02633 540134 | lamdong@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   29/10/2026 15:03

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì. Hoạt động trồng trọt được triển khai theo mùa vụ, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động chăn nuôi tiếp tục phát triển, đàn lợn, đàn gia cầm và sản lượng các sản phẩm chăn nuôi chủ yếu tăng so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng được quan tâm thực hiện. Hoạt động nuôi trồng, khai thác thủy sản và sản xuất giống thủy sản ổn định, sản lượng thủy sản tăng so với cùng kỳ năm trước. 1. Trồng trọt 1.1 Cây hàng năm Tính đến ngày 15/10/2026, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm ước đạt 418.280,2 ha, tăng 2,19% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lúa đạt 169.005,7 ha, tăng 1,29%; ngô 60.570 ha, tăng 4,03%; rau các loại 72.743,7 ha, tăng 2,38%; hoa 9.121,4 ha, giảm 0,31%; đậu các loại 15.540 ha, tăng 2,42%; các cây hằng năm còn lại 91.299,4 ha, tăng 2,74%. Diện tích gieo trồng tăng ở hầu hết nhóm cây, nhất là ngô và các cây hằng năm khác; riêng diện tích hoa giảm nhẹ so với cùng kỳ. 1.2. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Toàn tỉnh có 966 công trình và hệ thống công trình thủy lợi, trong đó 540 hồ chứa với tổng dung tích thiết kế khoảng 874 triệu m³. Dung tích nước tại các hồ hiện đạt khoảng 653,15 triệu m³, tương đương 74,7% dung tích thiết kế. Trước tình hình mưa trên diện rộng, các đơn vị quản lý tăng cường theo dõi mực nước và lưu lượng về hồ, chủ động điều tiết, bảo đảm an toàn công trình và vùng hạ du, đồng thời phục vụ nhu cầu cấp nước cho sản xuất. 1.3. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, sâu bệnh trên cây trồng phát sinh cục bộ và được các đơn vị chuyên môn theo dõi, xử lý. So với cùng kỳ, diện tích nhiễm bệnh đạo ôn lá trên lúa, bệnh xoăn lá vi rút trên cà chua và bệnh thán thư trên thanh long tăng; trong khi một số đối tượng gây hại khác giảm. Công tác bảo vệ thực vật tiếp tục tập trung vào các vùng sản xuất cây trồng chủ lực. Tình hình một số đối tượng sâu bệnh như sau: - Cây lúa: Bệnh đạo ôn lá gây hại 1.077 ha, tăng 43 ha so với cùng kỳ năm trước; sâu đục thân gây hại 419 ha, giảm 19 ha; chuột gây hại 591 ha, giảm 24 ha; ốc bươu vàng gây hại 278 ha, giảm 75 ha; rầy nâu gây hại 145 ha, giảm 123 ha; - Cây cà chua: Sâu đục lá Nam Mỹ gây hại 5,5 ha; bệnh xoăn lá virus gây hại 82 ha, tăng 17 ha; - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 1.331 ha, giảm 12 ha; - Cây cà phê: Bọ xít muỗi gây hại 1.759 ha, giảm 252 ha; mọt đục cành gây hại 1.470 ha, giảm 19 ha; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 1.205 ha, giảm 31 ha; bệnh thán thư gây hại 1.537 ha, giảm 56 ha; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 757 ha, tăng 92 ha; bệnh thán thư cành, quả gây hại 552 ha, tăng 257 ha so với cùng kỳ năm trước. 2. Chăn nuôi Chăn nuôi tiếp tục tăng cả về quy mô đàn và sản lượng sản phẩm. Đàn lợn tăng 5,47%, gia cầm tăng 9,09%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng 10 tháng tăng 10,30% và sữa bò tăng 23,86% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, dịch tả lợn châu Phi còn phát sinh tại một số địa phương, trong khi chi phí thức ăn vẫn tạo áp lực đối với cơ sở chăn nuôi. Cụ thể: - Đàn trâu ước đạt 27,2 nghìn con, tăng 1,49% so với cùng kỳ năm trước. Chăn nuôi trâu chủ yếu được duy trì tại các hộ có điều kiện tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên và bãi chăn thả; tuy nhiên, khả năng mở rộng quy mô còn hạn chế do diện tích chăn thả thu hẹp và hiệu quả kinh tế chưa cao. - Đàn bò ước đạt 324,5 nghìn con, tăng 3,54%; trong đó, đàn bò sữa đạt 32,5 nghìn con, tăng 3,83% so với cùng kỳ. Quy mô đàn bò duy trì mức tăng ổn định, góp phần bảo đảm nguồn cung sản phẩm chăn nuôi và nguyên liệu cho chế biến sữa. - Đàn lợn ước đạt 1.582 nghìn con, tăng 5,47% so với cùng kỳ. Hoạt động tái đàn và chăn nuôi trang trại được duy trì; tuy nhiên, dịch tả lợn châu Phi vẫn phát sinh tại một số địa phương, ảnh hưởng đến hiệu quả chăn nuôi và công tác tái đàn. - Đàn gia cầm ước đạt 25,2 triệu con, tăng 9,09% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, đàn gà đạt 16,95 triệu con, tăng 9,21%. Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển nhờ thời gian nuôi ngắn, khả năng quay vòng vốn nhanh và nhu cầu tiêu thụ thịt, trứng ổn định. Việc đầu tư chuồng trại, áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học và chủ động phòng, chống dịch bệnh góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. Dù vậy, biến động giá thức ăn và giá bán sản phẩm đầu ra vẫn ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, mở rộng quy mô của người chăn nuôi. - Sản lượng thịt hơi các loại trong tháng ước đạt 31.118 tấn, tăng 9,88% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng đạt 308.573,6 tấn, tăng 10,3%. Sản lượng sữa bò trong tháng ước đạt 9.860 tấn, tăng 20,0%; lũy kế 10 tháng đạt 98.467 tấn, tăng 23,86%. Sản lượng kén tằm trong tháng ước đạt 1.589 tấn, tăng 7,0%; lũy kế 10 tháng đạt 14.052,7 tấn, tăng 7,66%. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh dịch tả lợn Châu Phi: Trong tháng, dịch phát sinh tại 12 xã, phường, với tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 639 con/26,7 tấn. Lũy kế đến ngày 15/10/2026, tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 22.859 con, tương ứng 1.091,3 tấn. Đến nay còn 07 xã có dịch bệnh chưa qua 21 ngày. Công tác giám sát, khoanh vùng và xử lý ổ dịch tiếp tục được triển khai nhằm hạn chế lây lan. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị chuyên môn phối hợp với địa phương khoanh vùng, xử lý ổ dịch, tăng cường giám sát, lấy mẫu quan trắc môi trường và kiểm tra các cơ sở an toàn dịch bệnh. Trong tháng, phân bổ 50.700 liều vắc xin, gồm 3.000 liều Tụ huyết trùng, 40.850 liều lở mồm long móng, 6.850 liều Tam liên và 50 lít hóa chất cho 21 xã, phường để phục vụ công tác tiêm phòng, vệ sinh, tiêu độc khử trùng và phòng, chống dịch bệnh. 3. Sản xuất lâm nghiệp Hoạt động trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng tiếp tục thực hiện theo kế hoạch. Trong tháng, diện tích rừng trồng tập trung đạt 314,9 ha, tăng 3,21% so với cùng kỳ; lũy kế 10 tháng đạt 8.773,9 ha, tăng 4,39%. Số cây xanh trồng trong tháng đạt 161,6 nghìn cây, tăng 3,39%; lũy kế đạt khoảng 10,5 triệu cây, tăng 3,27%. Bên cạnh kết quả trồng rừng, tình trạng vi phạm pháp luật về lâm nghiệp còn diễn biến phức tạp, nhất là các vụ phá rừng trái pháp luật. - Sản lượng gỗ khai thác tháng 10 ước đạt 43.284 m³, tăng 0,68% so với cùng kỳ; lũy kế 10 tháng đạt 406.309 m³, tăng 2,90%. Sản lượng củi khai thác tháng 10 đạt 28.716 ster, tăng 3,59%; lũy kế 292.267,2 ster, tăng 2,07%. Tốc độ tăng sản lượng gỗ tháng 10 thấp hơn mức tăng lũy kế 10 tháng. - Trong tháng (từ ngày 10/9 đến 10/10/2026), ghi nhận 13 vụ vi phạm pháp luật về lâm nghiệp, giảm 10 vụ so với cùng kỳ; trong đó có 06 vụ phá rừng trái pháp luật, diện tích rừng bị thiệt hại 0,44 ha. Lũy kế 10 tháng có 428 vụ vi phạm, tăng 81 vụ; trong đó 207 vụ phá rừng trái pháp luật, tăng 77 vụ (khoảng 59,2%), diện tích rừng bị thiệt hại 35,8 ha, tăng 11,8 ha. Mặc dù số vụ vi phạm trong riêng tháng 10 giảm, diễn biến lũy kế 10 tháng cho thấy công tác quản lý, bảo vệ rừng vẫn đối mặt nhiều khó khăn. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, diện tích nuôi trồng thủy sản ước đạt 446,7 ha, giảm 5,23% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 4.674,9 ha, tăng 0,61% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 4.130,6 ha, tăng 0,09%; diện tích nuôi tôm đạt 473,1 ha, tăng 4,85%). Hoạt động nuôi trồng thủy sản nuôi nội địa tập trung vào nuôi cá ở các xã Đức Linh, Nam Thành, Trà Tân, Cư Jút, Đắk Wil, Nam Dong, Phúc Thọ Lâm Hà, Tân Hà Lâm Hà và nuôi tôm thâm canh ở các Xã Tân Thành, Liên Hương. Hoạt động nuôi cá có giá trị kinh tế cao bằng lồng bè/bể, bồn tập trung ở các xã Phan Rí Cửa, Đồng Kho, đặc khu Phú Quý, xã Nam Đà, Nhân Cơ, phường 3 Bảo Lộc, xã Bảo Thuận, xã Lạc Dương và phường Lang Biang. Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 2.396,5 tấn, giảm 2,11% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 508 tấn, tăng 3,25%); lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 23.667,4 tấn, tăng 0,03% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 4.253 tấn, tăng 4,05%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng, hoạt động khai thác thủy sản diễn ra tương đối thuận lợi do đang vào cuối mùa vụ cá nam, nguồn lợi các loài cá trích, cá cơm, cá nục... vẫn xuất hiện với mật độ cao và liên tục. Điều kiện này tạo thuận lợi cho ngư dân tập trung khai thác tại các vùng biển ven bờ và vùng lộng trong tỉnh. Các đội tàu cá công suất lớn hoạt động khai thác xa bờ tiếp tục được duy trì ổn định; một số nghề khai thác đạt hiệu quả chủ yếu gồm vây rút chì, bẫy mực tuộc và lưới rê. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 24.336,6 tấn, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khai thác biển ước đạt 24.248 tấn, tăng 2,88%); lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 220.446,4 tấn, tăng 4,19% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khai thác biển ước đạt 219.633,5 tấn, tăng 4,04%). Công tác quản lý hoạt động khai thác thủy sản tiếp tục được tăng cường. Các đội tàu khai thác xa bờ được quản lý chặt chẽ; ngư dân thực hiện nghiêm các quy định về chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), quy định cấm phát triển nghề lưới kéo dưới mọi hình thức, tuân thủ hạn ngạch số lượng giấy phép khai thác tại vùng khơi theo công bố của Bộ Nông nghiệp và Môi trường. - Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng điều kiện thời tiết tương đối bất lợi, cùng với giá tôm thương phẩm ở mức thấp, khiến người nuôi chậm thả giống. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh tôm giống nhìn chung vẫn khá thuận lợi; sau thời gian thu hoạch và cải tạo, phơi hồ, người nuôi bắt đầu thả giống vụ mới, góp phần thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ tôm giống. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,2 tỷ post, bằng cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 22,8 tỷ post, tăng 11,83% so với cùng kỳ năm trước. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng khá trong tháng 10, đóng góp tích cực vào hoạt động kinh tế của tỉnh. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10 tăng 18,90% so với cùng kỳ, cao hơn tốc độ tăng lũy kế 10 tháng (12,53%). Ngành chế biến, chế tạo có mức tăng nổi bật, được hỗ trợ bởi hoạt động mở rộng quy mô sản xuất của một số doanh nghiệp và các dự án, dây chuyền mới đưa vào vận hành. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 2,89% so với tháng trước và tăng 18,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,33% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 31,06%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,41%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,16%. Tính chung 10 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,36%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 20,42%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,01%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 486.790 m3, tăng 19,49% so với tháng trước và tăng 19,22% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 3.919.233 m3, tăng 19,34% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng khá, gắn với nhu cầu vật liệu phục vụ các dự án xây dựng, hạ tầng và công trình đang triển khai trên địa bàn. - Sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Ước trong tháng đạt 3.130 tấn, tăng 10,97% so với tháng trước và tăng 54,78% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 23.461 tấn, tăng 30,08% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng cao do các doanh nghiệp tập trung sản xuất, chủ động nguồn hàng nhằm phục vụ nhu cầu tăng cao trong các tháng cuối năm. - Rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.701 tấn, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 18,62% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 35.821 tấn, tăng 20,15% so với cùng kỳ năm trước. Tuy chỉ tăng nhẹ so với tháng trước nhưng vẫn tăng khá so với cùng kỳ chủ yếu do một số doanh nghiệp đã đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị, đồng thời mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng các đơn đặt hàng mới và nhu cầu mở rộng xuất khẩu sang một số thị trường. Đặc biệt, sản lượng sầu riêng cấp đông tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 19.125 nghìn lít, giảm 3,28% so với tháng trước nhưng tăng 21,21% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 206.762 nghìn lít, tăng 17,61% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu do các doanh nghiệp tăng cường sản xuất chủ động cho nhu cầu tăng cao trong các tháng cuối năm (đặc biệt là sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng tăng). - Giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 1.082 nghìn đôi, tăng 2,48% so với tháng trước và tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 7.960 nghìn đôi, tăng 57,66% so với cùng kỳ năm trước là do Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam tăng quy mô, mở rộng dây chuyền sản xuất. - Phân bón: Sản lượng sản xuất trong tháng ước đạt 17.431 tấn, tăng 0,13% so với tháng trước nhưng tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 129.025 tấn, tăng 15,82% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng khá cao so với cùng kỳ năm trước là do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng trong bối cảnh giá nông sản tiếp tục ổn định ở mức cao và có xu hướng mở rộng diện tích (đặc biệt là cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng…). - Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 156,9 nghìn tấn, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 1,94% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.290,5 nghìn tấn, tăng 4,28% so với cùng kỳ năm trước. - Nhôm thỏi: Trong tháng ước đạt 14.120 tấn, lũy kế 10 tháng năm 2026 đạt 34.182 tấn. Sự hình thành sản phẩm nhôm thỏi tiếp tục mở rộng hoạt động chế biến sâu khoáng sản trên địa bàn tỉnh. - Điện sản xuất: Sản lượng trong tháng ước đạt 3.109 triệu kWh, tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 11,28% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 30.353 triệu kWh, tăng 7,82% so với cùng kỳ năm trước. - Điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 691 triệu kWh, tăng 2,17% so với tháng trước và tăng 52,98% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 sản lượng ước đạt 5.436 triệu kWh tăng 18,78% so với cùng kỳ năm trước. Điện thương phẩm tăng mạnh trong tháng, phản ánh nhu cầu sử dụng điện cho sản xuất, kinh doanh và sinh hoạt tăng lên, trong đó có nhu cầu của các cơ sở công nghiệp mới đi vào hoạt động (đặc biệt nhà máy điện phân nhôm). 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,82% so với tháng trước và tăng 10,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,06%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,57%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,18%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,67%. Phân theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 7,49% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 14,36%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,24%. Tính chung 10 tháng năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 7,19%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,03%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,64%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,49%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,58%.  Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước phản ánh nhu cầu lao động phục vụ hoạt động, sản xuất kinh doanh cũng như gia tăng đơn đặt hàng, mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp và sự phục hồi của thị trường tiêu thụ. Qua đó góp phần vào tăng trưởng ngành công nghiệp của tỉnh. 1.4. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp Doanh thu của doanh nghiệp công nghiệp trong tháng tăng 4,18% so với tháng trước và 19,42% so với cùng kỳ; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 12,32%. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo có doanh thu tháng 10 tăng 29,19% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 19,63% của 10 tháng. Diễn biến này cùng với kết quả tăng IIP cho thấy hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm công nghiệp tiếp tục chuyển biến tích cực trong tháng đầu quý IV. Ngành B (Khai khoáng): Doanh thu trong tháng tăng 20,19% so với tháng trước và 19,65% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 18,14%. Kết quả này chủ yếu nhờ các doanh nghiệp tối ưu hóa công suất vận hành, đẩy mạnh khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường như đá, cát, đất đắp. Ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo): Đây là ngành có mức tăng trưởng doanh thu nổi bật nhất trong các nhóm ngành công nghiệp chủ yếu, với mức tăng 5,95% so với tháng trước, 29,19% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 19,63%. Ngành D (Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí): Doanh thu trong tháng tăng 2,66% so với tháng trước và 12,90% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 8,20%. Hoạt động phát điện và cung ứng điện tiếp tục đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh; sản lượng điện sản xuất tháng 10 tăng 11,28% và điện thương phẩm tăng 52,98% so với cùng kỳ. Ngành E (Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải): Doanh thu tăng 0,79% so với tháng trước và 14,56% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 tăng 10,06%. Hoạt động cung cấp nước sạch và dịch vụ môi trường tiếp tục được duy trì, phục vụ nhu cầu sinh hoạt và hoạt động sản xuất, kinh doanh. 1.5. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong 10 tháng năm 2026, hoạt động thu hút đầu tư tại các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh tiếp tục được triển khai. Toàn tỉnh thu hút 18 dự án đầu tư mới, gồm 04 dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và 14 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 814,33 tỷ đồng và 24,84 triệu USD; diện tích đất thuê lại đạt 34,14 ha. Lũy kế đến thời điểm báo cáo, các KCN có 249 dự án còn hiệu lực, trong đó có 57 dự án FDI và 192 dự án trong nước. Tổng vốn đầu tư đăng ký đạt hơn 45.932 tỷ đồng và 544,962 triệu USD; diện tích đất đăng ký đạt 785,5 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 57,21%. Hiện có 176 doanh nghiệp đang hoạt động trong các KCN. Trong kỳ, 06 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu, bảo dưỡng hạ tầng với tổng giá trị thực hiện 30,37 tỷ đồng; lũy kế từ đầu năm đến thời điểm báo cáo, vốn đầu tư thực hiện đạt 360,79 tỷ đồng, bằng 40,98% kế hoạch năm. Tình hình triển khai tại các KCN cụ thể như sau: - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Thực hiện duy tu cây xanh và hạ tầng KCN, với giá trị đầu tư trong kỳ đạt 0,02 tỷ đồng, bằng 2,44% kế hoạch năm (0,82 tỷ đồng). Lũy kế vốn thực hiện đạt 0,28 tỷ đồng, bằng 33,54% kế hoạch. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Triển khai duy tu cây xanh, dọn dẹp mặt bằng; giá trị đầu tư hạ tầng trong kỳ đạt 0,10 tỷ đồng, lũy kế từ đầu năm đạt 0,42 tỷ đồng. - KCN Hàm Kiệm I: Tiếp tục duy tu cây xanh, hệ thống giao thông, thoát nước và thi công nhà điều hành KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong kỳ đạt 1,75 tỷ đồng, bằng 7,68% kế hoạch năm (22,79 tỷ đồng). Lũy kế vốn thực hiện đạt 10,14 tỷ đồng, bằng 44,50% kế hoạch. - KCN Hàm Kiệm II: Tập trung san lấp mặt bằng, duy tu cây xanh, bảo dưỡng và thi công các tuyến đường nội khu. Theo số liệu báo cáo, giá trị đầu tư hạ tầng tháng 9 đạt 20,00 tỷ đồng, bằng 9,76% kế hoạch năm (205,00 tỷ đồng); lũy kế vốn thực hiện đạt 126,00 tỷ đồng, bằng 61,46% kế hoạch. - KCN Tân Đức: Tiếp tục thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng đối với phần diện tích còn lại; dọn dẹp, san lấp mặt bằng, thi công các tuyến đường D2, D3, D4, N1, N2, N3 và nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng trong kỳ đạt 8,00 tỷ đồng, bằng 1,69% kế hoạch năm (473,00 tỷ đồng). Lũy kế vốn thực hiện đạt 222,05 tỷ đồng, bằng 46,95% kế hoạch. - KCN Tuy Phong: Tiếp tục san lấp mặt bằng và thi công các tuyến đường nội khu. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 9 là 0,50 tỷ đồng. Lũy kế vốn thực hiện dự án từ đầu năm đến thời điểm báo cáo là 1,90 tỷ đồng. Lũy kế vốn đầu tư thực hiện dự án đến thời điểm báo cáo là 262,08/370,00 tỷ đồng đạt 71,35% trên tổng vốn dự án. Về tình hình thu hút đầu tư tại từng KCN, KCN Lộc Sơn hiện có 56 dự án (gồm 09 dự án FDI và 47 dự án trong nước); KCN Phú Hội có 32 dự án (gồm 11 dự án FDI và 21 dự án trong nước); KCN Phan Thiết giai đoạn 2 có 12 dự án (gồm 02 dự án FDI và 10 dự án trong nước). KCN Tâm Thắng thu hút được 49 dự án (trong đó có 05 dự án FDI và 44 dự án trong nước); KCN Nhân Cơ có 01 dự án đầu tư. Trong khi đó, các KCN Tuy Phong, Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2, Phú Bình và Nhân Cơ 2 đang trong quá trình xây dựng, chưa thu hút được dự án đầu tư. 2. Đầu tư phát triển Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước trong tháng đạt 2.513,1 tỷ đồng, tăng 50,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.382,8 tỷ đồng, chiếm 94,82% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 51,14% so với cùng kỳ năm trước (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 742,7 tỷ đồng, tăng 37,59% so với cùng kỳ năm trước; vốn trung ương trong nước ước đạt 888,2 tỷ đồng, tăng 78,2% so với cùng kỳ năm trước; vốn nước ngoài (ODA) đạt 68,22 tỷ đồng, tăng gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm trước; vốn xổ số kiến thiết đạt 669,9 tỷ đồng, tăng 33,64% so với cùng kỳ năm trước; vốn khác đạt 13,8 tỷ đồng, tăng 3 lần so với cùng kỳ năm trước); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 130,3 tỷ đồng (chiếm 5,18% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn), tăng 32,45% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 12.345,2 tỷ đồng, đạt 61,37% so với kế hoạch năm, tăng 25,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 11.250,2 tỷ đồng, tăng 26,43% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 4.612,4 tỷ đồng, tăng 35,95% so với cùng kỳ năm trước; vốn trung ương ước đạt 2.408,2 tỷ đồng, tăng 0,79% so với cùng kỳ năm trước; vốn nước ngoài 205,3 tỷ đồng, tăng 5,51% so với cùng kỳ năm trước; vốn xổ số kiến thiết 3.953,2 tỷ đồng, tăng 36,75% so với cùng kỳ năm trước; vốn khác 71 tỷ đồng, tăng gấp 2,2 lần so với cùng kỳ năm trước); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 1.095 tỷ đồng, tăng 20,07% so với cùng kỳ năm trước. Tiến độ thực hiện vốn tại một số dự án còn chậm, chủ yếu do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, bàn giao mặt bằng thi công chưa đồng bộ, khối lượng thực hiện chưa đủ điều kiện nghiệm thu và hồ sơ thanh toán chưa hoàn thiện. Bên cạnh đó, công tác chuẩn bị đầu tư, ký kết hợp đồng tại một số công trình chưa bảo đảm tiến độ, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công. Trong tháng (từ ngày 15/9 đến 15/10/2026) toàn tỉnh có 260 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 28,37% so với cùng kỳ năm trước; 77 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 35,09%; 92 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 5,75%; 214 doanh nghiệp giải thể, tăng 86,04% (tương ứng 99 doanh nghiệp). Tính chung 10 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 3.489 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước; 793 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 7,45%; 1.558 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 1,27%; 1.657 doanh nghiệp giải thể, tăng 51,44%. Tổng vốn đăng ký thành lập doanh nghiệp đạt 19.853,4 tỷ đồng, tăng 15,2%. Từ đầu năm đến ngày 20/10/2026, có 49 dự án đầu tư ngoài khu công nghiệp được cấp mới, với tổng vốn đăng ký 175.059,7 tỷ đồng; 56 dự án được điều chỉnh chủ trương hoặc giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế còn 3.018 dự án có hiệu lực với tổng vốn đăng ký 970.939 tỷ đồng, trong đó 247 dự án FDI với vốn đăng ký khoảng 230.001 tỷ đồng. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Trong tháng 10 và 10 tháng năm 2026, hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải tiếp tục tăng so với cùng kỳ. Doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành tăng nhanh hơn bán lẻ hàng hóa, trong khi nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa tiếp tục mở rộng. Những kết quả này phản ánh sự gia tăng hoạt động tiêu dùng và dịch vụ; thị trường hàng hóa cơ bản ổn định, nguồn cung đáp ứng nhu cầu của người dân và du khách. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 18.553,8 tỷ đồng, tăng 3,00% so với tháng trước và tăng 25,63% so với cùng kỳ năm trước; trong đó bán lẻ hàng hóa đạt 11.151,6 tỷ đồng, tăng 3,39% so với tháng trước và tăng 22,57% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.942,7 tỷ đồng, tăng 2,5% so với tháng trước và tăng 40,07% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.459,5 tỷ đồng, tăng 2,33% so với tháng trước và tăng 21,15% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 169.020,2 tỷ đồng, tăng 19,78% so với cùng kỳ năm trước; trong đó bán lẻ hàng hóa đạt 102.905,6 tỷ đồng, tăng 18,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 34.973 tỷ đồng, tăng 26,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 31.141,6 tỷ đồng, tăng 18,42% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng, tình hình thị trường trên địa bàn tỉnh ổn định, không có nhiều biến động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đa dạng, phong phú, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn cũng như khách du lịch đến tham quan. Trên địa bàn không có hiện tượng găm hàng, tăng giá quá mức để thu lợi bất chính. Hoạt động mua bán, giao thương diễn ra sôi động tại các chợ đầu mối, chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện ích, trung tâm thương mại và trên các sàn thương mại điện tử góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, ổn định thị trường và phát triển tiêu dùng nội địa. Giá cả các mặt hàng thiết yếu được giữ ở mức hợp lý, tương đối ổn định. Riêng đối với mặt hàng xăng dầu nhìn chung các cơ sở kinh doanh đều chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không xuất hiện các điểm nóng vi phạm về đo lường, chất lượng, găm hàng chờ tăng giá, giảm lượng xăng dầu bán ra mà không có lý do chính đáng; nguồn cung xăng dầu đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn, không có hiện tượng khan hiếm. Từ ngày 15/9 đến ngày 14/10/2026, lực lượng Quản lý thị trường đã tiến hành kiểm tra 82 vụ, phát hiện 75 vụ vi phạm, xử lý 72 vụ (03 vụ chuyển kỳ trước sang), đang xử lý 6 vụ, tổng số tiền xử phạt 292 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/10/2026 đã kiểm tra 1.159 vụ; phát hiện và xử lý 1.056 vụ, với tổng số tiền xử phạt là 7.959 triệu đồng. 2. Giá tiêu dùng (CPI) Giá tiêu dùng tháng 10/2026 tiếp tục tăng so với tháng trước, chủ yếu do diễn biến giá nhiên liệu và dịch vụ giao thông. Trong khi đó, giá một số nhóm hàng, dịch vụ giảm, góp phần hạn chế mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng chung. Diễn biến giá trong tháng có sự khác biệt giữa các nhóm hàng hóa, dịch vụ, phản ánh tác động của cả yếu tố chi phí và nhu cầu thị trường. CPI tháng 10/2026 tăng 0,39% so với tháng trước; tăng 2,15% so với tháng 12/2025 và tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,18% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, nhóm giao thông tăng 2,41%, trong đó giá nhiên liệu tăng 6,02%, là yếu tố tạo áp lực lớn lên CPI tháng 10. Ngược lại, nhóm lương thực giảm 0,10% và nhóm ăn uống ngoài gia đình giảm 0,86%, góp phần kiềm chế mức tăng của chỉ số giá tiêu dùng. Tính chung 10 tháng năm 2026, biến động CPI chủ yếu chịu tác động từ các nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; giao thông và giáo dục. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 09 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,16%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,27%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,68%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,36%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,28%; Giao thông tăng 2,41%; Thông tin và truyền thông tăng 0,11%; Giáo dục tăng 0,09%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,33%. Có 02 nhóm hàng giảm giá: May mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,08%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 3,82%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 01, 08, 15 và 22 tháng 10/2026, tính bình quân chung tháng 10/2026 chỉ số giá nhiên liệu tăng 6,02%. Trong đó mặt hàng xăng tăng 6,54% so tháng trước; giá dầu diezel tăng 0,74%. Giá gas trong tháng tăng 11,33% so với tháng trước, do giá bán lẻ trong nước công ty điều chỉnh tăng theo giá gas thế giới, tăng 66.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá rau tươi, khô và chế biến tăng 3,47% so với tháng trước, một số loại rau tươi bị ảnh hưởng mưa nhiều làm giảm sản lượng thu hoạch, giá bán thị trường tăng so tháng trước. Trong đó, giá bắp cải tăng 6,56% so với tháng trước; cà chua tăng 2,24%; rau muống tăng 5,07%; đỗ quả tươi tăng 5,35%. - Nguyên nhân giảm: Chỉ số giá lương thực giảm 0,1% so tháng trước, giảm chủ yếu các mặt hàng gạo do nguồn cung tại địa phương cũng như trong nước dồi dào, tác động giá bán thị trường giảm nhẹ so tháng trước. Giá các mặt hàng may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,08% so tháng trước, do nhu cầu mua sắm của người dân tương đối ổn định, các cơ sở kinh doanh triển khai chương trình khuyến mại, giảm giá nhằm kích cầu tiêu dùng. Giá nhóm mặt hàng văn hóa, giải trí và du lịch giảm 3,82% so tháng trước, giảm chủ yếu nhóm du lịch trọn gói giảm 4,39%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2026 tăng 4,18% so với bình quân cùng kỳ năm trước. * Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 10 tháng năm 2026 CPI bình quân 10 tháng năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là nhóm thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông và giáo dục. Trong đó, nhóm thực phẩm tăng 3,76%, làm CPI chung tăng 0,94 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thực phẩm tươi sống tăng trong các dịp lễ, Tết, đặc biệt là giá thịt lợn tăng 3,82% do nguồn cung chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thị trường; giá thịt chế biến tăng 3,39% và giá mỡ lợn tăng 15,83%. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,56%, làm CPI tăng 0,99 điểm phần trăm, do giá vật liệu xây dựng, giá thuê nhà và giá gas tăng; tính chung 10 tháng năm 2026, giá gas tăng 24,02% so với cùng kỳ năm trước. Nhóm giao thông tăng 7,17%, góp phần làm CPI tăng 0,82 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 13,67% theo các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu trong nước và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 26,8% do chi phí vận tải tăng cao. Bên cạnh đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,54%, làm CPI tăng 0,38 điểm phần trăm, do giá thực phẩm, gas, thuê mặt bằng và chi phí nhân công tăng. Nhóm giáo dục tăng 5,59%, góp phần làm CPI tăng 0,27 điểm phần trăm, chủ yếu do một số cơ sở giáo dục điều chỉnh tăng học phí. Các nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 3,23%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,86%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,61%, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp lễ, Tết cùng với chi phí nguyên liệu, sản xuất, vận chuyển và nhân công tăng, góp phần làm chỉ số giá các nhóm hàng này tăng so với cùng kỳ năm trước. Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,14%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian. 3. Hoạt động du lịch Hoạt động du lịch tháng 10 tiếp tục tăng về lượt khách, ngày khách và doanh thu so với cùng kỳ. Trong tháng diễn ra một số sự kiện văn hóa, du lịch trên địa bàn tỉnh, trong đó có Lễ hội Katê và Lễ hội Văn hóa - Du lịch Dinh Thầy Thím, góp phần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và thu hút khách tham quan. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.207,3 nghìn lượt, tăng 1,11% so tháng trước và tăng 31,27% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 81,3 nghìn lượt, tăng 0,44% so với tháng trước và tăng 11,74% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 4.085,2 nghìn ngày khách, tăng 1,77% so với tháng trước và tăng 31,36% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 110,2 nghìn lượt khách, tăng 11,5% so với tháng trước và tăng 24,08% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 360,9 nghìn ngày khách, tăng 13,23% so với tháng trước và tăng 28,35% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 20.680,3 nghìn lượt, tăng 20,37% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 743,6 nghìn lượt, tăng 11,14% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 38.340,6 nghìn ngày khách, tăng 22,08% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 10 tháng năm 2026 đạt 1.205 nghìn lượt, tăng 15,32% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 3.856,7 nghìn ngày khách, tăng 18,65% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 796,7 tỷ đồng, tăng 3,22% so với tháng trước và tăng 41,91% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.083,7 tỷ đồng, tăng 2,27% so với tháng trước và tăng 39,92% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 62,4 tỷ đồng, tăng 4,4% so với tháng trước và tăng 25,51% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 7.086,8 tỷ đồng, tăng 26,09% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 27.320,5 tỷ đồng, tăng 26,22% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 565,7 tỷ đồng, tăng 35,34% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.229,8 tỷ đồng, tăng 1,57% so với tháng trước và tăng 33,99% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 57.514,5 tỷ đồng, tăng 23,71% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.459,5 tỷ đồng, tăng 2,33% so với tháng trước và tăng 21,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 910,6 tỷ đồng, tăng 7,7% so với tháng trước và tăng 11,09% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 196 tỷ đồng, tăng 0,52% so với tháng trước và tăng 19,03% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 198,8 tỷ đồng, tăng 2,06% so với tháng trước và tăng 23,80% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 278,4 tỷ đồng, tăng 0,49% so với tháng trước và tăng 11,95% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.524,2 tỷ đồng, tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 29,81% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 351,4 tỷ đồng, tăng 1,62% so với tháng trước và tăng 22,16% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026, doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 31.141,6 tỷ đồng, tăng 18,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 7.592 tỷ đồng, tăng 10,85% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.765,5 tỷ đồng, tăng 14,08% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.623,6 tỷ đồng, tăng 24,36% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 2.517,5 tỷ đồng, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 14.460,7 tỷ đồng, tăng 24,23% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 3.182,3 tỷ đồng, tăng 14,53% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng, hoạt động vận tải, kho bãi tiếp tục tăng cả về vận chuyển hành khách và hàng hóa. Nhu cầu đi lại, tham quan du lịch cùng hoạt động sản xuất, thương mại và lưu thông hàng hóa tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vận tải, kho bãi duy trì hoạt động. Khối lượng vận chuyển và luân chuyển đều tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.296,9 tỷ đồng, tăng 0,51% so với tháng trước và tăng 26,49% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026, doanh thu ước đạt 12.256,9 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.040,5 nghìn HK, tăng 0,35% so với tháng trước và tăng 21,44% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 430.522,6 nghìn HK.Km, tăng 0,54% so với tháng trước và tăng 20,01% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 28.978,3 nghìn HK, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 4.147.785,9 nghìn HK.Km, tăng 17,46% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.476,4 nghìn tấn, tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 29,52% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 359.086,2 nghìn tấn.Km, tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 28,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 21.983,2 nghìn tấn, tăng 21,91% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 3.220.588,1 nghìn tấn.Km, tăng 21,941% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.296,9 tỷ đồng, tăng 0,51% so với tháng trước và tăng 26,49% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 12.256,9 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 4.130,5 tỷ đồng, tăng 26,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 6.084,9 tỷ đồng, tăng 27,08% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.586,5 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 454,9 tỷ đồng, tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 2.779,1 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.580,9 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 198,2 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.700 tỷ đồng, giảm 12,03% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 28.718,9 tỷ đồng, bằng 83,40% kế hoạch năm và tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nội địa ước đạt 26.495,5 tỷ đồng, bằng 81,09% kế hoạch năm và tăng 7,06%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 2.223,4 tỷ đồng, bằng 126,33% kế hoạch năm và tăng 73,75% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 10 tháng năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 3.292 tỷ đồng (bằng 86,55% kế hoạch năm và giảm 1,98% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 1.330,9 tỷ đồng (bằng 96,74% kế hoạch năm và tăng 7,51%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 7.013,1 tỷ đồng (bằng 104,87% kế hoạch năm và tăng 23,72%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 2.599,2 tỷ đồng (bằng 95,21% kế hoạch năm và tăng 1,46%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 3.854,9 tỷ đồng (bằng 52,27% kế hoạch năm và tăng 0,22%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 4.685,3 tỷ đồng (bằng 80,78% kế hoạch năm và tăng 13,75%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 3.629,7 tỷ đồng; lũy kế 10 tháng năm 2026 ước đạt 43.842,5 tỷ đồng, bằng 89,85% kế hoạch năm. Trong đó, chi đầu tư phát triển đạt 18.751,8 tỷ đồng, bằng 141,92% kế hoạch năm; chi thường xuyên đạt 25.090,6 tỷ đồng, bằng 82,65% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: Đến 30/9/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 258.498 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 29.223 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 12,75%. Trong đó: huy động bằng đồng Việt Nam đạt 255.941 tỷ đồng (chiếm 99,01% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.557 tỷ đồng, (chiếm 0,99% tổng huy động vốn). Ước đến ngày 31/10/2026, tổng vốn huy động của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 261.000 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 31.724 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 13,84%. Hoạt động tín dụng: Đến 30/9/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 380.860 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 9.876 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,66%. Trong đó: dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 378.621 tỷ đồng (chiếm 99,41% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.238 tỷ đồng (chiếm 0,59% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 268.735 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 112.125 tỷ đồng. Ước đến ngày 31/10/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 383.500 tỷ đồng, so với đầu năm tăng khoảng 12.516 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,37%. Lãi suất tiền gửi: Lãi suất huy động bằng VND bình quân: tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng ở mức 0,17% - 0,49%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,27% - 4,75%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng ở mức 7,51% - 8,27%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng trở lên ở mức 7,54% - 8,11%/năm. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay: Bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở mức 9,09% - 11,08%/năm; cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,17% - 4,93%/năm.    Đến ngày 30/9/2026, dư nợ cho vay đối với ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 186.600 tỷ đồng, chiếm 48,99% tổng dư nợ; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 30.500 tỷ đồng, chiếm 8,01% tổng dư nợ; ngành nông lâm thủy sản đạt 163.760 tỷ đồng, chiếm 43,00% tổng dư nợ. Tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn tỉnh được kiểm soát ở mức 1,8% trong tổng dư nợ, không thay đổi so với cuối năm 2025. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã triển khai công tác tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị và kỷ niệm các ngày lễ của đất nước: kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (04/10/1961 - 04/10/2026); 25 năm Ngày toàn dân phòng cháy, chữa cháy (04/10/2001 - 04/10/2026); Festival Hoa Đà Lạt; Ngày Văn hóa Việt Nam; tuyên truyền Tháng cao điểm “Vì người nghèo” năm 2026; đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: Lễ hội Trung thu năm 2026 tại 03 khu vực với chủ đề “ Sắc màu Lâm Đồng - Chung một vầng trăng”, Lễ hội Katê của người Chăm tỉnh Lâm Đồng năm 2026,... Ngoài ra, tính đến ngày 14/10/2026 đã tổ chức 95 suất biểu diễn phục vụ chính trị, 903 buổi chiếu phim, 01 Chương trình Dạ hội Điện ảnh, 03 Tuần phim, 153 buổi tuyên truyền và 02 vở kịch tuyên truyền phục vụ cơ sở, thu hút đông đảo người dân và du khách tham gia thụ hưởng văn hóa. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 11.781 lượt khách, trong đó có 1.893 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng 1.750 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt 441 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên 295 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận 8.514 lượt và Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông 781 lượt khách). Lũy kế từ ngày 01/01 đến 13/10/2026 đã đón 275.297 lượt khách tham quan, trong đó có 20.371 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính 63.293 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt 38.153 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên 7.804 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận 156.058 lượt và Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông 9.989 lượt khách). + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 211 đoàn với 7.437 lượt khách (trong đó có 23 khách quốc tế); phục vụ 23 lễ viếng, báo công, sinh hoạt chuyên đề. Lũy kế từ ngày 01/01 đến 12/10/2026 đã tiếp đón 1.777 đoàn khách tham quan với 130.760 lượt khách (trong đó có 390 khách quốc tế); phục vụ 202 lễ viếng, 10 lễ báo công, 07 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 03 lễ rước đuốc, 04 lễ tuyên dương và 27 sinh hoạt chuyên đề; ngoài ra đã tổ chức triển lãm 04 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật; phối hợp với các báo, đài thực hiện 13 phóng sự. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 05 đoàn với 1.070 lượt khách; lũy kế từ ngày 01/01 đến 14/10/2026 đã đón 18.959 lượt khách đến thăm viếng, học tập, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 199 thẻ (thiếu nhi 44 thẻ), phục vụ 214.407 lượt bạn đọc, luân chuyển 61.856 lượt tài liệu. Lũy kế từ 01/01 đến 10/10/2026 đã cấp mới và gia hạn 6.555 thẻ (thiếu nhi 4.640 thẻ), phục vụ 2.668.216 lượt bạn đọc, luân chuyển 555.406 lượt tài liệu; trưng bày 146.033 bản sách nhân phục vụ độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Trong tháng đã tổ chức Lễ phát động toàn dân tập luyện thể thao "Mỗi người dân lựa chọn ít nhất một môn thể thao phù hợp để tập luyện thường xuyên" năm 2026 và 04 giải thể thao quần chúng (Giải Bóng đá 7 người các Dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng năm 2026; Giải Cờ vua học sinh tỉnh Lâm Đồng năm 2026; Giải chạy Việt dã "DLU Run - 50 năm đổi mới và phát triển"; Giải chạy cộng đồng và gây quỹ từ thiện "UpRace 2026"). - Thể thao thành tích cao: Phối hợp Liên đoàn Quần vợt Việt Nam tổ chức Giải Quần vợt đồng đội nữ quốc tế Billie Jean King Cup nhóm III khu vực Châu Á - Châu Đại Dương; tổ chức Giải Bóng đá Cúp Quốc gia 2026/2027; Giải Bóng đá hạng Nhất Quốc gia 2026/2027. Trong tháng, cử các đội tham gia thi đấu 09 giải thể thao; kết quả đạt được 21 huy chương (06 HCV, 04 HCB, 11 HCĐ), trong đó bao gồm 04 huy chương quốc tế (02 HCV, 02 HCĐ). Lũy kế từ đầu năm đến ngày 13/10/2026 đã tham dự 102 giải thể thao quốc gia và quốc tế, kết quả đạt 722 huy chương (165 HCV, 183 HCB, 374 HCĐ); trong đó bao gồm 01 HCB tại Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 47 huy chương quốc tế (26 HCV, 09 HCB, 12 HCĐ). 2. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Hoạt động thông tin, tuyên truyền tập trung phổ biến chủ trương, chính sách, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và các sự kiện chính trị, văn hóa trên địa bàn. Công tác thông tin cơ sở, truyền thông chính sách và phản ánh tình hình địa phương được duy trì, góp phần nâng cao hiệu quả cung cấp thông tin đến người dân. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Tập trung tham mưu triển khai các nhiệm vụ liên quan đến Chiến lược phát triển lĩnh vực thông tin cơ sở giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 theo Quyết định số 1868/QĐ-TTg ngày 29/9/2026 của Thủ tướng Chính phủ. Rà soát hiện trạng, nhu cầu đầu tư, phương án triển khai hệ thống thông tin nguồn và hệ thống truyền thanh cơ sở ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông để xây dựng giải pháp và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 06 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và triển khai thực hiện Quyết định số 4478/QĐ-UBND ngày 09/9/2026 của UBND tỉnh về việc ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Đội liên ngành phòng, chống các hành vi vi phạm trong hoạt động in và lợi dụng hoạt động in để sản xuất hàng giả trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. 3. Giáo dục và đào tạo Hoạt động giáo dục và đào tạo tiếp tục triển khai nhiệm vụ năm học 2026–2027; các cơ sở giáo dục tập trung ổn định tổ chức, bảo đảm điều kiện dạy và học. Toàn tỉnh có 210 trường mầm non, 247 trường tiểu học, 112 trường tiểu học và trung học cơ sở, 149 trường trung học cơ sở, 27 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, 65 trường trung học phổ thông và 13 cơ sở giáo dục khác. Mạng lưới cơ sở giáo dục được duy trì nhằm đáp ứng nhu cầu học tập trên địa bàn tỉnh. Giáo dục nghề nghiệp: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng nghề; 05 trường trung cấp, 30 trung tâm dạy nghề (trong đó: công lập 13 trung tâm); cơ sở dạy nghề khác có 17 cơ sở. Đào tạo nghề hệ cao đẳng cho 130 học viên, trung cấp nghề 1.350 học viên, sơ cấp nghề 4.700 học viên, đào tạo không chính quy 13.349 học viên. Nhìn chung, hoạt động giáo dục, đào tạo được triển khai theo kế hoạch năm học mới. Các cơ sở giáo dục tiếp tục củng cố cơ sở vật chất, bố trí đội ngũ giáo viên và tổ chức dạy học theo chương trình; hoạt động đào tạo nghề duy trì với nhiều trình độ và hình thức đào tạo, góp phần đáp ứng nhu cầu học nghề của người dân. 4. Y tế Trong tháng, ngành y tế tiếp tục giám sát, phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm, tổ chức tiêm chủng và duy trì hoạt động khám, chữa bệnh. Số ca mắc sốt xuất huyết và tay chân miệng tăng so với tháng trước, đặt ra yêu cầu tăng cường các biện pháp phòng, chống dịch tại địa bàn có nguy cơ cao. Hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe nhân dân tiếp tục được duy trì. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng ghi nhận 1.478 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 177 ca so với tháng trước (1.301 ca) và tăng 219 ca so với cùng kỳ năm trước (1.259 ca). Lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 5.542 ca mắc, tăng 177 ca so với cùng kỳ năm trước (5.365 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 172 ổ dịch, lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026 đã phát hiện xử lý 718 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không phát hiện ca mắc; lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 05 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng ghi nhận 844 ca mắc, tăng 136 ca so với tháng trước và tăng 568 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 4.733 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng ghi nhận 08 ca mắc, giảm 10 ca so với tháng trước và tăng 08 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh ghi nhận 118 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.346 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 4.230 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.523 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.563 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.755 trẻ, mũi 2 cho 3.650 trẻ và mũi 3 cho 3.622 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.502 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không có bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 432 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 9 bệnh nhân và chăm sóc tàn tật cho 425 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 215 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 05 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03 BN/100.000 dân; bệnh nhân lao kháng thuốc trong tháng là 05 bệnh nhân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 18 bệnh nhân nhiễm HIV mới, 02 bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 17 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.925 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.800 người, tử vong 1.609 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 506.630 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 41.519 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 240.736 ngày, xét nghiệm cho 683.003 tiêu bản, chẩn đoán 156.988 hình ảnh và phẫu thuật 5.280 trường hợp. Ước 10 tháng đầu năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 4.293.813 lượt người; 357.366 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 2.213.199 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,79 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 86,97%; xét nghiệm cho 6.169.570 tiêu bản; chẩn đoán 1.511.530 hình ảnh và phẫu thuật cho 59.384 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 25 cơ sở thực phẩm, phát hiện 08 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 90,0 triệu đồng. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. Lũy kế 10 tháng đầu năm 2026 xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 188 người mắc và 01 người tử vong. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số và người có công 5.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh, trật tự tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số ổn định; các chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo và hỗ trợ phát triển vùng khó khăn tiếp tục được triển khai. Hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng, chăm lo giáo dục, y tế và hỗ trợ đời sống góp phần cải thiện điều kiện sinh hoạt của người dân tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa. Hoạt động văn hóa, thể thao và thông tin cơ sở ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số được duy trì. Trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa và công trình thể thao; mạng lưới phát thanh, truyền hình, internet tiếp tục được mở rộng, hỗ trợ người dân tiếp cận thông tin và các hoạt động văn hóa, xã hội. Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Các chính sách hỗ trợ học sinh, sinh viên được thực hiện đầy đủ. Hệ thống trường lớp, phòng học bộ môn, thư viện, thiết bị dạy học, ký túc xá, nhà công vụ giáo viên vùng DTTS không ngừng được mở rộng về số lượng và chất lượng; toàn tỉnh đã xây dựng hệ thống giáo dục dân tộc chuyên biệt với hàng chục trường phổ thông dân tộc nội trú và nhiều trường phổ thông dân tộc bán trú tại các địa bàn khó khăn, bảo đảm hầu hết trẻ em DTTS đều được đến trường, qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào DTTS. Hoạt động y tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số được duy trì thông qua mạng lưới khám, chữa bệnh tại cơ sở và chính sách hỗ trợ tiếp cận dịch vụ. Các chương trình chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ tham gia bảo hiểm y tế tiếp tục góp phần giảm khó khăn trong tiếp cận dịch vụ y tế của người dân vùng sâu, vùng xa. 5.2. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 288 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; ban hành 80 quyết định điều chỉnh trợ cấp, phụ cấp cho các đối tượng tại các xã, phường, đặc khu trên địa bàn toàn tỉnh; giải quyết chế độ mai táng phí liên thông theo Đề án 06 là 242 hồ sơ và chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền mặt cho 14.535 người có công với cách mạng. Trong 10 tháng đầu năm 2026 đã giải quyết 3.125 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công và chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền mặt cho 14.535/17.971 người với tổng kinh phí hơn 47,52 tỷ đồng. Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sỹ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh có 325.739 người tham gia BHXH, đạt 98,35% kế hoạch năm và tăng 9,14% so với cùng kỳ năm trước; 245.944 người tham gia BHTN, đạt 97,04% kế hoạch và tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước; 3.176.625 người tham gia BHYT, đạt 99,16% kế hoạch và tăng 4,35% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 93,77% dân số. Trong tháng 9/2026, đã giải quyết mới 9.182 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.898 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 275 người; trợ cấp 1 lần cho 2.262 người; chế độ ốm đau cho 5.208 người; chế độ thai sản cho 1.176 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 261 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 1.606 người và hỗ trợ học nghề cho 292 người). Lũy kế đến ngày 30/9/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 89.767 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 17.573 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 1.837 người; trợ cấp 1 lần cho 21.592 người; chế độ ốm đau cho 51.854 người; chế độ thai sản cho 11.455 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 3.029 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 16.308 người và hỗ trợ học nghề cho 1.265 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/9/2026 - 14/10/2026) Trong tháng xảy ra 53 vụ tai nạn giao thông, giảm 09 vụ so với tháng trước và giảm 22 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 25 người, giảm 12 người so với tháng trước và giảm 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 36 người, giảm 8 người so với tháng trước và giảm 13 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2026 xảy ra 567 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 175 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 353 người, giảm 26 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 378 người, giảm 188 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng, xảy ra 02 đợt thiên tai, chủ yếu do mưa lớn trên diện rộng, gây thiệt hại tại các địa phương gồm: phường Xuân Hương - Đà Lạt, phường Phan Thiết, phường Đông Gia Nghĩa và các xã Quảng Khê, Hàm Liêm, Hàm Kiệm, Sơn Mỹ, Hàm Thuận, Tân Hội, Hàm Thuận Bắc, Cát Tiên 3, Phan Sơn. Thiên tai làm 10 nhà bị sập, 58 căn nhà bị hư hại, 41 hộ phải di dời, 3.380 căn nhà bị ngập; 2.638 ha lúa bị thiệt hại, 92 ha rau màu bị ảnh hưởng, 296 con gia súc và 2.400 con gia cầm bị cuốn trôi; đồng thời làm hư hỏng 02 cầu dân sinh, 06 tuyến đường giao thông bị ngập, hư hỏng và gây sạt lở tại 10 điểm taluy. Ước tổng giá trị thiệt hại 45,27 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 25/12/2025 đến thời điểm báo cáo, toàn tỉnh xảy ra 26 đợt mưa lớn, kèm theo giông lốc, sét đánh và sạt lở, làm 02 người chết, 04 người bị thương, 18 nhà bị sập, 179 nhà bị hư hại và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác, với tổng giá trị thiệt hại ước khoảng 121,74 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 15/9 đến ngày 14/10/2026) xảy ra 04 vụ cháy nổ, giảm 03 vụ so với tháng trước và giảm 2 vụ so với cùng kỳ năm trước, có 03 người chết, đang thống kê thiệt hại. Lũy kế 10 tháng năm 2026 xảy ra 55 vụ cháy nổ, tăng 11 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 05 người chết và 02 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại hơn 8.979 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ, đã xử phạt 08 triệu đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2026 xảy ra 11 vụ vi phạm, đã xử phạt 1.034,5 triệu đồng (10 tháng năm 2025 xảy ra 19 vụ vi phạm, xử phạt 3.598 triệu đồng). * Đánh giá chung Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tháng 10 và 10 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng phát triển tích cực; hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều ngành, lĩnh vực đạt mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Một số chỉ tiêu kinh tế chủ yếu trong tháng 10 có tốc độ tăng cao, nhất là sản xuất công nghiệp, thương mại và dịch vụ, cho thấy những tín hiệu tăng tốc của hoạt động kinh tế trong tháng đầu quý IV. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục duy trì ổn định. Diện tích gieo trồng cây hằng năm đạt 418.280,2 ha, tăng 2,19% so với cùng kỳ; hoạt động chăn nuôi phát triển khá, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 10,30%; sản lượng sữa bò tăng 23,86%, kén tằm tăng 7,66%. Hoạt động lâm nghiệp được duy trì; sản lượng thủy sản khai thác đạt 220,4 nghìn tấn, tăng 4,19%. Sản xuất công nghiệp tiếp tục khởi sắc, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 10 tăng 18,90% so với cùng kỳ; trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 31,06%, cao hơn 10,64 điểm phần trăm so với mức tăng 10 tháng. Một số ngành công nghiệp có mức tăng nổi bật như sản xuất kim loại, sản xuất da và các sản phẩm liên quan, chế biến thực phẩm. Đặc biệt, hoạt động sản xuất nhôm thỏi đạt 14.120 tấn trong tháng 10, góp phần hình thành sản phẩm công nghiệp mới có quy mô lớn, mở rộng hoạt động sản xuất của ngành chế biến, chế tạo. Sản lượng điện sản xuất 10 tháng tăng 7,82%. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục tăng trưởng khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ 10 tháng tăng 19,78% so với cùng kỳ. Hoạt động du lịch duy trì đà phát triển, tổng lượt khách phục vụ tăng 20,37%, trong đó khách quốc tế tăng 15,32%; doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 57.514,5 tỷ đồng, tăng 23,71%. Hoạt động vận tải phát triển tương đối đồng đều ở cả vận tải hành khách và hàng hóa; doanh thu vận tải, kho bãi tăng 23,91%. Hoạt động đầu tư, thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp đạt một số kết quả tích cực. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 10 tháng tăng 25,84% so với cùng kỳ; riêng tháng 10 tăng 50,04%, cho thấy tiến độ thực hiện vốn có chuyển biến trong tháng đầu quý IV. Các khu công nghiệp thu hút 18 dự án đầu tư mới. Toàn tỉnh có 3.489 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 4,90%; 793 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 7,45%; tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 19.853,4 tỷ đồng, tăng 15,20%. Hoạt động thu ngân sách nhà nước và tín dụng tiếp tục được duy trì. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 10 tháng đạt 28.718,9 tỷ đồng, bằng 83,4% kế hoạch năm. Hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 13,84% so với đầu năm, góp phần tạo nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và các nhu cầu của nền kinh tế. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội tiếp tục được triển khai thực hiện. Hoạt động văn hóa, thể thao, thông tin tuyên truyền được tổ chức thường xuyên; công tác giáo dục, khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân được duy trì. Các chế độ, chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội và chính sách bảo hiểm được thực hiện theo quy định. Tình hình tai nạn giao thông có chuyển biến tích cực, 10 tháng giảm 175 vụ so với cùng kỳ; số người chết giảm 26 người và số người bị thương giảm 188 người, góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số khó khăn, hạn chế. Sản xuất nông nghiệp chịu ảnh hưởng của thời tiết, chi phí đầu vào và nguy cơ dịch bệnh; tình trạng vi phạm pháp luật về lâm nghiệp còn diễn biến phức tạp. Dịch tả lợn châu Phi còn phát sinh tại một số địa phương, ảnh hưởng đến hoạt động chăn nuôi và tái đàn. Trong lĩnh vực công nghiệp, mặc dù sản xuất có dấu hiệu tăng tốc nhưng kết quả giữa các ngành và sản phẩm chưa đồng đều. Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực có tiến độ thực hiện thấp so với kế hoạch năm. Hoạt động đầu tư, xây dựng còn gặp khó khăn về giải phóng mặt bằng, thủ tục và tiến độ thi công; vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý mới đạt 61,37% kế hoạch năm, tạo áp lực lớn đối với việc hoàn thành nhiệm vụ trong hai tháng cuối năm. Đối với thương mại, dịch vụ, mặc dù doanh thu tăng khá nhưng tiến độ một số chỉ tiêu còn thấp so với kế hoạch; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ đạt 79,69%. Trong lĩnh vực tài chính, tiến độ thực hiện các khoản thu ngân sách chưa đồng đều, nhất là các khoản thu về nhà, đất mới đạt 52,27% kế hoạch. Hoạt động sản xuất, kinh doanh của một bộ phận doanh nghiệp còn khó khăn, số doanh nghiệp giải thể tăng so với cùng kỳ. Tốc độ tăng dư nợ tín dụng còn thấp so với mức tăng huy động vốn. Bên cạnh đó, tình hình một số bệnh truyền nhiễm, thiên tai, mưa lớn và sạt lở tiếp tục ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân, sản xuất nông nghiệp và kết cấu hạ tầng tại một số địa phương.THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   02/10/2026 08:29

