tỷ đồng. - Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,18% - 0,49%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 3,63% - 4,62%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 5,19% - 5,88%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 6,01% - 6,75%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,93% - 9,28%/năm, trung dài hạn 8,57% - 9,88%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,92% - 4,13%/năm. - Dư nợ cho vay: đến 30/11/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 188.989 tỷ đồng, chiếm 51,42% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.196 tỷ đồng, chiếm 8,76% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm nghiệp đạt 146.283 tỷ đồng, chiếm 39,82% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu đạt 7.898 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2,16% trong tổng dư nợ trên địa bàn. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng tổ chức tuyên truyền kỷ niệm 20 năm ngày Di sản Văn hóa Việt Nam (23/11/2005 - 23/11/2025); tuyên truyền Liên hoan các câu lạc bộ Cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I; tổ chức triển lãm tranh cổ động tấm lớn tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và tuyên truyền các ngày lễ, các hoạt động chính trị của địa phương và đất nước. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức Lễ hội cồng chiêng Đông Nam Á với chủ đề “Âm vang Di sản - Gắn kết tương lai” gồm chuỗi các hoạt động: Liên hoan các CLB cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2025; Đêm hội “Hòa âm cồng chiêng Đông Nam Á năm 2025”; Chương trình Trình diễn thời trang thổ cẩm; Lễ hội Di sản cà phê toàn cầu năm 2025. Tổ chức trưng bày “Bó hoa lớn nhất Việt Nam” với hơn 100 loại hoa khác nhau; tổ chức Lễ hội Trà quốc tế năm 2025. Trong tháng đã thực hiện 126 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở, trường học và 14 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị: Khai mạc, bế mạc Giải đua Xe đạp các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2025 tại Nova World Phan Thiết; biểu diễn khai mạc, bế mạc Liên hoan các câu lạc bộ cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, tại phường Đông Gia Nghĩa và biểu diễn chương trình “Chào năm mới 2026” tại 03 khu vực Trung tâm, Đông và Tây Lâm Đồng; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né, Bình Thuận cũ). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng đã đón 12.581 lượt khách (Nhà trưng bày chính: 1.877 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 1.116 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 191 lượt; Cơ sở 1 (Đông Lâm Đồng) đón 9.047 lượt; Cơ sở 2 (Tây Lâm Đồng) đón 350 lượt khách tham quan. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 90 đoàn với 3.755 lượt người, trong đó có 21 khách nước ngoài. Phục vụ 09 lễ viếng, 01 lễ kết nạp Đảng. Tổ chức thực hiện 01 chương trình phát thanh “Về nguồn - Hành trình tri ân người thầy vĩ đại của dân tộc” và 01 phóng sự “Trường Dục Thanh - Điểm đến về nguồn”. Tham gia Triển lãm chuyên đề “Nơi này Bác đã đi qua -Trường Dục Thanh Phan Thiết” tại Di tích Quốc gia Đặc biệt mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, tỉnh Đồng Tháp. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 06 đoàn khách với 967 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 170 thẻ bạn đọc (63 thẻ thiếu nhi); phục vụ 237.871 lượt bạn đọc; luân chuyển 48.218 lượt tài liệu; bổ sung 324 bản sách từ nguồn biếu, tặng; xử lý kỹ thuật 600 bản sách; số hóa 75.700 trang/7 tài liệu sách tham khảo, 20 Địa chí Lâm Đồng. Trưng bày 500 bản sách nhân các ngày kỷ niệm. Cập nhật 184 tin bài lên trang website; chia sẻ bài lên mạng xã hội 289 lượt/33 bài; sưu tầm 110 tin bài về Lâm Đồng; giới thiệu 205 bản sách; phát hành 1 tập “Thông tin tư liệu Lâm Đồng - khu vực Đông Lâm Đồng” tháng 11 năm 2025 gồm 110 tin bài và tổ chức các hoạt động: Tuần lễ sáng tạo “Vẽ bìa sách yêu thích”; “Đọc sách cùng bé”. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Trong tháng tổ chức Giải Aerobic vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Võ thuật Cổ truyền Vô địch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Cờ vua học sinh tỉnh Lâm Đồng năm 2025 và Giải đua Xe đạp vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2025 - Vòng quanh Hồ Xuân Hương. - Thể thao thành tích cao: Cử đoàn vận động viên tham gia các giải thể thao quốc gia, quốc tế; kết quả đạt 13 huy chương (02 HCV, 03 HCB, 08 HCĐ), trong đó có 03 huy chương quốc tế (01 HCB, 02 HCĐ). Tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm ngày 14/12/2025: Đạt 757 huy chương (191 HCV, 206 HCB, 360 HCĐ); trong đó đạt 47 huy chương quốc tế (14 HCV, 19 HCB, 14 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Trong tháng tập trung tăng cường đảm bảo an toàn trường học, chủ động ứng phó, thống kê và khắc phục thiệt hại do mưa lũ, hỗ trợ học sinh, nhà giáo và cơ sở giáo dục bị ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh; đồng thời tiếp tục đảm bảo ổn định nề nếp dạy học, chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.603 trường học và cơ sở giáo dục (giảm 02 trường so với năm học trước do sáp nhập 02 trường tiểu học và 02 trường mầm non ở xã Krông Nô) với 818.588 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 526 trường với 151.943 trẻ; cấp tiểu học có 564 trường với 321.257 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 240.603 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 104.785 học sinh. Trong năm học 2025-2026, nhu cầu giáo viên cho các cấp học là 42.892 giáo viên; tuy nhiên, số giáo viên hiện có 37.459 giáo viên, còn thiếu 5.433 giáo viên, trong đó: Cấp Tiểu học thiếu 1.463 giáo viên, THCS thiếu 1.453 giáo viên, THPT thiếu 495 giáo viên, chủ yếu ở các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Ngoại ngữ. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 826 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 522 ca so với tháng trước và giảm 8.141 ca so với cùng kỳ năm trước; không có trường hợp tử vong. Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh có 7.534 ca mắc, 03 ca tử vong. Trong tháng có 90 ổ dịch được phát hiện xử lý, lũy kế năm 2025 đã xử lý 1.127 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế năm 2025, toàn tỉnh có 07 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 256 ca mắc, giảm 138 ca so với tháng trước và tăng 186 ca so với cùng kỳ năm trước; lũy kế năm 2025 toàn tỉnh ước có 2.794 ca mắc. Trong tháng phát hiện 04 ổ dịch mới (xã Đạ Huoai: 2; xã Hào Bắc: 01; xã Gia Hiệp: 01), lũy kế năm 2025 đã phát hiện 21 ổ dịch bệnh tay chân miệng. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 14 ca mắc, tăng 04 ca so với tháng trước, giảm 596 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh ước có 4.075 ca mắc, không có tử vong. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, tiêm chủng đầy đủ cho 3.783 trẻ dưới 1 tuổi; lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 47.170 trẻ. Tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 4.991 trẻ, lũy kế 12 tháng ước tiêm cho 44.692 trẻ. Tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.540 trẻ, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 45.627 trẻ. Tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.343 trẻ, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 46.957 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 2 cho 3.544 trẻ, lũy kế 46.381 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 4.094 trẻ, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 42.708 trẻ. Tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai cho 3.690 người, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 43.085 người. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Toàn tỉnh còn quản lý 463 bệnh nhân, không còn bệnh nhân đang điều trị; số bệnh nhân đang giám sát là 20 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 451 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Bệnh nhân lao các thể trong tháng 11/2025 là 6 bệnh nhân/100.000 dân, lũy kế 11 tháng năm 2025 là 63 người/100.000 dân. Bệnh nhân Lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 bệnh nhân/100.000 dân, lũy kế 11 tháng là 36 bệnh nhân/100.000 dân. Bệnh nhân Lao kháng thuốc trong tháng 11/2025 là 03 bệnh nhân, lũy kế 11 tháng năm 2025 là 57 bệnh nhân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 12 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 04 bệnh nhân tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.729 bệnh nhân mắc HIV, chuyển AIDS 1.777 bệnh nhân và có 883 bệnh nhân tử vong do AIDS. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 523.944 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 41.677 người, số ngày điều trị nội trú là 236.932 ngày, xét nghiệm cho 752.221 tiêu bản, chẩn đoán 128.897 hình ảnh, phẫu thuật 4.744 trường hợp. Lũy kế năm 2025 đã tổ chức khám bệnh cho 5.747.286 lượt người; 463.480 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 3.060.269 ngày; số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,69 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 88%; đã xét nghiệm cho 8.994.624 tiêu bản; chẩn đoán 1.607.295 hình ảnh và phẫu thuật cho 60.017 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 68 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 1.230 cơ sở, kết quả có 01 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 4,0 triệu đồng. Lũy kế năm 2025, tỉnh đã thành lập 830 đoàn kiểm tra tại 17.105 cơ sở, kết quả có 146 cơ sở vi phạm bị xử phạt với tổng số tiền 905,27 triệu đồng. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại phường Phan Thiết, làm 96 người nhập viện (do ăn bánh mì thịt nguội). Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 05 vụ ngộ độc thực phẩm làm 205 người mắc, có 01 trường hợp tử vong do ăn cá nóc. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương như: Lễ hội Cồng chiêng Đông Nam Á năm 2025; Chương trình Chào năm mới 2026 tại 3 khu vực; Lễ hội Trà quốc tế năm 2025. Tiếp tục đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số; thường xuyên rà soát thông tin trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng (từ ngày 15/11-15/12, qua rà soát trên hệ thống phần mềm giám sát thông tin mạng xã hội có 39.941 tin, bài viết; trong đó có 35.961 tin, bài có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; tin, bài tích cực tỷ lệ 75,2%; tin, bài tiêu cực tỷ lệ khoảng 24,8%; qua đánh giá, không có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Triển khai tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách mới, các hoạt động, sự kiện quan trọng của tỉnh. Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh tỉnh Lâm Đồng được tăng cường với nhiều hình thức, tận dụng hiệu quả các nền tảng truyền thông đa phương tiện; phản ánh kịp thời, toàn diện các hoạt động đối nội, đối ngoại; các vấn đề, sự kiện nổi bật của tỉnh, trong nước và quốc tế. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 13 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh; cấp đổi 01 Giấy phép hoạt động in; cấp 01 Giấy xác nhận đăng ký thông tin hoạt động cơ sở in. 5. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Trong năm 2025, hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ, đạt nhiều kết quả tích cực. Toàn tỉnh quản lý, triển khai 87 nhiệm vụ khoa học - công nghệ các cấp (9 nhiệm vụ cấp quốc gia, 47 nhiệm vụ cấp tỉnh, 13 nhiệm vụ cấp cơ sở và 18 nhiệm vụ mở mới), tổ chức nghiệm thu 24 nhiệm vụ; tổng hợp 110 đề xuất nhiệm vụ khoa học - công nghệ giai đoạn tiếp theo. Công tác hỗ trợ doanh nghiệp được đẩy mạnh, đến cuối năm có 14 doanh nghiệp khoa học - công nghệ; khảo sát, đánh giá trình độ công nghệ cho 54 doanh nghiệp; hỗ trợ sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Hệ sinh thái khởi nghiệp tiếp tục phát triển với việc tổ chức Techfest Lâm Đồng 2025, thu hút trên 280 đại biểu, hơn 100 gian hàng, kết nối cung - cầu công nghệ cho 8 tổ chức, doanh nghiệp; Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) xếp hạng 19/34 tỉnh, thành phố. Công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng được tăng cường, kiểm tra 191 cơ sở sản xuất, kinh doanh; kiểm nghiệm khoảng 10 nghìn mẫu sản phẩm, 49.160 phương tiện đo; tỷ lệ mẫu đạt chất lượng 61/63. Hạ tầng bưu chính, viễn thông và chuyển đổi số tiếp tục được đầu tư, mở rộng: toàn tỉnh có hơn 4 triệu thuê bao di động, trong đó 87,7% là thuê bao thông minh; 4,4 triệu thuê bao Internet; 99% hộ gia đình sử dụng cáp quang; 11.500 trạm BTS, trong đó có 832 trạm 5G; doanh thu bưu chính năm 2025 ước đạt 750 tỷ đồng. Công tác chuyển đổi số được đẩy mạnh với việc triển khai hệ thống dùng chung, chữ ký số (11.453 chứng thư), nền tảng tích hợp dữ liệu LGSP kết nối 22 hệ thống và hơn 400 nghì lượt giao dịch dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 6. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 6.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định. Kinh tế vùng DTTS của tỉnh đa dạng và đạt được nhiều thành tựu nổi bật; nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ lực phát triển theo hướng nông nghiệp công nghệ cao; phát triển trồng rừng, khai thác và chế biến lâm sản mang lại hiệu quả tích cực; khu vực ven biển hình thành các vùng sản xuất chuyên canh kết hợp chăn nuôi gia súc và phát triển du lịch sinh thái biển; nhiều xã đồng bào DTTS đã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đời sống người dân vùng đồng bào DTTS ngày càng cải thiện. Trong năm, các lễ hội truyền thống của đồng bào như lễ hội Katê của người Chăm, lễ mừng lúa mới của người Cơ Ho, lễ cúng bến nước của người M’nông, lễ hội của người Chu Ru, Mạ được duy trì và phục dựng. Nghề gốm Chăm đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. Phong trào văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao phát triển sâu rộng, trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai đồng bộ gắn với xây dựng nông thôn mới. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet, nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin của đồng bào. Chính sách giáo dục triển khai có hiệu quả. Hệ thống trường lớp vùng DTTS không ngừng được mở rộng, đa dạng về loại hình và từng bước nâng cao chất lượng. Toàn tỉnh đã xây dựng hệ thống giáo dục dân tộc chuyên biệt với các trường phổ thông dân tộc nội trú và nhiều trường phổ thông dân tộc bán trú tại các địa bàn khó khăn. Mạng lưới trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở được phân bổ tương đối hợp lý, bảo đảm hầu hết trẻ em DTTS đều được đến trường. Chính sách ưu tiên đối với học sinh, sinh viên DTTS được thực hiện có hiệu quả, học sinh được miễn giảm học phí, cấp học bổng, hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở bán trú và nội trú, vì vậy tỷ lệ bỏ học đã giảm rõ rệt, đặc biệt ở các cấp tiểu học và trung học cơ sở. Mô hình thí điểm việc dạy tiếng dân tộc trong nhà trường như tiếng Chăm, tiếng Ê Đê, tiếng M’nông, tiếng Cơ Ho được triển khai, qua đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc. Nhìn chung, chất lượng giáo dục vùng DTTS của tỉnh có nhiều tiến bộ, hệ thống trường lớp được mở rộng, tỷ lệ học sinh đến lớp tăng, chất lượng giáo dục nâng lên, qua đó góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Hệ thống y tế cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân; hiện nay 100% xã đã có trạm y tế, trong đó phần lớn đạt chuẩn quốc gia về y tế; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt khoảng 93-94%, trong đó phần lớn là đồng bào DTTS nhờ chính sách hỗ trợ của Nhà nước; công tác đào tạo nhân lực y tế là người DTTS được chú trọng nhằm đáp ứng và nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe người dân. 6.2. Chính sách tôn giáo Trên địa bàn tỉnh có 24 tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận đang hoạt động, gồm: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam, 10 hệ phái Tin Lành; 05 tổ chức Cao Đài; Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm Việt Nam; Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư đạo; Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo; Cộng đồng Tôn giáo Baha’i Việt Nam, Hồi giáo Bàni, Bàlamôn giáo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam và 33 tổ chức Tin Lành chưa được nhà nước cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Tổng số có khoảng 1.571.000 tín đồ, 3.531 chức sắc, 6.700 chức việc; 1.289 cơ sở tôn giáo hợp pháp; 04 cơ sở đào tạo tôn giáo; 721 tổ chức tôn giáo trực thuộc và 619 điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung. Trong năm 2025, tình hình hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh ổn định và tuân thủ pháp luật, đảm bảo theo đúng hiến chương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích và phương châm hành đạo. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh tổ chức lễ Phật đản, An cư kiết hạ và lễ Vu lan năm 2025; giải quyết các nhu cầu tôn giáo đảm bảo đúng quy định của pháp luật như: Chấp thuận thành lập 138 tổ chức tôn giáo trực thuộc; các tổ chức tôn giáo mời 21 đoàn người nước ngoài vào hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh; chấp thuận việc các tổ chức tôn giáo bổ nhiệm 266 chức việc; mở 34 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo; xác nhận thông báo phong phẩm 137 chức sắc; xác nhận tiếp nhận thông báo kết quả bổ nhiệm 114 trường hợp; xác nhận thuyên chuyển chức sắc 156 trường hợp; tiếp nhận thông báo cách chức, bãi nhiệm 09 trường hợp; xác nhận danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung 25 trường hợp... Nhìn chung, hoạt động các tổ chức tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định; các chính sách về tôn giáo được triển khai bình đẵng, có hiệu quả nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đồng thời duy trì ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn tỉnh. 6.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 364 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công, trong đó: Tiếp nhận 14 hồ sơ chuyển đến, 11 hồ sơ chuyển đi; lập thủ tục chuyển Hội đồng GĐYK 10 hồ sơ; trả lời 7 đơn thư; ban hành 51 Quyết định hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ; 170 Quyết định trợ cấp mai táng phí đối với thân nhân của người có công với cách mạng từ trần; đề nghị cấp lại bằng Tổ quốc ghi công cho 61 liệt sĩ; giải quyết 13 hồ sơ đính chính thông tin người có công; thực hiện báo tin mộ cho 02 thân nhân liệt sĩ… Công tác chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt đối với người có công với cách mạng và thân nhân được thực hiện đầy đủ, đã chi trả qua tài khoản 13.109/19.288 đối tượng với tổng số tiền 42.880.948.982 đồng. 7. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến ngày 30/11/2025, toàn tỉnh có 286.197 người tham gia BHXH, tăng 0,73% so với tháng trước và tăng 3,28% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 242.976 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 1,85% so với cùng kỳ năm trước; 43.221 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 12,07% so với cùng kỳ năm trước); có 219.939 người tham gia BHTN, tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.907.080 người, tăng 0,47% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ dân số tham gia BHYT chung toàn tỉnh đạt 93,02%. Trong tháng, đã giải quyết mới 8.547 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.806 người; lũy kế đến ngày 30/11/2025, đã giải quyết mới 109.276 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 21.265 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng là 4.270 người; trợ cấp 1 lần là 28.611 người; chế độ ốm đau là 59.414 người; chế độ thai sản là 13.143 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe là 3.838 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng là 19.148 người; hỗ trợ học nghề là 2.117 người). Tiếp nhận, giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177 và 178 là 82 người (lũy kế: 2.143 người). 8. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/11/2025-15/12/2025) Trong tháng xảy ra 74 vụ tai nạn giao thông, tăng 17 vụ so với tháng trước và giảm 43 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 35 người, tăng 12 người so với tháng trước và giảm 10 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 57 người, tăng 14 người so với tháng trước và giảm 34 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/12/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 873 vụ tai nạn giao thông, giảm 360 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 426 người, giảm 37 người; số người bị thương là 675 người, giảm 349 người so với cùng kỳ năm trước. 9. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Từ ngày 27/11/2025 đến 18/12/2025 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã xảy ra 02 vụ lũ quét. Thiên tai đã làm 02 người chết và 02 người bị thương; 8.359 căn nhà bị ngập; 1.795 ha lúa, 2.303 ha hoa màu bị thiệt hại và 1.113 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng; 582 con gia súc và 23.412 con gia cầm chết, cuốn trôi,.... Ước tổng thiệt hại 281.171 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 18/12/2025, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng xảy ra 38 vụ thiên tai do mưa lớn kèm dông, lốc, sét, gió giật mạnh, lũ quét làm 17 người chết, 21 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 1.840,6 tỷ đồng. Đến nay tỉnh đã hoàn thành hỗ trợ khắc phục thiệt hại về nhà và sản xuất, qua đó giúp người dân dần ổn định cuộc sống; bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng giao thông thiết yếu, các tuyến đường huyết mạch trên địa bàn tỉnh (Quốc lộ 28, Quốc lộ 20, Đường tỉnh 725…) đã kịp thời sửa chữa, khôi phục, hiện nay đã cơ bản đáp ứng nhu cầu vận chuyển và đi lại của người dân. - Cháy, nổ: Trong tháng xảy ra 11 vụ cháy, nổ, không có thiệt hại về người. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/12/2025 xảy ra 61 vụ cháy, nổ làm chết 01 người và 02 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 18 vụ, số người chết giảm 4 người và số người bị thương giảm 03 người. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra, giảm 01 vụ so với tháng trước và giảm 03 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 19/12/2025 xảy ra 20 vụ vi phạm, giảm 38 vụ so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 3,663 tỷ đồng. * Đánh giá chung Nhìn chung, năm 2025 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn; tăng trưởng toàn cầu phục hồi chậm, lạm phát dù đã hạ nhiệt nhưng vẫn duy trì ở mức cao tại một số nền kinh tế lớn; giá năng lượng, nguyên vật liệu và chi phí vận chuyển biến động khó lường; căng thẳng địa chính trị, xung đột khu vực và rủi ro về chuỗi cung ứng tiếp tục tác động đến hoạt động sản xuất, thương mại và đầu tư. Trong nước, cùng với những khó khăn chung của nền kinh tế, tỉnh triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm đầu tiên sau sáp nhập tỉnh, phát sinh nhiều vấn đề trong giai đoạn đầu như sắp xếp tổ chức bộ máy, điều chỉnh quy hoạch, phân bổ nguồn lực và thống nhất cơ chế quản lý, điều hành, ảnh hưởng nhất định đến tiến độ triển khai một số chương trình, dự án và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, tình hình thời tiết, thiên tai diễn biến phức tạp, mưa lớn kéo dài, lũ lụt cục bộ, sạt lở đất tại một số khu vực đã gây thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp, hạ tầng giao thông và đời sống người dân, làm gia tăng chi phí khắc phục, phục hồi sản xuất, ảnh hưởng đến tăng trưởng chung của nền kinh tế địa phương trong một số thời điểm. Trong bối cảnh đó, với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự phối hợp đồng bộ của các sở, ngành, địa phương và sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, người dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã từng bước ổn định và phục hồi rõ nét trong các quý cuối năm, đạt được nhiều kết quả tích cực. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tăng 6,42%, phản ánh xu hướng phục hồi và tăng trưởng khá trong điều kiện còn nhiều khó khăn sau sáp nhập. Quy mô nền kinh tế tiếp tục mở rộng, GRDP bình quân đầu người ước đạt 105,24 triệu đồng/người, tăng 12,7% so với năm trước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó khu vực dịch vụ tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu. Hoạt động sản xuất cây trồng duy trì ổn định, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 1,43%; nhiều cây trồng chủ lực tăng khá về sản lượng như cà phê, hồ tiêu và sầu riêng. Chăn nuôi phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm. Nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục mở rộng với diện tích 107.217 ha, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất, tạo nền tảng vững chắc cho ổn định kinh tế nông thôn. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 tăng 16,28% so với cùng kỳ, phản ánh sự phục hồi mạnh của thị trường trong nước, hoạt động thương mại, du lịch và dịch vụ tiêu dùng sau giai đoạn ổn định tổ chức bộ máy. Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi nhưng còn chịu tác động của biến động giá nguyên, nhiên vật liệu và tiến độ đầu tư, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 4,79%. Hoạt động đầu tư tiếp tục được duy trì, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tăng 8,48% so với năm trước, góp phần phát triển kết cấu hạ tầng và thúc đẩy tăng trưởng, dù chưa đạt mục tiêu kế hoạch do ảnh hưởng của quá trình rà soát, điều chỉnh danh mục dự án và thủ tục đầu tư sau sáp nhập. Công tác quản lý giá và điều hành thị trường được triển khai đồng bộ, hiệu quả; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2025 tăng 3,56%, nằm trong phạm vi kiểm soát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và đời sống dân cư. Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả tích cực, tổng thu nội địa tăng 16,38% so với năm trước. Song song với phát triển kinh tế, lĩnh vực an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, bảo đảm đầy đủ và kịp thời, nhất là trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và địa giới hành chính. Các chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo được thực hiện đầy đủ; công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghề, chăm lo đời sống người lao động được chú trọng. Các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa – xã hội tiếp tục ổn định, góp phần củng cố niềm tin của người dân và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025 tỉnh Lâm Đồng
  •   02/12/2025 15:39

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng bởi thiên tai mưa lũ đã ảnh hưởng trực tiếp đến 5.710 ha lúa mùa vụ và 8.567 ha hoa màu. Tuy nhiên 11 tháng năm 2025, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì và phát triển ổn định. Diện tích các loại cây trồng hàng năm tăng nhẹ so với cùng kỳ. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia cầm và đàn lợn đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, nhất là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát hiệu quả, giúp người dân yên tâm đầu tư. Sản lượng khai thác thủy sản biển ổn định. Công tác phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và Chương trình OCOP được chú trọng; nhiều doanh nghiệp, chủ thể sản xuất được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông sản chủ lực, sản phẩm OCOP tại các hội nghị, triển lãm trong cả nước, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu nông nghiệp của tỉnh. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Vụ mùa năm 2025 diện tích xuống giống đúng vụ, công tác xã hội hóa giống lúa đẩy mạnh, tăng tỷ lệ sử dụng giống lúa xác nhận; tăng cường công tác dự báo, theo dõi, quản lý chặt chẽ tình hình và xử lý kịp thời sâu bệnh trên cây trồng. Trong vụ tình hình thời tiết tương đối thuận lợi, tuy nhiên vẫn còn tình trạng ngập cục bộ do mưa lớn xảy ra ở một số địa phương như xã Hàm Kiệm, xã Hàm Chính, xã Hàm Thuận Nam, xã Hàm Thuận, xã Bắc Bình đã ảnh hưởng đến diện tích gieo trồng lúa, rau màu. Tổng diện tích gieo trồng Vụ mùa ước đạt 170.353,3 ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: + Cây lương thực có hạt: Diện tích gieo trồng ước đạt 85.544,9 ha, tăng 0,83% so với cùng kỳ năm trước. Ước sản lượng lương thực vụ mùa đạt 512.423,3 tấn, năng suất đạt 59,9 tạ/ha; so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,21% về sản lượng và tăng 0,22 tạ/ha về năng suất (trong đó: cây lúa diện tích ước đạt 64.132,2 ha, tăng 1,38%; sản lượng ước đạt 377.620,1 tấn, tăng 1,8%, năng suất ước đạt 58,88 tạ/ha. Cây bắp diện tích ước đạt 21.412,7 ha, giảm 0,71%; sản lượng ước đạt 134.803,2 tấn, giảm 0,3%; năng suất ước đạt 62,95 tạ/ha, tăng 0,25 tạ/ha); + Cây chất bột: Diện tích ước đạt 31.248,2 ha. Trong đó diện tích cây mỳ ước đạt 29.780,3 ha, tăng 0,62%; sản lượng ước đạt 602.098,4 tấn, tăng 0,7%; năng suất ước đạt 202,18 tạ/ha, tăng 0,12 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. + Cây công nghiệp ngắn ngày: Diện tích gieo trồng ước đạt 5.903,5 ha, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: Cây mía diện tích ước đạt 1.018,5 ha, tăng 0,14%; sản lượng ước đạt 46.887,8 tấn, tăng 0,2%; năng suất ước đạt 460,36 tạ/ha, tăng 0,13 tạ/ha. Cây đậu phộng diện tích ước đạt 4.044,6 ha, tăng 3,2%; sản lượng ước đạt 8.584,9 tấn, tăng 5,5%; năng suất ước đạt 21,23 tạ/ha, tăng 0,47 tạ/ha. Cây mè diện tích ước đạt 292,2 ha, tăng 1,0%; sản lượng ước đạt 182,9 tấn, tăng 1,3%; năng suất ước đạt 6,26 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha). + Rau, đậu, hoa: Diện tích gieo trồng ước đạt 39.427,7 ha, tăng 2,82% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: rau các loại diện tích ước đạt 31.167 ha, tăng 2,9%; sản lượng ước đạt 961.051,6 tấn, tăng 3,5%; năng suất ước đạt 308,36 tạ/ha, tăng 1,81 tạ/ha. Đậu các loại diện tích ước đạt 5.127,7 ha, tăng 1,5%; sản lượng ước đạt 6.653,4 tấn, tăng 1,6%; năng suất ước đạt 12,98 tạ/ha, tăng 0,01 tạ/ha).Diện tích gieo trồng cây hàng năm qua các năm 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm. Tổng diện tích các loại cây lâu năm trên địa bàn tỉnh ước đạt 636.646 ha, tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể diện tích một số loại cây lâu năm như sau: Cây cà phê diện tích ước đạt 328.650 ha, tăng 1,03%; Cây chè diện tích ước đạt 9.003,9 ha, giảm 5,29%; Cây điều diện tích ước đạt 50.215 ha, tăng 1,49%; Cây tiêu diện tích ước đạt 37.193 ha, tăng 0,02%; Cây dâu tằm diện tích ước đạt 11.320,4 ha, tăng 4,93%; Cây sầu riêng diện tích ước đạt 44.283,5 ha, tăng 4,34%; Cây bơ diện tích ước đạt 8.959,6 ha, giảm 2,54%; Cây thanh long diện tích ước đạt 26.126 ha, tăng 0,56%; Cây ca cao diện tích ước đạt 430,7 ha, tăng 1,56%; Cây cao su diện tích ước đạt 75.381 ha, tăng 2,6%; Cây mắc ca diện tích ước đạt 11.317 ha, tăng 2,55%; (12). Cây chanh leo diện tích ước đạt 1.810,4 ha, tăng 3,11%. 1.3. Tình hình dịch bệnh Trong tháng 11/2025, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 676 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại 964 ha; chuột gây hại 376 ha; rầy nâu gây hại 304 ha (so với tháng trước, sâu đục thân gây hại tăng 562 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại tăng 492 ha; chuột gây hại tăng 126 ha; rầy nâu gây hại tăng 280 ha); - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.393,4 ha (giảm 74,9 ha so với tháng trước) tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, phường Đông Gia Nghĩa, phường Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.309,3 ha (giảm 802,2 ha so với tháng trước) tại các xã Bảo Lâm 1,2,3,4,5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác; bọ xít muỗi gây hại 1.973,6 ha cà phê chè (tăng 288,6 ha so với tháng trước) tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; Bệnh chết khô ngọn gây hại 30 ha tại Bảo Lâm 1; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.210,4 ha (tăng 178,4 ha so với tháng trước); bệnh thán thư gây hại 2.740 ha (giảm 96 ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1,2,3,4, Tánh Linh, Suối Kiết, Tân Minh, Nam Thành; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 308 ha (giảm 02 ha so với tháng trước) tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 4.003 ha (giảm 47 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 910 ha (giảm 269 ha so với tháng trước) tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Tân Thành, Tiến Thành, Tân Lập, Tân Hải, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Liên Hương. Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất. 2. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi; mặc dù giá thức ăn, con giống gia súc vẫn ở mức cao, dịch bệnh tiêu chảy trên đàn bò sữa và bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại một số nơi trên địa bàn tỉnh nhưng nhờ công tác kiểm dịch và quản lý tốt tại các trang trại (đặc biệt là trại chăn nuôi gia công) nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với cùng kỳ. So với cùng kỳ năm trước, toàn tỉnh có 27,2 nghìn con trâu, tăng 0,74%; có 318,5 nghìn con bò, tăng 1,63% (trong đó đàn bò sữa 28,6 nghìn con, tăng 0,70%); có 1.490,5 nghìn con lợn, tăng 9,1% (lợn không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.240,7 nghìn con, tăng 9,54%); có 22.390,5 nghìn con gia cầm, tăng 8,25% (trong đó gà các loại 16.025 nghìn con, chiếm 71,57% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,96%); đàn lợn và đàn gà tăng do trong năm 2025 có thêm đóng góp của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thái Việt Corporation với quy mô hơn 35.000 con lợn, Công ty Thái Thịnh Tây Nguyên với quy mô hơn 8.000 con lợn và Công ty cổ phần MeBi Farm với quy mô hiện có trên 202 nghìn con gà đẻ trứng đã góp phần đáng kể vào việc nâng tổng đàn. Sản lượng thịt hơi các loại ước 11 tháng năm 2025 đạt 311.090,8 tấn, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước.Số lượng đàn gia súc, gia cầm 11 tháng qua các năm(ĐVT: 1.000 con) * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng phát sinh 18 hộ tại 12 thôn của 10 xã với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 350 con/25.015 kg. Lũy kế, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 1.905 con/102.750 kg. Đến nay, có 18/24 xã đã qua 21 ngày không phát sinh lợn mắc bệnh, 06/24 xã dịch bệnh chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, đã trồng rừng tập trung (trồng mới) ước đạt 395 ha, tăng 3,95% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 5.030 ha, tăng 4,93% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây xanh ước đạt gần 17,8 triệu cây, đạt 102,7% kế hoạch năm. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 26.382 m3, tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 340.682,3 m3, tăng 2,04% so với cùng kỳ năm trước. - Trong tháng, phát sinh 45 vụ vi phạm lâm luật, giảm 31 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, tổng số vụ vi phạm là 339 vụ, giảm 373 vụ so với cùng kỳ. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 3.126,2 tấn, tăng 4,51% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 500,1 tấn, tăng 3,09%). Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 25.600,6 tấn, tăng 2,45% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 4.586,5 tấn, tăng 3,19%). - Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 20.805,3 tấn, tăng 8,41% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 20.743,3 tấn, tăng 8,43%). Lũy kế 11 tháng năm 2025, sản lượng khai thác đạt 232.411,1 tấn, tăng 4,89% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 231.114,7 tấn, tăng 4,91%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong 11 tháng năm 2025 hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Công tác quản lý chất lượng giống thủy sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,16 tỷ post, tăng 2,69% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 22,55 tỷ post, tăng 7,27% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản 11 tháng qua các năm II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2025 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng so với cùng kỳ. Đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung là ngành khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo, nhờ sự phục hồi của thị trường xuất khẩu và năng lực sản xuất tăng thêm từ các dự án mới. Một số sản phẩm chủ lực như giày da, phân bón, vật liệu xây dựng có mức tăng khá, nhóm ngành đồ uống do chi phí đầu vào và thị trường tiêu thụ gặp khó khăn. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tăng, phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất dịp cuối năm. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 10,71% so với tháng trước và tăng 13,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 51,67% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,64%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 15,22%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,18%. Tính chung 11 tháng năm 2025, ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,27% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 17,45%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,38%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,78%. Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng so với cùng kỳ qua các năm 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Sản lượng trong tháng ước đạt 408.947 m³, giảm 5,15% so với tháng trước và tăng 40,82% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 3.380 nghìn m³, tăng 16,80% so với cùng kỳ. Nhằm khắc phục tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng như năm trước, đặc biệt là vào các tháng cuối năm, các doanh nghiệp khai thác đá đã chủ động tăng sản lượng ngay từ đầu năm để đáp ứng nhu cầu xây dựng tăng cao. - Sản phẩm thủy sản chế biến, bảo quản: Trong tháng, sản lượng ước đạt 2.107 tấn, tăng 13,82% so với tháng trước và tăng 10% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 19.439 tấn, tăng 1,48% so với cùng kỳ. Mặc dù thời tiết không thuận lợi cho hoạt động khai thác thủy sản, nhưng nhờ có kế hoạch sản xuất dài hạn, các doanh nghiệp chế biến thủy sản vẫn duy trì được sản lượng ổn định và chưa bị ảnh hưởng đáng kể. - Sản phẩm rau, quả chế biến, bảo quản: Sản lượng trong tháng ước đạt 2.986 tấn, tăng 1,87% so với tháng trước và tăng 21,47% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 34.014 tấn, tăng 17,98% so với cùng kỳ. Nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng cùng với sự phục hồi đơn hàng xuất khẩu đã thúc đẩy sản lượng; đồng thời lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu và công nghệ chế biến tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của ngành. - Sản phẩm đồ uống: Sản lượng trong tháng ước đạt 30.712 nghìn lít, tăng 8,66% so với tháng trước nhưng giảm 1,61% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 300.719 nghìn lít, giảm 7,98% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên vật liệu đầu vào (Malt, gạo, đường) tăng cao, nhu cầu tiêu thụ bia giảm và thị trường cạnh tranh gay gắt cả trong nước và quốc tế. - Sản phẩm giày, dép: Sản lượng trong tháng ước đạt 658 nghìn đôi, tăng 19,01% so với tháng trước và tăng 44,07% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 5.707 nghìn đôi, tăng mạnh 80,71% so với cùng kỳ, chủ yếu do doanh nghiệp tiếp tục nhận thêm đơn hàng và tăng năng lực sản xuất tại Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam. - Sản phẩm phân bón: Sản lượng tháng 11 ước đạt 5.826 tấn, bằng 43,75% so với tháng trước nhưng tăng 25,09% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 117.424 tấn, tăng 18,10% so với cùng kỳ. Sản lượng tăng do Nhà máy Hóa chất Đức Giang - Đắk Nông chính thức đi vào hoạt động từ quý II/2025. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng, sản lượng ước đạt 121,5 nghìn tấn, tăng 0,70% so với tháng trước và tăng 1,42% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 1.354,7 nghìn tấn, tăng 2,37% so với cùng kỳ. - Điện sản xuất: Sản lượng trong tháng ước đạt 3.273 triệu kWh, tăng 19,76% so với tháng trước và tăng 15,51% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 31.006 triệu kwh, tăng 0,93% so với cùng kỳ. - Điện thương phẩm: Sản lượng trong tháng ước đạt 468 triệu kwh, tăng 3,66% so với tháng trước và tăng 3,59% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 5.045 triệu kwh, giảm nhẹ 0,31% so với cùng kỳ. Sản lượng giảm do thực hiện tuyên truyền tiết kiệm điện, giảm điện chiếu sáng công cộng ở một số địa điểm và do nhiều hộ dân, cơ sở sản xuất - kinh doanh sử dụng một phần điện từ hệ thống năng lượng mặt trời mái nhà. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trong tháng tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 5,31% so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 0,57%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,24%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,97%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,02%. Tính chung 11 tháng năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,55%. Trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 17,29%; ngành chế biến, chế tạo tăng 5,21%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,26%. Xét theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,87%, doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 6,95%, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5,39% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động tăng so với cùng kỳ và cao hơn mức bình quân 11 tháng năm 2025, cho thấy nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp có xu hướng cải thiện, đặc biệt nhằm phục vụ yêu cầu sản xuất vào thời điểm cuối năm. Hoạt động sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì đà tăng, dự báo thị trường lao động ngành này sẽ phát triển tích cực trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp Tính đến tháng 11/2025, các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh đã thu hút 06 dự án đầu tư (01 dự án FDI và 05 dự án trong nước) với tổng diện tích khoảng 22,23 ha, tổng vốn đăng ký 452 tỷ đồng và 35 triệu USD. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 228 dự án còn hiệu lực (51 dự án FDI và 177 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 43.326,6 tỷ đồng và 466,4 triệu USD, diện tích đất đăng ký 712,7 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,24%. - KCN Lộc Sơn: Thu hút 56 dự án (09 FDI và 47 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 87,29%. Giá trị giải ngân đối với hạng mục nâng cấp Nhà máy xử lý nước thải tập trung và hệ thống thu gom nước thải đạt 63/1.000 triệu đồng, bằng 6,32% kế hoạch năm 2025. - KCN Phú Hội: Thu hút 32 dự án (11 FDI và 21 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 75,02%. Giải ngân trong tháng đạt 7,13/17,207 tỷ đồng (41,44% kế hoạch năm 2025). Lũy kế đến nay đã giải ngân 62,81/72,8 tỷ đồng, đạt 86,28% khối lượng được phê duyệt. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Thu hút 39 dự án (10 FDI và 29 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 100%. Trong tháng, chủ đầu tư thực hiện trồng cây xanh, duy tu hạ tầng và bảo trì trạm xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 0,43/2,7 tỷ đồng (15,93%). Lũy kế thực hiện đạt 76,24/48,28 tỷ đồng, tương đương 157,81% tổng vốn dự án. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Thu hút 12 dự án (02 FDI và 10 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I: Thu hút 22 dự án (08 FDI và 14 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 65,27%. Trong tháng, chủ đầu tư trồng cây xanh và thi công hoàn thiện các tuyến đường D2, N1, N2, N3. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 18,13/54,11 tỷ đồng (33,51%). Lũy kế thực hiện đạt 289,26/273,42 tỷ đồng, tương đương 105,79% tổng vốn dự án. - KCN Hàm Kiệm II: Thu hút 17 dự án (07 FDI và 10 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 31,77%. Trong tháng, chủ đầu tư tiếp tục san lấp mặt bằng, trồng cây xanh và thi công các tuyến đường D1, D3, D5, N1, N3, N4. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 39,8/100 tỷ đồng (39,8%). Lũy kế thực hiện đạt 376,18/491,82 tỷ đồng, tương đương 76,49% tổng vốn dự án. - KCN Sông Bình: Thu hút 03 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 13.544,93 tỷ đồng; diện tích cho thuê 58,35/202,32 ha, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. Trong tháng, chủ đầu tư tiếp tục trồng cây xanh và thi công đường D1, D3, N4, N6. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 2,22/4,34 tỷ đồng (51,15%), giảm 25,77% so với cùng kỳ. Lũy kế thực hiện đạt 320,91/781,05 tỷ đồng (41,09%). - KCN Tân Đức: Thu hút 01 dự án trong nước với vốn đăng ký 100 tỷ đồng; diện tích cho thuê 1,5/210,84 ha, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. Trong tháng, chủ đầu tư tiếp tục san lấp mặt bằng; thi công các tuyến đường D3a, D3b, N1a, N1b, N2, N3, D2; trồng cây xanh; thi công Nhà máy cấp nước và Nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 273,56/562,07 tỷ đồng (48,67%). Lũy kế thực hiện đạt 900,27/1.200 tỷ đồng (75,02%). - KCN Tâm Thắng: Thu hút 47 dự án (04 FDI và 43 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ: Thu hút 01 dự án với quy mô 129,42 ha, tổng vốn đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lấp đầy 87,44%. 2. Đầu tư phát triển Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tiếp tục được đẩy mạnh, tập trung vào các công trình hạ tầng trọng điểm. Trong tháng, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực hiện có quy mô lớn nhất từ đầu năm đến nay, tăng 15,68%. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.854,6 tỷ đồng, tăng 15,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.847,7 tỷ đồng (chiếm 99,63% tổng vốn ngân sách nhà nước), tăng 15,93% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 6,8 tỷ đồng (chiếm 0,37%), giảm 26,46% so với cùng kỳ. Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh bao gồm: vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 578,5 tỷ đồng, giảm 11,12% so với cùng kỳ; vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 643 tỷ đồng, tăng 31,47%; vốn nước ngoài (ODA) đạt 41,1 tỷ đồng, tăng 67%; vốn xổ số kiến thiết đạt 580,1 tỷ đồng, tăng 38,43%; vốn khác đạt 5 tỷ đồng, giảm 50,98% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 12.820,5 tỷ đồng, bằng 80,72% kế hoạch năm và tăng 7,92% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 12.786,7 tỷ đồng, tăng 8,02%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 33,8 tỷ đồng, giảm 18,97% so với cùng kỳ.Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nướcdo địa phương quản lý 11 tháng qua các năm Trong 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 45 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 15.434,9 tỷ đồng. Lũy kế đến ngày 20/11/2025, trên địa bàn tỉnh có 2.924 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 2.006.024 tỷ đồng (trong đó có 236 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 224.284 tỷ đồng). Tính từ đầu năm đến ngày 18/11/2025, toàn tỉnh có 3.761 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 74,93% so với cùng kỳ; 1.657 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,8%; 760 doanh nghiệp giải thể, tăng 77,16%; 726 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 15,24% so cùng kỳ. Tổng số vốn trong 11 tháng đầu năm 2025 các doanh nghiệp đã đăng ký 19.446 tỷ đồng, tăng 11,03% so với cùng kỳ. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Tình hình thương mại trên địa bàn tỉnh trong 11 tháng năm 2025 duy trì mức tăng trưởng tương đối ổn định. Nguồn cung hàng hóa bảo đảm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá cả nhìn chung không biến động lớn, thị trường giữ được trạng thái ổn định. Hoạt động du lịch tiếp tục sôi động với nhiều giải thể thao và lễ hội diễn ra trên địa bàn, thu hút đông đảo du khách, vận động viên trong nước và quốc tế. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định, chủ động mở rộng và nâng cao chất lượng phục vụ du khách. Các nhà hàng, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tăng cường phục vụ người dân và du khách, thực hiện đúng quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm, niêm yết giá và bán đúng giá. Hoạt động vận tải đường bộ ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa trên thị trường. Vận tải đường thủy diễn ra thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại và du lịch của người dân, đặc biệt là phục vụ tốt nhu cầu di chuyển đến và đi từ đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Thị trường thương mại, dịch vụ những tháng cuối năm tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp Tết Nguyên đán. Các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ đã chủ động chuẩn bị nguồn hàng, triển khai đồng bộ các chương trình khuyến mại, kích cầu, góp phần gia tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ. Bên cạnh đó, các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu được đẩy mạnh đã hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, tác động tích cực đến lưu thông hàng hóa và hoạt động của chuỗi cung ứng trên địa bàn. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 24.731,1 tỷ đồng, tăng 3,08% so với tháng trước và tăng 26,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 16.621,5 tỷ đồng, tăng 3,15% so với tháng trước và tăng 24,17% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 5.517 tỷ đồng, tăng 2,89% so với tháng trước và tăng 37,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.592,6 tỷ đồng, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 20,33% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 236.994,8 tỷ đồng, tăng 16,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ ước đạt 158.815,3 tỷ đồng, tăng 15,98% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 51.837 tỷ đồng, tăng 19,41% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 26.342,5 tỷ đồng, tăng 10,90% so với cùng kỳ năm trước.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ 11 tháng qua các năm (ĐVT: tỷ đồng) 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng không ghi nhận hiện tượng găm hàng hay tăng giá bất hợp lý. Hoạt động mua bán, giao thương diễn ra sôi động tại các chợ đầu mối, chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện ích, trung tâm thương mại và trên các sàn thương mại điện tử, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, ổn định thị trường và phát triển tiêu dùng nội địa. Giá các mặt hàng thiết yếu được duy trì ở mức hợp lý và tương đối ổn định. Đối với mặt hàng xăng dầu, các cơ sở kinh doanh chấp hành tốt các quy định pháp luật; không xuất hiện điểm nóng về vi phạm đo lường, chất lượng, găm hàng hay hạn chế bán ra; nguồn cung đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng, không xảy ra khan hiếm cục bộ tại các cửa hàng bán lẻ. Từ ngày 15/10 đến 14/11/2025 đã kiểm tra 265 vụ, phát hiện 229 vụ vi phạm, xử lý 224 vụ, với tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính 1.834 triệu đồng, trị giá hàng hóa áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả 667,4 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Giá lương thực, thực phẩm tiếp tục tăng do ảnh hưởng bởi ngập lụt; giá nhiên liệu tăng do điều chỉnh giá xăng dầu trong nước là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,89% so với tháng trước, tăng 5,56% so với cùng kỳ năm trước và tăng 5,40% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,35%. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 09 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,92%; Giao thông tăng 1,23%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,29%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,20%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,14%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,07%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,01%; Giáo dục tăng 0,01%. Có 02 nhóm hàng giảm giá: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,04%; Thông tin và truyền thông giảm 0,23%.Tốc độ tăng/giảm CPI 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước (%) * Nguyên nhân làm tăng, giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng CPI: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,92% so với tháng trước, do ảnh hưởng ngập lụt, nguồn cung các mặt hàng gạo; rau tươi, thịt lợn, thịt gia cầm giảm nên giá lương thực, thực phẩm tăng cao so với tháng trước. Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 06, 13 và 20 trong tháng, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu tăng 2,62% so với tháng trước. - Nguyên nhân làm giảm CPI: Giá gas trong tháng giảm 1,64% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh giảm 6.500 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới. Giá gas thế giới bình quân trong tháng công bố ở mức 467,5 USD/tấn, giảm 17,5 USD/tấn so với tháng trước. Giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,23% so tháng trước, do các cửa hàng điện máy xanh, cửa hàng thế giới di động đang có chương trình khuyến mãi các mặt hàng điện thoại, phụ kiện điện thoại. * Các yếu tố làm tăng, giảm CPI 11 tháng năm 2025 so bình quân cùng kỳ - Các yếu tố làm tăng CPI bình quân 11 tháng năm 2025 + Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 14,02% làm CPI chung tăng 0,86 điểm phần trăm, áp dụng giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế; + Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,32% làm CPI chung tăng 0,80 điểm phần trăm, do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 8,55% do nhu cầu sử dụng điện tăng đồng thời ngày 11/10/2024 và ngày 09/5/2025 EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân; + Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,71% làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó các mặt hàng trang sức bằng vàng tăng 27,70% do ảnh hưởng giá vàng trong trước tăng theo giá vàng thế giới; giá bảo hiểm y tế tăng 15,38% do tăng theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng từ 1.800.000 đồng lên 2.340.000 đồng, theo đó bảo hiểm y tế cho cán bộ công chức và người lao động cũng được tăng theo; + Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,57% tác động làm CPI chung tăng 1,25 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 4,01%, tác động làm CPI chung tăng 0,91 điểm phần trăm, tăng mạnh chủ yếu giá thịt lợn tăng 9,90%. Nguyên nhân do nguồn cung ít, nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp Lễ, Tết; + Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,84%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,66%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,28%. Nguyên nhân do tăng cao trong dịp Lễ Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán thị trường tiêu dùng; + Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 1,96%, làm CPI chung tăng 0,13 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Các yếu tố làm giảm CPI bình quân 11 tháng năm 2025 + Giá các mặt hàng gạo giảm 0,34%. Nguyên nhân, do nguồn cung tại địa phương cũng như nguồn cung trong nước dồi dào, tình hình xuất khẩu gạo các thị trường Philippines, Indonesia cũng giảm so cùng kỳ, do đó giá so bình quân cùng kỳ năm trước có phần giảm nhẹ; + Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 1,71% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,17 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 8,26%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. 