Trong bối cảnh tình hình kinh tế, chính trị thế giới tiếp tục có những diễn biến ảnh hưởng đến hoạt động thương mại, đầu tư và thị trường hàng hóa; kinh tế trong nước duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng. Trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, kinh tế - xã hội trong tháng Chín, quý III và 9 tháng năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng phát triển tích cực. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định; sản xuất công nghiệp tiếp tục tăng trưởng; hoạt động vận tải, thương mại, dịch vụ và du lịch duy trì mức tăng khá; thu ngân sách đạt kết quả tích cực; các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm và triển khai theo kế hoạch. Kết quả thực hiện cụ thể trên các lĩnh vực như sau: I. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý III/2026 ước tăng 9,65% so với cùng kỳ, tính chung 9 tháng năm 2026 ước tăng 8,51% so với cùng kỳ. Trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,9%, đóng góp 1,29%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,64%, đóng góp 2,77%; khu vực dịch vụ tăng 9,49%, đóng góp 4,01%. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, ngành nông nghiệp vẫn duy trì tăng trưởng tương đối ổn định. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 9 tháng năm 2026 tăng 5,04% so với cùng kỳ, đóng góp 1,12 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 4,48% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,08%, đóng góp 0,13 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp đạt mức tăng trưởng cao, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 9 tháng năm 2026 tăng 10,62% so với cùng kỳ, đóng góp 2,18 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp khai khoáng; công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng lần lượt 17,76% và 19,07%, đóng góp 0,11 và 1,08 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,94%, đóng góp 0,96 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,44%, đóng góp 0,03 điểm phần trăm. Ngành xây dựng tăng 10,72%, đóng góp 0,59 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ, hoạt động thương mại, vận tải, du lịch vẫn giữ mức tăng trưởng cao đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 9 tháng năm 2026 tăng 9,49% so với cùng kỳ. Đóng góp của một số ngành dịch vụ có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm trong nền kinh tế như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 11,97% so với cùng kỳ, đóng góp 1,18 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi tăng 14,76%, đóng góp 0,44 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 12,52%, đóng góp 0,82 điểm phần trăm; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,42%, đóng góp 0,26 điểm phần trăm. Cùng với đó, một số ngành dịch vụ công cũng có mức tăng khá cao như: hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 15,67%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 9,58%.II. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnTình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2026 duy trì ổn định và phát triển. Hoạt động trồng trọt cơ bản thuận lợi, diện tích cây hàng năm và diện tích cây lâu năm tiếp tục được duy trì. Chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn vật nuôi chủ lực và sản lượng thịt hơi tăng so với cùng kỳ năm trước. Công tác phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được triển khai thường xuyên; mặc dù dịch tả lợn Châu Phi vẫn phát sinh tại một số địa phương nhưng đã được kiểm soát. Hoạt động thủy sản cơ bản ổn định, nuôi trồng thủy sản được duy trì, sản lượng khai thác thủy sản tăng khá so với cùng kỳ năm trước, sản xuất giống thủy sản, nhất là tôm giống, tiếp tục được duy trì, gắn với kiểm dịch, kiểm soát chất lượng và đáp ứng nhu cầu sản xuất của người nuôi.1. Trồng trọt1.1. Cây hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 9 tháng năm 2026 ước đạt 255.165,7 ha, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: Cây lương thực diện tích ước đạt 143.025,7 ha, tăng 1,92%; sản lượng lương thực ước đạt 930.408,8 tấn, tăng 3,04% (cây lúa diện tích đạt 104.805,7 ha, tăng 1,22%; sản lượng đạt 670.142,1 tấn, tăng 2,46%. Cây bắp diện tích đạt 38.220 ha, tăng 3,89%; sản lượng đạt 260.266,7 tấn, tăng 4,58%). Cây rau diện tích đạt 60.743,7 ha, tăng 2,1%. Cây hoa diện tích đạt 8.121,4 ha, tăng 1,81%. Cây đậu các loại diện tích đạt 10.300 ha, tăng 0,5%. Diện tích cây hàng năm còn lại đạt 32.974,9 ha, tăng 4,16%. Vụ Hè thu toàn tỉnh đã thực hiện trồng mới, chuyển đổi khoảng 4.157,9 ha cây trồng kém hiệu quả sang trồng các loại cây có hiệu quả cao hơn. Diện tích gieo trồng vụ Hè thu ước đạt 148.753,2 ha, tăng 3,23% so với vụ Hè thu năm trước. Trong đó: cây lúa diện tích đạt 49.400 ha, tăng 2,42%; sản lượng đạt 297.000 tấn, tăng 3,05%; năng suất đạt 60,12 tạ/ha, tăng 0,37 tạ/ha. Cây ngô diện tích đạt 31.663,9 ha, tăng 2,87%; sản lượng đạt 212.000 tấn, tăng 3,31%; năng suất đạt 66,95 tạ/ha, tăng 0,29 tạ/ha. Rau các loại diện tích đạt 34.108,8 ha, tăng 4,09%; sản lượng đạt 1.034.990 tấn, tăng 4,52%; năng suất đạt 303,44 tạ/ha, tăng 1,25 tạ/ha. Hoa các loại diện tích đạt 3.902 ha, tăng 4,48%; sản lượng đạt 1.441.688 nghìn cành/bông, tăng 3,66%; năng suất đạt 369,47 nghìn cành/bông/1ha, giảm 2,93 nghìn cành/bông/ha. 1.2. Cây lâu năm Sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh 9 tháng năm 2026 duy trì và phát triển tương đối ổn định, cơ cấu cây trồng tiếp tục có sự chuyển dịch theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế. Diện tích một số cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, dâu tằm có xu hướng mở rộng diện tích; trong khi một số loại cây trồng có hiệu quả kinh tế thấp hơn như cao su, điều, thanh long, chè đang từng bước được điều chỉnh quy mô sản xuất, thanh lý và thay thế những vườn cây già cỗi sang các loại cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn. Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 638.205,2 ha, tăng 0,34% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể một số cây chính sau: - Cây cà phê: Cây cà phê hiện chưa bước vào vụ thu hoạch. Lâm Đồng là vùng sản xuất cà phê lớn nhất cả nước, với quy mô diện tích lớn, sản xuất ổn định và cà phê được xác định là một trong những cây trồng chủ lực, có vai trò chiến lược đối với ngành trồng trọt của tỉnh. Tổng diện tích cây cà phê ước đạt 335.178,5 ha, tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước (tăng chủ yếu ở các xã: Di Linh, Gia Hiệp, Đinh Trang Thượng); - Cây cao su: Diện tích ước đạt 73.505 ha, giảm 2,48%; sản lượng 9 tháng năm 2026 ước đạt 75.390 tấn, tăng 3,99% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cao su có xu hướng giảm, chủ yếu do loại bỏ những diện tích cao su già cỗi, năng suất thấp. Tuy nhiên, năng suất khai thác tiếp tục được cải thiện góp phần nâng cao sản lượng các vùng chuyên canh; - Cây điều: Diện tích ước đạt 45.765,2, giảm 8,74%; sản lượng 9 tháng năm 2026 ước đạt 36.183,9 tấn, giảm 7,48% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích và sản lượng điều có xu hướng giảm trong bối cảnh tỉnh đang đẩy mạnh nông nghiệp công nghệ cao, cấp mã số vùng trồng và ưu tiên phát triển các ngành hàng xuất khẩu có giá trị cao. Một phần diện tích điều đang từng bước được chuyển đổi sang các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn như sầu riêng và dâu tằm, phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh; - Cây tiêu: Diện tích ước đạt 38.609,4 ha, tăng 2,55%; sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2026 ước đạt 95.230,6 tấn, tăng 6,81% so với cùng kỳ năm trước. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao (khoảng 148.000–151.000 đồng/kg), tạo động lực để người trồng tiêu tăng cường đầu tư, chăm sóc và phục hồi vườn cây. Bên cạnh đó, điều kiện sản xuất tương đối thuận lợi, nguồn nước tưới cơ bản được bảo đảm, tình hình sâu bệnh được kiểm soát, góp phần giúp cây tiêu sinh trưởng, phát triển ổn định và duy trì năng suất; - Cây sầu riêng: Diện tích ước đạt 47.325,4 ha, tăng 7,01% so với cùng kỳ năm trước (diện tích tăng chủ yếu tại các địa bàn có điều kiện thổ nhưỡng phù hợp, trong đó tập trung tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 2, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai 3, Cát Tiên 3, Di Linh và Gia Hiệp). Sản lượng 9 tháng năm 2026 ước đạt 337.404 tấn, tăng 15,49%. Sản lượng tăng khá cao chủ yếu do diện tích sầu riêng bước vào thời kỳ cho thu hoạch ngày càng lớn; đồng thời, người dân tăng cường áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong chăm sóc, thâm canh, nhất là đối với các vườn trồng thuần, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm. Dự báo trong thời gian tới cây sầu riêng tăng cường đầu tư thâm canh và mở rộng vùng chuyên canh; - Cây thanh long: Diện tích ước đạt 24.481,4 ha, giảm 5,12%; sản lượng ước 9 tháng năm 2026 ước đạt 445.855 tấn, giảm 4,45% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô diện tích thanh long tiếp tục được điều chỉnh giảm so với giai đoạn phát triển nhanh trước đây. Mặc dù thanh long có lợi thế về quy mô sản xuất và sản lượng, nhưng diện tích lớn cũng tạo áp lực đối với thị trường tiêu thụ khi khả năng tiêu thụ không tăng tương ứng; - Cây chè: Diện tích chè ước đạt 9.100 ha, giảm 1,96% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích chè giảm chủ yếu tại khu vực Bảo Lộc và các vùng lân cận do một số hộ dân từng bước chuyển đổi các vườn chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống, hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, bơ, chanh dây,... Sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2026 ước đạt 90.434 tấn, giảm 2,51% so với cùng kỳ năm trước; - Cây dâu tằm: Diện tích dâu ước đạt 11.341 ha, tăng 1,11%; sản lượng 9 tháng năm 2026 ước đạt 255.440 tấn, tăng 4,36% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu nhờ việc đẩy mạnh thay thế các giống dâu cũ bằng những giống có năng suất cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt và phù hợp với điều kiện thổ như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05. Bên cạnh đó giá kén tằm ổn định (khoảng 185.000 đồng - 200.000 đồng/kg), tạo động lực để người dân tăng cường đầu tư chăm sóc, mở rộng diện tích, qua đó góp phần nâng cao năng suất và sản lượng ngành dâu tằm. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Toàn tỉnh hiện có 966 công trình thủy lợi, trong đó có 526 hồ chứa với tổng dung tích khoảng 859 triệu m3; các công trình thủy lợi đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt, công nghiệp, du lịch và các ngành kinh tế khác của tỉnh. Tính đến ngày 13/9/2026, tổng diện tích sản xuất nông nghiệp được tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện đạt 193.567 ha (đạt 44,5%). 1.4. Tình hình dịch bệnh Công tác dự báo, phòng chống sâu bệnh hại trên cây trồng được chú trọng thực hiện từ sớm, từ xa thường xuyên trong từng tháng. Trong 9 tháng năm 2026, dịch hại trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt, hầu hết gây hại ở mức độ nhẹ, cụ thể: - Cây lúa: Bệnh đạo ôn lá gây hại 1.776 ha; sâu đục thân gây hại 659 ha (giảm 786 ha so cùng kỳ năm trước); ốc bươu vàng gây hại 1.116 ha; rầy nâu gây hại 464 ha; - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.164 ha (108 ha nhiễm nặng). Hiện tượng biến dạng dính gai sần vỏ gây hại 3.700 ha trên diện tích trồng sầu riêng giai đoạn trái non, cận thu hoạch tại các xã Đạ Huoai, Đạ Huoai 1, Đạ Huoai 2, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 1, Đạ Tẻh 2, Cát Tiên, Cát Tiên 1, Cát Tiên 2; - Cây cà phê: Bệnh khô cành, khô quả gây hại 2.968 ha; rệp sáp gây hại 1.543 ha; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.931 ha; bệnh thán thư gây hại 3.043 ha; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha; bệnh thán thư cành, quả gây hại 773 ha; - Cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus gây hại 103 ha, bệnh mốc sương gây hại 131 ha.  1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục được quan tâm, chú trọng. Toàn tỉnh hiện có khoảng 110.700 ha sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao (trong đó, diện tích ứng dụng nông nghiệp thông minh đạt khoảng 1.400 ha); đã công nhận 16 vùng sản xuất trồng trọt ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao và 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt. Công tác đào tạo, tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ, khuyến nông tiếp tục được đẩy mạnh và mang lại hiệu quả tích cực. Công tác thông tin tuyên truyền khuyến nông tiếp tục được quan tâm thực hiện thường xuyên. Sản xuất an toàn bền vững tiếp tục được đẩy mạnh; trong quý III/2026, toàn tỉnh phát triển mới 725 ha diện tích sản xuất nông nghiệp đạt các tiêu chuẩn an toàn, bền vững; lũy kế 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh có thêm 1.309 ha được cấp mới các chứng nhận tiêu chuẩn chất lượng, nâng tổng diện tích sản xuất được chứng nhận an toàn, bền vững lên 155.100 ha. Trong 9 tháng năm 2026 thực hiện các đề tài, mô hình mới trong sản xuất nông, lâm, thủy sản gắn với chương trình phát triển khoa học - công nghệ, đã thực hiện hoàn thành 07 mô hình chuyển tiếp từ năm trước và thực hiện mới 13 mô hình, đến nay đã nghiệm thu 02 mô hình (mô hình nuôi vịt thương phẩm hướng thịt an toàn sinh học, hiệu quả kinh tế tăng 18% so với ngoài mô hình, nông hộ thu về khoảng 6-7 triệu đồng/mô hình 500 con; mô hình chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng hai giai đoạn, sau 90 ngày nuôi, nuôi tôm đạt cỡ 40-50 con/kg, tỷ lệ sống đạt 82%). 1.6. Chương trình xây dựng nông thôn mới Trong 9 tháng năm 2026, tỉnh tiếp tục tập trung triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Phát triển kinh tế hợp tác, kinh tế trang trại tiếp tục được quan tâm, tập trung củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các hợp tác xã (HTX) nông nghiệp trên địa bàn. Toàn tỉnh hiện có 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp đang hoạt động theo luật Hợp tác xã năm 2023 (với 45 HTX thành viên và 874 HTX nông nghiệp); có 1.290 Tổ hợp tác và 1.410 trang trại đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp tiếp tục được tập trung triển khai, góp phần tổ chức lại sản xuất, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng cường kết nối giữa sản xuất với thị trường. Đến nay, toàn tỉnh có 428 chuỗi liên kết (với 47.590 hộ tham gia liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm); tổng diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85.000 ha, sản lượng khoảng 920.000 tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt khoảng 2.230.000 con, sản lượng đạt khoảng 210.000 tấn/năm. Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) tiếp tục được triển khai, góp phần phát triển sản phẩm đặc trưng, nâng cao giá trị sản phẩm nông nghiệp và thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm địa phương. Đến nay, toàn tỉnh có 894 sản phẩm OCOP còn thời hạn Giấy chứng nhận (trong đó có 88 sản phẩm 4 sao và 806 sản phẩm 3 sao), với 506 chủ thể tham gia Chương trình. 2. Chăn nuôi Trong 9 tháng năm 2026, chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định, tổng đàn các loại vật nuôi chủ lực đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất được duy trì trong điều kiện nhu cầu tiêu dùng trong nước tương đối ổn định, một số sản phẩm có giá bán thuận lợi, tạo điều kiện cho người dân và doanh nghiệp duy trì sản xuất, tái đàn và đầu tư mở rộng quy mô. Xu hướng chăn nuôi trang trại, tập trung, liên kết với doanh nghiệp và ứng dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học ngày càng được đẩy mạnh. Tuy nhiên, các chi phí đầu vào như giá thức ăn chăn nuôi, con giống, thuốc thú y, các chi phí điện, nước, lao động, vận chuyển vẫn ở mức cao; nguy cơ dịch bệnh trên đàn vật nuôi vẫn còn tiềm ẩn, ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả chăn nuôi. So với cùng kỳ năm trước, toàn tỉnh có 27,5 nghìn con trâu, tăng 2,15%; có 325 nghìn con bò, tăng 4% (đàn bò sữa có 32,5 nghìn con, tăng 4,23%); có 1.580 nghìn con lợn, tăng 5,4%; có 25 triệu con gia cầm, tăng 9,56% (trong đó gà các loại 16,95 triệu con, chiếm 67,8% trong tổng đàn gia cầm, tăng 9,23%). Sản lượng thịt hơi các loại trong tháng ước đạt 32.660 tấn, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2026 đạt 92.186,2 tấn, tăng 7,23%; 9 tháng năm 2026 đạt 277.455,6 tấn, tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong quý III/2026, bệnh DTLCP phát sinh 49 hộ, cơ sở tại 27 thôn của 10 xã, phường với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 8.990 con/401.958 kg. Lũy kế đến ngày 12/9/2026, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 23.067 con/1.102.637 kg. Đến nay còn 05 xã có dịch bệnh chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Tổ chức kiểm tra tình hình dịch bệnh DTLCP tại các địa phương có dịch nêu trên. Đồng thời, tăng cường tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện các biện pháp an toàn sinh học, chủ động phòng, chống dịch bệnh, hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan DTLCP. Đối với các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác, tiếp tục thực hiện giám sát, tiêm phòng và các biện pháp phòng bệnh theo quy định. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, tỉnh tiếp tục chỉ đạo các địa phương, đơn vị tập trung triển khai thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng; tăng cường các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp; đồng thời đẩy mạnh công tác khôi phục và phát triển rừng. Diện tích rừng tập trung (trồng mới) trong tháng ước đạt 1.333,3 ha, tăng 4,0% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2026 ước đạt 4.233 ha, tăng 3,68%. Lũy kế 9 tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới ước đạt 8.459 ha, tăng 3,68% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây xanh ước đạt 10,4 triệu cây, tăng 3,27% so với cùng kỳ năm trước. - Trong tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 44.578 m3, tăng 1,75% so với cùng kỳ năm trước, quý III/2026 ước đạt 129.736 m3, tăng 1,89%; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 363.03 m3, tăng 3,17%. Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 28.053 ster, tăng 1,89%; quý III/2026 ước đạt 83.470 ster, tăng 1,74%; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 263.551 ster, tăng 1,91%. - Tổng số vụ vị phạm lâm luật trong tháng (từ ngày 10/8 đến ngày 10/9/2026) là 35 vụ, trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 26 vụ, diện tích thiệt hại do phá rừng trái pháp luật 5,1 ha. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 15 vụ (trong đó phá rừng tăng 17 vụ; diện tích rừng bị thiệt hại tăng 2 ha). Lũy kế 9 tháng năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/9/2026), tổng số vụ vi phạm là 416 vụ, trong đó: phá rừng 201 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 35,4 ha. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 92 vụ (phá rừng tăng 81 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 12,5 ha). 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Thủy sản nuôi nội địa tập trung vào nuôi cá ở các xã Đức Linh, Nam Thành, Trà Tân, Cư Jút, Đắk Wil, Nam Dong, Phúc Thọ Lâm Hà, Tân Hà Lâm Hà và nuôi tôm thâm canh ở các Xã Tân Thành, Liên Hương; lồng bè/bể, bồn nuôi cá có giá trị cao tập trung ở các xã Phan Rí Cửa, Đồng Kho, đặc khu Phú Quý, xã Nam Đà, Nhân Cơ, phường 3 Bảo Lộc, xã Bảo Thuận, xã Lạc Dương và phường Lang Biang. Trong 9 tháng năm 2026, tỉnh đã chỉ đaọ các địa phương tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra, giám sát môi trường và chú ý phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi thủy sản; tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 401,2 ha, giảm 0,27% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 4.228,2 ha, tăng 1,27% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 3.750,6 ha, giảm 1,44%; diện tích nuôi tôm đạt 418,9 ha, tăng 4,85%). Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 2.483,2 tấn, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 505 tấn, tăng 3,48%); quý III/2026 ước đạt 7.380,9 tấn, giảm 0,05%; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 21.270,9 tấn, tăng 0,28% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 3.745 tấn, tăng 4,16%). - Khai thác thủy sản: Từ đầu năm đến nay, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, số lượng bão và áp thấp nhiệt đới ít, tạo điều kiện cho hoạt động khai thác thủy sản trên biển. Ngư dân chủ động bám biển, duy trì hoạt động khai thác mặc dù giá nhiên liệu có thời điểm tăng; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dồi dào góp phần nâng cao hiệu quả khai thác. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng biển ven bờ và vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đặc khu Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 25.154 tấn, tăng 5,31% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khai thác biển ước đạt 25.042 tấn, tăng 5,07%); quý III/2026 ước đạt 75.858,8 tấn, tăng 5,83% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 196.116,9 tấn, tăng 4,34% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khai thác biển ước đạt 195.392,6 tấn, tăng 4,2%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Hoạt động sản xuất tôm giống trên địa bàn tỉnh tiếp tục được duy trì, gắn với công tác kiểm dịch, kiểm soát chất lượng và phân tích, xét nghiệm mẫu. Trong tháng điều kiện thời tiết tương đối bất lợi do mưa ngâu, cùng với giá tôm thương phẩm ở mức thấp, khiến người nuôi chậm thả giống. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất, kinh doanh tôm giống nhìn chung vẫn khá thuận lợi; sau thời gian thu hoạch và cải tạo, phơi hồ, người nuôi bắt đầu thả giống vụ mới, góp phần thúc đẩy nhu cầu tiêu thụ tôm giống. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,4 tỷ post, tăng 11,67% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 20,6 tỷ post, tăng 13,26% so với cùng kỳ năm trước. III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng, quý III và 9 tháng năm 2026 đạt mức tăng trưởng tích cực đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Giá trị công nghiệp của tỉnh được tiếp thêm động lực từ các dự án mới đi vào hoạt động. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành. Các nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động thu hút đầu tư của các khu công nghiệp đạt được những kết quả khả quan, tạo nền tảng vững chắc cho kinh tế địa phương phát triển. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 23,92% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2026 giảm 2,47% so với quý trước và tăng 17,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 17,51%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 24,67%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 13,92%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,75%. Tính chung 9 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 12,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,1%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,42%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 7,86%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,28%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng, sản lượng sản xuất ước đạt 458.020 m³, tăng 0,56% so với tháng trước và tăng 16,85% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 1.137.513 m³, tăng 16,92% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 3.483.084 m³, tăng 18,57% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng 9 tháng năm 2026 tăng khá cao chủ yếu do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để đáp ứng nhu cầu phục vụ các công trình xây dựng, trong bối cảnh tỉnh đang tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các hạng mục, công trình xây dựng trên địa bàn. - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 2.825 tấn, giảm 3,95% so với tháng trước nhưng tăng 33,15% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 8.210 tấn, tăng 34,31% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 sản lượng ước đạt 20.337 tấn, tăng 24,46% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu do các doanh nghiệp tập trung sản xuất, chủ động nguồn hàng phục vụ nhu cầu trong những tháng tiếp theo, trong điều kiện tỉnh đang có xu hướng ưu tiên phát triển công nghiệp tại khu vực ven biển phía Nam, góp phần tăng cường kết nối liên vùng giữa Tây Nguyên và Duyên hải Nam Trung Bộ. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.831 tấn, giảm 7,71% so với tháng trước nhưng tăng 33,93% so với cùng kỳ. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 11.215 tấn, tăng 31,61% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 32.285 tấn, tăng 19,15% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả tăng trưởng chủ yếu do một số doanh nghiệp đã đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị, đồng thời mở rộng quy mô sản xuất để đáp ứng các đơn đặt hàng mới và nhu cầu xuất khẩu sang một số thị trường. Đặc biệt, sản lượng sầu riêng cấp đông tăng mạnh so với cùng kỳ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ ngày càng cao. - Đồ uống các loại: Sản lượng trong tháng ước đạt 17.956 nghìn lít, tăng 5,58% so với tháng trước và tăng 8,49% so với cùng kỳ. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 61.229 nghìn lít, tăng 14,54% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 185.819 nghìn lít, tăng 16,33% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm đồ uống, đặc biệt là rượu vang, đang có xu hướng gia tăng. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng sản lượng ước đạt 1.141 nghìn đôi, tăng 3,54% so với tháng trước và tăng hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 3.185 nghìn đôi, tăng 97,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 6.963 nghìn đôi, tăng 52,84% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này chủ yếu do các doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ những tháng đầu năm và duy trì được tốc độ sản xuất cao. Bên cạnh đó, Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam mở rộng dây chuyền sản xuất, góp phần nâng công suất và sản lượng của ngành. - Sản phẩm phân bón: Sản lượng sản xuất trong tháng ước đạt 18.678 tấn, tăng 12,14% so với tháng trước và tăng 36,69% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 47.430 tấn, tăng 11,29% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 112.863 tấn, tăng 16,35% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tăng do các doanh nghiệp chủ động nguồn hàng, chuẩn bị cho mùa vụ sản xuất nông nghiệp năm 2026. Trong khi đó, giá nông sản tiếp tục duy trì ở mức cao, thúc đẩy nhu cầu đầu tư phân bón, nhất là đối với các loại cây trồng lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 156,7 nghìn tấn, tăng 10,51% so với tháng trước và tăng 11,15% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 380,19 nghìn tấn, tăng 9,35% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 1.137,3 nghìn tấn, tăng 1,71% so với cùng kỳ năm trước. - Sản phẩm nhôm thỏi: Đây là sản phẩm nhôm thỏi đầu tiên được sản xuất tại Việt Nam. Sự kiện công bố sản phẩm nhôm thỏi đầu tiên vào ngày 26/7/2026 tại Khu công nghiệp Nhân Cơ, tỉnh Lâm Đồng là dấu mốc quan trọng, mở ra hướng phát triển mới cho ngành công nghiệp luyện kim trong nước. Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 14.540 tấn; quý III/2026 ước đạt 20.551 tấn. - Sản phẩm điện sản xuất: Sản lượng điện sản xuất trong tháng ước đạt 2.899 triệu kWh, tăng 0,59% so với tháng trước và tăng 18,52% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng sản xuất ước đạt 9.067 triệu kWh, tăng 16,68% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 27.102 triệu kWh, tăng 8,75% so với cùng kỳ năm trước. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng sản lượng điện thương phẩm ước đạt 674 triệu kWh, tăng 19,91% so với tháng trước và tăng 53,57% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026, sản lượng ước đạt 1.736 triệu kWh, tăng 28,24% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng ước đạt 4.743 triệu kWh, tăng 14,97% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này diễn ra trong bối cảnh các chương trình khuyến khích sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả được đẩy mạnh, ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp ngày càng được nâng cao; đồng thời, nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh và doanh nghiệp đã sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời để tự sản xuất, tự tiêu dùng. Tuy nhiên, sản lượng điện thương phẩm vẫn tăng so với quý trước và cùng kỳ, chủ yếu do Nhà máy điện phân nhôm đi vào hoạt động, làm gia tăng đáng kể nhu cầu tiêu thụ điện thương phẩm. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 2,23% so với tháng trước và tăng 10,98% so cùng kỳ năm trước do Công ty TNHH luyện kim nhôm Trần Hồng Quân đã đi vào hoạt động từ cuối tháng 7/2026, trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,81%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,75%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,86%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,20%. Phân theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 10,28% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 14,76%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,96%. Tính chung 9 tháng năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 7,1%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,29%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,53%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,56%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,56%. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 3,52% so với tháng trước và tăng 25,24% so với cùng kỳ năm trước; 9 tháng năm 2026 chỉ số tiêu thụ tăng 6,16% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng khá cao trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 49,23%; sản xuất đồ uống tăng 16,47%; chế biến gỗ tăng 4,46%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 18,99%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 4,82%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 37,58%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 24,62%; sản xuất kim loại tăng 19,22%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 61,64%. Tuy nhiên có 1 số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: ngành dệt giảm 19,05%; sản xuất trang phục giảm 30,52%... Nhìn chung chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng tăng so với cùng kỳ năm trước cho thấy tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm công nghiệp đang trong thời gian tăng trưởng tích cực, cũng như các sản phẩm doanh nghiệp sản xuất đã đáp ứng tốt nhu cầu, thị hiếu của khách hàng. 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 9,3% so với tháng trước và giảm 37,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ như: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 30,17%; sản xuất chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 39,02%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 27,92%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 72,3%, sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 37,05%, sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 43,94%, sản xuất kim loại giảm 56,11%, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 29,01%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng như sản xuất đồ uống tăng 115,28%, sản xuất từ giấy và sản phẩm từ giấy tăng 9,6%... 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Sản xuất kinh doanh quý III/2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 38,46% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 18,18% đánh giá khó khăn hơn và 43,36% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi. Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước 50% có chiều hướng thuận lợi; 50% có chiều hướng không thay đổi. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 35,29% có chiều hướng thuận lợi; 45,38% có chiều hướng không thay đổi và 19,33% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 56,25% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 25% có chiều hướng không thay đổi và 18,75% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý III/2026, có 51,79% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 25% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 42,86% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 8,93% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 23,21% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 1,79% cho rằng thiếu năng lượng; 32,14% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 21,43% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 21,43% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 16,07% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 7,14% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 21,43% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 7,14% lý do khác. 1.7. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp Trong quý III/2026, doanh thu của các doanh nghiệp ngành công nghiệp tỉnh Lâm Đồng tăng 3,78% so với quý trước và tăng 25,01% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể tình hình các nhóm ngành như sau: Ngành B (Khai khoáng): Doanh thu tăng 8,09% so với quý trước và 20,09% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 17,87% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu ngành khai khoáng có sự tăng trưởng cao so với cùng kỳ là nhờ các đơn vị khai thác tối ưu hóa công suất vận hành, đáp ứng kịp thời nhu cầu nguyên vật liệu từ các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm trên địa bàn. Ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo): Doanh thu tăng 31,79% so với quý trước và 39,13% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng tăng 20,6% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trên nhờ sự tăng trưởng của nhóm chế biến nông sản, thực phẩm và nhu cầu tiêu thụ vật liệu xây dựng phục vụ các dự án giao thông trọng điểm. Các chính sách hỗ trợ kịp thời đã giúp doanh nghiệp khơi thông nguồn vốn và ổn định chuỗi cung ứng, khẳng định vai trò then chốt trong việc tạo ra giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp tỉnh. Ngành D (Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí): Doanh thu giảm 10,15% so với quý trước và tăng 16,71% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 8,27% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng nhằm đáp ứng nhu cầu điện năng phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Ngành tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng và hỗ trợ trực tiếp cho các ngành sản xuất khác trên địa bàn. Ngành E (Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải): Doanh thu tăng 7,36% so với quý trước và 14,14% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 9 tháng năm 2026 tăng 9,91% so với cùng kỳ năm trước. Sự gia tăng này đảm bảo cung ứng nước sạch phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất ngày càng mở rộng. Các đơn vị ngành nước và môi trường đã chủ động bảo trì hạ tầng, tối ưu hóa công nghệ xử lý nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và kiểm soát tốt các chỉ tiêu vệ sinh môi trường. 1.8. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong 9 tháng năm 2026, đã thu hút được 18 dự án đầu tư (trong đó có 04 dự án nước ngoài và 14 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 814,33 tỷ và 24,84 triệu USD, diện tích đất thuê lại 34,14 ha[1].  Lũy kế đến nay, các KCN trên địa bàn tỉnh có 249 dự án còn hiệu lực, gồm 57 dự án FDI và 192 dự án trong nước; tổng vốn đăng ký đạt hơn 45.932 tỷ đồng và 544,962 triệu USD, diện tích đất đăng ký 785,50 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 57,21%. Hiện nay trong các KCN có 176 doanh nghiệp đi vào hoạt động. Doanh thu hoạt động sản xuất - kinh doanh ước thực hiện 9 tháng năm 2026 đạt 23.662,24 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 498,89 triệu USD; nộp ngân sách đạt 1.425,10 tỷ đồng. - KCN Lộc Sơn thu hút được 58 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 48 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,8ha/132,60 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%. - KCN Phú Hội thu hút được 34 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 23 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn 6 nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,7 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,90 ha/276,90 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,40 ha/202,30 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,10 ha/210,80 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,40 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Trong quý III/2026, hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục được thúc đẩy trong bối cảnh các chính sách hỗ trợ đầu tư được triển khai, tiến độ giải ngân vốn được đẩy nhanh và các khó khăn, vướng mắc của dự án từng bước được tháo gỡ. Tỉnh tập trung triển khai các công trình, dự án hạ tầng trọng điểm, năng lượng, công nghiệp và hạ tầng thương mại; trong đó, đã tháo gỡ khó khăn cho 179/365 dự án, tạo điều kiện để các dự án tiếp tục hoàn thiện thủ tục và tổ chức thi công trong thời gian tới. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ngành xây dựng chia theo loại hình quý III/2026 ước đạt 19.458,1 tỷ đồng, tăng 18,24% so cùng kỳ năm trước, với mức tăng cao là do trong quý có các dự án nhà máy xỉ titan Sông Bình, nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông, các dự án Trường nội trú liên cấp, nâng cấp sân bay và các tuyến đường cao tốc, giao thông trong tỉnh. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 71,1 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,37%), tăng 51,36% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 10.689 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 54,93%), tăng 1,58% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu tăng ở các công trình giao thông trên địa bàn tỉnh; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 164,4 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,84%), giảm 21,31% so với cùng kỳ năm trước; loại hình kinh tế khác ước đạt 8.533,6 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 43,86%), tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước. Ước 9 tháng năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 48.640,6 tỷ đồng, tăng 16,75% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 193 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,4%), tăng 72,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 26.818 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 55,14%), tăng 18,92% so với cùng kỳ năm trước; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 516,9 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 1,06%), tăng 1,44% so với cùng kỳ năm trước; loại hình kinh tế khác ước đạt 21.112,7 tỷ đồng, chủ yếu khu vực hộ dân cư (chiếm tỷ trọng 43,4%), tăng 14,19% so với cùng kỳ năm trước. Chia theo loại công trình, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý III/2026 công trình nhà ở đạt 7.333,5 tỷ đồng, tăng 8,27% so với cùng kỳ năm trước; công trình nhà không để ở đạt 4.031,6 tỷ đồng, tăng 17,27% so với cùng kỳ năm trước; công trình kỹ thuật dân dụng 5.486,2 tỷ đồng, tăng 21,41% so với cùng kỳ năm trước chủ yếu các dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc, Cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương, Cao tốc Nha Trang - Đà Lạt; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.606,8 tỷ đồng, tăng 50,93% so với cùng kỳ năm trước do trong quý có dự án đường dây điện của tập đoàn EVN thi công qua địa bàn tỉnh, giải phóng chuẩn bị mặt bằng các tuyến cao tốc, Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam. Ước 9 tháng năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành loại công trình nhà ở đạt 19.004,1 tỷ đồng, tăng 10,55% so cùng kỳ năm trước; công trình nhà không để ở đạt 9.776,8 tỷ đồng chủ yếu sửa chữa, nâng cấp Cảng hàng không quốc tế Liên Khương, tăng 11,42% so với cùng kỳ năm trước; công trình kỹ thuật dân dụng 13.038,8 tỷ đồng, tăng 18,11%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 6.821 tỷ đồng, tăng 46,42% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả khảo sát cho thấy hoạt động SXKD của doanh nghiệp xây dựng quý III/2026 còn khó khăn, với 21,4% doanh nghiệp đánh giá thuận lợi hơn, 46,2% ổn định và 32,4% khó khăn hơn quý trước; chỉ số cân bằng đạt -11%. Sang quý IV/2026, triển vọng có cải thiện nhẹ, chỉ số cân bằng dự báo -10,4%, trong đó 21,4% doanh nghiệp kỳ vọng hoạt động thuận lợi hơn. Chi phí đầu vào tiếp tục gây áp lực, với 41,6% doanh nghiệp ghi nhận chi phí sản xuất tăng, riêng chi phí nguyên vật liệu tăng ở 46,2% doanh nghiệp. Khả năng tiếp cận vốn còn khó khăn khi 30,6% doanh nghiệp đánh giá vay vốn khó hơn. Tuy nhiên, 27,7% doanh nghiệp dự báo số hợp đồng xây dựng mới tăng trong quý IV/2026. Doanh nghiệp chủ yếu kiến nghị 50,3% hỗ trợ nguyên vật liệu; 35,8% công khai, minh bạch đấu thầu và 33,5% cắt giảm thủ tục hành chính. 3. Đầu tư phát triển Thu hút nguồn lực vào các trụ cột chiến lược như du lịch chất lượng cao, nông nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế biến, khai khoáng và năng lượng tái tạo được sự chỉ đạo quyết liệt từ UBND tỉnh. Nhờ quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn và cải cách thủ tục hành chính, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 9 tháng năm 2026 ước đạt 84.104,76 tỷ đồng, tăng 12,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng năm 2026, công tác triển khai hạ tầng trọng điểm và phân bổ vốn khởi công mới trên địa bàn tỉnh ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, tiến độ chung vẫn bị chững lại do các điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, trùng lấn quy hoạch bô-xít và năng lực hạn chế của một số chủ đầu tư, nhà thầu. Trước tình hình đó, tỉnh đã quyết liệt triển khai các giải pháp tháo gỡ ngay từ đầu năm nhằm khơi thông nguồn lực và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công. 3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước trong tháng đạt 1.824,1 tỷ đồng, tăng 26,13% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.648,9 tỷ đồng, chiếm 90,39% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 29,03% so với cùng kỳ năm trước (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 640 tỷ đồng, tăng 28,26% so với cùng kỳ năm trước; vốn trung ương ước đạt 391,7 tỷ đồng, tăng 24,97%; vốn nước ngoài 25,9 tỷ đồng, giảm 4,32%; vốn xổ số kiến thiết 579,5 tỷ đồng, tăng 33,41%; vốn khác 11,9 tỷ đồng, tăng 2,86 lần); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 175,2 tỷ đồng, chiếm 9,61% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 4,16% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 9.624,4 tỷ đồng, đạt 47,85% so với kế hoạch năm, tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 8.611,2 tỷ đồng, tăng 17,61% so với cùng kỳ năm trước (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 3.770,3 tỷ đồng, tăng 32,15% so với cùng kỳ năm trước; vốn trung ương ước đạt 1.459,2 tỷ đồng, giảm 22,83%; vốn nước ngoài 133,1 tỷ đồng, giảm 17,88%; vốn xổ số kiến thiết 3.193,3 tỷ đồng, tăng 33,63%; vốn khác 55,3 tỷ đồng, tăng gấp 2,1 lần); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 1.013,2 tỷ đồng, tăng 24,54% so với cùng kỳ năm trước. 3.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn Trong Quý III/2026, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ước đạt 34.192,3 tỷ đồng, tăng 23,35% so với quý trước và tăng 14,66% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động đầu tư có mức tăng trưởng cao sau giai đoạn hoàn thiện thủ tục đầu năm. Tốc độ tăng trưởng tích cực trong Quý III/2026 chủ yếu nhờ thời tiết mùa khô thuận lợi cho thi công xây dựng, cùng với sự quyết liệt của tỉnh trong đôn đốc, tháo gỡ khó khăn về mặt bằng. Động lực phát triển tập trung lớn ở các dự án hạ tầng giao thông, đô thị trọng điểm và hạ tầng các khu công nghiệp trên địa bàn. Trong đó, vốn nhà nước ước đạt 8.285,4 tỷ đồng, tăng 18,09% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 24,23% trong tổng nguồn vốn; vốn Trung ương quản lý đạt 2.307,2 tỷ đồng, giảm 0,03%, vốn địa phương quản lý đạt 5.978,3 tỷ đồng. Vốn ngoài nhà nước ước đạt 24.810,4 tỷ đồng, tăng 13,8% và chiếm 72,56% tổng vốn (vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 13.904,4 tỷ đồng, tăng 14,76%, vốn đầu tư của dân cư đạt 10.906 tỷ đồng, tăng 12,59%). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ước đạt 1.096,5 tỷ đồng, tăng 9,44% so với cùng kỳ và chiếm 3,21% tổng vốn đầu tư. Lũy kế 9 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ước đạt 84.104,8 tỷ đồng, tăng 12,09% so với cùng kỳ năm trước. Vốn nhà nước ước đạt 16.986,6 tỷ đồng, tăng 7,75%, chiếm 20,2% tổng nguồn vốn toàn xã hội (vốn Trung ương quản lý đạt 5.462,7 tỷ đồng, giảm 2,61%, vốn địa phương quản lý đạt 11.523,9 tỷ đồng, tăng 13,48%). Vốn ngoài nhà nước tiếp tục giữ vai trò là động lực tăng trưởng chính, có quy mô lớn nhất trong cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội, ước đạt 64.276,1 tỷ đồng, tăng 13,58% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 76,42% tổng nguồn vốn (vốn của tổ chức, doanh nghiệp đạt 33.863,3 tỷ đồng, tăng 9,18%, vốn của dân cư đạt 30.412,9 tỷ đồng, tăng 18,92%). Nguồn vốn ngoài nhà nước có sự phát triển mạnh, thúc đẩy dịch chuyển cơ cấu kinh tế sâu vào các ngành công nghiệp chế biến, năng lượng tái tạo, nông nghiệp công nghệ cao và du lịch. Dòng vốn thực hiện toàn xã hội được duy trì ở mức cao nhờ tiến độ của các dự án: Thung lũng Đại dương, Điện phân nhôm Đắk Nông, Nam sông Đa Nhim, các KCN, cùng nhóm nhà máy chế biến Mebi Farm, Hli Ecohub Nam Hà và Zircon Sông Bình. Song song đó, nguồn vốn trong nhân dân tăng trưởng ổn định, tập trung tái đầu tư vào nông nghiệp giá trị cao và dịch vụ du lịch quy mô nhỏ. Đối với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), 9 tháng năm 2026 ước đạt 2.842 tỷ đồng, tăng 6,15% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 3,38% tổng nguồn vốn. Mặc dù chiếm tỷ trọng không cao trong cơ cấu vốn toàn xã hội, dòng vốn FDI trên địa bàn tỉnh vẫn duy trì bảo đảm chất lượng và đúng định hướng dòng vốn xanh, có sự chọn lọc chiến lược, tập trung vào nông nghiệp công nghệ sinh học, chế biến sâu nông sản, logistics và du lịch sinh thái. Tiến độ thực hiện các dự án chuyển biến tích cực nhờ địa phương chủ động tháo gỡ thủ tục hành chính. Trong tháng (từ ngày 15/8-15/9/2026), toàn tỉnh có 222 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 37,29% so với cùng kỳ năm trước; 53 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 3,64%; 70 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 7,89%; 265 doanh nghiệp giải thể, tăng 1,85 lần (tương ứng tăng 172 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm trước). Số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh chủ yếu do từ đầu tháng 7/2026, Cơ quan Đăng ký kinh doanh phối hợp với Cơ quan Thuế triển khai “Chiến dịch làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”, trong đó hướng dẫn, đôn đốc các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm nhưng chưa thực hiện thủ tục giải thể theo quy định hoàn tất hồ sơ giải thể. Do đó, số doanh nghiệp giải thể trong kỳ tăng cao, một phần phản ánh quá trình xử lý, chuẩn hóa dữ liệu doanh nghiệp và không hoàn toàn phản ánh tình trạng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường trong kỳ. Tính chung 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 3.231 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 8,28%; 719 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 4,96%; 1.474 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 1,86%; 1.446 doanh nghiệp giải thể, tăng 1,65 lần (tương ứng tăng 900 doanh nghiệp so với cùng kỳ năm trước). Tổng vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 16.939,5 tỷ đồng, tăng 10,2%. Nhìn chung, số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động tiếp tục tăng, cho thấy hoạt động gia nhập và tái gia nhập thị trường vẫn được duy trì. Về thu hút đầu tư (tính từ đầu năm đến ngày 17/9/2026) toàn tỉnh có 45 dự án đầu tư được cấp mới, với tổng vốn đăng ký 174.576,72 tỷ đồng; 48 dự án được điều chỉnh chủ trương đầu tư hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 17/9/2026, toàn tỉnh có 2.964 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đầu tư 947.016 tỷ đồng, trong đó có 246 dự án FDI còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký 224.968 tỷ đồng. Kết quả trên cho thấy hoạt động thu hút đầu tư tiếp tục được quan tâm, tạo thêm nguồn lực cho phát triển sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của tỉnh. * Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm Trong 9 tháng năm 2026, tiến độ thực hiện các công trình hạ tầng trọng điểm, dự án đô thị, thương mại và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục được tập trung tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc, nhất là về thủ tục đầu tư và giải phóng mặt bằng. Hoạt động xây dựng, lắp đặt diễn ra khá sôi động; khối lượng thực hiện tại nhiều dự án chuyển tiếp cơ bản bám sát tiến độ và kế hoạch đề ra. Bên cạnh những kết quả tích cực, một số dự án vẫn còn chậm tiến độ do vướng mắc kéo dài trong công tác giải phóng mặt bằng và xu hướng tăng giá nguyên, nhiên vật liệu xây dựng đầu vào. Các chủ đầu tư đang tập trung đẩy nhanh thi công, chủ động tối ưu hóa quy trình và tranh thủ điều kiện thời tiết thuận lợi để tăng khối lượng thực hiện. Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành: Dự án có tổng chiều dài 124,13 km, đi qua hai tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, được chia thành 5 dự án thành phần, quy mô 4 làn xe, tốc độ thiết kế 100 - 120 km/h. Trên địa bàn tỉnh Đắk Nông (cũ) triển khai 2 hợp phần, gồm: Dự án thành phần 2 - Đầu tư xây dựng đường gom và cầu vượt, sơ bộ mức đầu tư khoảng 338 tỷ đồng từ ngân sách địa phương; Dự án thành phần 4 - Bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, tổng mức đầu tư khoảng 662 tỷ đồng. Tính đến ngày 19/7/2026, dự án đã có 772,6 ha/916,27 ha mặt bằng sạch, đạt 84,3%. Dự án xây dựng tuyến đường bộ cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc: Dự án có tổng chiều dài khoảng 66 km, trong đó đoạn qua Lâm Đồng dài 55 km, tổng mức đầu tư hơn 18.000 tỷ đồng, thực hiện theo hình thức PPP. Kế hoạch vốn năm 2026 được phân bổ 1.320 tỷ đồng để triển khai tuyến cao tốc chính và 02 tiểu dự án tái định cư, bồi thường tại xã Lộc Thắng và xã Đạ Oai. Đến ngày 08/8/2026, đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ đối với 909 hộ, tổng kinh phí hơn 1.095 tỷ đồng, diện tích 240,97 ha, đạt 95,7% số hộ cần phê duyệt và gần 60% diện tích cần thu hồi. Dự án đầu tư xây dựng đường bộ cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương theo phương thức đối tác công tư (giai đoạn 1): Dự án có chiều dài 73,6 km, tổng mức đầu tư 17.718 tỷ đồng theo hình thức PPP. Năm 2026, dự án được phân bổ 3.110 tỷ đồng cho tuyến chính và 02 khu tái định cư tại xã Gung Ré, Hòa Ninh. Đến ngày 08/8/2026, toàn dự án đã phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho 2.451 hộ, với tổng kinh phí hơn 3.164,978 tỷ đồng, diện tích 545,361 ha, đạt 97% số hộ và 87,8% diện tích cần phê duyệt. Dự án cải thiện môi trường đô thị các thành phố loại 2 - Hợp phần tỉnh Đắk Nông cũ: Dự án có tổng mức đầu tư 1.499 tỷ đồng, kế hoạch vốn năm 2026 được phân bổ 62,5 tỷ đồng, tập trung triển khai 02 hợp phần gồm cải thiện hạ tầng đô thị thích ứng biến đổi khí hậu và hỗ trợ tăng cường năng lực thể chế. Các gói thầu xây lắp mạng lưới đường ống thu gom nước thải sinh hoạt và cải tạo hệ thống thoát nước trục chính đã được triển khai đồng loạt. Khối lượng hoàn thành lũy kế của các hợp phần chính ước đạt trên 75% giá trị hợp đồng. Dự án Cảng hàng không Phan Thiết (hạng mục hàng không dân dụng) và Khu đô thị sân bay Phan Thiết: Hạng mục hàng không dân dụng có công suất thiết kế 2 triệu hành khách/năm, tổng mức đầu tư khoảng 3.800 tỷ đồng. Đến nay, đơn vị đã hoàn thiện và nộp hồ sơ thẩm duyệt phòng cháy, chữa cháy; đồng thời tập trung nhân lực, máy móc triển khai thi công theo kế hoạch. Các hạng mục đang thực hiện gồm phát quang, san nền khu vực nhà ga, đài kiểm soát và các công trình phụ trợ; phát quang, bóc hữu cơ và đắp nền khu vực đường lăn, sân đỗ máy bay. Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh: Đoạn tuyến qua địa bàn tỉnh dài 156,5 km, quy mô đường đôi, khổ đường 1.435 mm, tốc độ thiết kế 350 km/h, sử dụng vốn ngân sách nhà nước chủ đạo. Quy hoạch gồm 02 nhà ga (Phan Rí và Phan Thiết), 04 trạm bảo dưỡng, diện tích giải phóng mặt bằng khoảng 1.046,4 ha. Hiện nay, 7 khu tái định cư phục vụ dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam qua địa bàn Lâm Đồng, chủ yếu ở khu vực phía Đông Nam tỉnh thuộc các xã, phường gồm Bình Thuận, Hàm Kiệm, Tân Lập, Hàm Liêm, Hồng Sơn, Lương Sơn và Bắc Bình, đã giao 100% mặt bằng. Dự án đường trục ven biển ĐT.719B đoạn Phan Thiết - Kê Gà: Công tác giải phóng mặt bằng đến nay đạt khoảng 84,8%; khối lượng thi công đạt khoảng 70% giá trị hợp đồng. Trong đó, đoạn từ Quốc lộ 1 đến cầu Suối Nhum dài khoảng 17,8 km đã hoàn thành và đưa vào khai thác. Hiện còn khoảng 3,88 km qua khu vực khai thác titan của Công ty TNHH Thương mại Tân Quang Cường và một hộ dân tại nút giao ĐT.719B - ĐT.719 chưa bàn giao mặt bằng. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công mới đạt 1.906/28.436 triệu đồng, tương đương 6,7% kế hoạch năm. Dự án đầu tư nâng cấp 04 tuyến Quốc lộ 28B: Dự án có tổng mức đầu tư 1.435 tỷ đồng, tổng chiều dài 68 km, trong đó đoạn qua Bình Thuận cũ dài 51 km và Lâm Đồng cũ dài 17 km. Các đơn vị thi công đã cơ bản hoàn thành phần nền đường và hệ thống thoát nước tại các đoạn bằng phẳng; chỉ còn một số vị trí cục bộ liên quan đến di dời hạ tầng kỹ thuật như đường dây điện, viễn thông. Hiện đang khảo sát 11 vị trí dự kiến đầu tư xây dựng trạm dừng, nghỉ trên Quốc lộ 28B. Dự án hồ chứa nước KaZam: Dự án có tổng mức đầu tư 495,5 tỷ đồng. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ tái định cư vùng lòng hồ và đầu mối đã hoàn thành 91% diện tích. Khối lượng thi công xây lắp trên thực địa đạt khoảng 38% tổng giá trị hợp đồng. Trong đó, hạng mục đập đất đầu mối đã hoàn thành đắp đê quai phân lũ; công tác đào móng và xử lý chống thấm nền đập đạt 75% khối lượng. Riêng hợp phần cống lấy nước dưới đập và tràn xả lũ đang được tập trung đổ bê tông thân công trình nhằm bảo đảm tiến độ và an toàn trước mùa lũ. Dự án hồ chứa nước Ka Pét: Dự án có tổng mức đầu tư 874,09 tỷ đồng. Tính đến tháng 9/2026, công tác kiểm đếm phục vụ bồi thường, hỗ trợ tái định cư đã đạt 72% khối lượng công việc. Dự án hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây, Đạ Sị: Đối với hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây, hồ chứa có dung tích hơn 13 triệu m³, khi hoàn thành sẽ bảo đảm nước tưới ổn định cho hơn 1.400 ha đất nông nghiệp. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng dọc hành lang tuyến đã hoàn thành 100%; khối lượng xây lắp ước đạt 62% giá trị xây dựng. Đối với hệ thống kênh mương hồ Đạ Sị, hệ thống phục vụ hồ chứa có dung tích thiết kế 23,5 triệu m³. Công tác giải phóng mặt bằng dọc hành lang các tuyến kênh đã thực hiện bồi thường, bàn giao 7,4 km, đạt 79,5% mặt bằng sạch; sản lượng thi công thực tế ước đạt 51% giá trị dự án. Dự án hồ Đắk Gang: Dự án có tổng vốn đầu tư 1.082 tỷ đồng, dung tích thiết kế khoảng 15 triệu m³, phục vụ cấp nước tưới cho 2.000 - 2.500 ha cây trồng. Tính đến tháng 9/2026, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng vùng lòng hồ và cụm đầu mối đã bàn giao 142 ha/168 ha, đạt 84,5%. Khối lượng xây lắp hoàn thành lũy kế ước đạt 28% giá trị hợp đồng. Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông: Dự án có tổng mức đầu tư hơn 28.000 tỷ đồng, công suất thiết kế 450.000 tấn nhôm nguyên chất/năm, chia thành 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn 150.000 tấn/năm, sử dụng trực tiếp nguồn alumin từ Nhà máy Alumin Nhân Cơ. Dự án Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2: Đối với Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, dự án có quy mô 1.070 ha, tập trung thu hút các dự án thứ cấp thuộc các ngành năng lượng, vật liệu xây dựng, điện tử, chế tạo máy. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng đạt trên 85% diện tích; khối lượng thi công xây lắp ngoài hiện trường đối với các trục giao thông chính và hạ tầng kỹ thuật đạt khoảng 25% khối lượng phân kỳ 1. Đối với Khu công nghiệp Sơn Mỹ 2, dự án có quy mô 1.225 ha, phát triển theo mô hình khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ hiện đại. Tính đến tháng 9/2026, công tác chuẩn bị đầu tư cơ bản hoàn thiện; hoạt động tại hiện trường chủ yếu tập trung vào chuẩn bị mặt bằng kỹ thuật, khảo sát địa chất chi tiết cho các phân khu chức năng và xây dựng hàng rào ranh giới bảo vệ diện tích đất công đã được bàn giao đợt đầu. Dự án Khu đô thị mới Nam sông Đa Nhim: Dự án có quy mô sử dụng đất 153,65 ha, tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 11.800 tỷ đồng, vị trí gần Cảng hàng không Liên Khương và trục kết nối cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương. Trong 9 tháng năm 2026, dự án đang tập trung thực hiện công tác giải phóng mặt bằng, chưa phát sinh khối lượng xây lắp thực địa. Tiến độ dự án chịu ảnh hưởng bởi quy trình xác định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường còn nhiều phức tạp, đồng thời nhà đầu tư thận trọng trong cân đối dòng vốn thực hiện theo các quy định mới về đất đai. Dự án Khu công nghiệp Tân Đức: Dự án có tổng vốn đầu tư 1.200 tỷ đồng, thực hiện trên tổng diện tích quy hoạch 300 ha. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng đã cơ bản hoàn thành, đạt trên 97%. Nhìn chung, trong 9 tháng năm 2026, hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh có chuyển biến tích cực, đặc biệt tại các dự án giao thông, thủy lợi, đô thị và khu công nghiệp quy mô lớn. Nhiều dự án đã đạt tỷ lệ giải phóng mặt bằng và khối lượng xây lắp khá cao, tạo điều kiện chuyển mạnh từ giai đoạn hoàn thiện thủ tục sang thi công thực địa. Tuy nhiên, tiến độ giữa các dự án chưa đồng đều; một số công trình vẫn chịu tác động bởi công tác giải phóng mặt bằng, xác định giá đất, di dời hạ tầng kỹ thuật và biến động giá nguyên, nhiên vật liệu. Đây tiếp tục là những yếu tố cần được tập trung tháo gỡ để bảo đảm tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư trong những tháng cuối năm 2026. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Tình hình thương mại của tỉnh trong 9 tháng năm 2026 hoạt động tương đối ổn định. Sức mua của người dân tăng so với cùng kỳ năm trước; hàng hóa dồi dào luôn đáp ứng nhu cầu người dân, giá bán trên thị trường tương đối ổn định, không xảy ra biến động khan hiếm thị trường làm tăng giá đột biến. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và nhiều lễ hội khác đã thu hút nhiều du khách. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định và tiếp tục tăng cường phục vụ cho người dân và du khách. Các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.921,7 tỷ đồng, tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 25,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.698,9 tỷ đồng, tăng 1,46% so với tháng trước và tăng 21,62% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.842 tỷ đồng, tăng 0,74% so với tháng trước và tăng 36,48% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.380,8 tỷ đồng, tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 24,37% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 53.095,2 tỷ đồng, tăng 6,26% so với quý trước và tăng 23,06% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong đó: ước tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 31.657,2 tỷ đồng, tăng 3,52% so với quý trước và tăng 21,31% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 11.438,8 tỷ đồng, tăng 12,16% so với quý trước và tăng 29,16% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 9.999,2 tỷ đồng, tăng 8,83% so với quý trước và tăng 22,04% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 150.375 tỷ đồng, tăng 19,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 91.667,4 tỷ đồng, tăng 17,48% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 31.025,5 tỷ đồng, tăng 24,76% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 27.682,1 tỷ đồng, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Công tác quản lý thị trường tiếp tục được tăng cường, tập trung kiểm tra, kiểm soát buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, kinh doanh xăng dầu và các mặt hàng thiết yếu. Trong tháng, lực lượng chức năng đã kiểm tra 64 vụ, phát hiện và xử lý 50 vụ, xử phạt hành chính 259,11 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/9/2026, đã kiểm tra 1.077 vụ, phát hiện và xử lý 984 vụ, chiếm 91,4% số vụ kiểm tra, với tổng số tiền xử phạt 7,89 tỷ đồng, bình quân khoảng 8 triệu đồng/vụ xử lý. Kết quả cho thấy công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm được thực hiện thường xuyên, góp phần tăng cường kỷ cương và ổn định thị trường. 2. Giá cả 2.1. Giá tiêu dùng (CPI) Thị trường hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh trong tháng 9/2026 cơ bản ổn định, nguồn cung các mặt hàng thiết yếu được bảo đảm. Tuy nhiên, việc giá xăng dầu tăng khá mạnh, cùng với nhu cầu tiêu dùng, đi lại và dịch vụ tăng trong dịp nghỉ Lễ Quốc khánh 02/9 và thời điểm bắt đầu năm học mới đã tạo áp lực tăng giá đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ. - Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2026 tăng 0,41% so với tháng trước, tăng 1,75% so với tháng 12/2025 và tăng 3,79% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý III/2026, CPI tăng 3,96%; bình quân 9 tháng năm 2026 tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này cho thấy mặt bằng giá tiếp tục chịu áp lực tăng, song mức tăng trong tháng chủ yếu tập trung ở một số nhóm có biến động lớn, đặc biệt là giao thông. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 08 nhóm tăng giá và 03 nhóm giảm giá. Tác động tăng CPI rõ nhất đến từ nhóm giao thông tăng 3,80%, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 8,49%. Các nhóm còn lại tăng ở mức thấp hơn, gồm: thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,33%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,18%; giáo dục tăng 0,15%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; thông tin và truyền thông tăng 0,01%. Ở chiều ngược lại, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,16%, qua đó góp phần kiềm chế mức tăng CPI chung; may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,06%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%. Nguyên nhân chủ yếu làm CPI tăng trong tháng là giá xăng dầu được điều chỉnh qua các kỳ điều hành ngày 03, 10, 17 và 24/9/2026. Bình quân tháng, chỉ số giá nhiên liệu tăng 8,49%, trong đó giá xăng tăng 9,24% và dầu diesel tăng 4,52% so với tháng trước. Bên cạnh đó, bước vào năm học 2026-2027, một số cơ sở giáo dục ngoài công lập điều chỉnh học phí, làm giá dịch vụ giáo dục tăng 0,18%. Yếu tố góp phần làm giảm áp lực tăng giá chủ yếu đến từ nhóm lương thực và rau xanh. Giá lương thực giảm 0,19% do lúa hè thu bước vào kỳ thu hoạch, nguồn cung tăng, kéo giá một số loại gạo giảm. Giá rau tươi, khô và chế biến giảm 1,79% do nhiều loại rau vào vụ thu hoạch, nguồn cung tại địa phương dồi dào; trong đó giá bắp cải giảm 5,37%, cà chua giảm 5,47% và rau muống giảm 1,49%. - Bình quân quý III/2026, CPI tăng 3,96% so với cùng kỳ năm 2025. Áp lực tăng giá tập trung ở một số nhóm có quyền số và mức tăng tương đối lớn. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,77%, làm CPI chung tăng khoảng 1,07 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thực phẩm và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng. Nhóm giao thông tăng 8,01%, làm CPI tăng khoảng 0,91 điểm phần trăm, chủ yếu do biến động giá nhiên liệu và chi phí vận tải. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,88%, tác động làm CPI tăng khoảng 0,87 điểm phần trăm do giá điện, nước, chất đốt, vật liệu xây dựng và chi phí sửa chữa, bảo dưỡng nhà ở tăng. Bên cạnh đó, giá các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác; văn hóa, giải trí và du lịch; giáo dục; thiết bị và đồ dùng gia đình; đồ uống và thuốc lá; may mặc, mũ nón và giày dép đều tăng so với cùng kỳ. Ở chiều ngược lại, giá lương thực giảm 0,93%, góp phần hạn chế mức tăng CPI trong quý, chủ yếu do nguồn cung gạo và một số mặt hàng lương thực được bảo đảm trong thời kỳ thu hoạch. - Tính chung 9 tháng năm 2026, CPI tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu hình thành từ bốn nhóm hàng hóa, dịch vụ có tác động lớn là thực phẩm; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng; giao thông; giáo dục. Trong đó, giá thực phẩm tăng 4,04%, làm CPI chung tăng khoảng 1,01 điểm phần trăm; đáng chú ý, giá thịt lợn tăng 4,14% và thịt gia cầm tăng 2,59%, do chi phí chăn nuôi còn ở mức cao, nguồn cung một số thời điểm hạn chế trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng vào các dịp Lễ, Tết. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,65%, làm CPI chung tăng khoảng 1,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá vật liệu xây dựng, giá thuê nhà và chất đốt tăng; riêng giá gas tăng 20,80% do chịu tác động của giá gas thế giới. Nhóm giao thông tăng 6,25%, làm CPI chung tăng khoảng 0,71 điểm phần trăm; trong đó giá nhiên liệu tăng 11,5% và dịch vụ giao thông công cộng tăng 26,9%, phản ánh tác động trực tiếp và lan tỏa của chi phí nhiên liệu đến hoạt động vận tải. Nhóm giáo dục tăng 6,23%, làm CPI chung tăng khoảng 0,30 điểm phần trăm, chủ yếu do một số cơ sở giáo dục ngoài công lập điều chỉnh học phí theo năm học. Dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,78%, làm CPI tăng khoảng 0,40 điểm phần trăm, do chi phí nguyên liệu thực phẩm, gas, mặt bằng và nhân công tăng. Ngoài ra, giá lương thực tăng 1,31%, làm CPI chung tăng khoảng 0,07 điểm phần trăm; các nhóm đồ uống và thuốc lá, may mặc, mũ nón và giày dép, thiết bị và đồ dùng gia đình lần lượt tăng 3,29%, 1,99% và 3,58%. Riêng nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,17%, góp phần làm CPI chung giảm khoảng 0,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá một số dòng điện thoại thế hệ cũ tiếp tục giảm. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất  Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2026 giảm 1,03% so với quý trước; tăng 8,76% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 8,78%; sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 4,93% và sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,24%. Tính bình quân chỉ số giá 9 tháng năm 2026 tăng 8,04% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: trong đó tăng cao nhất là nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,91%; tiếp đến là nhóm sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 6%; nhóm sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng thấp 3,41%.  Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào dùng cho sản xuất quý III/2026 giảm 4,68% so với quý trước; tăng 6,48% so với cùng kỳ năm trước; trong 7 nhóm sản phẩm chính có 6 nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: nhóm sản phẩm từ khai khoáng tăng 14,29%; nguyên vật liệu khác tăng 8,77%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,13%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,61%; sản phẩm xây dựng tăng 5,47%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 3,94%; riêng nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản giảm 2,44%. Tính bình quân chỉ số giá 9 tháng năm 2026 tăng 8,28% so cùng kỳ năm trước; trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 2%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 17,14%; nguyên vật liệu khác tăng 9,22%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,72%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,61%; sản phẩm xây dựng tăng 5,41%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,08%. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý III/2026 giảm 2,95% so với quý trước; tăng 1,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 21,74%; nhóm sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,18%; nhóm sản phẩm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 3,25% so với cùng kỳ năm trước. Tính bình quân 9 tháng năm 2026, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 3,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 20,30%, chủ yếu do giá quặng kim loại và tinh quặng kim loại tăng 22,09% và nhóm sản phẩm khai khoáng khác tăng 19,45%; nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,69%, trong đó một số nhóm tăng khá như chế biến thực phẩm tăng 8,38%, đồ uống tăng 9,66%, hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 9,46%, sản phẩm từ cao su và plastic tăng 31,67%; nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,25%. Nhìn chung, giá sản xuất công nghiệp 9 tháng tăng chủ yếu do biến động giá nguyên, nhiên vật liệu, nhiên liệu, chi phí vận chuyển, nhân công và tỷ giá; tuy nhiên, trong quý III/2026 áp lực tăng giá có xu hướng giảm khi nguồn cung nguyên liệu ổn định hơn, giá nhiên liệu hạ nhiệt và một số doanh nghiệp thực hiện giảm giá để kích cầu. 3. Hoạt động du lịch Trong 9 tháng năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra khá sôi động, gắn với nhiều sự kiện văn hóa, thể thao, lễ hội, vui chơi, giải trí và các chương trình xúc tiến, quảng bá, kích cầu du lịch. Nổi bật trong tháng là Lễ hội Trung thu năm 2026 được tổ chức tại 03 khu vực với chủ đề “Sắc màu Lâm Đồng - Chung một vầng trăng” và Lễ khai mạc Đại hội Thể dục thể thao tỉnh ngày 12/9/2026 với chủ đề “Lâm Đồng Hội tụ - Bứt phá - Vươn tầm”, thu hút hơn 2.000 người tham gia. Bên cạnh đó, trong các dịp lễ, tết và cuối tuần, các địa phương, doanh nghiệp du lịch đẩy mạnh các chương trình tour, khuyến mại, kích cầu, xúc tiến và quảng bá du lịch; chú trọng đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút du khách. Thời tiết thuận lợi, giao thông được cải thiện cùng với việc tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch đã góp phần tạo sức hút đối với du khách, thúc đẩy hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.179,9 nghìn lượt, tăng 0,29% so tháng trước và tăng 30,96% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 80,9 nghìn lượt, tăng 3,59% so với tháng trước và tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 4.000,5 nghìn ngày khách, tăng 0,6% so với tháng trước và tăng 32,27% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 98,5 nghìn lượt khách, tăng 1,22% so với tháng trước và tăng 13,03% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 316,1 nghìn ngày khách, tăng 1,3% so với tháng trước và tăng 15,72% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 lượt khách ước đạt 6.583,2 lượt khách, tăng 9,17% so với quý trước và tăng 23,27% so với quý cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 12.042,4 nghìn ngày khách, tăng 8,68% so với quý trước và tăng 24,97% so với quý cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 lượt khách quốc tế ước đạt 291,1 nghìn lượt khách, giảm 5,21% so với quý trước và tăng 11,78% so với quý cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 934,1 nghìn ngày khách, giảm 4,32% so với quý trước và tăng 14,03% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt gần 18.470 nghìn lượt, tăng 19,17% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 662,2 nghìn lượt, tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 34.241,7 nghìn ngày khách, tăng 21,01% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 9 tháng năm 2026 đạt 1.094,6 nghìn lượt, tăng 14,48% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 3.493,2 nghìn ngày khách, tăng 17,64% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 770,9 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 38,87% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.007,5 tỷ đồng, tăng 0,68% so với tháng trước và tăng 36% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 63,6 tỷ đồng, tăng 6,05% so với tháng trước và tăng 30,97% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 2.305,2 tỷ đồng, tăng 15,75% so với quý trước và tăng 28,62% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 8.950,7 tỷ đồng, tăng 11,34% so với quý trước và tăng 29,25% so với quý cùng kỳ năm trước; hoạt động lữ hành hỗ trợ du lịch ước đạt 182,9 tỷ đồng, tăng 8,82% so với quý trước và tăng 31,48% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 6.289,1 tỷ đồng, tăng 24,32% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 24.229,3 tỷ đồng, tăng 24,63% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 507,1 tỷ đồng, tăng 37,7% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.112,4 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 33,78% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 ước đạt 18.313,2 tỷ đồng, tăng 8,33% so với quý trước và tăng 25,66% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 51.263,7 tỷ đồng, tăng 22,51% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.380,8 tỷ đồng, tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 24,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 844,9 tỷ đồng, tăng 7,72% so với tháng trước và tăng 11,53% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 193,8 tỷ đồng, tăng 1,47% so với tháng trước và tăng 20,58% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 189,8 tỷ đồng, tăng 5,91% so với tháng trước và tăng 25,76% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 267,9 tỷ đồng, tăng 2,68% so với tháng trước và tăng 12,97% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.539,7 tỷ đồng, giảm 4,56% so với tháng trước và tăng 37% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 344,7 tỷ đồng, tăng 1,25% so với tháng trước và tăng 19,65% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 9.999,2 tỷ đồng, tăng 22,04% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.396,1 tỷ đồng, tăng 11,08% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 563,9 tỷ đồng, tăng 17,8% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 532,7 tỷ đồng, tăng 29,68% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 789,1 tỷ đồng, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 4.697,7 tỷ đồng, tăng 30,13% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác đạt 1.019,6 tỷ đồng, tăng 19,13% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông ước đạt 192,9 tỷ đồng, tăng 0,62% so với quý trước và tăng 14% so với quý cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 654,4 tỷ đồng, tăng 1,25% so với quý trước và tăng 7,59% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 27.682,1 tỷ đồng, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 6.680,8 tỷ đồng, tăng 10,81% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.568,3 tỷ đồng, tăng 13,4% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.419,7 tỷ đồng, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 2.230 tỷ đồng, tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 12.953,6 tỷ đồng, tăng 23,77% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 2.829,8 tỷ đồng, tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì mức tăng khá, nhờ nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách gia tăng cùng với sự phục hồi của hoạt động sản xuất, thương mại, dịch vụ và du lịch. Nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng tăng đã góp phần thúc đẩy khối lượng vận chuyển và doanh thu toàn ngành. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng 9/2026 ước đạt 1.289,1 tỷ đồng, tăng 1,29% so với tháng trước và tăng 24,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý III/2026, doanh thu ước đạt 3.848,2 tỷ đồng, tăng 25,23%; lũy kế 9 tháng năm 2026 đạt 10.958,7 tỷ đồng, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy hoạt động vận tải tiếp tục là một trong những lĩnh vực dịch vụ duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong 9 tháng đầu năm. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.995,2 nghìn HK, tăng 0,68% so với tháng trước và tăng 21,07% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 423.913,2 nghìn HK.Km, tăng 1,21% so với tháng trước và tăng 19,62% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 lượt khách vận chuyển ước đạt 8.980,2 nghìn HK, tăng 17,27% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.274.750,2 nghìn HK.Km, tăng 16,1% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 25.903,2 nghìn HK, tăng 17,01% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 3.712.952,6 nghìn HK.Km, tăng 17,04% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.455,6 nghìn tấn, tăng 1,01% so với tháng trước và tăng 25,3% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 358.989,5 nghìn tấn.Km, tăng 1,21% so với tháng trước và tăng 25,06% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 khối lượng vận chuyển ước đạt 7.227,3 nghìn tấn, tăng 27,79% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.057.587,5 nghìn tấn.Km, tăng 27,66% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 19.488 nghìn tấn, tăng 20,9% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.861.725,9 nghìn tấn.Km, tăng 21,21% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.289,1 tỷ đồng, tăng 1,29% so với tháng trước và tăng 24,6% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2026 ước đạt 3.848,2 tỷ đồng, tăng 25,23% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 10.958,7 tỷ đồng, tăng 23,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.710,5 tỷ đồng, tăng 26,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 5.420,6 tỷ đồng, tăng 26,63% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.423 tỷ đồng, tăng 13,76% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 404,6 tỷ đồng, tăng 3,07% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 2.446,8 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.251,2 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 195,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.395,5 tỷ đồng, tăng 5,97% so với cùng kỳ năm trước; ước quý III/2026 đạt 7.125 tỷ đồng, bằng 20,69% kế hoạch năm và tăng 43,17% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 25.913 tỷ đồng bằng 75,25% kế hoạch năm và tăng 12,87% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 23.846 tỷ đồng, bằng 72,98% kế hoạch năm và tăng 9,31%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 2.067 tỷ đồng, bằng 117,44% kế hoạch năm và tăng 80,97% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa trong 9 tháng năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.150 tỷ đồng (bằng 82,82% kế hoạch năm và tăng 2,61% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.228 tỷ đồng (bằng 89% kế hoạch năm và tăng 14%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 6.166 tỷ đồng (bằng 92,2% kế hoạch năm và tăng 29,89%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 2.293 tỷ đồng (bằng 83,99% kế hoạch năm và giảm 0,34%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 3.540 tỷ đồng (bằng 48% kế hoạch năm và tăng 2,97%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.116 tỷ đồng (bằng 70,97% kế hoạch năm và tăng 11,02%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.602,7 tỷ đồng, giảm 23,27% so với cùng kỳ năm trước; ước quý III/2026 đạt 12.219,3 tỷ đồng, lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 38.008 tỷ đồng (bằng 77,89% kế hoạch, tăng 19,5% so với cùng kỳ năm trước), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 15.892,1 tỷ đồng, tăng 62,72% so với cùng kỳ năm trước; chi thường xuyên ước đạt 22.098,4 tỷ đồng, tăng 0,63% so với cùng kỳ năm trước. 3. Hoạt động tín dụng Tính đến 31/8/2026, công tác huy động vốn của các TCTD (Tổ chức tín dụng) trên địa bàn tỉnh đạt 254.521 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 25.245 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 11,01%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 252.077 tỷ đồng (chiếm 99,04% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.444 tỷ đồng, (chiếm 0,96% tổng huy động vốn). Ước đến 30/9/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 257.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 28.224 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 12,31%. Hoạt động tín dụng: Đến 31/8/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 378.619 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 7.635 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,06%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 376.366 tỷ đồng (chiếm 99,4% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.253 tỷ đồng (chiếm 0,6% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 267.033 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 111.586 tỷ đồng. Ước đến 30/9/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 380.600 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 9.616 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,59%. Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của NHTM trong tỉnh ở mức 0,18% - 0,48%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,35% - 4,75%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 7,44% -8,14%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 7,45% - 8,22%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay mới ở mức 9,19% - 11,76%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,07% - 4,76%/năm. Dư nợ cho vay: Đến 31/8/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 182.779 tỷ đồng, chiếm 48,28% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.906 tỷ đồng, chiếm 8,69% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 162.934 tỷ đồng, chiếm 43,03% tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dự nợ tín dụng là 1,67%. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Tập trung thực hiện công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: tuyên truyền cổ động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026; tuyên truyền chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930-03/02/2026); tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031; tuyên truyền, phát động Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng; kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Đà Lạt (03/4/1975-03/4/2026), Ngày giải phóng Phan Thiết (19/4/1975-19/4/2026); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch); Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975-30/4/2026); 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886-01/5/2026); 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026); 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945-19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2026);… đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: chương trình bắn pháo hoa nổ tầm thấp đón giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; chương trình văn nghệ phục vụ cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031; các hoạt động văn nghệ kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886-01/5/2026); 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026); 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945-19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2026); chương trình văn nghệ phục vụ tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026 với chủ đề “Lâm Đồng - Bản giao hưởng xanh”; chương trình âm nhạc đường phố phục vụ tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026; chương trình văn nghệ phục vụ: Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2026, Lễ hội Cầu ngư các vạn chài phường Phan Thiết năm 2026, Lễ hội Nghinh ông năm 2026, Lễ hội Trung thu năm 2026 tại 03 khu vực với chủ đề “Sắc màu Lâm Đồng - Chung một vầng trăng”…. Ngoài ra, đến nay đã tổ chức 92 suất biểu diễn phục vụ chính trị; thực hiện 02 vở kịch tuyên truyền; 06 đợt phim; 03 Tuần phim; 01 Chương trình Dạ hội Điện ảnh, 823 buổi chiếu phim và 117 buổi tuyên truyền phục vụ cơ sở. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 24.012 lượt khách, trong đó có 1.374 lượt khách quốc tế; lũy kế từ ngày 01/01 đến 12/9/2026 đã đón 263.516 lượt khách tham quan, trong đó có 18.397 lượt khách quốc tế; thực hiện 21 cuộc trưng bày, triển lãm chuyên đề; sưu tầm 290 hiện vật, hình ảnh, tư liệu phục vụ công tác trưng bày. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 175 đoàn với 12.261 lượt khách (trong đó có 35 khách quốc tế); phục vụ 17 lễ viếng, báo công và 01 lễ rước đuốc Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026. Lũy kế từ ngày 01/01 đến 12/9/2026 đã tiếp đón 1.682 đoàn khách tham quan với 123.323 lượt khách (trong đó có 367 khách quốc tế); phục vụ: 189 lễ viếng, 10 báo công, 06 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 03 lễ rước đuốc, 04 lễ tuyên dương và 27 sinh hoạt chuyên đề; tổ chức triển lãm 04 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật; phối hợp với các báo, đài thực hiện 12 phóng sự. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 05 đoàn với 1.809 lượt khách; lũy kế từ ngày 01/01 đến ngày 12/9/2026 đã đón 17.889 lượt khách đến thăm viếng, học tập, trải nghiệm. Ngoài ra đã tổ chức 02 triển lãm ảnh, sưu tầm 06 hiện vật phục vụ trưng bày và phối hợp tổ chức thành công Giải leo núi “Hành trình về Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận” lần thứ I. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 150 thẻ (thiếu nhi 50 thẻ), phục vụ 611.495 lượt bạn đọc, luân chuyển 18.193 lượt tài liệu. Ngoài ra đã tổ chức tổ chức cuộc thi “Giới thiệu sách trực tuyến” lần thứ I năm 2026. Lũy kế từ 01/01 đến 07/9/2026 đã cấp mới và gia hạn 6.356 thẻ (thiếu nhi 4.596 thẻ), phục vụ 2.453.809 lượt bạn đọc, luân chuyển 493.550 lượt tài liệu, trưng bày 145.764 tài liệu phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức thành công Đại hội TDTT tỉnh Lâm Đồng với chủ đề: “Lâm Đồng Hội tụ - Bứt phá - Vươn tầm”, thu hút 47 đoàn với 3.109 vận động viên tham gia. Trong 9 tháng năm 2026, phong trào tập luyện TDTT quần chúng trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi nổi với nhiều hình thức phong phú, đa dạng; nhiều sự kiện thể thao phong trào được tổ chức với quy mô lớn như: Chạy việt dã, Bơi lội, Cầu lông, Quần vợt, Golf, Đua xe đạp, Pickleball, Bóng chuyền bãi biển,... thu hút đông đảo người dân tham gia; bên cạnh đó, thể thao học đường được quan tâm, phương pháp giáo dục thể chất được đổi mới; hệ thống cơ sở vật chất thể thao cơ sở được cải tạo, nâng cấp và đầu tư xây dựng đã tạo điều kiện thuận lợi để người dân tham gia tập luyện, thi đấu và rèn luyện sức khỏe. - Thể thao thành tích cao: Trong tháng, cử các đội tham gia thi đấu các giải quốc gia và quốc tế; kết quả đạt được 134 huy chương (43 HCV, 37 HCB, 54 HCĐ), trong đó có 30 huy chương quốc tế (19 HCV, 7 HCB, 4 HCĐ). Lũy kế từ ngày 01/1 đến ngày 12/9/2026 đã tham gia 93 giải thể thao quốc gia và quốc tế; kết quả đạt 701 huy chương (159 HCV, 179 HCB, 363 HCĐ), trong đó có 01 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 43 huy chương quốc tế (24 HCV, 9 HCB, 10 HCĐ). 2. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Được triển khai chủ động, bám sát nhiệm vụ chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền các sự kiện lớn của tỉnh: tuyên truyền Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026; Lễ hội Trung thu; các hoạt động chuẩn bị cho Festival Hoa Đà Lạt lần thứ XI năm 2026 và mục tiêu tăng trưởng kinh tế của tỉnh; ngoài ra đã ban hành Quyết định quy định về quản lý đại lý Internet, điểm truy nhập Internet công cộng không cung cấp dịch vụ trò chơi điện tử trên địa bàn tỉnh và phối hợp cung cấp thông tin theo yêu cầu của địa phương về các vụ việc trên không gian mạng. Từ đầu năm 2026 đến nay đã thực hiện đăng tải khoảng 7.400 tin, bài; tổ chức 09 cuộc giao ban báo chí, 04 cuộc họp báo, qua đó góp phần định hướng dư luận, tạo đồng thuận xã hội và phục vụ mục tiêu tăng trưởng “02 con số” năm 2026 của tỉnh Lâm Đồng. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Tổ chức hướng dẫn các xã, phường, đặc khu triển khai đầu tư, mở rộng hệ thống truyền thanh cấp xã theo quy định của Thông tư 24/2025/TT-BVHTTDL. Ngoài ra đã xây dựng Quyết định của UBND tỉnh về ban hành Quy chế quản lý hoạt động thông tin đối ngoại trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; triển khai Kế hoạch thông tin đối ngoại năm 2026 và Kế hoạch triển khai Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong 9 tháng năm 2026 đã cấp 32 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh, 02 giấy phép tổ chức triển lãm, hội chợ xuất bản phẩm và 01 giấy xác nhận thay đổi thông tin đăng ký hoạt động in. 3. Giáo dục và đào tạo Trong tháng tập trung nguồn lực để triển khai năm học 2026-2027. Tỉnh chủ động sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục, đưa các trường phổ thông nội trú liên cấp tại xã biên giới vào hoạt động, bảo đảm các điều kiện về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, sách giáo khoa phục vụ năm học mới. Lễ khai giảng năm học 2026-2027 được tổ chức trang trọng, vui tươi, an toàn vào sáng ngày 05/9/2026 tại các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh. Thực hiện chủ trương của Trung ương về sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; kết quả, toàn tỉnh đã giảm mạnh số lượng cơ sở giáo dục công lập từ 1.453 trường (tính đến 01/7/2025) xuống còn 823 trường (tính đến 30/8/2026); tổng số cơ sở giáo dục giảm là 630 trường, tỷ lệ giảm là 43,36%. Hiện nay toàn tỉnh có 210 trường mầm non, 247 trường tiểu học, 112 trường tiểu học và trung học cơ sở, 149 trường trung học cơ sở, 27 trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, 65 trường trung học phổ thông và 13 cơ sở giáo dục khác. Về công tác nhân sự, bên cạnh việc sắp sếp tinh gọn quy mô trường học, số lượng “Hiệu trưởng” các trường cũng đã giảm từ 1.385 người xuống còn 825 người; số lượng “Phó Hiệu trưởng” giảm từ 2.143 người xuống còn 1.696 người; số lượng kế toán, văn thư và thủ quỹ giảm từ 2.339 người xuống còn 1.659 người. Trong tổng số “Hiệu trưởng” và “Phó Hiệu trưởng” giảm đã bố trí chuyển làm giáo viên là 949 người; hiện nay đã và đang giải quyết nghỉ theo chế độ sau sắp xếp 578 người. Giáo dục nghề nghiệp: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng nghề; 05 trường trung cấp, 30 trung tâm dạy nghề (trong đó: công lập 13 trung tâm); cơ sở dạy nghề khác có 17 cơ sở. Đào tạo nghề hệ cao đẳng cho 130 học viên, trung cấp nghề 1.350 học viên, sơ cấp nghề 4.700 học viên, đào tạo không chính quy 13.349 học viên. Nhìn chung, công tác giáo dục và đào tạo cơ bản được triển khai đúng tiến độ, bảo đảm yêu cầu nhiệm vụ đề ra; công tác chỉ đạo, điều hành chủ động, kịp thời; các nhiệm vụ năm học mới được triển khai đồng bộ. Tuy nhiên, vẫn còn một số khó khăn về nguồn lực, cơ sở vật chất, đội ngũ và tổ chức thực hiện cần tiếp tục tập trung tháo gỡ để bảo đảm hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026 và thực hiện hiệu quả nhiệm vụ năm học 2026-2027. 4. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 1.301 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 163 ca so với tháng trước (1.138 ca) và giảm 263 ca so với cùng kỳ năm trước (1.564 ca). Lũy kế từ đầu năm đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 4.064 ca mắc, giảm 42 ca so với cùng kỳ năm trước (4.106 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 185 ổ dịch, lũy kế đến ngày 31/8/2026 đã phát hiện xử lý 546 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 2 ca mắc; lũy kế từ đầu năm đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 05 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 708 ca mắc, tăng 283 ca so với tháng trước và tăng 501 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 3.889 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 18 ca mắc, tăng 09 ca so với tháng trước và giảm 15 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 110 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.771 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.652 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.698 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.576 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.720 trẻ, mũi 2 cho 3.765 trẻ và mũi 3 cho 3.884 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.675 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không có bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 432 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 9 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 425 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý là 03 người (03 người tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 160 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 04 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03 BN/100.000 dân; bệnh nhân lao kháng thuốc trong tháng là 06 bệnh nhân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 20 bệnh nhân nhiễm HIV mới, không có bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 10 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.907 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.798 người, tử vong 1.592 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 429.766 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 39.620 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 240.898 ngày, xét nghiệm cho 655.210 tiêu bản, chẩn đoán 149.804 hình ảnh và phẫu thuật 6.255 trường hợp. Ước 9 tháng năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 4.024.182 lượt người; 322.728 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.984.872 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,08 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 83,9%; xét nghiệm cho 5.515.451 tiêu bản; chẩn đoán 1.265.455 hình ảnh và phẫu thuật cho 48.184 trường hợp.- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 41 cơ sở thực phẩm, phát hiện 05 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 47 triệu đồng. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. Lũy kế 9 tháng năm 2026 xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 188 người mắc và 01 người tử vong. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; nhiều mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi đã đạt và vượt kế hoạch đề ra; công tác giảm nghèo, phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội tại các xã, thôn đặc biệt khó khăn có nhiều chuyển biến; nhiều dự án hỗ trợ sinh kế, giải quyết việc làm đã phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân; đời sống vật chất, tinh thần của người đồng bào DTTS từng bước được cải thiện. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; chú trọng triển khai thực hiện các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Tỷ lệ thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng đạt 90%; 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet; nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin vùng đồng bào DTTS. Tỷ lệ thôn có đội văn hóa, văn nghệ (câu lạc bộ) truyền thống hoạt động thường xuyên, có chất lượng đạt 48%. - Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Hệ thống cơ sở vật chất, trường học, phòng học, thư viện, thiết bị dạy học, ký túc xá, nhà công vụ giáo viên từng bước được đầu tư; qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào DTTS. Tỷ lệ học sinh mẫu giáo 5 tuổi đến trường đạt 99,87%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi tiểu học đến trường đạt 97,3%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi trung học cơ sở đến trường đạt 96,97%; tỷ lệ học sinh trong độ tuổi trung học phổ thông đến trường đạt 70,08%; tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên đọc thông viết thạo đạt 90,3%. Chính sách hỗ trợ chi phí học tập cho học sinh, sinh viên DTTS theo Nghị quyết số số 43/2026/NQ-HĐND ngày 27/7/2026 2 của HĐND tỉnh được thực hiện đầy đủ, đúng quy định. - Hệ thống y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu, khám chữa bệnh BHYT và phòng chống dịch bệnh dịch tại tuyến y tế cơ sở vùng sâu, vùng xa được triển khai chủ động. Đến nay, tỷ lệ đồng bào DTTS tham gia bảo hiểm y tế đạt 94,84%; tỷ lệ phụ nữ sinh con tại cơ sở y tế hoặc có sự hỗ trợ của nhân viên y tế đạt 71%; tỷ lệ phụ nữ mang thai được thăm khám định kỳ (ít nhất 4 lần trong thai kỳ) đạt 77%; tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 15,8%, đạt theo kế hoạch. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. - Phật giáo: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng tổ chức Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 tại chùa Phật Ân, phường Phan Thiết, đăng ký bổ nhiệm chức việc Ban Trị sự GHPGVN tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031; ban hành quyết định thành lập chùa Linh Quy Pháp Ấn tại xã Bảo Lâm 3 và chấp thuận chủ trương xây dựng 03 cơ sở Phật giáo trên địa bàn tỉnh. - Công giáo: Giáo phận Ban Mê Thuột tổ chức các cuộc lễ Tĩnh huấn hiền mẫu, lễ khánh thành nhà thờ; lễ công bố quyết định thành lập giáo xứ Giáo xứ Xuân Tình, xã Đắk Sắk; thực hiện phong phẩm linh mục cho 08 phó tế; thuyên chuyển địa bàn hoạt động tôn giáo 12 linh mục; thuyên chuyển và đăng ký bổ nhiệm 10 linh mục làm quản xứ, phó xứ trên địa bàn tỉnh. Giáo phận Đà Lạt tổ chức các cuộc lễ (Lễ đặt đá xây dựng nhà thờ Giáo xứ Xà Lùng, xã Hoà Ninh; kỷ niệm 90 năm thành lập Giáo xứ Bảo Lộc; thánh lễ mừng Thánh Têrêsa Calcutta - Bổn mạng Ban Bác ái xã hội, tại Giáo xứ Ka La, xã Bảo Thuận và lễ mừng Thánh Monica - Bổn mạng Giới Hiền mẫu Giáo hạt Đà Lạt tại giáo xứ Chính Tòa, phường Xuân Hương - Đà Lạt). Tòa Giám mục Giáo phận Phan Thiết thuyên chuyển 29 linh mục và đăng ký bổ nhiệm 02 linh mục làm quản xứ 02 giáo xứ trong Giáo phận. Các giáo xứ, hội dòng, đan viện, tu đoàn, cộng đoàn tổ chức các hoạt động như: Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ mời 02 người nước ngoài vào hoạt động tôn giáo tại Lâm Đồng; Cộng đoàn Don Bosco K’Long, xã Hiệp Thạnh mở 03 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo. - Tin lành: Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đề nghị thành lập 04 tổ chức tôn giáo trực thuộc (Chi hội Đạ Ty, xã Phú Sơn Lâm Hà; Chi hội Đạ Long 1, xã Đam Rông 4; Chi hội Dà Blu, xã Hiệp Thạnh; Chi hội Chi Rông, xã Đức Trọng) và tổ chức lễ thành lập 05 Chi hội. Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh Lâm Đồng tổ chức Bồi linh cho giáo phẩm và tín hữu tại Nhà thờ Chi hội Tin Lành Đà Lạt và Nhà thờ Chi hội Tin Lành Bảo Lộc. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 285 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng theo quy định. Trong 9 tháng năm 2026 đã giải quyết 2.837 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công và chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền mặt cho 14.446/18.220 người với tổng kinh phí hơn 46,99 tỷ đồng. Công tác chăm lo đời sống cho người có công cách mạng được thực hiện hiệu quả. Hiện nay, tỉnh Lâm Đồng có 18.226 đối tượng là người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng, với tổng kinh phí chi trả khoảng 62,0 tỷ đồng/tháng. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh tổ chức thăm, tặng quà tết theo Quyết định số 01/QĐ-CTN ngày 05/01/2026 của Chủ tịch nước 27.201 suất với tổng số tiền hơn 8,3 tỷ đồng; thăm tặng quà theo Nghị quyết số 92/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 của HĐND tỉnh Lâm Đồng 65.234 suất với tổng kinh phí hơn 83,8 tỷ đồng; thăm tặng quà của Chủ tịch nước nhân dịp Kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh- Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026) cho 25.833 người với tổng kinh phí 7,89 tỷ đồng; thăm tặng quà theo Nghị quyết số 92/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 của Hội đồng nhân dân tỉnh nhân dịp Kỷ niệm 79 năm ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026) cho 28.765 người với tổng kinh phí hơn 40,80 tỷ đồng. Ngoài ra đã tổ chức 04 đợt điều dưỡng tập trung đối với người có công với cách mạng cho 425 lượt người; ban hành Quyết định điều dưỡng tại nhà đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với 3.745 người, tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng. Chương trình hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học: tính đến ngày 09/9/2026 đã hoàn thành xây mới 30 căn nhà, đang xây dựng 8 căn nhà, hoàn thành sửa chữa 45/45 căn nhà. Tổng số căn đã và đang xây dựng, sửa chữa là 83/83 căn với tổng 2.452 ngày công. Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sỹ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. Tính đến ngày 12/8/2026, tỉnh Lâm Đồng đã hoàn thành việc lấy mẫu tại 11 Nghĩa trang Liệt sĩ trên địa bàn tỉnh; tổng số mộ cần lấy mẫu 4.776 mộ, trong đó mộ lấy được mẫu 3.625 mộ, mộ không lấy được mẫu 1.151 mộ. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Tính đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh có 323.377 người tham gia BHXH, đạt 97,66% kế hoạch năm và tăng 10,56% so với cùng kỳ năm trước; 243.619 người tham gia BHTN, đạt 96,12% kế hoạch và tăng 8,78%; 3.146.012 người tham gia BHYT, đạt 98,21% kế hoạch và tăng 4,07% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 92,87% dân số. Trong tháng 8/2026, đã giải quyết mới 10.654 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.352 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 281 người; trợ cấp 1 lần cho 2.771 người; chế độ ốm đau cho 5.988 người; chế độ thai sản cho 1.293 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 321 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.139 người và hỗ trợ học nghề cho 213 người). Lũy kế đến ngày 31/8/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 80.585 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 15.675 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 1.562 người; trợ cấp 1 lần cho 19.330 người; chế độ ốm đau cho 46.646 người; chế độ thai sản cho 10.279 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 2.768 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 14.702 người và hỗ trợ học nghề cho 973 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/8 - 14/9/2026) Trong tháng xảy ra 62 vụ tai nạn giao thông, tăng 13 vụ so với tháng trước và giảm 38 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 37 người, tăng 8 người so với tháng trước và giảm 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 44 người, tăng 4 người so với tháng trước và giảm 32 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 514 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 153 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 328 người, giảm 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 342 người, giảm 175 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: (từ ngày 25/8 đến 24/9/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ thiên tai do mưa lớn gây ngập; thiên tai đã làm 73 căn nhà bị hư hại, 1.897 căn nhà bị ngập, 444 con gia cầm bị cuốn trôi, 2.891 ha cây trồng các loại bị ngập, 03 ha lúa và 12 ha hoa màu bị thiệt hại, 15 cầu dân sinh bị hư hỏng, 46 tuyến đường giao thông bị hư hỏng, 23 điểm sạt lở taluy; ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 38,47 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 24 vụ thiên tai làm 01 người chết, 04 người bị thương; 08 nhà bị sập hoàn toàn, 121 nhà bị hư hại, 296 căn nhà hư hỏng nhẹ, 2.009 căn nhà bị ngập, 213 hộ được di dời; có 13,6 ha lúa sạ bị hỏng, 301 ha lúa bị ảnh hưởng nhẹ, 12,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 69,6 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng, 4.131 ha cây trồng các loại bị ngã đổ, ngập úng; 14 con gia súc bị cuốn trôi, khoảng 70.444 con gia cầm bị chết, cuốn trôi; 14,1 ha nhà kính, nhà lưới bị hư hỏng; 03 tàu cá bị chìm; đổ, gãy 18 cột điện; 42 điểm sạt bị lở taluy; 50 tuyến đường bị hư hỏng, ngập lụt; 24 cầu cống bị sạt lở và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 76,47 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/8-15/9/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 07 vụ cháy nổ, tăng 03 vụ so với tháng trước và tăng 04 vụ so với cùng kỳ năm trước; ước thiệt hại 2.801 triệu đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 51 vụ cháy nổ, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 02 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại 8.979,4 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 02 vụ, đã xử phạt 30 triệu đồng. Lũy kế 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 10 vụ vi phạm, đã xử phạt 1.026,5 triệu đồng (9 tháng năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Trong 9 tháng năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. GRDP ước tăng 8,51% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,9%; công nghiệp - xây dựng tăng 10,64%; dịch vụ tăng 9,49%. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định, nhiều sản phẩm chủ lực tăng khá; sản lượng lương thực tăng 3,04%, chè tăng 13,07%, sản lượng thịt hơi tăng 10,34%, sữa bò tăng 24,3%. Sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,02%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,42%. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 19,03%, số khách du lịch tăng 19,17%, doanh thu du lịch tăng 22,51%. Thu ngân sách nhà nước đạt 26.315,8 tỷ đồng, bằng 76,42% dự toán năm và tăng 14,63% so với cùng kỳ. Hoạt động đầu tư phát triển tiếp tục được quan tâm và có chuyển biến tích cực. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội đạt 84.104,8 tỷ đồng, tăng 12,09% so với cùng kỳ; vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt 9.624,4 tỷ đồng, tăng 18,30%. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư vẫn cần được đẩy nhanh trong những tháng cuối năm; một số lĩnh vực sản xuất công nghiệp, thương mại và du lịch còn gặp khó khăn, cần tiếp tục có giải pháp hỗ trợ, tháo gỡ. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được bảo đảm, công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm, 100% xã, phường đạt chuẩn quốc gia về y tế. Công tác an sinh xã hội, lao động, việc làm và các chính sách đối với người dân tiếp tục được triển khai. Bên cạnh đó, thiên tai, cháy nổ và một số vấn đề về môi trường vẫn còn diễn biến đáng lưu ý, cần tiếp tục chủ động phòng ngừa và tăng cường công tác quản lý, xử lý. Nhìn chung, kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2026 của tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phát triển theo hướng tích cực, các khu vực kinh tế duy trì tăng trưởng; trong đó công nghiệp - xây dựng, thương mại - dịch vụ và du lịch tiếp tục là những động lực quan trọng của tăng trưởng. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định; thu ngân sách đạt kết quả khá; các lĩnh vực văn hóa - xã hội, y tế, bảo hiểm và an sinh xã hội được bảo đảm. Bên cạnh đó, tiến độ thực hiện đầu tư và giải ngân vốn còn chậm, một số hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp khó khăn. Trong quý IV/2026, cần tiếp tục tập trung thúc đẩy sản xuất, kinh doanh; đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư; hỗ trợ doanh nghiệp, thúc đẩy tiêu dùng, thương mại, dịch vụ và du lịch; tăng cường quản lý thu ngân sách, đồng thời bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc sức khỏe nhân dân và giữ vững an ninh, trật tự, phấn đấu hoàn thành cao nhất các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG [1] Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina (vốn 0,20 triệu USD, thuê lại 0,30 ha nhà xưởng) tại KCN Lộc Sơn. Nhà máy sản xuất trang phục lót xuất khẩu Quadrille Tân Đức của Công ty TNHH Quadrille Việt Nam, vốn đầu tư 2,50 triệu USD, diện tích 1,50 ha. Dự án nhà máy sản xuất sản phẩm hạt Mellow Nut Tân Đức, vốn đầu tư 5 triệu USD, diện tích 2 ha tại KCN Tân Đức. Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam của Công ty TNHH May mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam, vốn đầu tư 26 tỷ đồng, diện tích 0,31 ha tại Khu công nghiệp Lộc Sơn. Kho Transimex Phú Hội của Công ty Cổ phần Transimex Logistics, vốn đầu tư 98,658 tỷ đồng, diện tích 1,29 ha tại Khu công nghiệp Phú Hội. Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV Nhựa Stroman Lâm Đồng, vốn đầu tư 40 tỷ đồng, diện tích 1,39 ha tại Khu công nghiệp Tâm Thắng. Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm của Công ty TNHH Trường Phát Tâm, vốn đầu tư 14 tỷ đồng, diện tích 1,09 ha tại Khu công nghiệp Phú Hội. Nhà máy chế biến nông sản của Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà, vốn đầu tư 80 tỷ đồng, diện tích thuê lại 1,10 ha tại Khu công nghiệp Lộc Sơn. Nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng và cho thuê nhà xưởng, kho Trung Tây Nguyên của Công ty TNHH Trung Tây Nguyên, vốn đầu tư 32,77 tỷ đồng, diện tích thuê đất 0,95 ha tại Khu công nghiệp Phú Hội. Nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi và thủy sản của Công ty TNHH Thiên Trường Group, vốn đầu tư 120 tỷ đồng, diện tích thuê đất 1,29 ha tại KCN Lộc Sơn. Nhà máy sản xuất bê tông thương phẩm và vật liệu xây dựng của Công ty cổ phần xây dựng Gia Hiệp Phát, vốn đầu tư 15 tỷ đồng, diện tích 4,33 ha tại KCN Phú Hội. Nhà máy sản xuất rượu công nghiệp của Công ty TNHH MTV Phát triển Đại Bình, vốn đầu tư 40 tỷ đồng, diện tích 1,94 ha tại KCN Lộc Sơn. Nhà máy Lô cao su Phan Thiết của Công ty TNHH Hàn Việt Lô cao su Phan Thiết, vốn đầu tư 60 tỷ đồng, diện tích 5 ha tại KCN Hàm Kiệm 1. Nhà máy chế biến tơ lụa của Công ty cổ phần Tơ lụa Hà Bảo, vốn đầu tư 43,90 tỷ đồng, diện tích 0,56 ha tại KCN Lộc Sơn. Nhà máy sản xuất nhựa Đồng Tâm của Công ty TNHH MTV Sản xuất Thương mại nhựa Đồng Tâm, vốn đầu tư 8 tỷ đồng, diện tích 0,28 ha tại KCN Hàm Kiệm II. Nhà xưởng cho thuê giai đoạn 1 của Công ty cổ phần Sonadezi Bình Thuận, vốn đầu tư 156 tỷ đồng, diện tích 4,26 ha tại KCN Tân Đức. Nhà máy rang - xay chế biến Cà phê Quốc Lộc của Công ty TNHH Quốc Lộc - Đà Lạt tự nhiên, vốn đầu tư 80 tỷ đồng, diện tích 0,38 ha tại KCN Phú Hội.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   02/09/2026 15:03

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung chăm sóc, gieo trồng Vụ Hè thu; nhờ chủ động nguồn nước, đẩy mạnh cơ giới hóa và sử dụng giống ngắn ngày, chất lượng cao nên tiến độ sản xuất bảo đảm kế hoạch. Chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn gia súc, gia cầm được duy trì, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát tốt. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào công tác trồng rừng đúng kế hoạch; đồng thời tăng cường quản lý bảo vệ rừng và triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống cháy rừng. Hoạt động khai thác, nuôi trồng và sản xuất giống thủy sản đạt kết quả tích cực, lợi thế tôm giống tiếp tục được giữ vững. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tính đến ngày 15/8/2026, tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm ước đạt 254.344,9 ha, tăng 2,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: diện tích gieo trồng lúa ước đạt 104.800 ha, tăng 1,21% (diện tích gieo trồng lúa Vụ Hè thu ước đạt 49.400 ha, tăng 2,42%); diện tích gieo trồng ngô ước đạt 38.220 ha, tăng 3,89%; diện tích gieo trồng rau ước đạt 60.000 ha, tăng 3,54%; diện tích gieo trồng hoa ước đạt 8.050 ha, tăng 2,98%; diện tích gieo trồng đậu các loại ước đạt 10.300 ha, tăng 0,5%; diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm còn lại ước đạt 32.974,9 ha, tăng 4,17%. 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, trong đó các cây trồng chủ lực tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh. Hiện tại phần lớn diện tích các cây trồng đang bước vào giai đoạn nuôi quả, đây là thời điểm then chốt quyết định năng suất cuối vụ nên người dân đang tích cực chăm sóc, bón phân, phòng trừ sâu bệnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Tính đến ngày 15/8/2026, tổng dung tích nước tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh ước đạt 461,47 triệu m3, bằng 50,8% dung tích thiết kế, tăng 7,34 triệu m3 so với tháng trước. Trong tháng, trên địa bàn tinh tiếp tục xuất hiện mưa trên diện rộng nhưng lượng mưa không phân bố đồng đều giữa các khu vực. Công tác quản lý, bảo đảm an toàn công trình và kết cấu hạ tầng thủy lợi tiếp tục được tăng cường; triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn đập, hồ chứa và vùng hạ du trong mùa mưa, lũ; đôn đốc việc quản lý, sử dụng, khai thác tài sản kết cấu hạ tầng thủy lợi; đồng thời kiểm tra, rà soát hiện trạng các công trình thủy lợi bị hư hỏng đột xuất trên địa bàn để xử lý kịp thời. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, công tác bảo vệ thực vật được tăng cường, tình hình dự báo sâu bệnh định kỳ, thường xuyên đã kịp thời phát hiện và xử lý các đối tượng gây hại trên cây trồng, đặc biệt là các cây trồng chủ lực của tỉnh như lúa, rau, hoa, chè, cà phê,... hạn chế thiệt hại trên diện rộng. Vì vậy, trong tháng sâu bệnh gây hại trên các loại cây trồng không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cây trồng.  2. Chăn nuôi Trong tháng, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định, quy mô đàn vật nuôi đều tăng so với cùng kỳ nhờ nhu cầu tiêu dùng tương đối ổn định, giá một số sản phẩm chăn nuôi thuận lợi, các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn và mở rộng quy mô; tuy nhiên, tình hình dịch bệnh trên đàn vật nuôi vẫn tiềm ẩn nguy cơ, chi phí thức ăn, con giống, thuốc thú y vẫn ở mức cao đã ảnh hưởng đến hiệu quản sản xuất. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 30.434 tấn, tăng 9,2% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 246.349 tấn, tăng 11,36%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27,2 nghìn con, tăng 1,30% so với cùng kỳ năm trước. Quy mô đàn trâu tăng nhẹ, chủ yếu do một số hộ chăn nuôi ổn định, tận dụng nguồn thức ăn sẵn có và bãi chăn thả. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do diện tích chăn thả ngày càng thu hẹp, hiệu quả kinh tế của chăn nuôi trâu chưa thực sự hấp dẫn so với các vật nuôi khác. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 320,2 nghìn con, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước (trong đó đàn bò sữa 32,5 nghìn con, tăng 4,53%). Quy mô đàn bò tăng do nhu cầu thị trường đối với thịt bò và sữa tương đối ổn định, một số cơ sở tiếp tục duy trì quy mô và đầu tư cải tạo đàn. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.542 nghìn con, tăng 5,36% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.253,8 nghìn con, tăng 4,93%). Quy mô đàn lợn tăng chủ yếu do các cơ sở chăn nuôi chủ động tái đàn, mở rộng quy mô sản xuất sau thời gian thị trường có tín hiệu thuận lợi; mô hình chăn nuôi trang trại, liên kết với doanh nghiệp tiếp tục được duy trì (trong tháng, có 02 doanh nghiệp chăn nuôi lợn đầu tư mới và mở rộng quy mô: Công ty TNHH chăn nuôi Trần Nguyễn, quy mô 3.600 con lợn nái và Trang trại chăn nuôi Quảng Phú của Công ty TNHH MTV Nông trại Cao Nguyên Quảng Phú 1 phát triển đàn lợn giống, lợn thịt thương phẩm với sản lượng xuất trại khoảng 60.000 con lợn thịt và duy trì quy mô 15.000 con lợn nái sinh sản). Việc áp dụng các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học giúp hạn chế thiệt hại do dịch bệnh. Tuy nhiên, nguy cơ dịch tả lợn Châu Phi vẫn còn, cùng với giá thức ăn chăn nuôi và chi phí phòng, chống dịch ở mức cao nên một số hộ nhỏ lẻ còn thận trọng trong việc tái đàn. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 24.600 nghìn con, tăng 9,28% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.620 nghìn con, chiếm 67,56% trong tổng đàn gia cầm, tăng 9,34%). Đây là nhóm vật nuôi có tốc độ tăng cao nhờ nhu cầu tiêu dùng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, nhu cầu tiêu dùng thịt và trứng tương đối ổn định, cùng với việc chủ động phòng, chống dịch bệnh và áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn giúp người nuôi mạnh dạn tái đàn. Tuy nhiên giá thức ăn chăn nuôi và giá sản phẩm đầu ra biến động vẫn ảnh hưởng đến quyết định mở rộng sản xuất của một bộ phận hộ chăn nuôi. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh trên đàn vật nuôi tiếp tục diễn biến phức tạp; dịch bệnh đã phát sinh tại 12 xã, phường trên địa bàn tỉnh, đã tiêu hủy 639 con/26,7 tấn. Lũy kế từ 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 22.859 con lợn mắc bệnh với tổng trọng lượng 1.091,3 tấn tại 51 hộ/cơ sở thuộc 34 thôn của 20 xã, phường; đến nay còn 07 xã có ổ dịch chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi như: Tai xanh, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, cúm gia cầm không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng, tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị chuyên môn phối hợp với địa phương khoanh vùng, xử lý ổ dịch, tăng cường giám sát, lấy mẫu quan trắc môi trường và kiểm tra các cơ sở an toàn dịch bệnh. Đã phân bổ 50.700 liều vắc xin (gồm 3.000 liều tụ huyết trùng, 40.850 liều lở mồm long móng, 6.850 liều tam liên) và 50 lít hóa chất cho 21 xã, phường, phụ vụ công tác tiêm phòng, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng và phòng, chống dịch bệnh. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, hoạt động trồng rừng được triển khai theo kế hoạch; diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 1.284 ha, tăng 3,82% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 7.126 ha, tăng 4,52%. Diện tích trồng cây phân tán tháng 8/2026 ước đạt 1,6 triệu cây, tăng 3,13% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 8,8 triệu cây, tăng 3,3%. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.859 m3, tăng 2,03% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 318.447 m3, tăng 3,37%. - Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 27.405 ste, tăng 1,59% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 235.498 ste, tăng 1,91%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/7/2026 - 10/8/2026) là 31 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 16 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 3,3 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 17 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 11 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 0,7 ha). Lũy kế 8 tháng năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/8/2026), tổng số vụ vi phạm là 381 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 175 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 30,2 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 77 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 64 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 10,4 ha). - Công tác phòng, chống cháy rừng: Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được triển khai đồng bộ. Các hoạt động trọng tâm gồm phát dọn đường băng cản lửa, tập trung theo dõi, thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn cấp xã, phường; cập nhật kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát, xác định các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao; đồng thời tổ chức trực và canh gác tại các khu vực có nguy cơ cháy rừng cấp III, IV và V theo quy định. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng; lũy kế 8 tháng năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,6 ha. 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, các địa phương tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra, giám sát môi trường, phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi thủy sản. Tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Diện tích nuôi trồng ước đạt 457,8 ha, tăng 1,10% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 3.827,0 ha, tăng 1,43% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 3.410,6 ha, tăng 1,18%; diện tích nuôi tôm đạt 369,7 ha, tăng 4,22%). Sản lượng nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 2.454,5 tấn, giảm 0,67% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 490,2 tấn, tăng 2,02%); lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 18.777,7 tấn, tăng 0,29% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 3.230 tấn, tăng 3,95%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng, hoạt động khai thác trên ngư trường biển, các đội tàu khai thác xa bờ được quản lý chặt chẽ, thực thi nghiêm pháp luật về khai thác IUU; thực hiện nghiêm quy định cấm phát triển nghề lướt kéo dưới mọi hình thức, tuân thủ hạn ngạch số lượng giấy phép khai thác tại vùng khơi. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 24.958 tấn, tăng 5,35% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 24.858 tấn, tăng 5,15%); lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 170.372,4 tấn, tăng 3,84% (sản lượng khai thác biển đạt 169.760,1 tấn, tăng 3,71%). - Sản xuất giống thủy sản: Hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc thả nuôi, sản xuất tôm giống ước đạt 2,4 tỷ post, tăng 17,65% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 18,1 tỷ post, tăng 12,85%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Tình hình sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Trong tháng, toàn ngành tập trung sản xuất các đơn hàng đã ký kết nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương; nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp tỉnh. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 7,09% so với tháng trước và tăng 19,14% so với cùng kỳ, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 15,93% so với cùng kỳ; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 20,33%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 18,73%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,71%. Tính chung 8 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 10,60% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,16%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,31%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 6,78%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,61%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 427.535 m3, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 15,79% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.997.128 m3, tăng 19,36% so với cùng kỳ. Đây là mức tăng tương xứng trong điều kiện tỉnh Lâm Đồng chỉ đạo quyết liệt đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung mọi nguồn lực, giải pháp thu hút các dự án đầu tư triển khai trên địa bàn tỉnh, theo đó các doanh nghiệp ngành khai khoáng đã nắm bắt và chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.909 tấn, tăng 6,11% so với tháng trước và tăng 34,86% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 28.211 tấn, tăng 18,64% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu hơn so với năm trước và chủ động nguồn hàng cho các tháng sắp tới, các sản phẩm sầu riêng cấp đông tăng sản lượng sản xuất do nhu cầu tăng. - Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Ước trong tháng đạt 2.525 tấn, tăng 4,73% so với tháng trước và tăng 49,85% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 17.094 tấn, tăng 24,99% so với cùng kỳ. Sản phẩm thủy sản chế biến là một trong những sản phẩm thế mạnh của tỉnh Lâm Đồng, hiện nay đã và đang được các doanh nghiệp tận dụng lợi thế để phát triển và trong thời gian tới hi vọng sẽ ngày càng khởi sắc hơn do đây là vùng có cơ sở hạ tầng, giao thông thuận tiện và tỉnh cũng đang có xu hướng dịch chuyển ưu tiên phát triển ngành công nghiệp vùng ven biển phía Nam nhằm kết nối liên vùng Tây Nguyên với Duyên hải Nam Trung Bộ. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 17.721 nghìn lít, tăng 2,76% so với tháng trước và tăng 13,83% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 168.576 nghìn lít, tăng 17,83% so với cùng kỳ, nguyên nhân là các do doanh nghiệp tăng cường sản xuất các sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao; sản phẩm bia đóng chai giảm so với tháng trước một phần do nhu cầu giảm và do sự điều tiết sản xuất tại các Chi nhánh. - Sản phẩm giày, dép: Ước trong tháng sản lượng đạt 837 nghìn đôi, giảm 8,70% so với tháng trước và tăng 67,24% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 5.557 nghìn đôi, tăng 40,52% so với cùng kỳ là do Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam mở rộng dây chuyền sản xuất. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 14.446 tấn, tăng 12,85% so với tháng trước và tăng 4,30% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 91.975 tấn, tăng 12,11% so với cùng kỳ; nguyên nhân là do các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất phục vụ mùa sản xuất nông nghiệp năm 2026 trong điều kiện giá nông sản tiếp tục ổn định ở mức cao nên nhu cầu phân bón đầu tư cho nông nghiệp ngày càng tăng (đặc biệt là cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng…). - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 119,25 nghìn tấn, tăng 1,05% so với tháng trước và tăng 18,55% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 958,04 nghìn tấn, tăng 2,83% so với cùng kỳ. - Sản phẩm nhôm thỏi: Công ty luyện kim Trần Hồng Quân đã đi vào sản xuất trong tháng 7 khoảng 600 tấn, ước tính tháng 8/2026 sản xuất 2.500 tấn. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.309 triệu kwh, tăng 6,38% so với tháng trước và tăng 18,46% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 24.629 triệu kwh, tăng 6,65% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 525 triệu kwh, tăng 5,10% so với tháng trước và tăng 13,66% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 sản lượng ước đạt 4.031 triệu kwh tăng 9,36% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do song song với sự phát triển của ngành chế biến chế tạo (đặc biệt sự kiện công bố sản phẩm nhôm thỏi đầu tiên của Việt Nam tại Khu công nghiệp Nhân cơ) khối lượng điện thương phẩm tiêu thụ phục vụ trong ngành này tăng đáng kể; tuy nhiên tốc độ không quá cao là do các đơn vị sản xuất cũng như người tiêu dùng có ý thức tiết kiệm điện cũng như hưởng ứng việc sử dụng năng lượng xanh (lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu). 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,56% so với tháng trước và tăng 9,61% so cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,44%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,06%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,12%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,29%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 9,55% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 13,05%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 0,07%. Tính chung 8 tháng năm 2026, Chỉ số sử dụng lao động tăng 6,63%; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,33%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,96%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,53%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,25%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp Trong tháng, doanh thu của các doanh nghiệp ngành công nghiệp tỉnh Lâm Đồng tăng 6,47% so với tháng trước và tăng 15,41% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 8,25% so với cùng kỳ năm trước, doanh thu ngành công nghiệp tăng trưởng ổn định, đóng góp quan trọng vào kết quả tăng trưởng kinh tế. Ngành B (Khai khoáng): Doanh thu tăng 2,00% so với tháng trước và tăng 18,92% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 17,45% so với cùng kỳ. Doanh thu ngành khai khoáng có sự tăng trưởng cao so với cùng kỳ là nhờ các đơn vị khai thác tối ưu hóa công suất vận hành, đáp ứng kịp thời nhu cầu nguyên vật liệu từ các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm trên địa bàn. Ngành C (Công nghiệp chế biến, chế tạo): Doanh thu tăng 4,67% so với tháng trước và tăng 22,30% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 13,11% so với cùng kỳ. Doanh thu tăng trưởng cao nhờ việc phát huy tối đa lợi thế nguồn nguyên liệu nông sản và khai khoáng tại chỗ để đẩy mạnh chế biến sâu, kết hợp cùng sự xuất hiện của các sản phẩm mới như: nhôm thỏi, phanh xe cơ giới,… từ các doanh nghiệp mới đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ kịp thời của tỉnh đã giúp doanh nghiệp khơi thông nguồn vốn và ổn định chuỗi cung ứng góp phần tạo ra giá trị gia tăng cho ngành công nghiệp tỉnh. Ngành D (Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí): Doanh thu tăng 7,86% so với tháng trước và tăng 11,34% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 5,51% so với cùng kỳ. Mức tăng trong tháng nhằm đáp ứng nhu cầu điện năng phục vụ sản xuất và tiêu dùng. Ngành tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh năng lượng và hỗ trợ trực tiếp cho các ngành sản xuất khác trên địa bàn. Ngành E (Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải): Doanh thu tăng 2,22% so với tháng trước và tăng 7,29% so với cùng kỳ; lũy kế 8 tháng năm 2026 tăng 8,23% so với cùng kỳ. Mức tăng trưởng của ngành nhằm đảm bảo cung ứng nước sạch phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất ngày càng mở rộng. Các đơn vị ngành nước và môi trường đã chủ động bảo trì hạ tầng, tối ưu hóa công nghệ xử lý nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ và kiểm soát tốt các chỉ tiêu vệ sinh môi trường. 1.5. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong tháng (từ ngày 15/7 - 15/8/2026), tỉnh Lâm Đồng đã thu hút được 04 dự án vào các KCN trên địa bàn tỉnh (vốn đầu tư 5 triệu USD và 244 tỷ đồng, diện tích đất thuê là 6,92 ha). Lũy kế 8 tháng năm 2026, đã thu hút được 17 dự án đầu tư (trong đó có 03 dự án nước ngoài và 14 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 814,3 tỷ đồng và 7,7 triệu USD, diện tích đất thuê 27,96 ha. Hiện nay, trong các KCN có 175 doanh nghiệp đi vào hoạt động; công tác đầu tư hạ tầng các KCN được các chủ đầu tư quan tâm triển khai. Trong tháng, có 5 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị 10,32/881,57 tỷ đồng đạt 1,17% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026. Cụ thể: - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Chủ đầu tư duy tu cây xanh. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,02/0,82 tỷ đồng đạt 2,44% kế hoạch năm 2026. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, dọn dẹp mặt bằng. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,10 tỷ đồng. - KCN Hàm Kiệm I: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, duy tu giao thông, hệ thống thoát nước, tiếp tục thi công nhà điều hành KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,2/22,79 tỷ đồng đạt 0,88% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm II: Chủ đầu tư san lấp mặt bằng KCN; duy tu cây xanh trong KCN; duy tu và thi công các tuyến đường trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 4/205 tỷ đồng đạt 1,95% kế hoạch năm 2026. - KCN Tân Đức: Chủ đầu tư tiếp tục đền bù giải tỏa KCN những diện tích đất còn lại; dọn dẹp và thi công san lấp mặt bằng KCN, thi công các tuyến đường trong KCN (D2, D3, D4, N1, N2, N3), nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 7 là 6/473 tỷ đồng đạt 1,27% kế hoạch năm 2026. - KCN Lộc Sơn: Thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phú Hội: Thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Tâm Thắng: Thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Nhân Cơ: Thu hút được 01 dự án. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Tỉnh Lâm Đồng đang bước vào giai đoạn tăng tốc với hàng loạt dự án hạ tầng và chính sách quản lý mới. Trong tháng 8 năm 2026 tình hình giải ngân vốn đầu tư công tiếp tục tăng tốc với sự chỉ đạo quyết liệt trong việc gắn trách nhiệm cán bộ với kết quả giải ngân vốn đầu tư công để đánh giá, phân loại cán bộ lãnh đạo. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư của các xã, phường và đặc khu đến ngày 13/8/2026 ghi nhận mức cao như: phường Phan Thiết đạt 73,7%; xã Tuy Phong đạt 71,75%; xã Phan Sơn đạt 68,17%. Với sự chuẩn bị kỹ lưỡng về hạ tầng (như việc mở lại sân bay Liên Khương) và các khu công nghiệp trọng điểm (Sơn Mỹ), xu hướng đầu tư trong những tháng cuối năm 2026 được dự báo sẽ tăng tốc mạnh mẽ nhằm hoàn thành kế hoạch năm 2026. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước trong tháng đạt 1.578,8 tỷ đồng, tăng 26,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.376,2 tỷ đồng, chiếm 87,16% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 28,37% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 592,7 tỷ đồng, tăng 38,73% so với cùng kỳ; vốn trung ương trong nước ước đạt 251,5 tỷ đồng, tăng 2,63% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 19,9 tỷ đồng, giảm 18,60% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 503 tỷ đồng, tăng 35,37% so với cùng kỳ; vốn khác 9,2 tỷ đồng, tăng 2,41 lần so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 202,6 tỷ đồng, chiếm 12,84% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn, tăng 14,34% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 7.721,4 tỷ đồng, đạt 38,39% so với kế hoạch năm, tăng 15,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 6.853,2 tỷ đồng, tăng 13,39% so với cùng kỳ (trong đó: vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 3.083,3 tỷ đồng, tăng 30,98% so với cùng kỳ; vốn trung ương trong nước ước đạt 1.048,6 tỷ đồng, giảm 33,59% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 105,6 triệu đồng, giảm 21,76% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến 2 thiết 2.573,9 tỷ đồng, tăng 31,64% so với cùng kỳ; vốn khác 42,7 tỷ đồng, tăng 91,51% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 868,2 tỷ đồng, tăng 34,53% so với cùng kỳ. Trong tháng (từ ngày 17/7-17/8/2026) toàn tỉnh có 282 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 54,29% so với cùng kỳ; 38 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 35,59%; 63 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 22,22%; 533 doanh nghiệp giải thể, tăng 4,85 lần (tương ứng 442 doanh nghiệp). Nguyên nhân từ đầu tháng 7 năm 2026 đến nay, Cơ quan Đăng ký kinh doanh đang phối hợp với Cơ quan Thuế triển khai thực hiện “Chiến dịch làm sạch mã số thuế - Tháo gỡ điểm nghẽn trong kinh doanh”. Cơ quan thuế và cơ quan Đăng ký kinh doanh thực hiện các biện pháp nghiệm vụ, hướng dẫn các doanh nghiệp đã ngừng hoạt động từ nhiều năm nhưng chưa làm thủ tục giải thể theo quy định của Luật doanh nghiệp. Tính chung 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 3.017 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 13,94% so với cùng kỳ; 666 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 4,88%; 1.405 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 2,43%; 1.185 doanh nghiệp giải thể, tăng 1,58 lần (tương ứng 726 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 15.886,8 tỷ đồng, tăng 17,06%. Về thu hút đầu tư (tính đến ngày 19/8/2026), toàn tỉnh có 41 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 165.994,2 tỷ đồng; 39 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 19/8/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.960 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 938.711 tỷ đồng (trong đó: có 246 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.968 tỷ đồng). III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Trong tháng, hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh cơ bản duy trì ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đi lại của người dân, đồng thời phục vụ hiệu quả lượng khách du lịch trong mùa cao điểm hè. Hàng hóa trên thị trường dồi dào, đa dạng, cơ bản đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân và khách du lịch. Hoạt động du lịch tiếp tục diễn ra sôi động, thu hút đông đảo du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng. Dịch vụ lữ hành duy trì ổn định; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống, dịch vụ vui chơi, giải trí tăng cường hoạt động và nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của người dân và du khách. Hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa cơ bản thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại, giao thương và vận chuyển hàng hóa trên địa bàn tỉnh. Đặc biệt, vận tải đường thủy duy trì ổn định, phục vụ thuận lợi nhu cầu đi lại của người dân và du khách đến đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 18.030,8 tỷ đồng, tăng 3,36% so với tháng trước và tăng 22,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ước tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 10.589 tỷ đồng, tăng 1,69% so với tháng trước và tăng 20,84% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 4.058,8 tỷ đồng, tăng 7,29% so với tháng trước và tăng 32,75% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.383 tỷ đồng, tăng 4,12% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 132.755,8 tỷ đồng, tăng 18,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 81.012 tỷ đồng, tăng 17,02% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 27.428,5 tỷ đồng, tăng 24,37% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 24.315,2 tỷ đồng, tăng 17,32% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng, lực lượng Quản lý thị trường tiếp tục tăng cường kiểm tra, kiểm soát thị trường, tập trung phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu; đồng thời đẩy mạnh đấu tranh với các hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và tăng cường kiểm soát đối với các mặt hàng gạo, vật liệu xây dựng. Công tác theo dõi cung - cầu và giá bán xăng dầu được thực hiện thường xuyên, nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các dấu hiệu bất thường, như tăng giá không hợp lý, gián đoạn nguồn cung hoặc ngừng bán hàng không đúng quy định, góp phần bảo đảm thị trường hoạt động ổn định, minh bạch và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trong tháng, lực lượng chức năng đã kiểm tra 104 vụ, phát hiện 85 vụ vi phạm và xử lý 91 vụ (trong đó có 7 vụ chuyển từ kỳ trước) với tổng số tiền thu nộp ngân sách nhà nước đạt 714,6 triệu đồng (trong đó tiền xử phạt vi phạm hành chính 673,25 triệu đồng). Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/8/2026, lực lượng chức năng đã kiểm tra 1.013 vụ, xử lý 934 vụ, với tổng số tiền xử phạt 7.631,6 triệu đồng. Kết quả trên cho thấy công tác quản lý, kiểm soát thị trường tiếp tục được triển khai quyết liệt, chủ động và có trọng tâm, góp phần giữ ổn định thị trường, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. 2. Giá tiêu dùng (CPI) Trong tháng 8 và 8 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân cơ bản ổn định. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa và dịch vụ vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố như chi phí sản xuất, chi phí vận tải, nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ, cùng với diễn biến giá cả trên thị trường thế giới biến động, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,68% so với tháng trước, tăng 1,34% so với tháng 12/2025 và tăng 4,33% so với cùng kỳ. Bình quân 8 tháng năm 2026, CPI tăng 4,31% so với cùng kỳ. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính các nhóm hàng đều tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,04%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,33%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,16%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,53%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,68%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; Giao thông tăng 4,28%; Thông tin và truyền thông tăng 0,21%; Giáo dục tăng 0,07%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,36%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,39%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,04% so tháng trước, do giá nguyên vật liệu chế biến, giá gas, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng. Đồng thời trong tháng du lịch hè tăng nên nhu cầu ăn uống bên ngoài tăng. Giá gas trong tháng tăng 5,41% so với tháng trước, do giá bán lẻ trong nước công ty điều chỉnh tăng 29.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 06, 13 và 20 tháng 8/2026, tính bình quân chung tháng 8/2026 chỉ số giá nhiên liệu tăng 9,26%. Trong đó mặt hàng xăng tăng 9,53% so tháng trước; giá dầu diezel tăng 22,17%. - Nguyên nhân giảm: Giá lương thực giảm 0,68% so tháng trước, giảm chủ yếu các mặt hàng gạo do đang vào mùa thu hoạch lúa hè thu, nguồn cung dồi dào nên giá bán thị trường giảm so tháng trước. Giá rau tươi, khô và chế biến giảm 0,57% so với tháng trước, một số loại rau tươi đang vào kỳ thu hoạch nên nguồn cung tại địa phương dồi dào, giá bán thị trường giảm so tháng trước. Trong đó, giá bắp cải giảm 0,7% so với tháng trước; cà chua giảm 1,17%; đỗ quả tươi giảm 0,5%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2026 tăng 4,31% so với bình quân cùng kỳ năm 2025. * Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 8 tháng năm 2026 CPI bình quân 8 tháng năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu duy trì xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông và giáo dục. Trong đó, nhóm lương thực tăng 1,85%, làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm, chủ yếu do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp, gạo tẻ ngon tăng cao trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán. Nhóm thực phẩm tăng 4,25%, góp phần làm CPI tăng 1,06 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thịt lợn, thịt gia cầm tăng trong bối cảnh nguồn cung còn hạn chế, nhu cầu tiêu dùng tăng cao và chi phí chăn nuôi duy trì ở mức cao. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,77%, làm CPI tăng 1,03 điểm phần trăm, do giá vật liệu xây dựng và giá thuê nhà tăng; giá gas trong nước tăng 18,75% theo diễn biến giá gas thế giới. Bên cạnh đó, nhóm giao thông tăng 5,55%, góp phần làm CPI tăng 0,63 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 9,96% theo các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước và giá dịch vụ vận tải hành khách tăng 26,76%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,86%, làm CPI tăng 0,41 điểm phần trăm, do giá lương thực, thực phẩm, gas, thuê mặt bằng và nhân công tăng. Nhóm giáo dục tăng 7,04%, góp phần làm CPI tăng 0,34 điểm phần trăm do một số cơ sở giáo dục điều chỉnh học phí; các nhóm đồ uống và thuốc lá, may mặc, mũ nón, giày dép và thiết bị, đồ dùng gia đình cũng tăng do nhu cầu tiêu dùng cao cùng với chi phí nguyên vật liệu, sản xuất và vận chuyển tăng. Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,21%, góp phần kiềm chế mức tăng CPI 0,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá các dòng điện thoại thế hệ cũ giảm khi doanh nghiệp triển khai các chương trình khuyến mại, giảm giá và kích cầu tiêu dùng. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, hoạt động du lịch bước vào mùa sôi động với hàng loạt lễ hội, sự kiện văn hóa, thể thao, ẩm thực và xúc tiến thương mại, góp phần thu hút du khách và quảng bá hình ảnh địa phương với sự kết nối biển xanh, cao nguyên, nông nghiệp công nghệ cao và văn hóa bản địa. Điểm nhấn là thông điệp “Hành trình kết nối Biển - Hoa - Đại ngàn”, khai thác lợi thế không gian du lịch mới sau sáp nhập tỉnh, tạo điều kiện để du khách kết hợp nghỉ dưỡng biển, khám phá cao nguyên, trải nghiệm văn hóa và thưởng thức đặc sản trong cùng một hành trình. Chuỗi hoạt động nổi bật gồm Ngày hội Du lịch - Mua sắm - Giao lưu ẩm thực Việt, Festival Khinh khí cầu, Festival Ẩm thực, Lễ hội Hoa - Rau - Quả, chương trình LamDong Night và các hoạt động giao lưu văn hóa. Du lịch thể thao tiếp tục được khai thác, tiêu biểu là Lam Dong TriFactor 2026 diễn ra từ ngày 14 - 16/8 tại phường Tiến Thành, góp phần quảng bá cảnh quan và phát triển du lịch trải nghiệm. Đặc biệt, Cảng hàng không quốc tế Liên Khương mở cửa trở lại sau nâng cấp, tạo thuận lợi cho kết nối và thu hút du khách, kỳ vọng tạo thêm động lực tăng trưởng cho ngành du lịch. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.344,5 nghìn lượt, tăng 5,15% so tháng trước và tăng 26,75% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 81,5 nghìn lượt, tăng 4,07% so với tháng trước và tăng 9,44% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ ước đạt 4.269,1 nghìn ngày khách, tăng 5,01% so với tháng trước và tăng 28,18% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 98,8 nghìn lượt khách, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 13,49% so với cùng kỳ; ngày khách phục vụ ước đạt 317,4 nghìn ngày khách, tăng 3,7% so với tháng trước và tăng 16,59% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 16.460,9 nghìn lượt, tăng 18,98% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày đạt 584,7 nghìn lượt, tăng 12,13% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ đạt 30.533,6 nghìn ngày khách, tăng 20,82% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế lũy kế 8 tháng năm 2026 đạt 997,5 nghìn lượt, tăng 14,8% so với cùng kỳ; ngày khách quốc tế đạt 3.182,6 nghìn ngày khách, tăng 18,04% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 813,8 tỷ đồng, tăng 5,99% so với tháng trước và tăng 30,66% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.184 tỷ đồng, tăng 7,72% so với tháng trước và tăng 33,33% so với cùng kỳ; du lịch lữ hành ước đạt 61 tỷ đồng, tăng 2,74% so với tháng trước và tăng 31,06% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 5.565,4 tỷ đồng, tăng 23,57% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 21.418,5 tỷ đồng, tăng 24,31% so với cùng kỳ; dịch vụ lữ hành đạt 444,6 tỷ đồng, tăng 39,04% so với cùng kỳ. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.516,4 tỷ đồng, tăng 6,44% so với tháng trước và tăng 29,8% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 45.588,8 tỷ đồng, tăng 22,31% so với cùng kỳ. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.383 tỷ đồng, tăng 4,12% so với tháng trước và tăng 18,5% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 780,5 tỷ đồng, tăng 1,78% so với tháng trước và tăng 10,87% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 183,2 tỷ đồng, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 13,12% so với cùng kỳ ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 170,2 tỷ đồng, tăng 3,95% so với tháng trước và tăng 23,52% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 264,4 tỷ đồng, tăng 1,58% so với tháng trước và tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.644,8 tỷ đồng, tăng 6,48% so với tháng trước và tăng 22,71% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 339,9 tỷ đồng, tăng 1,64% so với tháng trước và tăng 18,41% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 24.315,2 tỷ đồng, tăng 17,32% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 5.831,9 tỷ đồng, tăng 10,63% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.366,7 tỷ đồng, tăng 11,82% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.220,9 tỷ đồng, tăng 22,83% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.965,7 tỷ đồng, tăng 16,15% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 11.445,5 tỷ đồng, tăng 22,52% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác đạt 2.484,5 tỷ đồng, tăng 12,78% so với cùng kỳ. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng, hoạt động vận tải, kho bãi tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, gắn với nhu cầu đi lại, vận chuyển hành khách và hàng hóa ngày càng tăng. Hoạt động du lịch, dịch vụ, sản xuất và kinh doanh trên địa bàn ổn định, cùng với nhu cầu vận chuyển phục vụ xây dựng, tiêu thụ nông sản và cung ứng hàng hóa thiết yếu tăng, đã góp phần thúc đẩy doanh thu vận tải trong tháng. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.300,9 tỷ đồng, tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 26,79% so với cùng kỳ. Tính chung 8 tháng năm 2026, doanh thu ước đạt 9.697,8 tỷ đồng, tăng 23,83% so với cùng kỳ, cho thấy hoạt động vận tải tiếp tục đáp ứng tốt nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại trên địa bàn. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.012,5 nghìn HK, tăng 0,08% so với tháng trước và tăng 16,48% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 432.639,5 nghìn HK.Km, tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 16,61% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 22.945,7 nghìn HK, tăng 16,69% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 3.302.829,9 nghìn HK.Km, tăng 17,21% so với cùng kỳ. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.361,8 nghìn tấn, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 26,04% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 347.165,8 nghìn tấn.Km, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 26,48% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 16.963,4 nghìn tấn, tăng 19,8% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.495.190,7 nghìn tấn.Km, tăng 20,31% so với cùng kỳ. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.300,9 tỷ đồng, tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 26,79% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 9.697,8 tỷ đồng, tăng 23,83% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.341,7 tỷ đồng, tăng 27,86% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 4.741,9 tỷ đồng, tăng 26,11% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.261,4 tỷ đồng, tăng 13,75% so với cùng kỳ; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 352,8 tỷ đồng, tăng 1,08% so với cùng kỳ. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước đạt 2.097,7 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.928,2 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 169,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.397,7 tỷ đồng, tăng 29,95% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026 ước thực hiện 23.940 tỷ đồng, bằng 69,52% kế hoạch năm và tăng 15,67% so với cùng kỳ, trong đó: thu nội địa ước thực hiện 22.130 tỷ đồng, bằng 67,73% kế hoạch năm và tăng 12,43%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 1.810 tỷ đồng, bằng 102,84% kế hoạch năm và tăng 78,54% so với cùng kỳ. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 8 tháng năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 2.900 tỷ đồng (bằng 76,24% kế hoạch năm và tăng 3,19% so với cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 1.143 tỷ đồng (bằng 82,84% kế hoạch năm và tăng 16,32%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 6.055 tỷ đồng (bằng 90,54% kế hoạch năm và tăng 46,3%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 2.095 tỷ đồng (bằng 76,74% kế hoạch năm và tăng 0,31%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 3.225 tỷ đồng (bằng 43,73% kế hoạch năm và tăng 1,66%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 3.765 tỷ đồng (bằng 64,91% kế hoạch năm và tăng 12,19%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 4.983,2 tỷ đồng, lũy kế 8 tháng năm 2026 ước 35.474,8 tỷ đồng, bằng 72,7% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 14.764,4 tỷ đồng, bằng 111,74% kế hoạch năm; chi thường xuyên 20.693,3 tỷ đồng, bằng 68,17% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: Đến 31/7/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 251.517 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 22.241 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 9,7%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 248.690 tỷ đồng (chiếm 98,88% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.827 tỷ đồng, (chiếm 1,12% tổng huy động vốn). Ước đến 31/8/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 253.700 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 24.424 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 10,65%. Hoạt động tín dụng: Đến 31/7/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 377.440 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 6.456 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,74%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 375.159 tỷ đồng (chiếm 99,4% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.281 tỷ đồng (chiếm 0,6% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 266.510 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 110.930 tỷ đồng. Ước đến 31/8/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 379.300 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 8.316 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,24%. Lãi suất tiền gửi: Lãi suất huy động bằng VND bình quân: tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng ở mức 0,17% - 0,49%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,28% - 4,74%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng ở mức 7,43% - 8,09%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng trở lên ở mức 6,87% - 7,63%/năm. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay: Bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở mức 9,09% - 11,69%/năm; cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,34% - 4,8%/năm.     Dư nợ cho vay: Đến 31/7/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 183.976 tỷ đồng, chiếm 48,74% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.540 tỷ đồng, chiếm 8,62% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 160.924 tỷ đồng, chiếm 42,64% tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn tỉnh được kiểm soát ở mức 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng, không thay đổi so với cuối năm 2025. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã triển khai công tác tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị và kỷ niệm các ngày lễ của đất nước: kỷ niệm 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026); đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc biệt chào mừng kỷ niệm 81 năm ngày Cách mạng tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2026) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2026); tổ chức triển lãm chuyên đề "Hội An - Từ ký ức đấu tranh cách mạng đến Di sản Văn hóa Thế giới" tại Di tích quốc gia Nhà lao Thiếu nhi Đà Lạt; Lễ hội Cầu ngư các vạn chài phường Phan Thiết năm 2026 với chủ đề “Giữ gìn bản sắc văn hóa biển - Cầu quốc thái dân an - Ngư dân vươn khơi thắng lợi”; tổ chức chương trình âm nhạc đường phố,… Ngoài ra, đã tổ chức 08 buổi biểu diễn phục vụ chính trị; 09 buổi biểu diễn văn nghệ phục vụ cơ sở; 107 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở; tổ chức Tuần phim Ấn Độ và chiếu phim miễn phí phục vụ nhân dân; bên cạnh đó tổ chức biểu diễn doanh thu đạt 55 triệu đồng. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 37.760 lượt khách, trong đó có 1.455 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 7.513 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 1.676 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 235 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 27.971 lượt; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 365 lượt). Lũy kế từ ngày 01/01 đến 13/8/2026 đã đón 239.504 lượt khách tham quan, trong đó có 17.023 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 58.125 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 37.118 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 7.076 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 128.394 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 8.791 lượt khách). + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 211 đoàn với 20.399 lượt khách (trong đó có 34 khách quốc tế); phục vụ 30 lễ viếng, báo công. Lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 12/8/2026) đã tiếp đón 1.478 đoàn khách tham quan với 111.062 lượt khách (trong đó có 332 khách quốc tế); phục vụ: 186 lễ viếng, 10 báo công, 06 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 02 lễ rước đuốc, 04 lễ tuyên dương và 24 sinh hoạt chuyên đề; tổ chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh); tham gia triển lãm chuyên đề “Lan tỏa - Di sản văn hóa Hồ Chí Minh” tại Khu Di tích Quốc gia Đặc biệt Kim Liên, tỉnh Nghệ An; thực hiện 09 phóng sự tại Di tích Dục Thanh. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 15 đoàn với 1.518 lượt khách; lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 13/8/2026) đã đón 16.080 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 256 thẻ (thiếu nhi 129 thẻ), phục vụ 159.081 lượt bạn đọc, luân chuyển 15.798 lượt tài liệu, sưu tầm 716 tin bài về Lâm Đồng, trưng bày 801 tài liệu. Ngoài ra đã tổ chức các hoạt động phục vụ hè cho các em thiếu nhi, chương trình “Sách đến mọi nhà” với hình thức xe sách lưu động, chương trình giao lưu - trao tặng 500 quyển các tác phẩm thuộc bộ sách “Khi trẻ là tác giả”. Lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 14/8/2026) đã cấp mới và gia hạn 6.206 thẻ (thiếu nhi 4.546 thẻ), phục vụ 1.842.314 lượt bạn đọc, luân chuyển 475.357 lượt tài liệu, trưng bày 144.964 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức và phối hợp tổ chức Giải ba môn phối hợp “Lam Dong Tri Factor 2026”; Giải Bơi phong trào đường đua xanh tỉnh Lâm Đồng năm 2026; tổ chức chuỗi sự kiện thể thao “Sports Festival” năm 2026 (Giải vô địch Triathlon trẻ và U23 quốc gia năm 2026; Giải Quần vợt quốc tế ITF Masters Tour 2026; Giải Golf cảnh sát các nước Asean mở rộng năm 2026; Giải Golf công an nhân dân mở rộng - lần thứ 2; cúp bắn súng mùa hạ 2026; Giải Chạy "Hành trình 81 năm - Vì An ninh Tổ Quốc"; Giải Đua xe đạp CLB phong trào toàn quốc năm 2026; Giải Pickleball công an nhân dân khu vực phía Nam mở rộng lần thứ nhất năm 2026; Giải Bóng chuyền bãi biển Nữ Quốc tế năm 2026; Giải Quần vợt bãi biển). - Thể thao thành tích cao: Trong tháng, cử đoàn tham gia 18 giải thể thao; kết quả đạt được 108 huy chương (25 HCV, 21 HCB, 62 HCĐ), trong đó có 4 huy chương quốc tế (2 HCV, 1 HCB, 1 HCĐ). Lũy kế 8 tháng năm 2026 (tính đến ngày 15/8/2026) đã tham gia 80 giải thể thao quốc gia, quốc tế; kết quả đã đạt 567 huy chương (116 HCV, 142 HCB, 309 HCĐ), trong đó có 01 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 13 huy chương quốc tế (05 HCV, 02 HCB, 06 HCĐ). 2. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước và các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đồng thời triển khai công tác truyền thông Chương trình mục tiêu quốc gia Phòng chống ma tuý năm 2026; cập nhật, hoàn thiện cơ sở dữ liệu và công khai thông tin về văn phòng đại diện, cơ quan thường trú, phóng viên thường trú, phóng viên tác nghiệp của các cơ quan báo chí trên địa bàn tỉnh và xây dựng Không gian tham vấn trực tuyến Diễn đàn tham vấn các giải pháp phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2040. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Triển khai hệ thống truyền thanh ứng dụng công nghệ thông tin - viễn thông; triển khai xây dựng Đề án Thiết lập và vận hành hiệu quả hệ thống thông tin hai chiều giữa Nhà nước và người dân. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 11 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh; tổ chức kiểm tra, rà soát cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” 3. Giáo dục và đào tạo Trong tháng tập trung rà soát hệ thống cơ sở vật chất chuẩn bị phục vụ năm học mới 2026-2027; tiến hành sửa chữa những hạng mục hư hỏng, xuống cấp, đảm bảo an toàn, đầy đủ nhằm phục vụ cho công tác dạy và học cho năm học mới. Hiện nay đang triển khai tổ chức biên soạn, thẩm định tài liệu giáo dục địa phương để đưa vào sử dụng từ năm học 2026-2027 theo quy định; phối hợp với đơn vị xuất bản triển khai thực hiện bộ sách giáo khoa thống nhất từ năm học 2026-2027 để phát hành và cung ứng kịp thời cho năm học mới. Năm học 2026-2027, các trường trung học phổ thông (THPT) chuyên trên địa bàn tỉnh tổ chức tuyển sinh 1.294 chỉ tiêu vào lớp 10; xét tuyển trường phổ thông dân tộc nội trú 1.030 học sinh; công tác phê duyệt kết quả chỉ tiêu tuyển sinh các trường THPT 114/114 trường với số lượng 44.814/44.898 học sinh. Hệ thống trường chuẩn quốc gia trên địa bàn tỉnh được quan tâm xây dựng nhằm chuẩn hóa cơ sở vật chất, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên và đổi mới phương pháp dạy học, góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục địa phương theo các tiêu chuẩn kiểm định chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Hiện nay, toàn tỉnh có 1.011/1.431 trường mầm non và phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia (chiếm tỉ lệ 70,65%), trong đó có 741/1.032 trường phổ thông công lập đạt chuẩn quốc gia (chiếm tỉ lệ 71,8%). 4. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm, nhất là phòng - chống dịch bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng, bệnh dại trên người; tăng cường công tác truyền thông phòng, chống bệnh tay chân miệng, sốt xuất huyết và vận động tiêm chủng phòng bệnh quai bị; thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 1.090 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 634 ca so với tháng trước (456 ca) và tăng 194 ca so với cùng kỳ năm trước (896 ca); có 01 trường hợp tử vong. Lũy kế từ ngày 01/01-31/7/2026, toàn tỉnh có 2.715 ca mắc, tăng 173 ca so với cùng kỳ năm trước (2.542 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 137 ổ dịch, lũy kế đến ngày 31/7/2026 đã phát hiện xử lý 361 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 2 ca mắc; lũy kế từ ngày 01/01- 31/7/2026, toàn tỉnh có 03 ca mắc bệnh sốt rét (không tính 01 ca của tháng 12/2025). - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 425 ca mắc, tăng 33 ca so với tháng trước và tăng 211 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ ngày 01/01-31/7/2026, toàn tỉnh có 3.181 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 09 ca mắc, giảm 05 ca so với tháng trước và giảm 31 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ ngày 01/01-31/7/2026, toàn tỉnh có 92 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.870 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.453 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.744 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.830 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.593 trẻ, mũi 2 cho 3.693 trẻ và mũi 3 cho 3.642 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.619 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không có bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 435 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 9 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 422 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý là 01 người (01 người tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 183 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số 05 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng 04 BN/100.000 dân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 21 bệnh nhân nhiễm HIV mới, 03 bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 04 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.887 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.798 người, tử vong 1.582 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 389.589 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 39.727 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 120.259 ngày, xét nghiệm cho 749.938 tiêu bản, chẩn đoán 304.646 hình ảnh và phẫu thuật 4.322 trường hợp. Ước 8 tháng năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 3.375.230 lượt người; 283.312 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.739.374 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,03 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 85,50%; xét nghiệm cho 4.880.784 tiêu bản; chẩn đoán 1.177.839 hình ảnh và phẫu thuật cho 41.377 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 106 cơ sở thực phẩm, phát hiện 16 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 109,5 triệu đồng. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (do ngộ độc thực phẩm trong bánh mì, xã Nam Ban - Lâm Hà) làm 84 người mắc, không có tử vong. Lũy kế 8 tháng năm 2026 xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 188 người mắc, có 01 người tử vong. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi tiếp tục được Nhà nước quan tâm triển khai. Cơ sở hạ tầng phục vụ đồng bào và vùng khó khăn tiếp tục được đầu tư xây dựng, bản sắc văn hóa truyền thống được gìn giữ và phát huy, qua đó từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng; 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet; nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin vùng đồng bào DTTS. - Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Công tác xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và vùng sâu, vùng xa được triển khai tích cực để năm học 2026 - 2027 đưa vào sử dụng; hệ thống cơ sở vật chất, phòng học, phòng học bộ môn, thư viện, thiết bị dạy học, ký túc xá, nhà công vụ giáo viên từng bước được đầu tư; qua đó góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng đồng bào DTTS. - Hệ thống y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Các cơ sở khám chữa bệnh bảo đảm thường trực cấp cứu, chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, phương tiện; công tác phòng, khám chữa bệnh được triển khai đến tận vùng sâu, vùng xa phục vụ người dân. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. - Phật giáo: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng chuẩn bị nhân sự Đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031; ban hành quyết định thành lập chùa Linh Quy Pháp Ấn, xã Bảo Lâm 3; đề nghị thành lập 12 Ban Quản trị cơ sở tự viện trên địa bàn tỉnh; đăng ký bổ nhiệm 03 chức sắc làm trụ trì; chấp thuận chủ trương xây dựng 03 cơ sở Phật giáo trên địa bàn tỉnh; chùa Pháp Hoa, phường Bắc Gia Nghĩa, tổ chức lễ khai mạc Khóa tu mùa hè năm 2026 với chủ đề “Lắng nghe để hiểu - Nhìn lại để thương”; Phân ban Gia đình Phật tử (Khu vực III) tổ chức Lễ khai mạc Liên trại Huấn luyện Anoma - Ni Liên- Tuyết Sơn năm 2026 tại Tịnh xá Đức Niệm, phường Nam Gia Nghĩa. - Công giáo: Giáo phận Giáo phận Đà Lạt tổ chức Thánh lễ ban Bí tích và thêm sức cho các em thiếu nhi tại các Giáo xứ trong Giáo phận Đà Lạt, tổ chức “Ngày hội Giáo lý viên 2026 - Khơi dậy tinh thần người môn đệ thừa sai” tại Giáo xứ La Vang, phường 2 - Bảo Lộc; Toà Giám mục Giáo phận Phan Thiết mời 37 người nước ngoài (01 Hồng y, 04 Linh mục, 06 Chủng sinh, 09 giới trẻ, 12 thiếu niên, 05 người hướng dẫn) đến Việt Nam tham quan một số cơ sở tôn giáo thuộc Giáo phận Phan Thiết; Cộng đoàn Don Bosco K’Long, xã Hiệp Thạnh mở 04 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo, thu hút 135 người tham dự. - Tin lành: Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) đăng ký người được bổ nhiệm làm chức việc 03 trường hợp và đề nghị thành lập 03 tổ chức tôn giáo trực thuộc (Chi hội Đạ Long 1, xã Đam Rông 4; Chi hội Dà Blu, xã Hiệp Thạnh; Chi hội Chi Rông, xã Đức Trọng); Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam tổ chức cuộc lễ ngoài cơ sở tôn giáo tại phường Tiến Thành. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 329 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công; giải quyết 231 hồ sơ về chế độ mai táng phí liên thông theo Đề án 06. Thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng theo quy định; đã giải quyết cho 14.480 đối tượng nhận trợ cấp không dùng tiền mặt qua tài khoản cá nhân. Lũy kế 8 tháng năm 2026 đã giải quyết 2.473 hồ sơ chế độ chính sách cho người có công với cách mạng; chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền mặt cho 14.480 người có công với tổng kinh phí 45,49 tỷ đồng. Tính đến ngày 12/8/2026, toàn tỉnh đã hoàn thành xây mới 27 căn nhà, đang xây dựng 11 nhà, hoàn thành sửa chữa 44 nhà, đang tiến hành sửa chữa 01 nhà cho các đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Tính đến ngày 31/7/2026, toàn tỉnh có 320.202 người tham gia BHXH, đạt 96,68% kế hoạch năm và tăng 10,14% so với cùng kỳ năm trước; 241.166 người tham gia BHTN, đạt 95,15% kế hoạch và tăng 8,01%; 3.144.162 người tham gia BHYT, đạt 98,15% kế hoạch và tăng 4,16%. Tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 92,81% dân số. Trong tháng 7/2026, đã giải quyết mới 11.470 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 3.004 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 300 người; trợ cấp 1 lần cho 2.813 người; chế độ ốm đau cho 6.609 người; chế độ thai sản cho 1.395 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 353 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.770 người và hỗ trợ học nghề cho 234 người). Lũy kế đến ngày 31/7/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 69.931 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 13.323 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 1.281 người; trợ cấp 1 lần cho 16.559 người; chế độ ốm đau cho 40.658 người; chế độ thai sản cho 8.986 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 2.447 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 12.563 người và hỗ trợ học nghề cho 760 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/7/2026 - 14/8/2026) Trong tháng xảy ra 49 vụ tai nạn giao thông, giảm 9 vụ so với tháng trước và giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 29 người, giảm 10 người so với tháng trước, tương đương so với cùng kỳ; số người bị thương 40 người, tăng 12 người so với tháng trước và giảm 6 người so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 452 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 115 vụ so với cùng kỳ; số người chết 291 người, tương đương so với cùng kỳ; số người bị thương 298 người, giảm 143 người so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 25/7 - 24/8/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ thiên tai do mưa lớn kèm theo lốc xoáy; thiên tai đã làm 02 người bị thương, 35 căn nhà bị tốc mái, 706,8 ha cây trồng các loại bị ảnh hưởng, xói lở 60,0 mét đường, 10 cột điện bị gẫy đổ, 6,4 ha nhà kính - nhà lưới bị ảnh hưởng và hư hỏng nhiều tài sản khác; ước thiệt hại 8,3 tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 20 vụ thiên tai làm 01 người chết, 04 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 48 căn nhà bị tốc mái hư hỏng, 214 căn bị ảnh hưởng nhẹ, 02 căn phòng làm việc bị tốc mái hoàn toàn, 10,6 ha lúa sạ bị ngập, 971,5 ha lúa bị ảnh hưởng nhẹ, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 52,4 ha rau màu bị ảnh hưởng nhẹ, 211,9 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm, 15 cột điện- trụ đèn bị đổ và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 38 tỷ đồng. - Cháy nổ: Từ ngày 16/7-15/8/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ cháy nổ, tăng 03 vụ so với tháng trước và giảm 01 vụ so với cùng kỳ năm trước. Đang thống kê thiệt hại. Lũy kế 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 44 vụ cháy, tăng 09 vụ so với cùng kỳ năm trước, có 02 người chết và 02 người bị thương. Trong đó có 30 vụ đã được thống kê với số tiền thiệt hại gần 3 tỷ đồng, 14 vụ đang thống kê thiệt hại. - Vi phạm môi trường: Trong tháng, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng xảy ra 05 vụ vi phạm môi trường, bị xử phạt tổng số tiền là 581,5 triệu đồng, lý do xả nước thải vượt quy chuẩn kỹ thuật ra môi trường (gồm có: Công ty Cổ phần Đầu tư Lan Anh Đà Lạt - phường Xuân Hương - Đà Lạt, bị xử phạt 70 triệu đồng; Công ty Cổ phần Thiên Nhân - phường Xuân Hương - Đà Lạt, bị xử phạt 70 triệu đồng; Công ty Cổ phần đầu tư IDJ Việt Nam - chủ đầu tư dự án tổ hợp khách sạn nghỉ dưỡng khu du lịch Apec Mandala Wyndham Mũi Né, bị xử phạt 270 triệu đồng; Công ty TNHH Khu công nghiệp Đông Hà - xã Trà Tân, bị xử phạt 15 triệu đồng; Cơ sở sửa xe ô tô của Ông Trần Chí Thuận - phường Hàm Thắng, bị xử phạt 156,5 triệu đồng). Lũy kế 8 tháng năm 2026, xảy ra 8 vụ vi phạm, tổng số tiền bị xử phạt là 996,5 triệu đồng, so với cùng kỳ năm trước giảm 10 vụ (8 tháng năm 2025: 18 vụ vi phạm, số tiền xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Nhìn chung, trong tháng 8 và 8 tháng năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, các động lực tăng trưởng chủ yếu có chuyển biến tích cực và tương đối đồng đều giữa công nghiệp, dịch vụ, đầu tư và tiêu dùng. Sản xuất công nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng, chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng năm 2026 tăng 10,6% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, sản phẩm nhôm thỏi của Công ty luyện kim Trần Hồng Quân đã đi vào sản xuất từ tháng 7/2026 sản lượng khoảng 600 tấn; ước tháng 8/2026 đạt khoảng 2.500 tấn, góp phần bổ sung năng lực sản xuất mới, thúc đẩy tăng trưởng ngành công nghiệp và tạo thêm động lực cho tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm. Hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch và vận tải tiếp tục sôi động; lượt khách du lịch ước đạt 16,46 triệu lượt, tăng 18,98%, doanh thu du lịch tăng 22,31% so với cùng kỳ. Đầu tư công được đẩy mạnh, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tăng 15,43%; thu ngân sách nhà nước tăng 15,67%, bằng 69,52% kế hoạch năm. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định, trong đó sản lượng thịt hơi các loại tăng 11,36%, sản lượng gỗ khai thác tăng 3,37% và sản lượng thủy sản tăng 3,42% so với cùng kỳ. Hoạt động sản xuất, kinh doanh có sự cải thiện, tuy nhiên vẫn còn một số yếu tố cần lưu ý như dịch tả lợn Châu Phi phải tiêu hủy 22.859 con lợn; vi phạm lâm luật xảy ra 381 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 30,2 ha; số doanh nghiệp giải thể tăng 1,58 lần so với cùng kỳ. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội, an sinh, chăm sóc sức khỏe, giáo dục, văn hóa và thể thao tiếp tục được quan tâm, góp phần ổn định đời sống nhân dân. Tuy nhiên, thiên tai còn diễn biến phức tạp; 8 tháng năm 2026 xảy ra 20 đợt, làm 01 người chết, 04 người bị thương, ảnh hưởng gần 1.247 ha cây trồng, tổng thiệt hại khoảng 38 tỷ đồng. Trong những tháng cuối năm, cần tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện để các cơ sở sản xuất mới, nhất là các dự án công nghiệp, nhanh chóng ổn định và nâng công suất; đẩy nhanh tiến độ giải ngân đầu tư công; thúc đẩy thương mại, dịch vụ và du lịch; đồng thời tăng cường kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ rừng và chủ động ứng phó với thiên tai, qua đó tạo nền tảng hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026./. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   02/08/2026 21:22