3. Hoạt động du lịch Ngành du lịch tiếp tục đà phục hồi và phát triển nhờ công tác tổ chức thành công nhiều sự kiện kích cầu đa dạng. Trong tháng, tỉnh đã thu hút lượng lớn du khách thông qua các hoạt động nổi bật như: Giải Golf đồng đội quốc tế; giải bắn súng hơi Laser rutival; lễ hội Dinh Thầy Thím; Lễ hội Trà Quốc tế - World Tea Fest 2025; “Trà ngoại giao” với sự tham dự của 60 đại sứ các nước; hội chợ, triển lãm trà quốc tế; hội nghị cấp cao về chiến lược phát triển ngành trà; lễ hội đường phố, đại nhạc hội và trình diễn áo dài của 80 thí sinh Miss Cosmo thế giới; các buổi biểu diễn Lễ hội Hoa Dã Quỳ & Âm Nhạc Mùa Đông; triển lãm “Hương Núi - Sắc Rừng”.... thu hút đông đảo người dân và khách du lịch. Đồng thời, việc tận dụng tốt lợi thế mùa cao điểm khách quốc tế nghỉ đông đã giúp gia tăng lượng khách nước ngoài đến địa phương. Các đơn vị kinh doanh lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch hoạt động ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của du khách. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.819,1 nghìn lượt, tăng 3,96% so tháng trước và tăng 28,91% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 76,6 nghìn lượt, tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 14,34% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.210 nghìn ngày khách, tăng 4,52% so với tháng trước và tăng 33,69% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 lượt khách ước đạt 18.830,2 nghìn lượt, tăng 19,66% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 681,6 nghìn lượt, tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 33.795,6 nghìn ngày khách, tăng 22,32% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 105 nghìn lượt khách, tăng 18,26% so với tháng trước và tăng 34,26% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 246,8 nghìn ngày khách, tăng 20,23% so với tháng trước và tăng 26,27% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 lượt khách quốc tế ước đạt 1.110 nghìn lượt khách, tăng 32,38% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 2.895,9 nghìn ngày khách, tăng 27,06% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường khách quốc tế đến tỉnh chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga, Mỹ, Đài Loan, Đức, Anh, Malaixia.... Lượt khách và ngày khách phục vụ 11 tháng qua các năm Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 1.084,9 tỷ đồng, tăng 3,84% so với tháng trước và tăng 48,35% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.411,6 tỷ đồng, tăng 2,66% so với tháng trước và tăng 36,38% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 20,4 tỷ đồng, tăng 3,38% so với tháng trước và giảm 41,61% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 9.955,9 tỷ đồng, tăng 21,51% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 41.416,4 tỷ đồng, tăng 18,69% so cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 464,7 tỷ đồng, tăng 42,59% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.132,7 tỷ đồng, tăng 2,76% so với tháng trước và tăng 33,57% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 51.557,9 tỷ đồng, tăng 24,46% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.592,6 tỷ đồng, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 20,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 305,9 tỷ đồng, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 12,87% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 111,8 tỷ đồng, tăng 3,03% so với tháng trước và tăng 7,75% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 88,5 tỷ đồng, tăng 2,15% so với tháng trước và tăng 18,46% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 152,8 tỷ đồng, tăng 1,28% so với tháng trước và tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.406,2 tỷ đồng, tăng 3,97% so với tháng trước và tăng 24,89% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 527,4 tỷ đồng, tăng 1,42% so với tháng trước và tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng 2025 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 26.342,5 tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.944,3 tỷ đồng, tăng 14,11% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 1.173,3 tỷ đồng, tăng 14,35% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 846,7 tỷ đồng, tăng 31,61% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 1.412,1 tỷ đồng, tăng 17,68% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 14.458,1 tỷ đồng, tăng 9,14% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 5.508 tỷ đồng, tăng 8,93% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng hoạt động vận tải diễn ra ổn định, các ngày nghỉ cuối tuần nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa phục vụ người dân tăng. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.288,4 tỷ đồng tăng 4,39% so với tháng trước và tăng 20,75% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 13.153,2 tỷ đồng, tăng 15,51% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.995,4 nghìn HK, tăng 2,39% so với tháng trước và tăng 18,37% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 571.662,5 nghìn HK.Km, tăng 3,87% so với tháng trước và tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 42.351,9 nghìn HK, tăng 11,88% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 6.174.365,7 nghìn HK.Km, tăng 13,01% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng 2025 ước đạt 2.251,6 nghìn tấn, tăng 7,58% so với tháng trước và tăng 21,88% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 317.244,9 nghìn tấn.Km, tăng 6,54% so với tháng trước và tăng 20,83% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 21.082,1 nghìn tấn, tăng 6,70% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 3.079.933,0 nghìn tấn.Km, tăng 8,31% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.288,4 tỷ đồng, tăng 4,39% so với tháng trước và tăng 20,75% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 13.153,2 tỷ đồng, tăng 15,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 5.614,1 tỷ đồng, tăng 19,54% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 5.567,8 tỷ đồng, tăng 6,57%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.913,9 tỷ đồng, tăng 35,14%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 57,4 tỷ đồng, tăng 14,6%. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 2.262,7 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.106,6 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 156,1 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi 11 tháng các năm (ĐVT: Tỷ đồng) IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.291 tỷ đồng, tăng 6,27% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 2.136 tỷ đồng, tăng 6,00%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 155 tỷ đồng, tăng 10,19%. Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 28.254 tỷ đồng, bằng 100,01% kế hoạch năm và tăng 16,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 26.820 tỷ đồng, bằng 100,79% kế hoạch năm và tăng 17,65% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.434 tỷ đồng, bằng 87,48% kế hoạch năm và giảm 7,97% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa 11 tháng năm 2025: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.609 tỷ đồng (bằng 143,73% kế hoạch năm và tăng 72,81% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.317 tỷ đồng (bằng 107,18% kế hoạch năm và tăng 21,19%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 6.282 tỷ đồng (bằng 99,04% kế hoạch năm và tăng 7,94%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 2.763 tỷ đồng (bằng 196,65% kế hoạch năm và tăng 17,21%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 4.209 tỷ đồng (bằng 83,29% kế hoạch năm và tăng 23,87%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.400 tỷ đồng (bằng 97,95% kế hoạch năm và tăng 6,91%).Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 11 tháng các năm 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 6.705 tỷ đồng, lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 38.941 tỷ đồng, bằng 81,16% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 12.027 tỷ đồng, bằng 110,22% kế hoạch năm; chi thường xuyên ước đạt 26.473 tỷ đồng, bằng 92,21% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: Đến 31/10/2025, huy động vốn của các Tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 222.937 tỷ đồng, tăng 13,8% so với đầu năm, tương ứng tăng 27.047 tỷ đồng. Trong đó: huy động bằng đồng Việt Nam đạt 220.552 tỷ đồng (chiếm 99% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.385 tỷ đồng, (chiếm 1% tổng huy động vốn). Ước đến 30/11/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 224.000 tỷ đồng, tăng 14,4% so với đầu năm, tương ứng tăng 28.110 tỷ đồng. Hoạt động tín dụng: Đến 31/10/2025, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 363.307 tỷ đồng, tăng 7,0% so với đầu năm, tương ứng tăng 23.844 tỷ đồng. Trong đó: dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 361.201 tỷ đồng (chiếm 99% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.106 tỷ đồng (chiếm 1% tổng dư nợ tổng dư nợ); dư nợ cho vay ngắn hạn là 260.637 tỷ đồng; dư nợ cho vay trung dài hạn là 102.670 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 30/11/2025, dư nợ cho vay đạt 368.000 tỷ đồng, tăng 8,4% so với đầu năm, tương ứng tăng 28.537 tỷ đồng. Tình hình thực hiện lãi suất: Lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,23% - 0,47%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 3,19% - 4,43%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 4,72% - 5,56%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 5,6% - 6,05%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,5% - 8,7%/năm, trung dài hạn 8,3% - 9,73%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,87% - 4,06%/năm. Dư nợ cho vay: Đến 31/10/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch, dịch vụ, thương mại đạt 186.817 tỷ đồng, chiếm 51,42% tổng dư nợ; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.008 tỷ đồng, chiếm 8,81% tổng dư nợ; ngành nông, lâm nghiệp đạt 144.479 tỷ đồng, chiếm 39,77% tổng dư nợ. Nợ xấu đạt 7.300 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2% trong tổng dư nợ trên địa bàn. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1 Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng tổ chức tuyên truyền Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030; tổ chức các hoạt động truyền thông hưởng ứng Ngày Thế giới xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái (25/11); Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2025; tuyên truyền các ngày lễ, các hoạt động chính trị của địa phương và đất nước. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức Liên hoan các câu lạc bộ Cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, năm 2025; chương trình biểu diện phục vụ khai mạc Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, năm 2025; chương trình “Giao lưu kết nối và hợp tác phát triển du lịch giữa Lâm Đồng và đối tác Malaysia năm 2025”; biểu diễn chương trình âm nhạc đường phố phục vụ nhân dân và du khách; biểu diễn các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né, Bình Thuận cũ). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng đã đón 12.459 lượt khách (Nhà trưng bày trung tâm Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng đón 3.380 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt đón 727 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên đón 212 lượt; Cơ sở 1 (Đông Lâm Đồng) đón 7.951 lượt; Cơ sở 2 (Tây Lâm Đồng) đón 189 lượt khách tham quan. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận tỉnh Lâm Đồng: Tổ chức phục vụ 119 đoàn với 6.019 lượt người, trong đó có 79 khách nước ngoài. Phục vụ 15 lễ viếng, 01 kết nạp Đảng, 01 lễ trao huy hiệu Đảng, 02 buổi sinh hoạt chuyên đề. Trưng bày triển lãm ảnh chuyên đề “Những tấm gương bình dị mà cao quý” tại Khu di tích Dục Thanh nhân kỷ niệm 20 năm Ngày Di sản văn hóa Việt Nam (23/11/2005 - 23/11/2025), gắn với kỷ niệm 56 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2025). + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 950 lượt khách (10 đoàn) đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Sưu tầm 01 hiện vật phục vụ trưng bày bổ sung tại Nhà tưởng niệm - Trưng bày Khu di tích. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 104 thẻ bạn đọc (28 thẻ thiếu nhi); phục vụ 258.092 lượt bạn đọc; luân chuyển 25.736 lượt tài liệu; bổ sung 260 bản sách từ nguồn biếu, tặng; xử lý kỹ thuật 2.456 bản sách; số hóa 7.888 trang/28 tài liệu; cập nhật 74 tin bài lên trang website; trưng bày 110 tài liệu. Trưng bày, giới thiệu sách chào mừng kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (18/11/1930-18/11/2025) và kỷ niệm 43 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982- 20/11/2025). 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Trong tháng tổ chức Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2025; Giải Taekwondo vô địch tỉnh Lâm Đồng; Giải Futsal vô địch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Đua xe đạp vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025 - Cúp NovaWorld Phan Thiết; Cuộc thi Fitness Supermodel Vietnam 2025 - Siêu mẫu Thể hình Việt Nam 2025 mùa thứ 8; Giải Bóng chuyền Giải Bóng chuyền 6x6 nam Vô địch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Võ thuật Cổ truyền Vô địch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Cờ vua học sinh tỉnh Lâm Đồng năm 2025. - Thể thao thành tích cao: Đăng cai tổ chức giải quần vợt đồng đội nữ quốc tế Billie Jean King Cup nhóm III khu vực Châu Á-Châu Đại dương tại Việt Nam năm 2025 tại NovaWorld Phan Thiết. Cử đoàn vận động viên tham gia 08 giải thể thao quốc gia, 02 giải thể thao quốc tế; kết quả đạt 48 huy chương (09 HCV, 11 HCB, 28 HCĐ), trong đó có 02 huy chương quốc tế (01 HCB, 01 HCĐ). Tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm ngày 14/11/2025: Đạt 744 huy chương (189 HCV, 203 HCB, 352 HCĐ); trong đó đạt 44 huy chương quốc tế (14 HCV, 18 HCB, 12 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Hoạt động giáo dục ổn định và đi vào nề nếp. Trong tháng tập trung rà soát, củng cố điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị và đội ngũ nhà giáo để phục vụ công tác dạy, học; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và giảng dạy, tăng cường huy động xã hội hóa giáo dục, phát triển trường ngoài công lập nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.605 trường học (cơ sở giáo dục) với 808.873 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 527 trường với 117.925 trẻ; cấp tiểu học có 565 trường với 322.382 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 243.173 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 120.809 học sinh. Trong năm học 2025-2026, nhu cầu giáo viên cho các cấp học là 42.892 giáo viên; tuy nhiên, số giáo viên hiện có 37.459 giáo viên, còn thiếu 5.433 giáo viên, trong đó: Cấp Tiểu học thiếu 1.463 giáo viên, THCS thiếu 1.453 giáo viên, THPT thiếu 495 giáo viên, chủ yếu ở các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Ngoại ngữ. Ngành chức năng đã đề xuất UBND tỉnh bổ sung biên chế, đồng thời tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, ứng dụng công nghệ và kỹ năng quản lý cho đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp  (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế - Phòng chống sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm khác: Trong tháng phát hiện 1.282 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 27 ca so với tháng trước; có 01 ca tử vong. Lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 6.625 ca mắc, 03 ca tử vong. Trong tháng có 153 ổ dịch được phát hiện xử lý, lũy kế 11 tháng năm đã xử lý 1.052 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng có 01 ca mắc; lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 07 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 379 ca mắc, giảm 69 ca so với tháng trước; lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 2.493 ca mắc. Trong tháng phát hiện 03 ổ dịch mới (Cát Tiên 3: 01, Bảo Lâm 5: 01, Đắk Mil: 01), lũy kế 11 tháng năm 2025 đã phát hiện 17 ổ dịch bệnh tay chân miệng. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 10 ca mắc, tăng 01 ca so với tháng trước, giảm 303 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 3.967 ca mắc, không có tử vong. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, tiêm chủng đầy đủ cho 5.533 trẻ dưới 1 tuổi, lũy kế 11 tháng năm 2025 đã tiêm cho 41.001 trẻ. Tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.765 trẻ, lũy kế 11 tháng đã tiêm cho 34.527 trẻ. Tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.740 trẻ, lũy kế 11 tháng đã tiêm cho 40.122 trẻ. Tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.940 trẻ, lũy kế 11 tháng đã tiêm cho 41.093 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 2 cho 3.823 trẻ, lũy kế 40.245 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 2.618 trẻ, lũy kế 11 tháng năm 2025 đã tiêm cho 35.972 trẻ. - Công tác phòng chống Phong: Trong tháng không phát hiện bệnh phong mới, duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Toàn tỉnh hiện quản lý 464 bệnh nhân phong, đang giám sát 20 bệnh nhân, chăm sóc tàn tật 452 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Trong tháng, khám phát hiện 12 bệnh nhân lao mới, trong đó có 04 bệnh nhân lao phổi AFB (+). - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 11 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 03 bệnh nhân chuyển AIDS, có 03 bệnh nhân tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.717 bệnh nhân mắc HIV, chuyển AIDS 1.770 bệnh nhân và có 879 bệnh nhân tử vong do AIDS. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 861.285 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 49.771 người, số ngày điều trị nội trú là 286.007 ngày, xét nghiệm cho 815.388 tiêu bản, chẩn đoán 147.226 hình ảnh, phẫu thuật 5.280 trường hợp. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đã tổ chức khám bệnh cho 5.228.747 lượt người; 430.823 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 2.510.682 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,74 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 101%; đã xét nghiệm cho 7.881.612 tiêu bản; chẩn đoán 1.480.401 hình ảnh và phẫu thuật cho 53.498 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 78 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 770 cơ sở, kết quả có 20 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 166,6 triệu đồng. Lũy kế 11 tháng năm 2025, tỉnh đã thành lập 764 đoàn kiểm tra tại 15.875 cơ sở, kết quả có 138 cơ sở vi phạm bị xử phạt với tổng số tiền 892,2 triệu đồng.     Trong tháng không xảy ra ngộ độc thực phẩm. Lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 04 vụ ngộ độc thực phẩm làm 109 người mắc, có 01 trường hợp tử vong do ăn cá nóc. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương như: Liên hoan các câu lạc bộ Cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, năm 2025; Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và tuyên truyền đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 vào cuộc sống. Trong tháng tiếp tục đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số; thường xuyên rà soát thông tin trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng (từ ngày 15/10-15/11, qua rà soát trên hệ thống phần mềm giám sát thông tin mạng xã hội có 30.354 tin, bài viết có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; tin, bài tích cực tỷ lệ 75,2%; tin, bài tiêu cực tỷ lệ 24,8%); qua đánh giá, không có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Triển khai tốt công tác tuyên truyền về các ngày lễ, ngày kỷ niệm, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và địa phương. Tuyên truyền đối ngoại, quảng bá, giới thiệu về hình ảnh, chính sách, môi trường đầu tư, truyền thống lịch sử, văn hóa, tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế, những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội. Thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại trên địa bàn tỉnh đã phản ánh toàn diện các hoạt động đối nội, đối ngoại; các vấn đề, sự kiện trong tỉnh, trong nước và trên thế giới. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 06 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh, 01 giấy xác nhận đăng ký hoạt động in. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định. Hệ thống trường học trong vùng đồng bào DTTS cơ bản đảm bảo về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các lớp học duy trì sĩ số học sinh; công tác y tế tiếp tục được triển khai có hiệu quả, hoạt động khám chữa bệnh, chương trình tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện tốt, không có dịch bệnh nguy hiểm phát sinh. Trong tháng, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi; việc giải ngân vốn cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS được quan tâm; các chính sách hỗ trợ cho học sinh, sinh viên, hỗ trợ lãi suất vay vốn cho đồng bào DTTS tại chỗ và chính sách khoán bảo vệ rừng tiếp tục được triển khai hiệu quả. Đến nay, đã thực hiện đầu tư ứng trước bắp lai, lúa nước cho 703 hộ/1.278,5 ha với giá trị đầu tư trên 9,1 tỷ đồng; trong đó: bắp lai 547 hộ/1.162,4 ha/8,4 tỷ đồng và lúa nước 156 lượt hộ/116,1 ha/619 triệu đồng. Chủ động tìm kiếm thị trường và ký hợp đồng thu mua, tiêu thụ bắp lai thương phẩm với các doanh nghiệp thu mua nông sản trong và ngoài tỉnh; lũy kế đến nay đã tổ chức thu mua trên 2.500 tấn bắp lai thương phẩm trị giá trên 10 tỷ đồng. Tổ chức thu mua mủ cao su, chi trả tiền mua mủ hàng ngày kết hợp thu hồi nợ đầu tư; lũy kế đến nay đã thu mua được trên 12,5 tấn mủ cao su trị giá trên 190 triệu đồng. Trong tháng, tình hình mưa lũ diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống người dân vùng đồng bào DTTS. Mưa lũ đã làm 198,4 ha bắp lai thuộc chương trình hỗ trợ thực hiện chính sách đầu tư phát triển sản xuất của 158 hộ bị hư hỏng hoàn toàn, ước thiệt hại khoảng 2,5 tỷ đồng. Ngoài ra, mưa lũ đã làm thiệt hại lớn đối với ngành nông nghiệp và tài sản khác, vì vậy cuộc sống của một bộ phận đồng bào DTTS trên địa bàn tinh đang gặp nhiều khó khăn sau thiên tai. 5.2. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 358 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công, trong đó: Tiếp nhận 23 hồ sơ chuyển đến, 10 hồ sơ chuyển đi; lập thủ tục chuyển Hội đồng Giám định y khoa 10 hồ sơ; trả lời 20 đơn thư; ban hành 39 Quyết định hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ; 189 Quyết định trợ cấp mai táng phí đối với thân nhân của người có công với cách mạng từ trần; đề nghị cấp lại bằng Tổ quốc ghi công cho 16 liệt sĩ; 03 Quyết định giải quyết trợ cấp ưu đãi giáo dục; giải quyết 04 hồ sơ đính chính thông tin người có công… Công tác chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt đối với người có công với cách mạng và thân nhân được thực hiện đầy đủ, đã chi trả qua tài khoản 12.685/19.508 đối tượng với tổng số tiền 42,5 tỷ đồng/tháng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 30/10/2025, toàn tỉnh có 284.112 người người tham gia BHXH, tăng 1,33% so với tháng trước và 1,90% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 240.680 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 0,59% so với cùng kỳ năm trước; 43.432 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 9,77% so với cùng kỳ năm trước); có 219.030 người tham gia BHTN, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.893.040 người, tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 86,20% dân số. Trong tháng, đã giải quyết mới 10.191 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.157 người; lũy kế đến 30/10/2025, đã giải quyết mới 100.729 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 19.459 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 3.990 người; trợ cấp 1 lần cho 26.686 người; chế độ ốm đau cho 54.458 người; chế độ thai sản cho 11.998 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 3.597 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 17.777 người; hỗ trợ học nghề cho 1.682 người). Tiếp nhận, giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177 và 178 là 161 người (lũy kế: 2.061 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/10-13/11/2025) Trong tháng xảy ra 57 vụ tai nạn giao thông, giảm 18 vụ so với tháng trước và giảm 38 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 23 người, giảm 16 người so với tháng trước và giảm 19 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 43 người, giảm 6 người so với tháng trước và giảm 20 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 799 vụ tai nạn giao thông, giảm 317 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 391 người, giảm 27 người; số người bị thương là 618 người, giảm 315 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (Từ ngày 28/10-23/11/2025) trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 đợt mưa lớn kèm dông lốc, gây ngập lụt, sạt lở. Thiên tai đã làm 05 người chết và 01 người bị thương; 3.819 căn nhà bị ngập, hư hỏng; khoảng 7.608 ha cây trồng các loại bị thiệt hại, ảnh hưởng; 10.186 con gia súc, gia cầm bị chết cuốn trôi; 254 điểm sạt lở; các địa phương tổ chức di dời 1.424 hộ ra khỏi khu vực nguy hiểm; ngoài ra, mưa lớn kéo dài đã gây lũ lụt và sạt lở nhiều tuyến đường (toàn bộ taluy âm đoạn Km 226+600-Km 226+800 trên đèo Mimosa sụt lún nghiêm trọng, toàn bộ mặt đường bị đứt gãy, chiều rộng khoảng 50m, sâu khoảng 30m, chiều dài vệt trượt khoảng 100m; tại Km 224+600 đến Km 224+700 trên đèo Prenn xảy ra sạt lở làm gần ½ nền đường bị sụt lún, sạt lở, rơi xuống phía ta-luy âm) khiến hai tuyến giao thông huyết mạch vào trung tâm Đà Lạt bị chia cắt; ước tổng giá trị thiệt hại trong tháng 11 khoảng 1.152 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 36 đợt thiên tai; làm chết 15 người; bị thương 19 người; hư hỏng 10.161 căn nhà; thiệt hại 20.202 ha cây trồng; chìm 29 tàu cá; hư hỏng nhiều tài sản và công trình dân sinh khác; ước tổng giá trị thiệt hại trên 1.347 tỷ đồng. Đến nay, tỉnh đã tiếp nhận 600 tỷ đồng kinh phí hỗ trợ; trong đó: 500 tỷ đồng do Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ (theo Quyết định số 2549/QĐ-TTg ngày 21/11/2025 và Quyết định số 2572/QĐ-TTg ngày 23/11/2025), 20 tỷ đồng của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 50 tỷ đồng của tỉnh Quảng Ninh, 30 tỷ đồng từ các nguồn hỗ trợ khác; hỗ trợ 1.000 tấn gạo để kịp thời ổn định đời sống người dân tại Quyết định số 3929/QĐ-BCT ngày 23/11/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. - Cháy, nổ: Trong tháng xảy ra 06 vụ cháy, nổ; không có thiệt hại về người. Lũy kế 11 tháng năm 2025 xảy ra 50 vụ cháy, nổ (giảm 6 vụ so cùng kỳ năm trước); làm 01 người chết và bị thương 02 người. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ vi phạm môi trường, không tăng/giảm so với tháng trước và giảm 2 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 xảy ra 20 vụ, giảm 35 vụ so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 3,663 tỷ đồng. * Đánh giá chung Nhìn chung, tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2025 của tỉnh tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định: Sản xuất nông nghiệp duy trì ổn định, sản lượng các sản phẩm chủ lực tăng so với cùng kỳ; giá cà phê trong vụ thu hoạch giữ mức cao, hỗ trợ tăng thu nhập cho nông hộ. Dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát, chăn nuôi gia cầm quy mô lớn tiếp tục mở rộng, đóng góp tích cực vào giá trị ngành. Công tác quản lý vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm được thực hiện thường xuyên. Tỉnh triển khai hiệu quả các giải pháp chống khai thác IUU và không xảy ra vi phạm vùng biển nước ngoài. Số vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp giảm mạnh so với năm trước, phản ánh chuyển biến tích cực trong quản lý, bảo vệ rừng. Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, cấp mã số vùng trồng và phát triển OCOP tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao giá trị sản xuất toàn ngành. Công nghiệp - đầu tư phát triển tiếp tục ổn định, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 4,27%, nhiều doanh nghiệp mở rộng sản xuất dù còn gặp khó khăn về chi phí đầu vào và thị trường tiêu thụ. Khu vực doanh nghiệp tiếp tục phát triển với 3.761 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 74,93%. Hoạt động thương mại - dịch vụ sôi động, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 16,11%. Du lịch phục hồi mạnh với 18,8 triệu lượt khách, tăng 19,66%; khách quốc tế tăng 32,38%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 24,46% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa và hành khách đều tăng; thị trường giá cả nhìn chung ổn định, nguồn cung hàng hóa dồi dào, công tác quản lý thị trường được tăng cường góp phần giữ vững ổn định kinh tế cuối năm. Hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi động với nhiều sự kiện quy mô quốc gia và quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Công tác an sinh xã hội, chính sách đối với người có công và đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai đầy đủ, kịp thời; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 86,2% dân số. Ngành Giáo dục duy trì ổn định quy mô trường lớp; công tác y tế dự phòng và tiêm chủng mở rộng được thực hiện nề nếp. Đặc biệt, tình hình trật tự an toàn giao thông có chuyển biến tích cực, tai nạn giao thông giảm sâu cả 3 tiêu chí (số vụ, số người chết và bị thương) so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế của tỉnh vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, khó lường đã gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản và cơ sở hạ tầng (ước tính giá trị thiệt hại lũy kế trên 1.347 tỷ đồng), ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh. Hoạt động của doanh nghiệp còn gặp nhiều áp lực, số lượng doanh nghiệp giải thể tăng cao (tăng 77,16%). Một số ngành công nghiệp như sản xuất đồ uống, điện thương phẩm sụt giảm do chi phí đầu vào tăng và nhu cầu thị trường biến động, điện sản xuất tăng thấp. Tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết còn diễn biến phức tạp, số ca mắc tích lũy ở mức cao. Ngoài ra, tình trạng thiếu hụt giáo viên cục bộ ở các cấp học vẫn chưa được giải quyết triệt để, gây áp lực cho công tác giáo dục đào tạo.TKT Lâm Đồng

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025 tỉnh Lâm Đồng
  •   03/11/2025 17:24

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 10 và 10 tháng năm 2025 tiếp tục duy trì và phát triển ổn định. Diện tích các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tiếp tục tăng so với cùng kỳ. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia cầm và đàn lợn đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, nhất là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát hiệu quả, giúp người dân yên tâm đầu tư. Sản lượng khai thác thủy sản biển ổn định. Công tác phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và Chương trình OCOP được chú trọng; nhiều doanh nghiệp, chủ thể sản xuất được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông sản chủ lực, sản phẩm OCCOP tại các hội nghị, triển lãm trong cả nước, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu nông nghiệp của tỉnh. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tiến độ Vụ mùa: Tính đến thời điểm báo cáo diện tích gieo trồng Vụ mùa ước đạt 163.550,2 ha, tăng 1,67% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó: + Cây lương thực có hạt: Diện tích gieo trồng ước đạt 83.452,9 ha, tăng 1,01% so với cùng kỳ năm trước (diện tích cây lúa ước đạt 63.530,2 ha, tăng 1,66%; diện tích cây bắp ước đạt 19.912,7 ha, giảm 0,99%); + Cây có hạt chứa dầu: Diện tích gieo trồng ước đạt 4.376,8 ha, tăng 1,26% so với cùng kỳ năm trước (diện tích cây đậu phộng ước đạt 3.594,6 ha, tăng 1,44%); + Rau, đậu, hoa: Diện tích gieo trồng ước đạt 38.952,5 ha, tăng 1,98% so với cùng kỳ năm trước (rau các loại ước đạt 30.617,4 ha, tăng 3,34%; Đậu các loại đạt 4.357,6 ha, giảm 8,6%; Hoa các loại ước đạt 3.977,5 ha, tăng 4,64%). 1.2. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh duy trì và phát triển ổn định, trong đó các cây trồng chủ lực tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. Hiện người dân đang tích cực chăm sóc cho cây cà phê, cây ăn quả và các cây trồng lâu năm khác, cụ thể một số cây chính sau: - Cây cà phê: Giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân mở rộng thêm diện tích trồng mới; diện tích ước đạt 328.650 ha, tăng 1,03% so với cùng kỳ năm trước; hiện cây cà phê đang trong giai đoạn nuôi trái, người dân đang tập trung chăm sóc; - Cây cao su: Diện tích ước đạt 74.439 ha, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong thời gian tới, diện tích trồng mới cao su có khả năng tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do nông dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư. Dù vậy, cùng với xu hướng phục hồi của thị trường thế giới, cao su vẫn được xem là loại cây có tiềm năng phát triển ổn định, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây công nghiệp lâu năm của tỉnh; - Cây chè: Người dân đã chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, bơ, chanh dây,... Diện tích chè hiện có ước đạt 9.411 ha, giảm 4,14% so với cùng kỳ năm trước; - Cây dâu tằm: Diện tích ước đạt 10.615 ha, tăng 0,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong thời gian gần đây, việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định nên người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích; - Cây thanh long: Diện tích ước đạt 26.489,1 ha, tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu nhờ mở rộng diện tích trồng mới và duy trì tốt diện tích hiện có tại các vùng sản xuất ổn định; - Cây sầu riêng: Diện tích ước đạt 43.859,8 ha, tăng 3,34% so với cùng kỳ năm trước. Dự báo trong thời gian tới, diện tích sầu riêng tiếp tục có xu hướng tăng do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh. 1.3. Tình hình dịch bệnh Trong tháng 10/2025, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Ốc bươu vàng gây hại 724 ha (tăng 653 ha so với tháng trước); bệnh đạo ôn lá gây hại 472 ha (giảm 492,8 ha so với tháng trước); chuột gây hại 250 ha (tăng 130 ha so với tháng trước) tại các xã Đạ Tẻh, Langbiang, Đức Trọng, Tân Hội, Ninh Gia, Tà Hine, Tà Năng, Tà Đùng, Quảng Sơn, phường Đông Gia Nghĩa, Bắc Gia Nghĩa, Hàm Thuận Bắc Hàm Thuận, Hồng Sơn, Bắc Bình, Hải Ninh, Hồng Thái, Liên Hương, Tuy Phong; - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.468,3 ha (tăng 25,3 ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, phường Bắc Gia Nghĩa, Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 2.111,5 ha (giảm 751,2 ha so với tháng trước) tại các xã Bảo Lâm 1, 2, 3, 4, 5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác; bọ xít muỗi gây hại 1.685 ha cà phê chè (giảm 288,6 ha so với tháng trước) tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; bệnh chết khô ngọn gây hại 30 ha tại Bảo Lâm 1; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.032 ha (ít biến động so với tháng trước); bệnh thán thư gây hại 2.836 ha (tăng 14 ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1,2,3,4, Tánh Linh, Suối Kiết; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 310 ha (tăng 4 ha so với tháng trước) tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 4.050 ha (tăng 938 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 1.179 ha (tăng 357 ha so với tháng trước) tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Tân Lập, Tuyên Quang, Tân Hải và phường Bình Thuận, Tiến Thành. Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất. 2. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi; giá thức ăn, con giống gia súc vẫn ở mức cao, giá bán các sản phẩm trâu, bò giảm, dịch bệnh tiêu chảy trên đàn bò sữa nên tổng đàn trâu, bò có khuynh hướng giảm; chăn nuôi heo tại các trang trại được kiểm dịch tốt nên vẫn tiếp tục phát triển về quy mô đàn; do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi, hộ chăn nuôi nhỏ lẻ có xu hướng chuyển sang nuôi gia cầm nên quy mô đàn gia cầm tăng mạnh so với cùng kỳ. So với cùng kỳ năm trước, toàn tỉnh có 26,6 nghìn con trâu, giảm 0,33%; có 312 nghìn con bò, tăng 0,12% (trong đó đàn bò sữa 29,5 nghìn con, giảm 0,34% do dịch tiêu chảy đã làm nhiều con chết và giá thu mua sữa giảm, nhiều hộ dân đang thanh lý đàn bò sữa); có 1.398,9 nghìn con lợn, tăng 5,1% (lợn không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.356,4 nghìn con, tăng 4,78%); có 22.111,5 nghìn con gia cầm, tăng 10,01%, trong đó gà các loại 15.561,6 nghìn con, chiếm 70,38% trong tổng đàn gia cầm, tăng 11,89% (đàn gà tăng mạnh do Công ty cổ phần MeBi Farm, quy mô hiện có trên 202 nghìn con gà đẻ trứng đã góp phần đáng kể vào việc nâng tổng đàn và sản lượng trứng tăng). Sản lượng thịt hơi các loại ước 10 tháng năm 2025 đạt 286.903 tấn, tăng 7,52% so với cùng kỳ năm trước. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Trong tháng, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) phát sinh tại 10 hộ tại 10 thôn của 08 xã với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 358 con/22.063 kg. Lũy kế, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 1.555 con/77.735 kg. Đến nay, có 16/23 xã đã qua 21 ngày không phát sinh lợn mắc bệnh, 07/23 xã dịch bệnh chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...): không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Tổ chức kiểm tra tình hình dịch bệnh DTLCP tại các địa phương có dịch nêu trên, đồng thời phân bổ kịp thời cho các địa phương 3.245 liều vắc xin phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi và 90 lít hóa chất khử trùng, tiêu độc. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, đã trồng rừng tập trung (trồng mới) ước đạt 137 ha, giảm 10,92% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 4.635 ha, tăng 5,01% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây xanh ước đạt 6.383.000 cây, đạt 36,6% kế hoạch năm. - Sản lượng gỗ khai thác tháng Mười ước đạt 31.607,3 m3, giảm 0,88% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 314.300,3 m3, tăng 2,13% so với cùng kỳ năm trước. - Trong tháng, phát sinh 23 vụ vi phạm lâm luật. Lũy kế 10 tháng năm 2025, tổng số vụ vi phạm là 352 vụ (139 vụ đã xác định được đối tượng vi phạm, chiếm 39,5%), trong đó phá rừng 136 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 25,03 ha. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm giảm 282 vụ (phá rừng giảm 102 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại giảm 20,52 ha. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 3.375,4 tấn, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 492 tấn, tăng 4,24%). Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 22.474,4 tấn, tăng 2,63% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 4.086,4 tấn, tăng 3,2%). - Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 23.034 tấn, tăng 3,47% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 22.846 tấn, tăng 2,9%). Lũy kế 10 tháng năm 2025, sản lượng khai thác đạt 211.605,8 tấn, tăng 4,56% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 210.371,4 tấn, tăng 4,58%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong 10 tháng đầu năm 2025 hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Công tác quản lý chất lượng giống thủy sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Tình hình sản xuất, kinh doanh tôm giống trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay ổn định; sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,2 tỷ post, tăng 4,74% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 20,4 tỷ post, tăng 7,77% so với cùng kỳ năm trước. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Trong tháng, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục giữ được đà tăng trưởng khá, làm cho toàn ngành công nghiệp 10 tháng năm 2025 tăng 3,91% so với cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo; ngành công nghiệp khai khoáng tăng trưởng cao đã đóng góp lớn vào tăng trưởng chung của khu vực công nghiệp; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải duy trì mức tăng trưởng ổn định. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 11,51% so với tháng trước và tăng 14,09% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20,55% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,78%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 16,06%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,39%. Tính chung 10 tháng năm 2025, ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 3,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 11,58%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,34%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,23%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,11%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: sản lượng sản xuất trong tháng ước đạt 362.146 m3, giảm 2,22% so với tháng trước và tăng 16,43% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng sản xuất ước đạt 3.322.523 m3, tăng 12,11% so với cùng kỳ. Nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng (đá, cát, đất san lấp) phục vụ nhu cầu xây dựng trong thời gian tới (đặc biệt là các công trình trọng điểm sản lượng khai thác đá xây dựng có xu hướng tăng cao trong những tháng cuối năm). - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: trong tháng sản lượng ước đạt 2.689 tấn, tăng 1,82% so với tháng trước và tăng 10,74% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 30.785 tấn, tăng 16,74% so với cùng kỳ. Trong 10 tháng năm 2025 một số công ty tiếp tục đẩy mạnh sản xuất đáp ứng nhu cầu hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng và đáp ứng các đơn hàng tăng mới xuất khẩu qua Malaisya, Indonexia.  - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: sản lượng các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản trong tháng ước đạt 1.802 tấn, tăng 1,20% so với tháng trước và tăng 5,5% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 17.283 tấn, tăng 4,35% so với cùng kỳ. - Sản phẩm đồ uống: ước trong tháng sản lượng đạt 30.456 nghìn lít, tăng 1,46% so với tháng trước và tăng 1,61% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 272.197 nghìn lít, giảm 7,91% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm bia cùng với chi phí nguyên vật liệu tăng cao (Malt, gạo, đường), và sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường. - Sản phẩm giày, dép: ước trong tháng sản lượng đạt 771 nghìn đôi, tăng 42,56% so với tháng trước và tăng 74,93 so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 5.267 nghìn đôi, tăng gấp 1,95 lần so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng và năng lực tăng thêm ở Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam. - Sản phẩm phân bón: ước trong tháng sản lượng sản xuất đạt 13.259 tấn tăng 0,36% so với tháng trước và tăng 23,67% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 111.543 tấn, tăng 17,70% so với cùng kỳ. Trong năm 2025, trên địa bàn Nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông đi vào sản xuất. - Sản phẩm Ôxit nhôm: trong tháng ước đạt 127,12 nghìn tấn, tăng 2,83% so với tháng trước và tăng 11% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 1.239,67 nghìn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: ước trong tháng sản lượng đạt 3.092 triệu kwh, tăng 21,81% so với tháng trước và tăng 17,44% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 28.072 triệu kwh, tăng 0,73% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: trong tháng ước sản lượng đạt 463 triệu kwh, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 1,89% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 4.588 triệu kwh, giảm 0,43% so với cùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 2,55% so với tháng trước và tăng 5,31% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 15,49%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,06%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,12%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,1%. Tính chung 10 tháng năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,52%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 19,67%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,32%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,26%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,73%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 0,64% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 8,06%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,23%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng so với cùng kỳ năm 2024 và xu hướng cao hơn bình quân 10 tháng đầu năm 2025 là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho thời gian hoạt động sản xuất cuối năm; dự báo thị trường lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp Hiện nay trong các khu công nghiệp có 166 doanh nghiệp/dự án đang hoạt động, kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh thực hiện trong 9 tháng năm 2025 như sau: doanh thu ước đạt 24.878,9 tỷ đồng; xuất khẩu 523,9 triệu USD; nộp ngân sách nhà nước 929,7 tỷ đồng. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp duy trì ổn định, các sản phẩm chủ yếu gồm: may mặc, da giày, gỗ, giấy, nông lâm hải sản, hạt điều, cơ khí, thực phẩm, vật liệu xây dựng, khoáng sản...; bên cạnh vẫn còn một số doanh nghiệp gặp khó khăn, dừng hoạt động nhưng chưa có kế hoạch khôi phục hoạt động trở lại. Trong 9 tháng năm 2025 tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh thu hút được 13 dự án đầu tư (01 dự án FDI) với diện tích khoảng 27,7 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 958,2 tỷ đồng và 35 triệu USD; lũy kế đến nay toàn tỉnh hiện có 15 khu công nghiệp, 229 dự án (51 dự án FDI và 178 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 43.411,6 tỷ đồng và 466,4 triệu USD và diện tích đất đăng ký 713,25 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,99%. Cụ thể: - KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 3.180,4 tỷ đồng và 48,6 triệu USD, diện tích đất đã cho thuê lại 117 ha/132,6 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 88,19%. - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 2.384,1 tỷ đồng và 77,1 triệu USD, diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 74,8 triệu USD và 857,9 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 11 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 09 dự án đầu tư có vốn trong nước), với tổng vốn đầu tư đăng ký 11,9 triệu USD và 543,1 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 23 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 22 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 14 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.706,9 tỷ đồng và 56,2 triệu USD, diện tích đất cho thuê 60,1 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,16%. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 17 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 772,4 tỷ đồng và 185,6 triệu USD, diện tích đất cho thuê 88 ha/276,9 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 31,77%. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 13.544,9 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 58,4 ha/202,3 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức thu hút được 01 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 100 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 1,5 ha/210,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 47 dự án đầu tư (gồm 04 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 43 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký đầu tư 1.948,8 tỷ đồng và 12,3 triệu USD; diện tích thuê lại 130 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,4 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. 2. Đầu tư phát triển Tính chung 10 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện ước đạt 10.903,6 tỷ đồng, bằng 68,65% kế hoạch năm là sự nỗ lực lớn; tuy nhiên, 03 tháng cuối năm để vốn đầu tư thực hiện hoàn thành theo đúng kế hoạch vẫn là thách thức. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.536,6 tỷ đồng, tăng 5,81% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này chủ yếu nhờ địa phương đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, giải ngân vốn đầu tư công đạt kết quả tích cực. Trong đó, vốn cấp tỉnh đạt 1.531,7 tỷ đồng, chiếm 99,68% tổng vốn, tăng 5,94%; vốn cấp xã đạt 4,8 tỷ đồng, chiếm 0,32%, giảm 23,49% do quá trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy cấp xã. Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh bao gồm: vốn cân đối ngân sách tỉnh ước 608,8 tỳ đồng, tăng 10,78% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước 459,8 tỷ đồng, giảm 6,89%; vốn nước ngoài (ODA) ước 31,2 tỷ đồng tăng 48,23%; vốn xổ số kiến thiết 427,3 tỷ đồng, tăng 13,1%. Lũy kế 10 tháng năm 2025, tổng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 10.903,6 tỷ đồng, đạt 68,65% kế hoạch năm và tăng 6,1% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn cấp tỉnh ước đạt 10.877,1 tỷ đồng, tăng 6,18%; vốn cấp xã đạt 26,4 tỷ đồng, giảm 18,38%. Trong 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 42 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 14.340,7 tỷ đồng. Lũy kế đến ngày 14/10/2025, trên địa bàn tỉnh có 2.939 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 2.022 nghìn tỷ đồng (trong đó có 235 dự án FDI, tổng vốn đầu tư là 224,3 nghìn tỷ đồng). Tính từ đầu năm đến ngày 14/10/2025, toàn tỉnh có 3.317 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 73,03% so với cùng kỳ; 1.572 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,77%; 658 doanh nghiệp giải thể, tăng 79,29%; 950 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 19,95% so cùng kỳ. Tổng số vốn trong 10 tháng đầu năm 2025 các doanh nghiệp đã đăng ký 17.194 tỷ đồng, tăng 21,29% vốn đăng ký so với cùng kỳ. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Hoạt động thương mại, dịch vụ 10 tháng năm 2025 ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của nhân dân, nhất là trong dịp lễ, Tết. Tình hình lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra thuận lợi, các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cơ sở kinh doanh bán lẻ hoạt động bình thường, cung ứng lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng về chủng loại, phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, không có tình trạng găm hàng, sốt giá; không có hiện tượng mất an toàn thực phẩm. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, trên địa bàn tỉnh tổ chức nhiều sự kiện thu hút nhiều du khách đến du lịch và nghỉ dưỡng. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa; vận tải đường thủy diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng tích cực. Nguồn cung hàng hóa dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, giá cả các mặt hàng thiết yếu được giữ ổn định, không có biến động bất thường. Những yếu tố thuận lợi này đã thúc đẩy tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng so với cùng kỳ. Song song đó, các hoạt động xúc tiến thương mại được đẩy mạnh nhằm đa dạng hóa hình thức khuyến mại và mở rộng thị trường tiêu thụ. Tỉnh đã tổ chức đoàn tham gia Hội chợ mùa Thu 2025 (26/10-04/11) tại Hà Nội và chủ trì chương trình kết nối giao thương giữa Siêu thị Tứ Sơn với các doanh nghiệp Lâm Đồng (20/10). Đồng thời, thông tin về các chương trình xúc tiến thương mại tiềm năng đã được phổ biến rộng rãi tới doanh nghiệp, tiêu biểu như: Hội chợ Công Thương vùng Đồng bằng Sông Hồng-Hải Phòng 2025, Hội chợ sản phẩm OCOP, Hội chợ Thương mại Việt Nam tại Campuchia 2025, và Tuần lễ nông sản Việt Nam tại Sơn Đông (Trung Quốc). Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 24.113,4 tỷ đồng, tăng 3,16% so với tháng trước và tăng 26,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 16.259,7 tỷ đồng, tăng 2,95% so với tháng trước và tăng 25,2% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 5.418,7 tỷ đồng, tăng 3,57% so với tháng trước và tăng 41,68% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.435 tỷ đồng, tăng 3,68% so với tháng trước và tăng 8,28% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 212.386 tỷ đồng, tăng 15,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ ước đạt 142.339,6 tỷ đồng, tăng 15,21% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 46.376,8 tỷ đồng, tăng 17,67% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 23.669,6 tỷ đồng, tăng 9,59% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng 10, tình hình thị trường trên địa bàn tỉnh ổn định, không có nhiều biến động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đa dạng, phong phú, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn cũng như khách du lịch đến tham quan. Trên địa bàn không có hiện tượng găm hàng, tăng giá quá mức để thu lợi bất chính. Hoạt động mua bán, giao thương diễn ra sôi động tại các chợ đầu mối, chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện ích, trung tâm thương mại và trên các sàn thương mại điện tử góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, ổn định thị trường và phát triển tiêu dùng nội địa. Giá cả các mặt hàng thiết yếu được giữ ở mức hợp lý, tương đối ổn định. Riêng đối với mặt hàng xăng dầu nhìn chung các cơ sở kinh doanh đều chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không xuất hiện các điểm nóng vi phạm về đo lường, chất lượng, găm hàng chờ tăng giá, giảm lượng xăng dầu bán ra mà không có lý do chính đáng; nguồn cung xăng dầu đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn, không có hiện tượng khan hiếm. Trong tháng 8/2025 không thực hiện kiểm tra. Từ ngày 15/9-14/10/2025, đã tiến hành kiểm tra 85 vụ, phát hiện 84 vụ vi phạm, xử lý 74 vụ, đang xử lý 10 vụ, tổng số tiền xử phạt 271,5 triệu đồng, trị giá hàng hóa áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả gần 29,4 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Giá lương thực, thực phẩm tiếp tục tăng do ảnh hưởng bởi mưa bão; giá nhà ở thuê tăng do nhu cầu thuê nhiều đây là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,66% so với tháng trước, tăng 4,89% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,46% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân 10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,13%. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 10 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,36%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,01%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,80%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,65%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,66%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,48%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,23%; Giáo dục tăng 0,18%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,17%; Bưu chính viễn thông tăng 0,03%. Có 01 nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 0,93%. * Nguyên nhân làm tăng, giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng CPI: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,36% so với tháng trước, do ảnh hưởng thời tiết mưa bão, nguồn cung giảm nên làm cho giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng so với tháng trước. Giá nhà ở thuê tăng 1,53% do nhu cầu thuê nhà vào dịp đầu năm học mới tăng và đồng thời do nâng cấp nhà ở thuê nên giá dịch vụ tăng. - Nguyên nhân làm giảm CPI: Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 02, 09, 16 và 23 tháng 10/2025, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu giảm 2,38% so với tháng trước. Giá gas trong tháng giảm 1,82% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh giảm 7.800 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới. Giá gas thế giới bình quân trong tháng công bố ở mức 485 USD/tấn, giảm 20 USD/tấn so với tháng 9/2025. * Các yếu tố làm tăng, giảm CPI 10 tháng năm 2025 so bình quân cùng kỳ - Các yếu tố làm tăng CPI bình quân 10 tháng năm 2025 + Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 14,26% làm CPI chung tăng 0,88 điểm phần trăm do áp dụng giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế; + Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,26% làm CPI chung tăng 0,79 điểm phần trăm, do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 8,57% do nhu cầu sử dụng điện tăng đồng thời ngày 11/10/2024 và ngày 09/5/2025 EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân; + Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,87% làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó các mặt hàng trang sức bằng vàng tăng 26,2% do ảnh hưởng giá vàng trong trước tăng theo giá vàng thế giới; giá bảo hiểm y tế tăng 17,05% do tăng theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng từ 1.800.000 đồng lên 2.340.000 đồng, theo đó bảo hiểm y tế cho cán bộ công chức và người lao động cũng được tăng theo; + Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,18% tác động làm CPI chung tăng 1,12 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 3,6%, tác động làm CPI chung tăng 0,81 điểm phần trăm, tăng mạnh chủ yếu giá thịt lợn tăng 9,47%. Nguyên nhân do nguồn cung ít, nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp Lễ, Tết; + Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,71%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,59%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,19%. Nguyên nhân do tăng cao trong dịp Lễ Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán thị trường tiêu dùng; + Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 1,46%, làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Các yếu tố làm giảm CPI bình quân 10 tháng năm 2025 + Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 0,11% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, trong đó giảm chủ yếu mặt hàng gạo giảm 0,90%. Nguyên nhân, do nguồn cung tại địa phương cũng như nguồn cung trong nước dồi dào, tình hình xuất khẩu gạo các thị trường Philippines, Indonesia cũng giảm so cùng kỳ, do đó giá so cùng kỳ năm trước có phần giảm, mức giảm dao động từ 500 đồng/kg – 900 đồng/kg tùy loại; + Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,04% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,2 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 9,18%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. 3. Hoạt động du lịch Hoạt động du lịch trong tháng tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng trên địa bàn tỉnh diễn ra một số sự kiện, hoạt động tiêu biểu như: Lễ hội Katê, Bế mạc tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng, Lễ hội khinh khí cầu và nghệ thuật Lâm Đồng, giải quần vợt Vô địch Quốc gia - Cúp Novaworld.... đã thu hút đông đảo người dân và khách du lịch. Hoạt động lữ hành và các dịch vụ hỗ trợ tiếp tục tăng cường phục vụ cho người dân và du khách. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.892,2 nghìn lượt, tăng 1,18% so tháng trước và tăng 40,03% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 76,6 nghìn lượt, tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 14,34% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.313,2 nghìn ngày khách, tăng 1,47% so với tháng trước và tăng 44,44% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 lượt khách ước đạt 17.156,5 nghìn lượt, tăng 19,77% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 681,6 nghìn lượt, tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 30.827,9 nghìn ngày khách, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước.  Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 82,1 nghìn lượt khách, tăng 4,72% so với tháng trước và tăng 12,24% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 180,5 nghìn ngày khách, tăng 8,6% so với tháng trước và tăng 10,92% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 lượt khách quốc tế ước đạt 998,3 nghìn lượt khách, tăng 31,31% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 2.624,4 nghìn ngày khách, tăng 25,95% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường khách quốc tế đến tỉnh chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Mỹ, Đài Loan, Đức, Anh.... Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 1.051,4 tỷ đồng, tăng 5,05% so với tháng trước và tăng 48,5% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.350,2 tỷ đồng, tăng 3,22% so với tháng trước và tăng 40,98% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 17,1 tỷ đồng, tăng 2,82% so với tháng trước và giảm 44,71% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 8.877,5 tỷ đồng, tăng 18,97% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 37.057,6 tỷ đồng, tăng 17,05% so cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 441,7 tỷ đồng, tăng 51,81% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.131,2 tỷ đồng tăng 4,85% so với tháng trước và tăng 44,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 45.472,6 tỷ đồng, tăng 20,99% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.435 tỷ đồng, tăng 3,68% so với tháng trước và tăng 8,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 298,5 tỷ đồng, tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 12,14% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt gần 110 tỷ đồng, tăng 2,44% so với tháng trước và tăng 10,37% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 91,2 tỷ đồng, tăng 3,43% so với tháng trước và tăng 23,91% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 152,8 tỷ đồng, giảm 2,03% so với tháng trước và tăng 32,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.262,3 tỷ đồng, tăng 4,62% so với tháng trước và tăng 3,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 520,2 tỷ đồng, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 10,17% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng 2025 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 23.669,6 tỷ đồng, tăng 9,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.640,1 tỷ đồng, tăng 14,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 1.063 tỷ đồng, tăng 15,26% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 762,8 tỷ đồng, tăng 34,44% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 1.261,3 tỷ đồng, tăng 16,56% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 12.961,6 tỷ đồng, tăng 6,93% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 4.980,8 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng hoạt động vận tải kho bãi trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và có xu hướng tăng so với tháng trước. Bên cạnh đó, do thời tiết thuận lợi và nhiều lễ hội, sự kiện du lịch diễn ra trong tháng, lượng hành khách và hàng hóa vận chuyển tăng, kéo theo doanh thu vận tải và dịch vụ kho bãi đều có cải thiện. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng 10/2025 ước đạt 1.300,5 tỷ đồng tăng 5,92% so với tháng trước và tăng 19,94% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 11.931,1 tỷ đồng, tăng 15,61% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.074,5 nghìn hành khách (HK), tăng 4,46% so với tháng trước và tăng 19,31% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 577.943,2 nghìn HK.Km, tăng 5,88% so với tháng trước và tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 38.749,7 nghìn HK, tăng 12,38% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 5.630.266 nghìn HK.Km, tăng 13,33% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.042,7 nghìn tấn, tăng 7,1% so với tháng trước và tăng 8,92% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 312.750,3 nghìn tấn.Km, tăng 5,86% so với tháng trước và tăng 14,94% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 18.820,2 nghìn tấn, tăng 5,07% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.777.692,8 nghìn tấn.Km, tăng 7,62% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.300,5 tỷ đồng, tăng 5,92% so với tháng trước và tăng 19,94% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 11.931,1 tỷ đồng, tăng 15,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 5.108,1 tỷ đồng, tăng 19,82% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 5.029,8 tỷ đồng, tăng 6,05%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.741 tỷ đồng, tăng 37,31%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 52,2 tỷ đồng, tăng 13,4%. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 1.822 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.722,1 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 99,9 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.767 tỷ đồng, tăng 16,09% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 2.655 tỷ đồng, tăng 16,74%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 112 tỷ đồng, tăng 2,55%. Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 25.801,2 tỷ đồng, bằng 91,33% kế hoạch năm và tăng 16,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 24.547,5 tỷ đồng, bằng 92,25% kế hoạch năm và tăng 18,12% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.253,7 tỷ đồng, bằng 76,49% kế hoạch năm và giảm 11,53% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa 10 tháng năm 2025: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.287 tỷ đồng (bằng 130,89% kế hoạch năm và tăng 75,52% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.168 tỷ đồng (bằng 95,09% kế hoạch năm và tăng 15,29%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 5.254 tỷ đồng (bằng 82,83% kế hoạch năm và giảm 0,75%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 2.494 tỷ đồng (bằng 96,58% kế hoạch năm và tăng 16,24%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 3.851 tỷ đồng (bằng 76,22% kế hoạch năm và tăng 26,02%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.113 tỷ đồng (bằng 91,55% kế hoạch năm và tăng 6,57%). 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.764 tỷ đồng, lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 35.000 tỷ đồng, bằng 72,94% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 11.327 tỷ đồng, bằng 103,80% kế hoạch năm %; chi thường xuyên 23.570 tỷ đồng, bằng 82,10% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Các ngân hàng và tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện các chính sách tín dụng để phục vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ các chính sách tín dụng cho phát triển doanh nghiệp. Cụ thể như sau: Công tác huy động vốn: đến ngày 30/9/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 221.722 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 25.832 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 13,2%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 219.382 tỷ đồng (chiếm 99% tổng huy động vốn), bằng ngoại tệ đạt 2.340 tỷ đồng, (chiếm 1% tổng huy động vốn). Ước tính đến ngày 31/10/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 224.000 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 28.110 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 14,3%. Hoạt động tín dụng: đến ngày 30/9/2025, dư nợ cho vay đạt 358.872 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 19.409 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 5,7%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 356.848 tỷ đồng (chiếm 99% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.024 tỷ đồng (chiếm 1% tổng dư nợ tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 257.112 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 101.760 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/10/2025, dư nợ cho vay đạt 362.500 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 23.037 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 6,8%. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,3% - 0,65%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 2,46% - 4,66%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 3,27% - 5,24%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 4,46% - 5,61%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng lãi suất cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,42% - 8,59%/năm, trung dài hạn 3,69% - 9,87%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,79% - 4,05%/năm. Dư nợ cho vay: đến 30/9/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 184.344 tỷ đồng, chiếm 51,3% tổng dư nợ, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 31.652 tỷ đồng, chiếm 8,8% tổng dư nợ, ngành nông nghiệp đạt 142.876 tỷ đồng, chiếm 39,9% tổng dư nợ. Nợ xấu đạt 7.763 tỷ đồng, chiếm 2,2% trong tổng dư nợ trên địa bàn. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1 Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện làm mới biểu tượng trang trí, pano tấm lớn, pano dọc, pano phướn, tranh cổ động, standee, băng rôn, thảm hoa tươi,... phục vụ tuyên truyền Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Lâm Đồng lần thứ I (2025 - 2030); Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, nhiệm kỳ 2025-2030 và tuyên truyền chào mừng thành công Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 gắn với Hội nghị xúc tiến đầu tư vào tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Lễ Bế mạc Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng năm 2025;... - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức biểu diễn chương trình nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đặc biệt là các chương trình phục vụ: Khai mạc Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Lâm Đồng lần thứ I; Hội nghị tổng kết 05 năm thực hiện Dự án 6 “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số”; bế mạc “Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng” năm 2025; Đại hội và chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I nhiệm kỳ 2025 - 2030; Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Lâm Đồng năm 2025. Bên cạnh đó đã tổ chức chương trình phục vụ gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm OCOP, sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao và món ngon Lâm Đồng năm 2025; biểu diễn chương trình âm nhạc đường phố hưởng ứng chuỗi hoạt động “Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng” năm 2025; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Phường Mũi Né, Bình Thuận cũ). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng đã đón 11.134 lượt khách đến tham quan (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng tiếp đón 1.586 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt tiếp đón 497 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên tiếp đón 281 lượt; Cơ sở 1 (Đông Lâm Đồng) tiếp đón 8.437 lượt; Cơ sở 2 (Tây Lâm Đồng) tiếp đón 333 lượt. Thực hiện nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, hình ảnh về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội phục vụ triển lãm tại Đại hội thi đua yêu nước và Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025- 20230; thực hiện biên tập nội dung, thiết kế maket và dàn dựng triển lãm hơn 550 hình ảnh, tư liệu phục vụ Đại hội bộ tỉnh Lâm Đồng. + Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 181 đoàn với 4.675 lượt người, trong đó có 148 khách nước ngoài. Phục vụ 13 lễ viếng, 01 kết nạp Đảng, 01 sinh hoạt chuyên đề. Phối hợp với Báo và Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng thực hiện 02 phóng sự: “Triển lãm giới thiệu Trường Dục Thanh với Nhân dân Điện Biên”, “Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận, tỉnh Lâm Đồng đón hơn 110.000 lượt khách” và 01 ký sự “Sông Cà Ty - Vươn ra biển lớn”; báo Tin tức và Dân tộc - Thông tấn xã Việt Nam thực hiện phóng sự “Trưng bày 60 bức ảnh về Nơi Bác dừng chân - Trường Dục Thanh Phan Thiết”. Tham gia Triển lãm ảnh chuyên đề “Nơi Bác dừng chân Trường Dục Thanh Phan Thiết” và tọa đàm, trao đổi chuyên môn về “Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến dịch Điện Biên Phủ” tại Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 1.040 lượt khách (12 đoàn) đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Thường xuyên tổ chức sưu tầm tài liệu, hiện vật, các mẩu chuyện kể của cán bộ, chiến sĩ Cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận cũ trong kháng chiến chống Mỹ phục vụ trưng bày bổ sung tại Nhà tưởng niệm. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 159 thẻ bạn đọc (33 thẻ thiếu nhi); phục vụ 129.394 lượt bạn đọc; luân chuyển 52.203 lượt tài liệu; bổ sung 550 bản sách từ nguồn biếu, tặng; xử lý kỹ thuật 1.459 bản sách; số hóa 10.984 trang/40 tài liệu. Phát hành 01 tập Thông tin tư liệu Lâm Đồng tháng 9/2025 với 100 tin, bài. Trưng bày, xếp sách nghệ thuật hưởng ứng Tuần lễ học tập suốt đời năm 2025 tại phường Đông Gia Nghĩa và Bắc Gia Nghĩa với 1.500 bản sách; trưng bày, giới thiệu 768 bản sách về các chuyên đề; đăng tải 67 tin bài tuyên truyền nhân các ngày kỷ niệm, phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức các Giải thể thao: Cầu lông Vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Bóng đá 11 người Vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Bóng bàn Vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025 và Giải Bóng chuyền hơi nữ Vô địch các Câu lạc bộ tỉnh năm 2025. - Thể thao thành tích cao: Đăng cai tổ chức giải Quần vợt Vô địch quốc gia năm 2025; giải Điền kinh người khuyết tật quốc gia 2025. Cử đoàn vận động viên tham gia 10 giải thể thao quốc gia và 01 giải thể thao quốc tế; kết quả đạt 76 huy chương (21 HCV, 28 HCB, 27 HCĐ). Tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm báo cáo đạt 696 huy chương (180 HCV, 192 HCB, 324 HCĐ); trong đó đạt 44 huy chương quốc tế (14 HCV, 18 HCB, 12 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Hoạt động giáo dục ổn định và đi vào nền nếp. Trong tháng tập trung rà soát, củng cố điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị và đội ngũ nhà giáo để phục vụ công tác dạy, học. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.605 trường học (cơ sở giáo dục) với 808.873 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 527 trường với 117.925 trẻ; cấp tiểu học có 565 trường với 322.382 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 243.173 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 120.809 học sinh. Hiện nay nhiều trường vẫn còn thiếu phòng học, phòng chức năng, trang thiết bị dạy học, đặc biệt tại các khu vực nông thôn và vùng đồng bào dân tộc. Năm học 2025-2026, nhu cầu giáo viên cho các cấp học là 42.892 giáo viên (cấp sở: 7.068, cấp xã 35.824), tuy nhiên số giáo viên hiện có 37.459 giáo viên, còn thiếu 5.433 giáo viên (trong đó: Cấp tiểu học thiếu 1.463 giáo viên, cấp trung học cơ sở thiếu 1.453 giáo viên, cấp trung học phổ thông thiếu 495 giáo viên), chủ yếu ở các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Ngoại ngữ. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế - Phòng chống sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm khác: Trong tháng phát hiện 1.255 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 268 ca so với tháng trước và giảm 514 ca so với cùng kỳ năm trước; không có trường hợp tử vong. Lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 5.343 ca mắc, có 02 ca tử vong. Trong tháng có 160 ổ dịch được phát hiện xử lý; lũy kế 10 tháng đã phát hiện xử lý 899 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng có 02 ca mắc; lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 06 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 310 ca mắc, tăng 106 ca so với tháng trước; lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 2.114 ca mắc, tăng 558 ca so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng phát hiện 07 ổ dịch mới (Đạ Huoai: 4, Đà Lạt: 2, Di Linh: 01), lũy kế 10 tháng năm 2025 đã phát hiện 14 ổ dịch bệnh tay chân miệng.  - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 09 ca mắc, giảm 20 ca so với tháng trước; lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 3.957 ca mắc, tăng 3.678 ca so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng phát hiện 07 ổ dịch mới (Đạ Huoai: 4, Đà Lạt: 2, Di Linh: 01), lũy kế 10 tháng năm 2025 đã phát hiện 14 ổ dịch bệnh tay chân miệng. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, tiêm chủng đầy đủ cho 4.262 trẻ dưới 1 tuổi, lũy kế 10 tháng năm 2025 đã tiêm cho 35.468 trẻ. Tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 4.066 trẻ, lũy kế 10 tháng năm 2025 đã tiêm cho 36.162 trẻ. Tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.643 trẻ, lũy kế 10 tháng đã tiêm cho 36.382 trẻ. Tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 4.063 trẻ, lũy kế 10 tháng đã tiêm cho 37.153 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 2 cho 4.473 trẻ, lũy kế 36.422 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 4.473 trẻ, lũy kế 10 tháng năm 2025 đã tiêm cho 33.354 trẻ. Tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai cho 3.987 người; lũy kế 10 tháng đã tiêm cho 32.495 người. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Toàn tỉnh còn quản lý 466 bệnh nhân, không còn bệnh nhân đang điều trị; đang giám sát 20 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 454 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Trong tháng, khám phát hiện 17 bệnh nhân lao mới, trong đó có 03 bệnh nhân lao phổi AFB (+). - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 20 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 01 bệnh nhân chuyển AIDS, có 02 bệnh nhân tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.538 bệnh nhân mắc HIV, chuyển AIDS 1.768 bệnh nhân và có 876 bệnh nhân tử vong do AIDS. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 467.737 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.494 người, số ngày điều trị nội trú là 219.682 ngày, xét nghiệm cho 879.745 tiêu bản, chẩn đoán 129.451 hình ảnh, phẫu thuật 4.839 trường hợp. Lũy kế 10 tháng năm 2025 đã tổ chức khám bệnh cho 4.678.914 lượt người; 746.812 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 2.124.568 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,86 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 83,9%; đã xét nghiệm cho 7.149.753 tiêu bản; chẩn đoán 1.237.606 hình ảnh và phẫu thuật cho 47.411 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 82 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 994 cơ sở, kết quả có 986 cơ sở đạt yêu cầu, 08 cơ sở vi phạm bị phạt (số tiền phạt là 38 triệu đồng). Lũy kế 10 tháng năm 2025, tỉnh đã thành lập 764 đoàn kiểm tra tại 14.719 cơ sở, kết quả có 12.915 cơ sở đạt và 108 cơ sở vi phạm bị xử lý (tổng số tiền xử phạt là 630,63 triệu đồng). Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (tại xã Phan Rí Cửa) làm 11 mắc, 06 người nhập viện, không có tử vong; nguyên nhân do ăn cá nóc. Lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 04 vụ ngộ độc thực phẩm làm 109 người mắc, có 01 trường hợp tử vong do ăn cá nóc. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương, đặc biệt là Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030; Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Lâm Đồng lần thứ I; Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Tổ chức Họp báo Hội nghị Xúc tiến đầu tư vào tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Họp báo thông tin kết quả Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Trong tháng tiếp tục đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số; thường xuyên rà soát thông tin trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng (Từ ngày 15/9-15/10, qua rà soát trên hệ thống phần mềm giám sát thông tin mạng xã hội có 25.514 tin, bài viết; trong đó có 18.886 tin, bài viết có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; tin, bài tích cực chiếm tỷ lệ khoảng 80%, tiêu cực chiếm tỷ lệ khoảng 20%). Các cơ quan báo chí đã bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, tập trung tuyên truyền phản ánh các hoạt động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng,... Qua rà soát, không có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Triển khai tốt công tác tuyên truyền về các ngày lễ, ngày kỷ niệm, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và địa phương. Chuyển đổi mã định danh thiết bị truyền thanh vào Hệ thống thông tin nguồn cấp tỉnh kết nối với hệ thống thông tin nguồn Trung ương. Khởi tạo và cấp tài khoản hệ thống thông tin nguồn cấp tỉnh cho 124 xã, phường, đặc khu trong tỉnh. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 06 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh, 01 giấy xác nhận đăng ký hoạt động in. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ổn định. Hệ thống trường học trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số cơ bản đảm bảo về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các lớp học duy trì sĩ số học sinh, công tác hỗ trợ học sinh nghèo, cấp phát học bổng, bảo hiểm y tế được triển khai đầy đủ; công tác y tế tiếp tục được triển khai có hiệu quả, hoạt động khám chữa bệnh, chương trình tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện tốt, không có dịch bệnh nguy hiểm phát sinh; công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lễ hội truyền thống được quan tâm thực hiện, các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được bảo tồn, phát huy. Trong tháng, tình hình sản xuất và đời sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Đồng bào các dân tộc khẩn trương thu hoạch vụ mùa; gieo trồng, xuống giống, chăm sóc các loại cây trồng và hoa màu. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng được kiểm soát, ngành chức năng đã triển khai nhiều biện pháp phòng trừ nên không gây thiệt hại nhiều đến sản xuất. Tình hình tiêu thụ nông sản nhìn chung ổn định; công tác hỗ trợ sản xuất, chuyển giao khoa học kỹ thuật được duy trì,... Đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện, công tác giảm nghèo tiếp tục được quan tâm. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số có thu nhập thấp, thiếu việc làm ổn định. 5.2. Chính sách tôn giáo Tình hình hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh đăng ký bổ nhiệm Sư cô Thích Nữ Liên Tâm làm Trụ trì Tịnh xá Ngọc Thạnh, xã Hiệp Thạnh; đăng ký điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung có tên “Đạo tràng Bảo Pháp” tại xã Đạ Huoai; đăng ký tổ chức khóa tu cho tăng, ni hệ phái Khất sỹ tại Tịnh xá Trúc Lâm, xã Hàm Tân; Chùa Linh Bảo, phường Lang Biang tổ chức lễ khánh thành và an vị Phật, tham dự lễ có khoảng 300 tăng ni, phật tử trong và ngoài tỉnh, trong đó có 06 tu sỹ người nước ngoài. Tổ chức Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu (FABC) tại Trung tâm thánh Mẫu Tà Pao, xã Đồng Kho; Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức Đại hội lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2028, tham dự Đại hội có 37 đại biểu, Đại hội đã bầu Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam nhiệm kỳ 2025 -2028 gồm 04 thành viên và 21 Ủy ban, Tiểu ban trực thuộc. Hội thánh Cao Đài Tòa thánh Tây Ninh tổ chức Đại lễ Hội yến Diêu Trì cung và kỷ niệm 100 năm thành lập. Hoạt động các tổ chức tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã Tổ chức tổ chức đưa đón đoàn người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ thực hiện điều dưỡng tập trung tại Trung tâm Điều dưỡng và Chăm sóc người có công Khánh Hòa. Giải quyết 244 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công; tiếp nhận 15 hồ sơ chuyển đến, 15 hồ sơ chuyển đi; lập thủ tục chuyển Hội đồng giám định y khoa 4 hồ sơ; trả lời 13 đơn thư; ban hành 46 Quyết định hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ; 129 Quyết định trợ cấp mai táng phí đối với thân nhân của người có công với cách mạng từ trần; 14 Quyết định chấm dứt chế độ: đề nghị cấp lại bằng Tổ quốc ghi công cho 03 liệt sĩ; 3 Quyết định giải quyết trợ cấp ưu đãi giáo dục; giải quyết 8 hồ sơ đính chính thông tin người có công; thực hiện báo tin mộ cho 3 thân nhân liệt sĩ. Triển khai công tác thưc hiện chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt đối với người có công với cách mạng và thân nhân: Chi trả qua tài khoản 11.958/19.420 đối tượng, với tổng số tiền: 40.446,35 triệu đồng/tháng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 30/9/2025, toàn tỉnh có 280.374 người người tham gia BHXH, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 236.649 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 0,73%; 43.725 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 17,33%); có 215.828 người tham gia BHTN, tăng 1,46% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.909.525 người, tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 86,69% dân số. Trong tháng, đã giải quyết mới 9.988 người hưởng chế độ BHXH và chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.982 người; lũy kế đến 30/9/2025, đã giải quyết mới 90.538 người hưởng chế độ BHXH và chi trả cho 17.302 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng là 3.614 người; trợ cấp 1 lần là 24.533 người; chế độ ốm đau là 48.387 người; chế độ thai sản là 10.725 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe là 3.279 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng là 15.959 người; số người được hỗ trợ học nghề là 1.343 người). Giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177 và 178 là 355 người (lũy kế: 1.900 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/9-14/10/2025) Trong tháng xảy ra 75 vụ tai nạn giao thông, giảm 25 vụ so với tháng trước và giảm 19 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 39 người, giảm 10 người so với tháng trước và tăng 09 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương 49 người, giảm 27 người so với tháng trước và giảm 39 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng (15/12/2024 đến ngày 14/10/2025), toàn tỉnh xảy ra 742 vụ tai nạn giao thông, giảm 274 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 368 người, giảm 4 người; số người bị thương 575 người, giảm 295 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng xảy ra 01 vụ thiên tai (mưa lớn kèm gió giật mạnh) làm 01 người bị thương và 01 người chết. Thiên tai làm hư hại 13 căn nhà; ngập úng hư hại 281 ha lúa và 121 ha hoa màu; cuốn trôi 03 con heo và 202 con gia cầm; ước thiệt hại khoảng 3,3 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2025 xảy ra 25 vụ thiên tai, ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 74 tỷ đồng. - Cháy, nổ: Trong tháng xảy ra 06 vụ cháy, không có thiệt hại về người, chưa thống kê được giá trị thiệt hại về tài sản. - Tình hình cứu nạn cứu hộ: Trong tháng xảy ra 09 vụ sự cố tai nạn, đã cứu được 21 người, tìm được là 05 thi thể nạn nhân. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 xảy ra 19 vụ, giảm 25 vụ so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 3,6 tỷ đồng. * Đánh giá chung Nhìn chung, tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2025 của tỉnh tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định; cả ba khu vực kinh tế đều tăng trưởng: Sản xuất nông nghiệp duy trì phát triển, diện tích gieo trồng Vụ Mùa tăng 1,67%. Các cây công nghiệp, cây ăn quả chủ lực tăng diện tích (sầu riêng tăng 3,34%, cà phê tăng1,03%). Chăn nuôi phát triển tích cực, đàn gia cầm tăng 10,01%, đàn lợn tăng 5,1%. Dịch tả lợn Châu Phi cơ bản được kiểm soát. Rừng trồng mới tăng 5,01%, số vụ vi phạm lâm luật giảm mạnh 282 vụ; sản lượng thủy sản tăng 4,56% đều cho thấy kết quả tích cực. Sản xuất công nghiệp giữ đà tăng trưởng khá. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 3,91%, chủ yếu nhờ sự đóng góp của ngành khai khoáng tăng 11,58% và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,34%. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng cao (giày, dép gấp 1,95 lần; phân bón tăng 17,70% ). Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp biến động mạnh. Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 73,03%, doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 19,95%. Có 42 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 14.340,7 tỷ đồng. Khu vực dịch vụ là điểm sáng rõ nét nhất. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng 15,08% so với cùng kỳ. Hoạt động du lịch phục hồi mạnh thu hút 17,2 triệu lượt khách, tăng 19,77%, trong đó khách quốc tế đạt gần 1 triệu lượt, tăng 31,31%. Vận tải tăng trưởng tốt ở cả hành khách (tăng 12,38%) và hàng hóa (tăng 5,07%). Tài chính - Tín dụng ổn định. Thu ngân sách nhà nước bằng 91,33% kế hoạch năm và tăng 16,22% so với cùng kỳ. Dư nợ cho vay ước đến 31/10 tăng 6,8% so với đầu năm. Lạm phát được kiểm soát, CPI bình quân 10 tháng tăng 3,13%. Lĩnh vực xã hội đạt nhiều kết quả tích cực. Các hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức sôi nổi. An sinh xã hội và chính sách cho người có công được thực hiện đầy đủ. Trật tự an toàn giao thông, 10 tháng tai nạn giao thông giảm sâu trên cả 3 tiêu chí: số vụ (giảm 274 vụ), số người chết (giảm 4 người) và số người bị thương (giảm 295 người). Trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Nổi rõ là tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm; tình hình đăng ký doanh nghiệp tuy tăng mạnh về số lượng thành lập mới nhưng số doanh nghiệp giải thể cũng tăng rất cao (tăng 79,29%). Lĩnh vực xã hội tồn tại nhiều vấn đề cấp bách: ngành y tế đối mặt với sự bùng phát của dịch sởi (tăng 3.678 ca) và tay chân miệng (tăng 558 ca); ngành giáo dục thiếu hụt 5.433 giáo viên. Thiên tai còn diễn biến phức tạp. Thống kê tỉnh Lâm Đồng ---

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2025 tỉnh Lâm Đồng
  •   05/10/2025 22:06

Kinh tế thế giới 9 tháng đầu năm 2025 ghi nhận tín hiệu lạc quan ngắn hạn khi các tổ chức quốc tế nâng nhẹ dự báo tăng trưởng cả năm lên mức 2,4% - 3,2%([1]) , chủ yếu nhờ hoạt động xuất khẩu “chạy trước” để tránh thuế quan mới của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đây chỉ là động lực tạm thời và tăng trưởng toàn cầu được dự báo sẽ chậm lại đáng kể vào cuối năm khi căng thẳng thương mại gia tăng và các rủi ro vĩ mô trở nên rõ nét hơn. Trong bối cảnh đó, kinh tế Việt Nam tiếp tục là một điểm sáng nổi bật. Giữa lúc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) hạ dự báo chung cho toàn khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia duy nhất được điều chỉnh tăng trưởng, dẫn đầu khu vực với các dự báo cho năm 2025 đạt từ 6,5% đến 6,7%([2]). Dù vậy, nền kinh tế vẫn đối mặt với thách thức từ môi trường toàn cầu bất định, đặc biệt là tác động từ chính sách thương mại của các đối tác lớn. Hoạt động trong bối cảnh chung đó, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng không chỉ chịu tác động từ những biến động khó lường của kinh tế thế giới và trong nước như cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, biến động thị trường tài chính, áp lực lạm phát và tỷ giá mà còn đối mặt với một thách thức nội tại đặc thù. Đó là việc phải đồng thời triển khai sắp xếp đơn vị hành chính theo mô hình 2 cấp và bảo đảm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đứng trước những thách thức đan xen, với sự chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, cùng sự đồng thuận xã hội và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, Lâm Đồng đã biến khó khăn thành động lực. Các nhiệm vụ chính trị trọng tâm được triển khai đồng bộ, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, quốc phòng - an ninh được giữ vững. Những kết quả quan trọng đạt được trong 9 tháng đầu năm đã trở thành động lực then chốt, củng cố nền tảng vững chắc để tỉnh quyết tâm hoàn thành thắng lợi toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ cho cả năm 2025. I. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý III/2025 ước tăng 7,15% so với cùng quý năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,64%, đóng góp 1,68 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,54%, đóng góp 1,53%; khu vực dịch vụ tăng 8,52%, đóng góp 3,56%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,55%, đóng góp 0,38 điểm phần trăm; cho thấy xu hướng kinh tế của tỉnh tốt dần lên, quý sau cao hơn quý trước. Tăng trưởng tích cực của quý III đã góp phần GRDP 9 tháng năm 2025 tăng 6,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,26%, đóng góp 1,37 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,98%, đóng góp 1,22 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,01%, đóng góp 3,52 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,62%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm. Cơ cấu kinh tế trong GRDP 9 tháng năm 2025: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 27,77%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 24,97%; khu vực dịch vụ chiếm 41,84%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,41%. II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2025 duy trì ổn định và phát triển; các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng,... diện tích đều tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao tiếp tục tăng. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi mặc dù có xảy ra nhưng cơ bản được kiểm soát tốt. Hoạt động chăn nuôi phát triển theo hướng chăn nuôi gia cầm nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho thị trường và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Sản lượng thuỷ sản từ đầu năm đến nay ổn định, ngư trường khai thác tương đối thuận lợi. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm - Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 9 tháng năm 2025 ước đạt 294.283 ha, tăng 1,52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích cây lương thực ước đạt 157.001 ha, tăng 0,88%; sản lượng lương thực ước đạt 925.130 tấn, tăng 0,93%. + Vụ đông xuân diện tích gieo trồng đạt 105.612 ha, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cây lương thực đạt 61.323,3 ha, tăng 2% (cây lúa đạt 55.314 ha, tăng 2,5%; năng suất đạt 66,1 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; sản lượng 365.836,8 tấn, tăng 2,9%); rau các loại đạt 26.727,6, bằng so với cùng kỳ năm trước, năng suất đạt 326,4 tạ/ha, tăng 3,5 tạ/ha, sản lượng đạt 872.364,2 tấn, tăng 1,1%. + Vụ hè thu diện tích gieo trồng đạt 144.149,9 ha, tăng 0,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cây lương thực ước đạt 78.928 ha, giảm 0,45% (cây lúa đạt 48.152 ha, tăng 0,07%; năng suất đạt 60,2 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha, sản lượng đạt 289.909,4 tấn, tăng 0,8%); rau các loại đạt 32.531,6 ha, giảm 0,07% so với cùng kỳ năm trước, năng suất đạt 309,7 tạ/ha, tăng 3 tạ/ha, sản lượng đạt 1.007.513,9 tấn, tăng 0,9%.Diện tích gieo trồng cây hàng năm qua các năm 1.2. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh duy trì và phát triển ổn định, trong đó các cây trồng chủ lực tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. Dự ước 9 tháng năm 2025, diện tích trồng cây lâu năm đạt 637.671 ha, tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang vào mùa mưa, nông dân tiếp tục tập trung thu hoạch và chăm sóc diện tích cây lâu năm hiện có, cụ thể một số cây chính sau: - Cây cà phê: Hiện đang trong giai đoạn nuôi trái, diện tích ước đạt 327.629 ha, tăng 0,95% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc và mở rộng thêm diện tích trồng mới; - Cây điều: Một số vườn điều già cỗi cho năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao khiến người dân có xu hướng chuyển sang cây trồng khác, ước diện tích đạt 49.235,2 ha, giảm 3,31% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2025 ước đạt 35.820 tấn, giảm 7,66%; - Cây cao su: Diện tích ước đạt 74.439 ha, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước, diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác ngày càng được cải thiện. Trong thời gian tới, diện tích trồng mới cao su có khả năng tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do nông dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư. Dù vậy, cùng với xu hướng phục hồi của thị trường thế giới, cao su vẫn được xem là loại cây có tiềm năng phát triển ổn định, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây công nghiệp lâu năm của tỉnh. Sản lượng 9 tháng năm 2025 ước đạt 77.160 tấn, tăng 6,88% so với cùng kỳ năm trước; - Cây tiêu: Diện tích ước đạt 37.193 ha, tăng 0,63% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2025 ước đạt 85.190 tấn, tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước; - Cây chè: Người dân đã chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, bơ, chanh dây,... Diện tích chè hiện có ước đạt 9.411 ha, giảm 4,14% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2025 ước đạt 105.180 tấn, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước; - Cây dâu tằm: Trong thời gian gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định (180.000 đ - 200.000 đ/kg) nên người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. Diện tích ước đạt 10.615 ha, tăng 3,42% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng 9 tháng năm 2025 ước đạt 243.112 tấn, tăng 2,95% so với cùng kỳ năm trước; - Cây thanh long: Diện tích ước đạt 26.489,1 ha, tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng đầu năm 2025, giá bán thanh long tương đối ổn định, dù vẫn xuất hiện những biến động ngắn hạn theo mùa vụ (một số thời điểm, giá tăng cao nhờ nhu cầu xuất khẩu khả quan, nhất là các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á), mức giá thuận lợi này đã khuyến khích nhiều hộ tập trung chong đèn trái vụ; sản lượng 9 tháng năm 2025 ước đạt 449.640 tấn, tăng 2,28% so với cùng kỳ năm trước; - Cây sầu riêng: Diện tích ước đạt 42.622 ha, tăng 1,75% so với cùng kỳ năm trước. Dự báo trong thời gian tới, diện tích sầu riêng tiếp tục có xu hướng tăng do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác. Sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2025 ước đạt 230.620 tấn, tăng 1,28% so với cùng kỳ năm trước.  1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Toàn tỉnh hiện có 966 công trình thủy lợi, trong đó: có 536 hồ chứa; 255 đập dâng; 13 cống dâng; 51 trạm bơm; 91 đập tạm; 20 kênh tiêu cùng với khoảng 3.632 km kênh mương (đã kiên cố hóa được khoảng 1.940 km, đạt 53,4%) và hệ thống đê biển, kè biển, kè sông. Dự kiến đến hết năm 2025, diện tích canh tác được tưới đạt trên 73,45% diện tích cần tưới, trong đó: diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt khoảng 150.128 ha; diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt khoảng 97.202 ha. Đến thời điểm hiện tại, tổng dung tích tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh khoảng 859 triệu m³. 1.4. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng: Trong tháng, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Ốc bưu vàng gây hại 964 ha tại các xã Hàm Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hải Ninh, Bắc Bình, Hồng Thái, Lương Sơn, Sông Lũy, Liên Hương, Vĩnh Hảo, Phan Rí Cửa, Đơn Dương, Ka Đô; bệnh đạo ôn lá gây hại 512 ha (giảm 111,6 ha so với tháng trước) tại các xã Nam Thành, Đức Linh, Bắc Bình, Hồng Thái, Lương Sơn, Tuy Phong, Phan Rí Cửa, phường Lang Biang- Đà Lạt, Đức Trọng, Tà Hine, Hiệp Thạnh; - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.436 ha tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, Bắc Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại chủ yếu tại các xã Bảo Lâm 1,2,3,4,5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác với diện tích nhiễm 2.863 ha; bọ xít muỗi gây hại 1.974 ha cà phê chè tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; bệnh chết khô ngọn gây hại 30 ha tại các xã Bảo Lâm 1,4; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.011 ha; bệnh thán thư gây hại 2.711 ha tại các xã Cát Tiên 2, Đạ Tẻh 2, 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 3, Đam Rông 3,4, Suối Kiết, Tánh Linh; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 303 ha tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 3.330 ha tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Tân Lập, Tuyên Quang, Tân Hải, Bình Thuận.1.2. Cây lâu nă Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất. 1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Đến nay, toàn tỉnh có 107.217 ha diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, với 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa) và có 08 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận. - Quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói: + Mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói xuất khẩu: Trong tháng, không phát sinh mã mới được cấp; lũy kế đến nay, toàn tỉnh đã được cấp 954 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích 45.098,79 ha (gồm các loại cây như sầu riêng, thanh long, bưởi, dừa, xoài, chanh leo) và 339 cơ sở đóng gói (Các loại nông sản như trái sầu riêng, thanh long, xoài, dừa,...) với tổng diện tích nhà xưởng 532.259 m2. + Vùng sản xuất hạt giống rau xuất khẩu sang thị trường EU: Có 12 mã số vùng trồng với sản lượng trên 7.000 kg hạt giống ớt, cà chua/vụ. Bên cạnh đó, có 05 mã vùng trồng cây giống, ngọn giống của Công ty TNHH Đà Lạt Hasfarm đăng ký xuất khẩu quy mô gần 300.000 ngọn giống, cây giống/vụ. + Mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt: Không phát sinh mã mới được cấp; lũy kế đến nay, toàn tỉnh đã được cấp 271 mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt với tổng diện tích 2.641,58 ha. 1.6. Chương trình OCOP Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đang có 914 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP đã được chứng nhận, trong đó có: 75 sản phẩm 4 sao (trong đó 07 sản phẩm hạng 4 sao đang trình nâng lên hạng 5 sao); 839 sản phẩm 3 sao; có 522 chủ thể tham gia Chương trình (Chủ thể là hợp tác xã 107; chủ thể là doanh nghiệp 191; chủ thể là cơ sở kinh doanh, hộ cá thể, trang trại 208; chủ thể là tổ hợp tác: 20). Toàn tỉnh có 416 chuỗi liên kết với 45.615 hộ liên kết, trong đó: Liên kết trong trồng trọt 83.885 ha, sản lượng 792.744 tấn; liên kết trong chăn nuôi 2.262.327 con, sản lượng 233.362 tấn. 2. Chăn nuôi Chăn nuôi 9 tháng năm 2025 tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi; giá thức ăn, con giống gia súc vẫn ở mức cao, giá bán các sản phẩm trâu, bò giảm nên tổng đàn trâu, bò có khuynh hướng giảm; dịch tả lợn châu Phi có xảy ra trên địa bàn nhưng cơ bản được kiểm soát kịp thời, chăn nuôi lợn phát triển ổn định (đặc biệt là các trại chăn nuôi gia công); quy mô đàn gia cầm tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước do đóng góp của Công ty cổ phần MeBi Farm đóng tại địa bàn xã Hàm Tân (bắt đầu hoạt động từ ngày 01/4/2025 với quy mô nuôi 160 nghìn con), quy mô hiện có 202 nghìn con gà đẻ trứng đã góp phần đáng kể vào việc nâng tổng đàn, làm tăng sản lượng trứng và góp phần chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, chuyên môn hóa cao.  So với cùng kỳ năm trước, toàn tỉnh có 26,5 nghìn con trâu, giảm 2,21%; có 311,2 nghìn con bò, giảm 0,1%; có 1.342,2 nghìn con lợn, tăng 5,55%; có 21.702 nghìn con gia cầm, tăng 11,31% (trong đó gà các loại 15.166 nghìn con, chiếm 69,88% trong tổng đàn gia cầm, tăng 12,3%). Sản lượng thịt hơi các loại ước 9 tháng năm 2025 đạt 223.956 tấn, tăng 7,46% so với cùng kỳ năm trước.Gia súc, gia cầm 9 tháng qua các năm * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, bệnh DTLCP phát sinh 09 hộ tại 9 thôn của 06 xã với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 310 con/14.973,7 kg. Lũy kế, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 1.197 con/55.672,2 kg. Đến nay, có 15/18 xã đã qua 21 ngày không phát sinh lợn mắc bệnh, 03/18 xã dịch bệnh chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Tổ chức kiểm tra tình hình dịch bệnh DTLCP tại các địa phương có dịch nêu trên, đồng thời phân bổ kịp thời cho các địa phương 239.418 liều vắc xin phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi và hóa chất khử trùng, tiêu độc. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, ngành chức năng đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị tiếp tục tập trung thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp; khôi phục và phát triển rừng. Trồng rừng tập trung (trồng mới) ước đạt 1.180 ha, tăng 13,46% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2025 diện tích trồng mới ước đạt 2.245 ha, tăng 3,5%. Lũy kế 9 tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 4.498 ha, tăng 5,59% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây xanh ước đạt 6.086.387 cây/17.420.000 cây, đạt 35% kế hoạch năm. - Trong tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 32.593 m3, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, quý III/2025 ước đạt 97.242 m3, tăng 1,2%. Lũy kế 9 tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 282.693 m3, tăng 2,48% so với cùng kỳ năm trước. - Trong tháng, không phát sinh số vụ vi phạm. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm giảm 36 vụ (trong đó phá rừng giảm 07 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại tăng 0,56 ha. Lũy kế 9 tháng năm 2025, tổng số vụ vi phạm là 329 vụ (130 vụ đã xác định được đối tượng vi phạm, chiếm 39,5%), trong đó: phá rừng 126 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 24,98 ha. So với 9 tháng năm 2024, số vụ vi phạm giảm 255 vụ (phá rừng giảm 85 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại giảm 20,29 ha. 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh thời gian qua gặp khó khăn chủ yếu ở các xã Trà Tân, Hoài Đức do tình hình nuôi thủy sản không mang lại hiệu quả, giá cá thương phẩm giảm trong khi các chi phí đi kèm tăng, rất nhiều hộ nuôi san lấp cải tạo diện tích để trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả. Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.406 tấn, giảm 6,56% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 488 tấn, tăng 4,27%). Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 19.099 tấn, tăng 2,05% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 3.594 tấn, tăng 3,04%). Nuôi lồng bè trên biển toàn tỉnh hiện có 06 khu vực nuôi biển ven bờ, ven đảo với 116/169 cơ sở nuôi/2.242 lồng với thể tích 37.287 m3, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước; tình hình nuôi trong tháng ổn định, tập trung ở đặc khu Phú Quý, xã Vĩnh Hảo, Liên Hương, Phan Rí Cửa, Hòa Thắng và phường Mũi Né. Đối tượng nuôi chủ yếu là cá bớp, cá mú, cá chim, cá bè quỵt, cá bè đưng và các loại tôm hùm. - Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản chủ yếu là từ thủy sản biển, trong tháng tàu thuyền khai thác vùng khơi tích cực bám biển đánh bắt thủy sản. Nguồn lợi thủy sản đã xuất hiện trở lại vụ cá nam nên đa số các nghề khai thác đạt hiệu quả cao. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng biển ven bờ và vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đặc khu Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 22.552 tấn, tăng 4,33% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 22.368 tấn, tăng 4,36%). Lũy kế 9 tháng năm 2025, sản lượng khai thác đạt 186.744 tấn, tăng 3,69% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 186.278 tấn, tăng 4,03%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Công tác quản lý chất lượng giống thuỷ sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Tình hình sản xuất, kinh doanh tôm giống trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay thuận lợi do thị trường tiêu thụ tôm giống tăng khá, nhiều cơ sở tái đầu tư sản xuất. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước 2,06 tỷ con, giảm 0,49% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 18,09 tỷ con, tăng 7,56% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản 9 tháng qua các năm III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Trong 9 tháng năm 2025, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức từ tình hình thế giới, ngành công nghiệp vẫn duy trì được đà tăng trưởng. Sự phục hồi của các ngành chủ lực cùng với việc một số dự án mới đi vào hoạt động đã góp phần quan trọng vào kết quả này. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực chính, thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành. Các ngành khai khoáng, cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải sản xuất cũng duy trì hoạt động ổn định, góp phần thúc đẩy tăng trưởng chung cho toàn ngành công nghiệp. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 7,7% so với tháng trước và tăng 15,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,15% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 13,32%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 17,3%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,24%. Dự ước quý III/2025 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp giảm 7,01% so với quý trước và tăng 8,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,64%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,82%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,91%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,97%. Tính chung 9 tháng năm 2025, ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 8,09%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,81%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,80%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,75%. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng so với cùng kỳ qua các năm (ĐVT: %) 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 317.003 m3, giảm 15,45% so với tháng trước và tăng 7,06% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 1.066.253 m3, tăng 9,75% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 2.908.838 m3, tăng 9,98% so với cùng kỳ. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 2.542 tấn, giảm 11,55% so với tháng trước và tăng 0,84% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 8.600 tấn, tăng 4,18% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 28.081 tấn, tăng 16,80% so với cùng kỳ. Một số công ty đã đưa được sản phẩm vào siêu thị Mega mark và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua Malaisya, Indonexia. - Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.298 tấn, tăng 24,02% so với tháng trước và tăng 14,44% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 5.623 tấn, giảm 2,33% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 16.088 tấn, tăng 3,90% so với cùng kỳ. - Sản phẩm đồ uống: Trong tháng ước sản lượng đạt 17.164 nghìn lít, giảm 9,20% so với tháng trước và giảm 8,16% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 33.734 nghìn lít, giảm 6,01% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 96.586 nghìn lít, giảm 19,77% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ, chi phí nguyên vật liệu tăng cao (Malt, gạo, đường), và sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 509 nghìn đôi, tăng 1,69% so với tháng trước và tăng 58,46 so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 1.740 nghìn đôi, giảm 6,01% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 4.454 nghìn đôi, tăng gấp 1,97 lần so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng và năng lực tăng thêm ở Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 13.130 tấn giảm 9,75% so với tháng trước và tăng 14,27% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 44.154 tấn tăng 8,20% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 98.218 tấn, tăng 20,42% so với cùng kỳ, nguyên nhân nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông đi vào sản xuất. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 130,4 nghìn tấn, tăng 28% so với tháng trước và tăng 5,57% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 346.076 tấn giảm 0,92% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 1.124,06 nghìn tấn, tăng 2,84% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 2.797 triệu kwh, tăng 11,75% so với tháng trước và tăng 23,44% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 8.041 triệu kwh tăng 11,37% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 25.082 triệu kwh, tăng 1,30% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 440 triệu kwh, giảm 4,76% so với tháng trước và tăng 1,84% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 1.370 triệu kwh tăng 5,59% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 4.114 triệu kwh, giảm 0,94% so với cùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động toàn ngành công nghiệp tháng Chín tăng 2,91% so với tháng trước và tăng 5,45% so với cùng kỳ. Trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 20,92%; ngành chế biến, chế tạo tăng 7,62%; sản xuất và phân phối điện tăng 4,87%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,75%. Lũy kế 9 tháng năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,57%; riêng ngành khai khoáng giảm 20,01%, ngành chế biến, chế tạo tăng 5,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 2,19%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,36%. Xét theo loại hình doanh nghiệp: khối doanh nghiệp nhà nước giảm 2,67% so với cùng kỳ, khối ngoài quốc doanh tăng 5,43%, khối có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5,38%. Nhìn chung, chỉ số sử dụng lao động tăng cao so với cùng kỳ và cao hơn bình quân 9 tháng năm 2025, phản ánh xu hướng phục hồi và mở rộng sản xuất; các doanh nghiệp đang đẩy mạnh tuyển dụng phục vụ nhu cầu sản xuất cuối năm, dự báo thị trường lao động công nghiệp sẽ tiếp tục phát triển tích cực trong thời gian tới. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Chín ước giảm 5,06% so với tháng trước nhưng tăng 10,17% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025, chỉ số tiêu thụ tăng 10,71% so với cùng kỳ. Một số ngành có mức tiêu thụ tăng khá như: sản xuất đồ uống tăng 20,83%; dệt tăng 31,49%; sản xuất trang phục tăng 7,16%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng gấp 1,91 lần; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 28,97%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 4,68%... Ngược lại, một số ngành ghi nhận mức giảm như: sản xuất thực phẩm giảm nhẹ 0,05%; sản xuất máy móc, thiết bị giảm 10,42%. Nhìn chung, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 9 tháng đầu năm duy trì tăng trưởng khá so với cùng kỳ, là tín hiệu tích cực trong bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới còn nhiều biến động bất lợi. 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Chín ước tăng 4,81% so với tháng trước nhưng giảm 23,19% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm mạnh so với cùng kỳ như: sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 28,23%; sản xuất đồ uống giảm 71,79%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 22,03%. Ngược lại, một số ngành ghi nhận mức tăng như: ngành dệt tăng 4,77%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 36,65%... 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2025: Khảo sát các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo cho thấy có 28,08% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III tốt hơn quý trước; 45,21% nhận định ổn định và 26,71% đánh giá khó khăn. Các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong quý III được ghi nhận như: 62,96% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường trong nước thấp; 25,93% gặp khó khăn về tài chính; 25,93% đánh giá nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 20,37% thiếu nguyên, nhiên vật liệu; 48,15% cho rằng cạnh tranh của hàng hóa trong nước cao; 11,11% nhận định cạnh tranh hàng nhập khẩu cao; 18,15% phản ánh lãi suất vay vốn cao; 31,48% cho biết khó tuyển dụng lao động theo yêu cầu; và 25,92% cho rằng nguyên nhân đến từ chính sách pháp luật và một số yếu tố khác. Dự báo quý IV/2025: Có 74,66% doanh nghiệp dự kiến tình hình sản xuất kinh doanh quý IV sẽ ổn định và tốt hơn quý III (trong đó 36,3% nhận định tốt hơn và 38,36% đánh giá ổn định); 25,34% dự báo khó khăn hơn. Chỉ số cân bằng đạt +10,96%, cho thấy tâm lý lạc quan của doanh nghiệp về môi trường kinh doanh, dự báo nhu cầu thị trường dần phục hồi, giúp gia tăng cơ hội đầu tư và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong thời gian tới.Tỷ lệ các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý III/2025 (%) 1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp Hiện có có 229 dự án (51 dự án FDI và 178 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 43.411,6 tỷ đồng và 466,44 triệu USD và diện tích đất đăng ký 713,25 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,99%. Trong đó có có 166 doanh nghiệp /dự án đang hoạt động, kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh thực hiện trong 9 tháng năm 2025 ước thực hiện doanh thu 24.878,89 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 523,91 triệu USD và nộp ngân sách nhà nước 929,7 tỷ đồng. Hoạt động sản xuất, kinh doanh nhìn chung duy trì ổn định, tập trung vào các ngành chủ lực như: may mặc, da giày, gỗ, giấy, nông lâm hải sản, hạt điều, cơ khí, thực phẩm, vật liệu xây dựng, khoáng sản… Tuy nhiên, vẫn còn một số doanh nghiệp gặp khó khăn, tạm dừng hoạt động và chưa có kế hoạch khôi phục. Tình hình thu hút đầu tư: Trong 9 tháng năm 2025, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh thu hút được 13 dự án đầu tư mới (trong đó có 01 dự án FDI) với tổng diện tích khoảng 27,73 ha, vốn đăng ký đầu tư 958,23 tỷ đồng và 35 triệu USD. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 15 khu công nghiệp, 229 dự án còn hiệu lực (51 dự án FDI và 178 dự án trong nước) với tổng vốn đăng ký 43.411,6 tỷ đồng và 466,44 triệu USD, diện tích đất đăng ký 713,25 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,99%. Cụ thể: - KCN Lộc Sơn: 56 dự án (09 dự án FDI, 47 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 3.180,43 tỷ đồng và 48,63 triệu USD; diện tích đất đã cho thuê 116,96/132,62 ha, tỷ lệ lấp đầy 88,19%. - KCN Phú Hội: 32 dự án (11 dự án FDI, 21 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 2.384,12 tỷ đồng và 77,10 triệu USD; diện tích đất cho thuê 55,95/74,58 ha, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: 39 dự án (10 dự án FDI, 29 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 857,94 tỷ đồng và 74,8 triệu USD; diện tích đất cho thuê đạt 51,44/51,44 ha, tỷ lệ lấp đầy 100%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2: 11 dự án (02 dự án FDI, 09 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 543,08 tỷ đồng và 11,85 triệu USD; diện tích cho thuê 23,01/28,09 ha, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I: 22 dự án (08 dự án FDI, 14 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 1.706,9 tỷ đồng và 56,18 triệu USD; diện tích cho thuê 60,06/90,78 ha, tỷ lệ lấp đầy 66,16%. - KCN Hàm Kiệm II: 17 dự án (07 dự án FDI, 10 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 772,41 tỷ đồng và 185,58 triệu USD; diện tích cho thuê 87,99/276,93 ha, tỷ lệ lấp đầy 31,77%. - KCN Sông Bình: 03 dự án (trong nước), tổng vốn đăng ký 13.544,93 tỷ đồng; diện tích cho thuê 58,35/202,32 ha, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức: 01 dự án (trong nước), tổng vốn đăng ký 100 tỷ đồng; diện tích cho thuê 1,5/210,84 ha, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. - KCN Tâm Thắng: 47 dự án (04 dự án FDI, 43 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 1.948,8 tỷ đồng và 12,3 triệu USD; diện tích thuê lại 130/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ: 01 dự án, quy mô 129,42 ha, tổng vốn đăng ký 18.423 tỷ đồng; tỷ lệ lấp đầy đạt 87,44%. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Trong quý III và 9 tháng năm 2025, tình hình hoạt động xây dựng duy trì được đà tăng trưởng khá, trong đó giá trị sản xuất theo giá hiện hành của doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng cáo nhất (56,55%); tiếp tục đóng vai trò động lực chính và là điểm sáng góp phần thúc đẩy tăng trưởng cho khu vực công nghiệp - xây dựng. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước, quý III/2025 công trình nhà ở đạt 7.117,2 tỷ đồng, tăng 12,87% so với cùng kỳ năm trước; công trình nhà không để ở đạt 3.388,2 tỷ đồng, tăng 10,15%; công trình kỹ thuật dân dụng 4.548,7 tỷ đồng, tăng 7,56%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.078,4 tỷ đồng, tăng 2,47%. Ước 9 tháng năm 2025, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành loại công trình nhà ở đạt 18.112,9 tỷ đồng, tăng 15,26% so cùng kỳ năm trước; công trình nhà không để ở đạt 8.710,6 tỷ đồng, tăng 6,14%; công trình kỹ thuật dân dụng 11.618,7 tỷ đồng, tăng 16,08%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 5.520,7 tỷ đồng, tăng 2,47% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị sản xuất theo giá so sánh 2010, ước quý III/2025 đạt 9.302,2 tỷ đồng, tăng 6,28% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, công trình nhà ở đạt 3.792,2 tỷ đồng, tăng 7,06%; công trình nhà không để ở đạt 1.817,1 tỷ đồng, tăng 5,2%; Công trình kỹ thuật dân dụng 2.474,8 tỷ đồng, tăng 2,87%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 1.217,9 tỷ đồng, tăng 13,09%. Ước 9 tháng năm 2025, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh ước đạt 24.232,6 tỷ đồng, tăng 8,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công trình nhà ở đạt 9.899,8 tỷ đồng, tăng 12,23%; công trình nhà không để ở đạt 4.948,7 tỷ đồng, tăng 7,39%; công trình kỹ thuật dân dụng 6.393,5 tỷ đồng, tăng 12,31%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.990,7 tỷ đồng, giảm 7,27% so với cùng kỳ năm trước.Giá trị sản xuất 9 tháng các năm theo giá so sánh chia theo loại công trình (ĐVT: tỷ đồng) 3. Đầu tư phát triển Tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; đồng thời giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai, đặc biệt là các công trình trọng điểm, nhằm đảm bảo tiến độ và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công. 3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.436,70 tỷ đồng, tăng nhẹ 0,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn cấp tỉnh chiếm tỷ trọng lớn (99,76%), đạt 1.433,22 tỷ đồng, tăng 0,56%, tuy nhiên vẫn gặp khó khăn do một số dự án lớn vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng. Vốn cấp xã đạt 3,48 tỷ đồng, chiếm 0,24%, giảm mạnh 35,94% do đang trong giai đoạn sắp xếp lại tổ chức bộ máy. Xét theo cơ cấu vốn cấp tỉnh: Vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 572,87 tỷ đồng, tăng 8,22%; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 431,81 tỷ đồng, giảm 6,66%; vốn nước ngoài đạt 25,70 tỷ đồng, giảm sâu 42,89% do chưa có điều chỉnh, bổ sung kịp thời; vốn xổ số kiến thiết đạt 398,97 tỷ đồng, tăng 5,62% và vốn khác đạt 3,87 tỷ đồng, giảm 63,33%. Lũy kế 9 tháng năm 2025, tổng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 9.364,5 tỷ đồng, bằng 58,96% kế hoạch năm và tăng 6,13% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn cấp tỉnh ước đạt 9.343,65 tỷ đồng, tăng 6,2%, nhờ các dự án được triển khai đúng tiến độ; vốn cấp xã đạt 20,84 tỷ đồng, giảm 20,07%. 3.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn Quý III/2025, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 30.581,07 tỷ đồng, tăng 11,49% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn nhà nước đạt 6.513,79 tỷ đồng (21,30%), tăng 5,81%; vốn ngoài nhà nước 22.856,46 tỷ đồng (74,74%), tăng 12,62% với nhiều dự án lớn như KCN Tân Đức (1.200 tỷ đồng), Nhà máy nghiền Zircon Sông Bình (1.024 tỷ đồng), Mebi Farm (1.760 tỷ đồng) và Hli Ecohub Nam Hà (1.744,7 tỷ đồng). Vốn dân cư đạt 10.105,53 tỷ đồng (tăng 8,30%), vốn FDI đạt 1.210,82 tỷ đồng (tăng 23,90%). Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất (23.145,59 tỷ đồng, tăng 7,59%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định (4.435,13 tỷ đồng, tăng 36,45%), cùng các khoản mục mua sắm tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động đều tăng trưởng. Lũy kế 9 tháng, vốn đầu tư toàn xã hội đạt 76.788,42 tỷ đồng, tăng 8,25%. Vốn nhà nước đạt 15.334,81 tỷ đồng (giảm nhẹ 0,45%) nhưng vẫn bảo đảm các dự án hạ tầng trọng điểm như nâng cấp Quốc lộ 28B (1.435 tỷ đồng, hoàn thành 2026). Vốn ngoài nhà nước đạt 58.471 tỷ đồng (tăng 10,60%) tiếp tục giữ vai trò chủ lực, huy động hiệu quả nguồn xã hội hóa. Vốn FDI đạt 2.982,60 tỷ đồng (tăng 12,48%), nổi bật với dự án Nhà máy công nghiệp Neotek Việt Nam (2.200 tỷ đồng) và Nhà máy văn phòng phẩm Shiny Circle Limited (300 tỷ đồng). Kết quả trên cho thấy dòng vốn đầu tư tiếp tục mở rộng, cơ cấu chuyển dịch tích cực, đóng góp quan trọng cho phát triển hạ tầng, công nghiệp chế biến chế tạo và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn 9 tháng qua các năm Trong 9 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 37 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 13.706,85 tỷ đồng, diện tích đất sử dụng khoảng 673,71 ha. Lũy kế đến ngày 23/9/2025, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng (sau sắp xếp) có 2.934 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 2.008.314 tỷ đồng (trong đó có 235 dự án FDI, tổng vốn đầu tư là 224.282 tỷ đồng). Về phát triển doanh nghiệp: Tính từ đầu năm đến ngày 23/9/2025, toàn tỉnh có 2.963 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 71,77% với cùng kỳ năm trước; 1.493 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 2,7%; 544 doanh nghiệp giải thể, tăng 30%; 888 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 22,65% so cùng kỳ năm trước. Tổng số vốn trong 9 tháng năm 2025 đã đăng ký 15.248 tỷ đồng, tăng 19,27% so với cùng kỳ năm trước. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; xuất nhập khẩu; giao thông vận tải Trong 9 tháng năm 2025, hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, sức mua của người dân tăng so với cùng kỳ, nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả tương đối ổn định, không xảy ra tình trạng khan hiếm hay tăng giá đột biến. Du lịch tiếp tục khởi sắc, nhiều sự kiện văn hóa, thể thao, lễ hội được tổ chức đã thu hút lượng lớn du khách, góp phần thúc đẩy tăng trưởng dịch vụ. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định, chất lượng phục vụ được nâng lên; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống tăng cường đáp ứng nhu cầu người dân và khách du lịch. Hoạt động vận tải đường bộ đảm bảo kịp thời nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa; vận tải đường thủy thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại của du khách và người dân đặc khu Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Dự ước trong tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 22.795,5 tỷ đồng, tăng 3,34% so với tháng trước và tăng 18,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.071,1 tỷ đồng, tăng 2,78% so với tháng trước và tăng 15,64% so với cùng kỳ (trong đó lương thực, thực phẩm đạt 7.172,3 tỷ đồng, tăng 21,73%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 1.544,7 tỷ đồng, tăng 20,19%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 1.426,1 tỷ đồng, tăng 3,59%; xăng dầu đạt 1.987,1 tỷ đồng, tăng 11,07%); doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 5.206,7 tỷ đồng, tăng 3,49% so với tháng trước và tăng 33,78% so với cùng kỳ; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 2.517,6 tỷ đồng, tăng 6,46% so với tháng trước và tăng 11,35% so với cùng kỳ. Tính chung quý III/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 66.812,5 tỷ đồng, tăng 17,12% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu này, tổng mức bán lẻ hàng hóa chiếm tỷ trọng chủ yếu với 44.150,5 tỷ đồng, tăng 16,25% (nhóm lương thực, thực phẩm tăng 23,48%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 16,2%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 3,25%; xăng dầu tăng 5,33%); doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 15.219,7 tỷ đồng, tăng 22,43%; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 7.442,3 tỷ đồng, tăng 12,15% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 188.242,3 tỷ đồng, tăng 13,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 125.357 tỷ đồng, tăng 13,38%; doanh thu lưu trú, ăn uống, lữ hành đạt 41.483,1 tỷ đồng, tăng 16,57%; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 21.402,1 tỷ đồng, tăng 10,69% so với cùng kỳ năm trước.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ 9 tháng qua các năm (ĐVT: tỷ đồng) 1.2. Công tác quản lý thị trường Tình trạng tàng trữ hàng cấm, hàng không rõ nguồn gốc, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm và gian lận trong thương mại điện tử vẫn diễn ra nhỏ lẻ với thủ đoạn tinh vi, khó phát hiện. Một số doanh nghiệp còn nhập sản phẩm từ nước ngoài nhưng giả mác xuất xứ Việt Nam để qua mắt cơ quan chức năng và lừa dối người tiêu dùng. Các mặt hàng vi phạm chủ yếu gồm giày dép, quần áo, mỹ phẩm, thực phẩm tươi sống - đông lạnh, phụ tùng xe máy, đặc sản địa phương. Các vi phạm chủ yếu mang tính chất nhỏ lẻ, chưa phát hiện vụ việc quy mô lớn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường. Từ 15/12/2024 đến 19/8/2025, đã kiểm tra 334 vụ, phát hiện và xử lý 308 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách 2,55 tỷ đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 1,31 tỷ đồng. 2. Giá cả 2.1. Giá tiêu dùng (CPI) Trong tháng, CPI tăng 0,95% so với tháng trước, tăng 4,14% so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,72% so với tháng 12 năm trước; bình quân 9 tháng CPI tăng 2,92%. Trong 11 nhóm hàng, có 09 nhóm tăng giá, nổi bật là giáo dục tăng 6,71% do điều chỉnh học phí, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,92%, giao thông tăng 0,52%, nhà ở - điện - nước tăng 0,50%. Giá xăng dầu tăng bình quân 2,09%, giá gas tăng 0,16%. Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,05%, giá rau giảm 0,18% (bắp cải giảm 3,22%, măng tươi giảm 2,25%) nhờ nguồn cung dồi dào. Bình quân quý III/2025, CPI tăng 3,28% so cùng kỳ năm trước. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,40%, nhóm nhà ở - điện nước - VLXD tăng 5,95%, giáo dục tăng 3,48%, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,25%. Ngược lại, nhóm giao thông giảm 1,04% chủ yếu do giá nhiên liệu giảm 5,99%, giá gas giảm 3,41%. Tốc độ tăng/giảm CPI 9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước Bình quân 9 tháng năm 2025, CPI tăng 2,92% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 14,56% (tác động CPI tăng 0,90 điểm %), nhóm nhà ở - điện nước tăng 5,07% (tác động CPI tăng 0,76 điểm %), giá điện sinh hoạt tăng 8,17% sau hai đợt điều chỉnh giá của EVN, giá gas tăng 0,55%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,86% (thực phẩm tăng 3,31%, thịt lợn tăng 9,15%), nhóm vàng tăng 24,70%, bảo hiểm y tế tăng 19,11%, may mặc tăng 1,09%, đồ uống và thuốc lá tăng 2,54%. Ở chiều giảm, nhóm lương thực giảm 0,67% (gạo giảm 1,59%), nhóm giao thông giảm 2,29% do nhiên liệu giảm 9,97%. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2025 giảm 5,93% so với quý trước. Trong ba nhóm chính, nhóm nông nghiệp và dịch vụ liên quan giảm 6,40%; nhóm thủy sản khai thác - nuôi trồng giảm 0,38%; nhóm lâm nghiệp và dịch vụ liên quan tăng 0,71%. So với quý cùng kỳ tăng 4,60%, cả ba nhóm sản phẩm đều ghi nhận mức tăng: nông nghiệp tăng 4,65%, lâm nghiệp tăng 3,61%, thủy sản tăng 3,93%. Bình quân 9 tháng năm 2025, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm nông nghiệp tăng 20,49%, lâm nghiệp tăng 2,80% và thủy sản tăng 3,98%. Chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý III/2025 tăng 3,88% so với cùng kỳ năm trước, với mức tăng ở tất cả 7 nhóm sản phẩm: Nhóm nông, lâm, thủy sản tăng 5,24%; sản phẩm khai khoáng tăng 11,58%; nguyên vật liệu tăng 1,22%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,42%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,83%; sản phẩm xây dựng tăng 3,09%; dịch vụ chuyên môn khoa học - công nghệ tăng 3,08%. Tính chung 9 tháng năm 2025, chỉ số này tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý III/2025 giảm 2,01% so với quý trước nhưng vẫn tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng tăng 12,55%, trong đó: nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 2,7% (nhờ giá cát, đá, sỏi, đất sét tăng do nhu cầu xây dựng cao và nguồn cung hạn chế); nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,92% khi hầu hết sản phẩm đều tăng giá; nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng mạnh 33,92% (chủ yếu do sản lượng điện thực tế từ thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi và công ty VR Bảo Lộc cao hơn hợp đồng giao); nhóm nước tự nhiên khai thác, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,13% (do điều chỉnh giá dịch vụ thu gom và xử lý rác thải). 3. Hoạt động du lịch Hoạt động du lịch trong 9 tháng năm 2025 diễn ra sôi nổi thu hút lượng khách tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Các kỳ nghỉ tết, lễ nhiều ngày, tại địa phương diễn ra các hoạt động văn hóa, thể thao (Tết Novaworld, khai mạc phố ẩm thực đêm, Lễ hội đua thuyền thúng, giải chạy vượt đồi cát Mũi Né, giải leo núi Tà Cú, giải vượt đồi cát Bình Thạnh, giải Lướt ván buồm quốc tế Mũi Né mở rộng, chuỗi sự kiện “Chào hè - Summer Fest 2025” với nhiều hoạt động thú vị, hấp dẫn như: Bắn pháo hoa nghệ thuật, Lễ hội té nước, Show thời trang Summer Fashion Fest, Lễ hội bia, Cuộc thi Nhóm nhảy hiện đại - Cúp Quốc tế Hoa Sen Home - Đà Lạt 2025 tại Quảng trường Lâm Viên, chương trình đi bộ cộng đồng “Cùng Việt Nam tiến bước” tại khu vực hồ Xuân Hương và ”Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch năm 2025” với chủ đề “Lâm Đồng - Hội tụ tinh hoa, Kết nối cảm xúc”, nhằm quảng bá thương hiệu du lịch, kích cầu sản phẩm du lịch mới tại các địa phương như Đà Lạt, Gia Nghĩa, Phan Thiết và Mũi Né với hàng loạt hoạt động phong phú như: khảo sát sản phẩm du lịch; trưng bày, giới thiệu sản phẩm OCOP và nông sản đặc trưng; tổ chức Tháng văn hóa đường phố Mũi Né; không gian âm nhạc - văn hóa dân tộc; chương trình kích cầu du lịch; cùng các hoạt động hưởng ứng của các xã, phường, đặc khu....) thu hút đông đảo khách du lịch đến tỉnh. Đặc biệt, chuỗi sự kiện quy mô kỷ niệm 50 năm giải phóng quê hương Bình Thuận và Ngày Giải phóng miền Nam, chương trình nghệ thuật “Non sông thống nhất” (Festival khinh khí cầu, bắn pháo hoa nghệ thuật tầm cao, chương trình biểu diễn nghệ thuật tổng hợp,…) đã tạo sức hút lớn. Bên cạnh đó công tác xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch được đẩy mạnh, cũng như những yếu tố thuận lợi về giao thông, thời tiết,…đã làm cho lượt khách đến tỉnh tăng khá. Lượt khách du lịch trong tháng ước đạt 1.849,5 ngàn lượt khách, tăng 1,08% so tháng trước và tăng 36,3% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách phục vụ trong ngày ước đạt gần 75,7 ngàn lượt khách, tăng 3,13% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.219,7 ngàn ngày khách, tăng 0,57% so với tháng trước và tăng 36,89% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 lượt khách ước đạt 5.606,3 lượt khách, tăng 23,57% so với quý cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách phục vụ trong ngày ước đạt 230,5 ngàn lượt khách, tăng 14,74% so với quý cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 9.861,5 ngàn ngày khách, tăng 25,34% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025 lượng khách du lịch ước đạt 15.255,1 ngàn lượt khách, tăng 17,58% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách phục vụ trong ngày ước đạt 605,2 ngàn lượt khách, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 27.490,5 ngàn ngày khách, tăng 20,21% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 77,2 ngàn lượt khách, tăng 7,06% so với tháng trước và tăng 9,42% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 162,4 ngàn ngày khách, tăng 10,34% so với tháng trước và tăng 11,33% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 lượt khách quốc tế ước đạt 219,5 ngàn lượt khách, tăng 2,15% so với quý cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 449,9 ngàn ngày khách, tăng 5,2% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 915 ngàn lượt khách, tăng 33,16% so với cùng kỳ năm trước, ngày khách phục vụ ước đạt 2.440,1 ngàn ngày khách, tăng 31,59% so với cùng kỳ năm trước. Từ đầu năm 2025 đến nay, lượng khách quốc tế đến Lâm Đồng tăng mạnh, chiếm tỷ trọng lớn: Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga, Malaixia, Mỹ, Đức…. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 978,9 tỷ đồng, tăng 0,42% so với tháng trước và tăng 37,23% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.211,3 tỷ đồng, tăng 4,24% so với tháng trước và tăng 33,85% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động lữ hành hỗ trợ du lịch ước đạt 16,5 tỷ đồng, tăng 0,61% so với tháng trước và giảm 49,13% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 2.961,2 tỷ đồng, tăng 24,15% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 12.192,4 tỷ đồng, tăng 22,66% so với quý cùng kỳ năm trước; hoạt động lữ hành hỗ trợ du lịch ước đạt 66 tỷ đồng, giảm 37,66% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 7.984,2 tỷ đồng, tăng 18,21% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt gần 33.074,5 tỷ đồng, tăng 15,75% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động lữ hành hỗ trợ du lịch ước đạt 424,7 tỷ đồng, tăng 63,24% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 4.793,7 tỷ đồng tăng 0,74% so với tháng trước và tăng 37,1% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 ước đạt 14.674,8 tỷ đồng, tăng 24,35% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 40.272 tỷ đồng, tăng 18,36% so với cùng kỳ năm trước.Lượt khách và ngày khách phục vụ 9 tháng qua các năm  4. Hoạt động dịch vụ khác Trong tháng, doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.517,6 tỷ đồng, tăng 6,46% so với tháng trước và tăng 11,35% so với cùng kỳ. Trong đó, dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 304,7 tỷ đồng, tăng 2,72% so với tháng trước và tăng 21,36% so với cùng kỳ; hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 109,8 tỷ đồng, tăng 2,27% và tăng 11,35%; giáo dục và đào tạo đạt 84,6 tỷ đồng, tăng 1,5% và tăng 21,41%; y tế và trợ giúp xã hội đạt 131,6 tỷ đồng, tăng 4,73% so với tháng trước nhưng giảm nhẹ 0,05% so với cùng kỳ; nghệ thuật, vui chơi, giải trí đạt 1.345,8 tỷ đồng, tăng 9,35% và tăng 8,28%; dịch vụ khác đạt 541,2 tỷ đồng, tăng 3,84% và tăng 15,85%. Tính chung quý III/2025, doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 7.442,3 tỷ đồng, tăng 12,15% so với cùng kỳ. Riêng dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 882,1 tỷ đồng, tăng 19,97%; hành chính và hỗ trợ đạt 323 tỷ đồng, tăng 13,83%; giáo dục và đào tạo đạt 231,1 tỷ đồng, tăng 29,17%; y tế và trợ giúp xã hội đạt 386,5 tỷ đồng, tăng 11,52%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí đạt 4.051,5 tỷ đồng, tăng 9,45%; dịch vụ khác đạt 1.568,1 tỷ đồng, tăng 12,85%. Lũy kế 9 tháng năm 2025, doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 21.402,1 tỷ đồng, tăng 10,69% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh doanh bất động sản đạt 2.353,1 tỷ đồng, tăng 15,18%; hành chính và hỗ trợ đạt 954,3 tỷ đồng, tăng 16%; giáo dục và đào tạo đạt 669 tỷ đồng, tăng 35,17%; y tế và trợ giúp xã hội đạt 1.086,1 tỷ đồng, tăng 12,37%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí đạt 11.834,2 tỷ đồng, tăng 8,72%; dịch vụ khác đạt 4.505,4 tỷ đồng, tăng 9,23%. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải kho bãi 9 tháng năm 2025 diễn ra khá nhộn nhịp. Đặc biệt những dịp nghỉ Lễ, Tết dài ngày trong năm và các ngày nghỉ cuối tuần nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa phục vụ người dân tăng cao.  - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.275,9 nghìn hành khách (HK), tăng 3,44% so với tháng trước và tăng 23,51% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 601.670,2 nghìn HK.Km, tăng 3,29% so với tháng trước và tăng 20,94% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 lượt khách vận chuyển ước đạt 12.444,4 nghìn HK, tăng 18,99% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.758.477,3 nghìn HK.Km, tăng 16,41% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 35.050,6 nghìn HK, tăng 12,89% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 5.116.290,5 nghìn HK.Km, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.039,4 nghìn tấn, tăng 6,73% so với tháng trước và tăng 9,15% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 308.152,1 nghìn tấn.Km, tăng 4,76% so với tháng trước và tăng 14,59% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 khối lượng vận chuyển ước đạt 5.927,9 nghìn tấn, tăng 6,65% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 882.078,4 nghìn tấn.Km, tăng 9,50% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 16.909,5 nghìn tấn, tăng 5,45% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.477.649,1 nghìn tấn.Km, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.292,7 tỷ đồng, tăng 4,38% so với tháng trước và tăng 21,38% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 ước đạt 3.742,0 tỷ đồng, tăng 16,76% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 10.695,6 tỷ đồng, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 4.610,6 tỷ đồng, tăng 20,32% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 4.492 tỷ đồng, tăng 5,78%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.545,8 tỷ đồng, tăng 38,56%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 47,1 tỷ đồng, tăng 13,39%.- Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 1.538,4 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.449,9 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 88,5 nghìn tấn (túi xi măng, máy móc, muối xá). Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi 9 tháng các năm V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn trong tháng ước đạt 2.264,5 tỷ đồng, tăng 30,61% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 2.136 tỷ đồng, tăng 32,6%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 128,4 tỷ đồng, tăng 4,49%. Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 23.073,9 tỷ đồng, bằng 81,7% kế hoạch năm và tăng 16,44% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 21.822,4 tỷ đồng, bằng 82,0% kế hoạch năm và tăng 17,91% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.142,1 tỷ đồng, bằng 69,7% kế hoạch năm và giảm 12,69% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa 9 tháng năm 2025: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.069,9 tỷ đồng (bằng 122,25% kế hoạch năm và tăng 88,07% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.077,2 tỷ đồng (bằng 87,66% kế hoạch năm và tăng 24,18%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 4.747,2 tỷ đồng (bằng 74,84% kế hoạch năm và tăng 3,43%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 2.300,9 tỷ đồng (bằng 89,11% kế hoạch năm và tăng 19,15%); các khoản thu về nhà, đất 3.4442,1 tỷ đồng (bằng 69,01% kế hoạch năm và tăng 24,63%); thu phí và lệ phí 1.638 tỷ đồng (bằng 90,25% kế hoạch năm và tăng 22,67%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 3.707,3 tỷ đồng (bằng 82,53% kế hoạch năm và tăng 2,25%).Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 9 tháng các năm (ĐVT: tỷ đồng) 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn trong tháng ước đạt 2.662 tỷ đồng, lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 32.940 tỷ đồng, bằng 68,65% kế hoạch năm và tăng 23,58% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi đầu tư phát triển 11.512 tỷ đồng, tăng 15,23%; chi thường xuyên 21.252 tỷ đồng, bằng 74,02% kế hoạch năm và tăng 27,58%. Một số lĩnh vực chi chủ yếu trong chi thường xuyên từ ngân sách địa phương 9 tháng đầu năm 2025: chi giáo dục, đào tạo và dạy nghề ước đạt 9.103 tỷ đồng, tăng 38,21% so với cùng kỳ năm trước; chi quản lý hành chính, đảng, đoàn thể ước đạt 4.434 tỷ đồng, tăng 35,94%; chi hoạt động sự nghiệp kinh tế ước đạt 1.701 tỷ đồng, tăng 18,33%; chi đảm bảo xã hội ước đạt 1.022 tỷ đồng, tăng 12,64%; chi sự nghiệp y tế, dân số và kế hoạch gia đình ước đạt 1.846 tỷ đồng, tăng 11,31%; chi sự nghiệp bảo vệ môi trường ước đạt 286 tỷ đồng, tăng 14,20%. 3. Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng trên địa bàn tỉnh trong tháng ổn định, an toàn, thông suốt. Uớc đến ngày 30/9/2025, huy động vốn đạt 222.000 tỷ đồng, tăng 17,74% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó: huy động vốn bằng đồng VN là 219.829 tỷ đồng, tăng 17,69% (chiếm 99,02%); huy động vốn bằng ngoại tệ 2.171 tỷ đồng, tăng 22,97% (chiếm 0,98%). Ước đến ngày 30/9/2025, dư nợ tín dung đạt 361.000 tỷ đồng, tăng 11,08% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó: dư nợ bằng đồng VN 359.039 tỷ đồng, tăng 11,10% (chiếm 99,46%); dư nợ bằng ngoại tệ 1.962 tỷ đồng, tăng 7,99% (chiếm 0,54%). Dư nợ ngắn hạn là 259.500 tỷ đồng, tăng 10,88%, dư nợ trung và dài hạn 101.500 tỷ đồng, tăng 11,62%. Tính đến ngày 31/7/2025, nợ xấu trên địa bàn 7.451 tỷ đồng, chiếm 2,1% trong tổng dư nợ trên địa bàn. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 1,45% - 3,82%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 2,46% - 4,66%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 3,27% - 5,24%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 4,05% - 5,66%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng ưu tiên cho vay các đối tượng ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, ngắn hạn ở mức 4,74% - 9,95%/năm, trung dài hạn 4,33% - 10,13%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,82%/năm. Chi Tính đến ngày 31/7/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 182.000 tỷ đồng, chiếm 52%; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 31.500 tỷ đồng, chiếm 9%; ngành nông nghiệp đạt 136.500 tỷ đồng, chiếm 39%. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1 Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Tổ chức tuyên truyền phục vụ kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025) và các ngày lễ, kỷ niệm, sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và địa phương. Trong tháng đã thực hiện 670,6m2 pano, 90m2 tranh cổ động tấm lớn, 16m2 banner, 320m2 cờ phướn khung sắt, 19,2m2 standy, 60m2 cổng chào, 80 lá cờ phướn; trưng bày, giới thiệu 150 hình ảnh về đất và người Lâm Đồng cùng công cuộc phát triển của tỉnh tại chương trình Dạ hội Điện ảnh chủ đề “Sắc màu Việt Nam”; triển lãm 130 hình ảnh tư liệu với chủ đề “Hồ Chí Minh - Chân dung một con người” tại Khu Di tích Dục Thanh - Bảo tàng Hồ Chí Minh - Bình Thuận. Tập trung chuẩn bị công tác tuyên truyền cổ động trực quan Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030; Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Ngoài ra tham gia triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tại thành phố Hà Nội thu hút hơn 5 triệu lượt khách đến tham quan. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức biểu diễn các chương trình nghệ thuật chào mừng các ngày lễ lớn và phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương; đặc biệt là chương trình nghệ thuật kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với chủ đề “Tự hào Tổ quốc tôi” tại phường Xuân Hương - Đà Lạt và các chương trình văn nghệ phục vụ các nghiệm vụ chính trị; tổ chức biểu diễn âm nhạc đường phố phục vụ nhân dân, du khách vào Thứ 7, Chủ nhật hàng tuần tại phường Xuân Hương - Đà Lạt và phường Phan Thiết; duy trì biểu diễn văn nghệ thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show-Mũi Né; ngoài ra đã thực hiện 40 buổi chiếu phim phục vụ nhân dân tại các địa phương trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng (từ ngày 11/8-10/9/2025): Đã đón 25.687 lượt khách (Nhà trưng bày trung tâm Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng đón 1.488 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt đón 1.664 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên đón 398 lượt; Nhà trưng bày Bảo tàng - cơ sở 1 đón 413 lượt; Nhà trưng bày Trung tâm văn hóa Chăm và di tích Tháp Pô Sah Inư đón 21.208 lượt và cơ sở 2 Đắk Nông đón 516 lượt). Thực hiện trưng bày triển lãm chuyên đề “Âm vang Ngày Độc Lập” kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9; tổ chức Lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc công nhận bảo vật quốc gia đối với Tượng Avalokitesvara Bắc Bình và tổ chức trưng bày, triển lãm hiện vật, hình ảnh, giới thiệu sách tiêu biểu của tỉnh Lâm Đồng năm 2025. + Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 345 đoàn với 8.679 lượt người, trong đó có 67 khách nước ngoài. Phục vụ 24 lễ viếng, 01 kết nạp Đảng. Trưng bày triển lãm 130 hình ảnh tư liệu với chủ đề “Hồ Chí Minh - Chân dung một con người” tại Khu Di tích Dục Thanh phục vụ nhân dân và du khách; tổ chức thực hiện 02 phóng sự triển lãm ảnh “Hồ Chí Minh - chân dung một con người” và “Bảo tàng Hồ Chí Minh, di tích Dục Thanh - điểm đến của trái tim”. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận: Tiếp đón 1.795 lượt khách (15 đoàn) đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Tổ chức hoạt động “Nghĩa tình vùng cao” thăm hỏi và tặng quà một số gia đình chính sách, người có công với cách mạng trên địa bàn xã Đông Giang nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 172 thẻ bạn đọc (71 thẻ thiếu nhi); phục vụ 73.371 lượt bạn đọc; luân chuyển 11.180 lượt tài liệu; bổ sung 168 cuốn sách; xử lý kỹ thuật 961 bản sách; nhập dữ liệu 361 biểu ghi; số hóa 17.784 trang tài liệu. Phát hành 01 tập Thông tin tư liệu Lâm Đồng tháng 8/2025 với 100 tin, bài; xuất bản 02 tập thông tin chuyên đề và giới thiệu 14 bản sách mới. Trưng bày theo chuyên đề 05 đợt/798 tài liệu và trưng bày, giới thiệu sách và văn hóa các dân tộc tỉnh Lâm Đồng với chủ đề “Sách - ánh sáng tri thức và nhân loại”; đồng thời tổ chức các hoạt động chào mừng 80 năm ngày Cách mạng Tháng Tám và ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức các giải Bóng đá 7 người tìm kiếm tài năng Lâm Đồng - Tranh Cúp BVTV Liên Nông lần thứ I năm 2025; Giải chạy gây quỹ trồng rừng “Rim For green - 2025”; Giải Vô địch carom trẻ Quốc gia 2025 và Giải vô địch Carom Cúp Quốc gia VBSF - Aplus 2025. - Thể thao thành tích cao: Tiếp tục củng cố lực lượng vận động viên (VĐV), nâng cao chất lượng công tác đào tạo, huấn luyện và cử VĐV tham gia các giải thể thao quốc gia, quốc tế theo kế hoạch. Cử đoàn VĐV tham gia 12 giải, đạt 169 huy chương (61 HCV, 44 HCB, 64 HCĐ). Tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm ngày 15/9: Đạt 610 huy chương (153 HCV, 163 HCB, 294 HCĐ), trong đó 44 huy chương quốc tế (13 HCV, 18 HCB, 13 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Hoạt động giáo dục ổn định và đi vào nền nếp. Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 1.605 trường học (cơ sở giáo dục) với 808.873 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 527 trường với 117.925 trẻ; cấp tiểu học có 565 trường với 322.382 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 243.173 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 120.809 học sinh. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế - Phòng chống sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm khác: Trong tháng phát hiện 1.495 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 649 ca so với tháng trước; có 01 ca tử vong. Lũy kế 9 tháng, toàn tỉnh có 4.018 ca mắc, 02 ca tử vong. Trong tháng có 249 ổ dịch được phát hiện xử lý, lũy kế 9 tháng đã xử lý 729 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng có 01 ca mắc; lũy kế 9 tháng, toàn tỉnh có 03 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 202 ca mắc, giảm 17 ca so với tháng trước; lũy kế 9 tháng, toàn tỉnh có 1.729 ca mắc. Trong tháng phát hiện 03 ổ dịch mới (Lâm Hà: 02, Đà Lạt: 01), lũy kế 9 tháng đã phát hiện 10 ổ dịch bệnh tay chân miệng. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, tiêm chủng đầy đủ cho 3.885 trẻ dưới 1 tuổi, lũy kế 9 tháng đã tiêm cho 31.394 trẻ. Tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 5.367 trẻ, lũy kế 9 tháng đã tiêm cho 32.096 trẻ. Tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.146 trẻ, lũy kế 9 tháng đã tiêm cho 32.861 trẻ. Tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 2.799 trẻ, lũy kế 9 tháng đã tiêm cho 31.777 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 2 cho 3.661 trẻ, lũy kế 31.343 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 4.059 trẻ, lũy kế 9 tháng đã tiêm cho 28.428 trẻ. - Công tác phòng chống Phong: Trong tháng không phát hiện bệnh phong mới, duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Toàn tỉnh hiện quản lý 136 bệnh nhân phong, đang điều trị 01 bệnh nhân và đang giám sát 04 bệnh nhân, chăm sóc tàn tật 135 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Trong tháng, khám phát hiện 68 bệnh nhân lao mới, trong đó có 51 bệnh nhân lao phổi AFB (+); toàn tỉnh quản lý điều trị 612 bệnh nhân lao. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 4 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 01 trường hợp chuyển AIDS, không có tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.518 người mắc HIV, chuyển AIDS 1.767 người và có 874 người tử vong do AIDS. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 486.315 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 39.884 người, số ngày điều trị nội trú 241.539 ngày, xét nghiệm cho 790.807 tiêu bản, chẩn đoán 135.434 hình ảnh, phẫu thuật 5.442 trường hợp. Lũy kế 9 tháng đã tổ chức khám bệnh cho 4.090.014 lượt người; 343.558 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.961.516 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,05 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 87,06%; đã xét nghiệm cho 6.416.000 tiêu bản; chẩn đoán 1.139.663 hình ảnh và phẫu thuật cho 42.582 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 24 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 784 cơ sở, kết quả có 710 cơ sở đạt yêu cầu, 11 cơ sở vi phạm bị xử lý (phạt cảnh cáo 02 cơ sở và 09 cơ sở bị phạt với tổng số tiền 26,75 triệu đồng). Lũy kế 9 tháng, toàn tỉnh đã thành lập 682 đoàn kiểm tra tại 13.725 cơ sở, kết quả có 12.915 cơ sở đạt và 97 cơ sở vi phạm bị xử lý (phạt cảnh cáo 02 cơ sở và 95 cơ sở bị phạt với tổng số tiền 562,13 triệu đồng). Trong tháng không xảy ra ngộ độc thực phẩm; lũy kế 9 tháng, toàn tỉnh xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 98 người mắc, có 01 trường hợp tử vong do ăn cá nóc. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông chuẩn bị cho các sự kiện lớn của tỉnh: Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Lâm Đồng năm 2025. Đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số; thường xuyên rà soát thông tin trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng (Trong tháng 9 (từ ngày 15/8-15/9), có 16.726 tin, bài viết; trong đó có 9.791 tin, bài viết có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; tin, bài tích cực 12.546/16.726 (tỷ lệ 75%); tiêu cực 4.183/16.726 tin, bài (tỷ lệ 25%)). Các cơ quan báo chí đã tập trung tuyên truyền, phản ánh các hoạt động của các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh... Quan rà soát, không có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Hoạt động thông tin đối ngoại được triển khai theo kế hoạch. Triển khai tốt công tác tuyên truyền về các ngày lễ, ngày kỷ niệm, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và địa phương. Các cơ quan báo chí, truyền thông thường xuyên tăng thời lượng, dung lượng, lồng ghép các chuyên mục, chương trình thời sự tuyên truyền các sự kiện kỷ niệm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và “Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng năm 2025. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản ấn phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 02 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 01 giấy phép tổ chức triển lãm/hội chợ xuất bản phẩm. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số và tôn giáo 5.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ổn định. Mạng lưới giáo dục, y tế tiếp tục được đầu tư, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập và chăm sóc sức khoẻ người dân; công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lễ hội truyền thống được quan tâm thực hiện, các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được bảo tồn, phát huy; một số hoạt động văn hóa truyền thống của đồng bào được triển khai kết hợp với phát triển du lịch tại địa phương. Trong tháng, tình hình sản xuất và đời sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Kinh tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được tập trung đầu tư và đạt được một số kết quả nhất định. Đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh thu hoạch vụ mùa; gieo trồng, xuống giống, chăm sóc các loại cây trồng và hoa màu; một số loại cây trồng, con giống mới có năng suất, chất lượng cao được đồng bào đưa vào nuôi, trồng trên diện rộng; chăn nuôi gia súc, gia cầm được duy trì ổn định; các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, tiêm phòng được tăng cường, dịch bệnh trên cây trồng được kiểm soát; các chương trình, chính sách, dự án trong vùng đồng bào dân tộc được triển khai toàn diện trên các lĩnh vực. 5.2. Chính sách tôn giáo Các hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và tuân thủ pháp luật, đảm bảo theo đúng hiến chương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích và phương châm hành đạo của các tôn giáo. Đã đăng ký thành lập 38 tổ chức tôn giáo trực thuộc (Công giáo: 07, Tin Lành: 04, Phật giáo: 27 Ban quản trị); chấp thuận bổ nhiệm 26 chức việc (Công giáo: 08, Phật giáo: 16, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam: 01, Tin Lành: 01); xác nhận thông báo phong phẩm 34 chức sắc (Công giáo: 30, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam: 01, Tin Lành: 03); xác nhận tiếp nhận thông báo kết quả bổ nhiệm 22 trường hợp Phật giáo; thuyên chuyển 19 chức sắc (Phật giáo: 03, Công giáo: 15, Tin Lành: 01); tiếp nhận thông báo cách chức, bãi nhiệm 01 trường hợp Phật giáo; tiếp nhận thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung 04 trường hợp (Phật giáo: 03, Công giáo 01); tổ chức các cuộc lễ (Vu lan, Bồi linh, lễ kỷ niệm thành lập giáo xứ…); mời người nước ngoài vào hoạt động tôn giáo; giao đất tôn giáo; một số tôn giáo tổ chức đoàn tham dự Đại hội cấp trên…. Nhìn chung, các chính sách về tôn giáo được triển khai bình đẵng, có hiệu quả nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời duy trì ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn tỉnh. 6. Công tác xóa nhà tạm, nhà dột nát Tính đến ngày 31/8/2025, đã hoàn thành Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh. Toàn tỉnh đã hoàn thành 5.691 căn nhà, trong đó hoàn thành 3.862/3.862 căn theo Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát do Thủ tướng Chính phủ phát động. 7. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 31/8/2025, toàn tỉnh có 276.223 người tham gia BHXH, tăng 0,65% so với tháng trước và tăng 3,37% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 232.579 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 0,03% so với cùng kỳ năm trước; 43.644 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 25,75% so với cùng kỳ năm trước); có 212.452 người tham gia BHTN, tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.912.742 người, tăng 1,17% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 87,08% dân số. Trong tháng, đã giải quyết mới 8.633 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.391 người; lũy kế đến ngày 31/8/2025, đã giải quyết mới 80.550 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 15.320 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng là 3.041 người; trợ cấp 1 lần là 22.177 người; chế độ ốm đau là 42.925 người; chế độ thai sản là 9.447 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe là 2.960 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng là 14.295 người; số người được hỗ trợ học nghề là 1.025 người). Tiếp nhận, giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177 và 178 là 272 người (lũy kế: 1.545 người). 8. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/8-14/9/2025) Trên địa bàn tỉnh xảy ra 100 vụ tai nạn giao thông, tăng 40 vụ so với tháng trước và tăng 4 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 49 người, tăng 20 người so với tháng trước và tăng 04 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương 76 người, tăng 30 người so với tháng trước và tăng 17 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng, toàn tỉnh xảy ra 667 vụ tai nạn giao thông, giảm 259 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 329 người, giảm 15 người; số người bị thương 526 người, giảm 254 người so với cùng kỳ năm trước. Tổng số phương tiện hiện đang quản lý 222.702 xe ô tô; 2.990.801 xe môtô. Trên đường bộ, ngành chức năng đã phát hiện, xử lý 15.299 trường hợp vi phạm luật giao thông; tổng số tiền xử phạt trên 14,3 tỷ đồng; tước 156 giấy phép lái xe; tạm giữ 1.357 xe mô tô, 23 xe ô tô. Trên đường thủy, phát hiện lập biên bản 10 trường hợp vi phạm, xử phạt 13,6 triệu đồng. 9. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng xảy ra 05 vụ thiên tai (mưa lớn kèm gió lốc giật mạnh) làm 01 người bị thương và 02 người chết. Thiên tai làm hư hại 105 căn nhà; ngập úng hư hại 1.260 ha cây trồng và hoa màu (trong đó: 939 ha lúa, 321 ha hoa màu); 14 cầu dân sinh bị đứt gãy hoàn toàn, 01 cống tiêu nước và 01 cống thoát nước bị bị gãy sụp; mưa lũ đã gây ra 44 vụ sạt lở đất gây hư hỏng một số hạ tầng, đường giao thông và công trình dân sinh khác; nhiều tuyến đường bị ngập lụt, gây cản trở giao thông trong khu vực; ước tính giá trị thiệt hại khoảng 30,68 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng xảy ra 24 vụ thiên tai (mưa lớn kèm dông, lốc, mưa đá và gió giật mạnh), ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 70,875 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng xảy ra 03 vụ cháy nổ, không có thiệt hại về người, chưa thống kê được giá trị thiệt hại về tài sản. - Tình hình cứu nạn cứu hộ: Trong tháng xảy ra 07 vụ sự cố tai nạn, cứu được 14 người, tìm được là 03 thi thể nạn nhân. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra. Lũy kế 9 tháng xảy ra 18 vụ, giảm 24 vụ so cùng kỳ năm trước; đã xử phạt là 3,28 tỷ đồng (cùng kỳ năm trước xảy ra 42 vụ vi phạm, xử phạt 1,73 tỷ đồng). * Đánh giá chung: Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng trong 9 tháng đầu năm 2025 vẫn duy trì được sự ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực trên hầu hết các lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tăng 6,42% so với cùng kỳ năm trước, với xu hướng tăng trưởng tốt dần lên qua các quý, đặc biệt quý III tăng trưởng mạnh ở mức 7,15%. Động lực tăng trưởng chính đến từ khu vực dịch vụ với mức tăng 8,01%, đóng góp tới 3,52 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Lĩnh vực nông nghiệp tiếp tục vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế khi sản xuất duy trì ổn định, sản lượng lương thực tăng 0,93%, và diện tích nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được mở rộng. Ngành công nghiệp cho thấy sự phục hồi tích cực với chỉ số sản xuất (IIP) tăng 4,34%, đóng góp bởi ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,81%. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động, trở thành điểm sáng nổi bật nhất. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,75%, ngành du lịch tăng mạnh thu hút gần 15,3 triệu lượt khách (tăng 17,58%), đặc biệt là lượng khách quốc tế tăng 33,16%. Môi trường đầu tư ghi nhận tín hiệu lạc quan khi tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 8,25%, cùng với số doanh nghiệp thành lập mới tăng cao 71,77%. Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả khả quan, tăng 16,44% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, nền kinh tế của tỉnh vẫn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Số doanh nghiệp giải thể tăng 30% và tạm ngừng kinh doanh tăng 2,7%. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt kế hoạch, trong khi một số dự án hạ tầng trọng điểm còn triển khai chậm, ảnh hưởng đến động lực tăng trưởng chung. Trong sản xuất công nghiệp, một số sản phẩm chủ lực gặp khó khăn do chi phí nguyên vật liệu tăng cao và cạnh tranh gay gắt, dẫn đến sản lượng sụt giảm; thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm 12,69%, phản ánh khó khăn từ thị trường bên ngoài. Ngoài ra, các yếu tố rủi ro khác vẫn hiện hữu như tình hình thiên tai diễn biến phức tạp gây thiệt hại về kinh tế; tình hình tai nạn giao thông tuy có giảm trong 9 tháng nhưng lại có dấu hiệu phức tạp trở lại trong tháng gần nhất.Thống kê tỉnh Lâm Đồng ([1]) OECD, IMF, UN và FR dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2025 lần lượt đạt 3,2%, 3,0%, 2,5% và 2,4%. ([2]) ADB dự báo kinh tế Việt nam tăng 6,7%, WB ở mức 6,6% và IMF 6,5%.