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Sản xuất nông nghiệp tập trung gieo trồng vụ Hè thu theo đúng khung vụ; nhờ chủ động nguồn nước, đẩy mạnh cơ giới hóa và sử dụng giống ngắn ngày, chất lượng cao nên tiến độ sản xuất bảo đảm kế hoạch. Chăn nuôi phát triển ổn định, tổng đàn gia súc, gia cầm được duy trì. Hoạt động lâm nghiệp tập trung thực hiện kế hoạch trồng rừng năm 2026; đồng thời tăng cường quản lý bảo vệ rừng và triển khai hiệu quả các biện pháp phòng, chống cháy rừng. Hoạt động khai thác thủy sản đạt kết quả tích cực, sản lượng khai thác đều tăng so với cùng kỳ; công tác kiểm tra, kiểm soát, phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp tiếp tục được tăng cường. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tính đến ngày 15/7/2026, tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm ước đạt 244.974,9 ha, tăng 2,02% so với cùng kỳ. Diện tích gieo trồng tăng ở hầu hết các loại cây trồng, trong đó: diện tích gieo trồng lúa ước đạt 104.800 ha, tăng 1,21% (diện tích gieo trồng lúa vụ Hè thu ước đạt 49.400 ha, tăng 2,42%); diện tích gieo trồng ngô ước đạt 32.200 ha, tăng 4,61%; diện tích gieo trồng rau ước đạt 58.000 ha, tăng 2,21%; diện tích gieo trồng hoa ước đạt 7.750 ha, tăng 1,48%; diện tích gieo trồng đậu các loại ước đạt 9.250 ha, tăng 0,67%; diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm còn lại ước đạt 32.974,9 ha, tăng 2,34%. 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định. Thời tiết đầu mùa mưa với lượng mưa cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh trưởng của cây trồng; giá nhiều nông sản chủ lực, đặc biệt là cà phê và sầu riêng duy trì ở mức cao, tạo động lực để nông dân đầu tư thâm canh, chăm sóc và tái đầu tư sản xuất. Diện tích sản xuất theo các tiêu chuẩn chất lượng và hướng phát triển bền vững tiếp tục được mở rộng; nhiều vùng nguyên liệu đã hình thành chuỗi liên kết với doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu. Cụ thể một số loại cây chính như sau: - Cây cà phê: Diện tích cà phê hiện có 329.992 ha, tăng 1,09% so với cùng kỳ; hiện cây cà phê đang trong giai đoạn nuôi trái; giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tăng cường đầu tư chăm sóc, bón phân,...; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.378 ha, tăng 1,95% so với cùng kỳ. Trong thời gian tới, diện tích cao su trồng mới dự kiến tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do người dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư; - Cây điều: Diện tích điều hiện có 45.765,2 ha, giảm 8,74% so với cùng kỳ. Mặc dù vẫn là một trong những cây công nghiệp lâu năm của tỉnh, cây điều không còn nằm trong nhóm cây được ưu tiên mở rộng diện tích. Trong bối cảnh phát triển nông nghiệp công nghệ cao, cấp mã số vùng trồng và đẩy mạnh các ngành hàng xuất khẩu có giá trị cao, diện tích điều có xu hướng chuyển đổi sang các cây trồng có hiệu quả kinh tế cao hơn như cà phê, sầu riêng, chanh leo, dâu tằm,…; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.256 ha, tăng 2,13% so với cùng kỳ; hiện một số vùng đang thu hoạch, một số vùng tiếp tục trong giai đoạn nuôi trái. Giá sầu riêng duy trì ở mức khá đã khuyến khích người sản xuất đầu tư thâm canh, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm; - Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có 37.761,9 ha, tăng 0,01% so với cùng kỳ; hiện đã hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao (khoảng 148.000 - 151.000 đồng/kg) trong những tháng đầu năm 2026, đây là động lực giúp người nông dân tái đầu tư và chăm sóc vườn cây; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.866 ha, giảm 0,21% so với cùng kỳ; cây sinh trưởng tương đối ổn định, tuy nhiên chi phí sản xuất tăng do xử lý ra hoa trái vụ. Giá thanh long duy trì ở mức trung bình khá, góp phần ổn định sản xuất; người dân đang định hướng phát triển tập trung vào nâng cao năng suất, chất lượng thông qua mở rộng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP thay vì mở rộng diện tích;… 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Tính đến ngày 15/7/2026, tổng dung tích nước tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh ước đạt 454,13 triệu m3, bằng 51,45% dung tích thiết kế, tăng 10,18 triệu m3 so với cùng kỳ, cơ bản đáp ứng nhu cầu phục vụ sản xuất trên địa bàn. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, tình hình dịch bệnh trên cây trồng biến động không đáng kể. Công tác bảo vệ thực vật được tăng cường, tình hình dự báo sâu bệnh định kỳ, thường xuyên đã kịp thời phát hiện và xử lý các đối tượng gây hại trên cây trồng, đặc biệt là các cây trồng chủ lực của tỉnh như lúa, rau, hoa, chè, cà phê,... hạn chế thiệt hại trên diện rộng. Việc áp dụng các biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý sức khỏe cây trồng tổng hợp (IPHM) tiếp tục được mở rộng.  2. Chăn nuôi Trong tháng, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định và phát triển theo hướng tích cực. Công tác phòng, chống dịch bệnh được triển khai thường xuyên; các cơ sở chăn nuôi thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng, tiêm phòng theo quy định, góp phần kiểm soát dịch bệnh, bảo đảm an toàn sản xuất và duy trì ổn định quy mô đàn vật nuôi. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 30.646 tấn, tăng 10% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 215.915 tấn, tăng 11,68%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27 nghìn con, tăng 0,75% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tương đối ổn định nhờ người dân tận dụng các vùng chăn thả và nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 320 nghìn con, tăng 2,99% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 32,5 nghìn con, tăng 4,84%). Quy mô đàn bò tiếp tục tăng nhờ công tác cải tạo giống, mở rộng vùng nguyên liệu thức ăn, phát triển diện tích trồng cỏ và duy trì liên kết tiêu thụ giữa doanh nghiệp với người chăn nuôi, góp phần tạo đầu ra tương đối ổn định. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.541,3 nghìn con, tăng 5,4% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.253,9 nghìn con, tăng 5%). Quy mô đàn lợn tăng khá nhờ giá lợn hơi duy trì ở mức có lợi, khuyến khích người chăn nuôi tái đàn; nhiều doanh nghiệp và trang trại tiếp tục đầu tư mở rộng quy mô, áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học và kiểm soát tốt dịch bệnh. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 24.500 nghìn con, tăng 8,89% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.500 nghìn con, chiếm 67,35% trong tổng đàn gia cầm, tăng 8,91%). Đây là nhóm vật nuôi có tốc độ tăng cao nhờ nhu cầu tiêu dùng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, giá bán thuận lợi, cùng với việc áp dụng hiệu quả các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, chủ động phòng chống dịch bệnh. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh phát sinh tại 07 xã, phường trên địa bàn tỉnh, đã tiêu hủy 5.979 con/293,37 tấn. Lũy kế từ 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 22.220 con lợn mắc bệnh với tổng trọng lượng 1.064,6 tấn; đến nay còn 07 xã có ổ dịch chưa qua 21 ngày. - Bệnh Dịch tả loài nhai lại nhỏ (PPR) phát sinh trên đàn dê tại xã Tân Minh, đã tiêu hủy 21 con/345kg. - Các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi như: Dại, tai xanh, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, cúm gia cầm không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả; thực hiện tiêu độc, khử trùng môi trường chăn nuôi và kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển động vật, sản phẩm động vật (đã phân bổ bổ sung 7.300 liều vắc xin và 92 lít hóa chất cho các địa phương để tổ chức tiêm phòng, vệ sinh, tiêu độc, khử trùng môi trường). Công tác tuyên truyền, hướng dẫn người chăn nuôi thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh hoc và khai báo dịch bệnh được đẩy mạnh. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, diện tích trồng rừng ước đạt 1.615,4 ha, tăng 3,31% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 5.841,4 ha, tăng 4,67%. Diện tích trồng cây phân tán trong tháng ước đạt 1,6 triệu cây, tăng 3,27% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 7,2 triệu cây, tăng 3,34%. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.299 m3, tăng 4,94% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 275.588 m3, tăng 3,58%. - Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 28.012 ste, tăng 1,74% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 208.093,2 ste, tăng 1,95%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/6 - 10/7/2026) là 50 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật 23 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 4,2 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 18 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 19 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 3,9 ha). Lũy kế 7 tháng năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/7/2026), tổng số vụ vi phạm 350 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật 159 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 27,0 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 60 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 43 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 9,8 ha). - Công tác phòng, chống cháy rừng: Công tác phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được triển khai đồng bộ. Các hoạt động trọng tâm gồm phát dọn đường băng cản lửa, theo dõi, thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng tại các địa phương; cập nhật thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao; đồng thời tổ chức trực và canh gác tại các khu vực có nguy cơ cháy rừng cấp III, IV và V theo quy định. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không xảy ra cháy rừng; lũy kế 7 tháng năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,7 ha. 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh ổn định; các địa phương tập trung chăm sóc diện tích nuôi hiện có, tăng cường quản lý môi trường nuôi và chủ động phòng, chống dịch bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho thủy sản sinh trưởng, phát triển. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 495,8 ha, tăng 1,75% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 3.369,2 ha, tăng 1,48% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 3.016,6 ha, tăng 1,23%; diện tích nuôi tôm đạt 318,9 ha, tăng 3,82%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.433,2 tấn, tăng 0,33% so với cùng kỳ (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 439,2 tấn, tăng 0,92%); lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 16.323,2 tấn, tăng 0,43% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 2.741,4 tấn, tăng 4,30%) - Khai thác thủy sản: Từ đầu năm đến nay, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho ngư dân duy trì và mở rộng khai thác. Sản lượng một số nghề như lưới kéo, vây rút chì, lưới rê, mành và các nghề khai thác ven bờ tiếp tục đạt khá. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng ven bờ, vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, đảo Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 25.156 tấn, tăng 4,37% so với cùng kỳ (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 25.057 tấn, tăng 4,17%); lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 145.414,1 tấn, tăng 3,58% (sản lượng khai thác biển đạt 144.901,8 tấn, tăng 3,46%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, nhu cầu con giống tăng sau thời gian thu hoạch và cải tạo ao nuôi để bước vào vụ mới, tạo điều kiện cho sản xuất và tiêu thụ tôm giống. Dự ước trong tháng, sản lượng tôm giống đạt 2,5 tỷ post, tăng 24,99% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 15,7 tỷ post, tăng 12,15%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp  Sản xuất công nghiệp tháng 7 tiếp tục tăng khá so với cùng kỳ, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành. Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước giảm 3,99% so với tháng trước và tăng 18,69% so với cùng kỳ. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,44%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 21,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 17,65%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,62%. Tính chung 7 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 10,48% so với cùng kỳ. Trong đó, công nghiệp khai khoáng tăng 19,12%, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,25%, sản xuất và phân phối điện tăng 6,77%, cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,96%. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ sự phát triển của ngành công nghiệp chế biến gắn với chế biến sâu, đặc biệt là chế biến nông sản từ các vùng nguyên liệu cà phê, chè, rau, hoa, trái cây và cây công nghiệp, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Bên cạnh đó, chuỗi bauxite - alumin - nhôm tiếp tục khẳng định vai trò là ngành công nghiệp mũi nhọn với tiềm năng tạo đột phá tăng trưởng, trong khi ngành điện, đặc biệt là cụm nhiệt điện Vĩnh Tân, tiếp tục giữ vai trò là động lực quan trọng, bảo đảm nguồn năng lượng phục vụ sản xuất và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 396.848 m3, tăng 8,78% so với tháng trước và tăng 14,44% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.542.419 m3, tăng 19,12% so với cùng kỳ. Việc tăng đáng kể so với tháng trước và so với cùng kỳ là do tỉnh quyết liệt đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung mọi nguồn lực, giải pháp thu hút các dự án đầu tư triển khai trên địa bàn tỉnh, theo đó các doanh nghiệp ngành khai khoáng đã nắm bắt và chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng. - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.194 tấn, chỉ tăng 0,59% so với tháng trước và tăng 22,85% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 14.352 tấn, tăng 18,68% so với cùng kỳ. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.523 tấn, giảm 12,73% so với tháng trước và tăng 17,77% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 24.141 tấn, tăng 16,07% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm so với tháng trước là do các sản phẩm hạt điều chủ yếu tập trung trong 6 tháng đầu năm vào mùa thu hoạch, bắt đầu giảm từ đầu quý 3 khi hết mùa thu hoạch; tuy nhiên so với cùng kỳ và cộng dồn vẫn tăng cao là do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu hơn so với năm trước và chủ động nguồn hàng cho các tháng sắp tới, các sản phẩm sầu riêng cấp đông tăng sản lượng sản xuất do nhu cầu tăng. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 28.291 nghìn lít, giảm 8,5% so với tháng trước và tăng 34,6% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 161.901 nghìn lít, tăng 19,18% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do các doanh nghiệp tăng cường sản xuất các sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao; tuy nhiên sản phẩm bia đóng chai và nước tinh khiết giảm so với tháng trước do nhu cầu tiêu thụ giảm. - Sản phẩm giày, dép: Sản lượng trong tháng ước đạt 930 nghìn đôi, tăng 11,18% so với tháng trước và tăng 81,28% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 4.733 nghìn đôi, tăng 37,04% so với cùng kỳ là do Nhà máy giày Nam Hà Việt Nam mở rộng dây chuyền sản xuất. - Sản phẩm phân bón: Sản lượng sản xuất ước đạt 12.700 tấn, tăng 5,75% so với tháng trước nhưng giảm 5,99% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 77.428 tấn, tăng 14,79% so với cùng kỳ; do các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất phục vụ mùa sản xuất nông nghiệp năm 2026 trong điều kiện giá nông sản tiếp tục ổn định ở mức cao nên nhu cầu phân bón đầu tư cho nông nghiệp ngày càng tăng (đặc biệt là cây lâu năm có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng…). - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 122 nghìn tấn, tăng 9,23% so với tháng trước và tăng 6,83% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 842,772 nghìn tấn, tăng 1,42% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Sản lượng trong tháng ước đạt 3.243 triệu kwh, giảm 7,65% so với tháng trước và tăng 17,31% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 21.453 triệu kwh, tăng 6,55% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng sản lượng ước đạt 489 triệu kwh, tăng 4,68% so với tháng trước và tăng 7,88% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 3.495 triệu kwh tăng 8,4% so với cùng kỳ. Nguyên nhân do song song với sự phát triển của ngành chế biến chế tạo thì khối lượng điện thương phẩm tiêu thụ phục vụ trong ngành này cũng tăng theo; tuy nhiên tốc độ không quá cao là do các đơn vị sản xuất cũng như người tiêu dùng có ý thức tiết kiệm điện cũng như hưởng ứng việc sử dụng năng lượng xanh (lắp đặt hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản tự tiêu). 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng giảm 1,75% so với tháng trước và tăng 5,07% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,84%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,19%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1,70%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,95%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 8,83% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 6,03%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 0,86%. Tính chung 7 tháng năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,76%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 2,46%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,01%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,7%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,04%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình doanh thu của doanh nghiệp hoạt động ngành công nghiệp Doanh thu sản xuất công nghiệp trong tháng giảm 1,6% so với tháng trước do ảnh hưởng của hoạt động điều tiết vận hành hệ thống năng lượng; tuy nhiên vẫn tăng 17,48% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2026, doanh thu toàn ngành tăng 7,9% so với cùng kỳ, cho thấy khu vực công nghiệp tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định và đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các chính sách hỗ trợ sản xuất, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, góp phần củng cố năng lực sản xuất, ổn định chuỗi cung ứng và nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm công nghiệp. Theo nhóm ngành, doanh thu ngành khai khoáng tăng 7,46% so với tháng trước và tăng 15,87% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 16,81%, chủ yếu nhờ các doanh nghiệp nâng cao công suất khai thác, đáp ứng nhu cầu nguyên vật liệu cho các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chính với doanh thu tăng 6% so với tháng trước, tăng 20,44% so với cùng kỳ và lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 11,62%, nhờ sự phát triển của chế biến nông sản, thực phẩm và sản xuất vật liệu xây dựng phục vụ đầu tư công. Trong khi đó, doanh thu ngành sản xuất và phân phối điện giảm 6,05% so với tháng trước do công tác bảo trì, điều tiết vận hành nhưng vẫn tăng 15,75% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 5,79%, tiếp tục giữ vai trò bảo đảm an ninh năng lượng cho sản xuất và đời sống. Ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng nhẹ 0,73% so với tháng trước và tăng 13,81% so với cùng kỳ; lũy kế 7 tháng năm 2026 tăng 8,54%, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, sinh hoạt và góp phần nâng cao chất lượng môi trường trên địa bàn. 1.5. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Hoạt động thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục đạt kết quả tích cực. Trong tháng (15/6 - 15/7/2026), các khu công nghiệp thu hút thêm 02 dự án với tổng vốn đăng ký 2,5 triệu USD và 43,9 tỷ đồng, diện tích thuê đất 2,06 ha. Lũy kế 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh thu hút 13 dự án đầu tư (02 dự án FDI và 11 dự án trong nước), đạt 76,47% kế hoạch về số dự án; tổng vốn đăng ký đạt 570,3 tỷ đồng và 2,7 triệu USD, diện tích thuê đất 21,04 ha. Đến nay, các khu công nghiệp có 251 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 55.211,5 tỷ đồng và 517,6 triệu USD; tỷ lệ lấp đầy đạt 55,73%, tạo nền tảng quan trọng để phát triển công nghiệp, thu hút đầu tư và giải quyết việc làm trên địa bàn. Cùng với công tác thu hút đầu tư, hạ tầng các khu công nghiệp tiếp tục được quan tâm hoàn thiện. Hiện có 175 doanh nghiệp đang hoạt động trong các khu công nghiệp; trong tháng, 6/14 khu công nghiệp triển khai đầu tư xây dựng và duy tu hạ tầng với giá trị thực hiện 22,07 tỷ đồng, đạt 2,5% kế hoạch vốn năm 2026. Các hạng mục tập trung vào san lấp mặt bằng, xây dựng giao thông nội bộ, hệ thống thoát nước, xử lý nước thải và duy tu hạ tầng kỹ thuật, góp phần nâng cao năng lực tiếp nhận các dự án đầu tư mới và từng bước hoàn thiện hệ thống hạ tầng các khu công nghiệp của tỉnh. Cụ thể: - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Chủ đầu tư duy tu cây xanh. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,02/0,82 tỷ đồng đạt 2,44% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm I: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, duy tu giao thông trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,15/22,79 tỷ đồng đạt 0,66% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm II: Chủ đầu tư san lấp mặt bằng KCN; duy tu cây xanh trong KCN; duy tu và thi công các tuyến đường trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 10,5/205 tỷ đồng đạt 5,12% kế hoạch năm 2026. - KCN Sông Bình: Chủ đầu tư duy tu cây xanh trong KCN; tiếp tục thi công các tuyến đường giao thông (đường D1, D3, N4, N6) trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,15/59,07 tỷ đồng đạt 0,25% kế hoạch năm 2026. - KCN Tuy Phong: Chủ đầu tư triển khai thi công hệ thống thoát nước mưa tuyến D2 và các tuyến giao thông. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 0,25 tỷ đồng. - KCN Tân Đức: Chủ đầu tư tiếp tục đền bù giải tỏa KCN những diện tích đất còn lại; dọn dẹp và thi công san lấp mặt bằng KCN, thi công các tuyến đường trong KCN (D2, D3, D4, N1, N2, N3), nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng trong tháng 11/473 tỷ đồng đạt 2,33% kế hoạch năm 2026. Tình hình thu hút các dự án đầu tư tại các khu công nghiệp: - KCN Lộc Sơn: Thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phú Hội: Thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết: Giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Tâm Thắng: Thu hút được 49 dự án đầu tư (05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Nhân Cơ: Thu hút được 01 dự án. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng 7 có cải thiện so với cùng kỳ, nhưng tiến độ lũy kế vẫn chậm so với yêu cầu. Các dự án hạ tầng giao thông, thủy lợi và khu công nghiệp đang bước vào giai đoạn thi công, song vướng mắc về giải phóng mặt bằng, thủ tục đất đai, vật liệu xây dựng và năng lực tổ chức thực hiện tiếp tục ảnh hưởng đến khối lượng đầu tư. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.308,5 tỷ đồng, tăng 20,97% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.048,4 tỷ đồng, chiếm 80,11% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn và tăng 15,61% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 462 tỷ đồng, tăng 30,3% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 193,1 tỷ đồng, giảm 1,85%; vốn nước ngoài 15,9 tỷ đồng, tăng 1,31%; vốn xổ số kiến thiết 371,1 tỷ đồng, tăng 10,29%; vốn khác 6,3 tỷ đồng, tăng 85,01%); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 260,2 tỷ đồng, chiếm 19,8% trong tổng số vốn nhà nước thực hiện trên địa bàn và tăng 48,79% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 6.068,5 tỷ đồng, đạt 30,17% so với kế hoạch năm, tăng 11,55% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 5.310,5 tỷ đồng, tăng 6,81% so với cùng kỳ(vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 2.432,5 tỷ đồng, tăng 26,25% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 804,5 tỷ đồng, giảm 39,62%; vốn nước ngoài ước đạt 84,3 tỷ đồng, giảm 23,8%; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 1.955,9 tỷ đồng, tăng 23,51%; vốn khác ước đạt 33,2 tỷ đồng, tăng 79,41%); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 758 tỷ đồng, tăng 61,91% so với cùng kỳ. Được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, tình hình thực hiện các dự án hạ tầng trọng điểm như giao thông, thủy lợi, và các khu công nghiệp đẩy nhanh tiến độ, tích cực triển khai thực hiện. Các dự án dự kiến khởi công mới được khẩn trương hoàn thiện hồ sơ, phân bổ nguồn vốn. Trong tháng (từ ngày 15/6-14/7/2026) toàn tỉnh có 360 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 34,66% so với cùng kỳ; 75 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,32%; 163 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,41%; 162 doanh nghiệp giải thể, tăng 92,86%. Tính chung 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 2.732 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 34,52% so với cùng kỳ; 628 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 9,03%; 1.342 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 1,47%; 642 doanh nghiệp giải thể, tăng 74,46% (tương ứng 274 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 14.685,6 tỷ đồng, tăng 38,46%. Về thu hút đầu tư (tính đến ngày 15/7/2026), toàn tỉnh có 38 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 165.975,4 tỷ đồng; 33 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 15/7/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.957 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 938.690 tỷ đồng (trong đó: có 246 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.968 tỷ đồng). III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Tình hình thương mại của tỉnh trong tháng hoạt động tương đối ổn định. Ngoài việc cung cấp hàng hóa nhu cầu thiết yếu cho người dân, các cơ sở kinh doanh còn tăng lượng hàng hóa phục vụ cho du khách nên sức mua tăng so với cùng kỳ. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, dịp này đang vào mùa cao điểm du lịch hè đã thu hút nhiều du khách đến du lịch và nghỉ dưỡng. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định và tiếp tục tăng cường phục vụ cho người dân và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.647,4 tỷ đồng, tăng 3,82% so với tháng trước và tăng 24,81% so với cùng kỳ. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.467,7 tỷ đồng, tăng 2,3% so với tháng trước và tăng 22,63% so với cùng kỳ; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.967,9 tỷ đồng, tăng 7,67% so với tháng trước và tăng 32,98% so với cùng kỳ; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.211,9 tỷ đồng, tăng 4,26% so với tháng trước và tăng 22,59% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 114.927,3 tỷ đồng, tăng 18,08% so với cùng kỳ. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 70.477,9 tỷ đồng, tăng 16,56% so với cùng kỳ; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 23.554,6 tỷ đồng, tăng 24% so với cùng kỳ; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 20.894,8 tỷ đồng, tăng 16,93% so với cùng kỳ. 1.2. Công tác quản lý thị trường Công tác quản lý thị trường được tăng cường, tập trung vào xăng dầu, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và gian lận thương mại. Trong tháng, lực lượng chức năng kiểm tra 111 vụ, phát hiện 101 vụ vi phạm, xử lý 123 vụ (22 vụ chuyển từ kỳ trước sang) với tổng số tiền xử phạt 1.176,2 triệu đồng (trong đó: xử phạt hành chính 1.129,2 triệu đồng); trị giá hàng hóa xử phạt 609,3 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/7/2026, đã kiểm tra 909 vụ, xử lý 843 vụ, số tiền xử phạt 6.917 triệu đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 6.735 triệu đồng. Kết quả này góp phần ổn định thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và môi trường kinh doanh lành mạnh. 2. Giá tiêu dùng (CPI) Trong tháng Bảy và 7 tháng năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân cơ bản ổn định. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa và dịch vụ vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố như chi phí sản xuất, chi phí vận tải, nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ, cùng với diễn biến giá cả trên thị trường thế giới biến động, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,05% so với tháng trước, tăng 0,65% so với tháng 12/2025 và tăng 3,74% so với cùng kỳ. Bình quân 7 tháng năm 2026, CPI tăng 4,3% so với cùng kỳ. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 08 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,75%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,73%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,53%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,13%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,13%; Thông tin và truyền thông tăng 0,28%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,35%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,42%. Có 03 nhóm hàng giảm giá: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 1,22%; Giao thông giảm 1,78%; Giáo dục giảm 0,49%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,75% so tháng trước, do giá nguyên vật liệu chế biến, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng. Đồng thời trong tháng 7 mùa du lịch hè nhu cầu ăn uống bên ngoài tăng. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,45% do nhu cầu xây dựng tăng cùng với chi phí đầu vào tăng nên giá một số mặt hàng vật liệu xây dựng như: sắt, thép, xi măng và giá nhân công xây dựng tăng theo. Tháng này là thời điểm học sinh nghỉ hè, nhu cầu du lịch tăng dẫn tới chỉ số giá nhóm du lịch trọn gói tăng 1,77%. Mức lương cơ sở tăng 190.000 đồng/tháng từ ngày 01/7/2026 theo Nghị định số 161/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026, theo đó chỉ số giá nhóm bảo hiểm y tế tăng 8,12% so với tháng trước. - Nguyên nhân giảm: Giá gas trong tháng giảm 11,26% so với tháng trước, do giá bán lẻ trong nước điều chỉnh giảm 66.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 01, 02, 09, 16 và 23 tháng 7/2026, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng xăng giảm 4,04% so tháng trước; giá dầu diezel giảm 9,19%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm 2026 tăng 4,3% so với bình quân cùng kỳ năm 2025. * Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 7 tháng năm 2026 CPI bình quân 7 tháng năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng hóa và dịch vụ thiết yếu duy trì xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm, nhà ở và vật liệu xây dựng, giao thông và giáo dục. Trong đó, nhóm thực phẩm tăng 4,37%, làm CPI chung tăng 1,09 điểm phần trăm, chủ yếu do giá thịt lợn và thịt gia cầm tăng khi nguồn cung còn hạn chế trong khi nhu cầu tiêu dùng cao vào các dịp lễ, Tết. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,85%, góp phần làm CPI tăng 1,04 điểm phần trăm do giá vật liệu xây dựng và giá thuê nhà tăng; giá gas trong nước cũng tăng 16,13% theo xu hướng giá gas thế giới. Bên cạnh đó, nhóm giao thông tăng 5,15%, làm CPI tăng 0,59 điểm phần trăm do giá nhiên liệu tăng và giá dịch vụ vận tải hành khách điều chỉnh theo chi phí đầu vào. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, làm CPI tăng 0,41 điểm phần trăm; nhóm giáo dục tăng 7,10%, góp phần làm CPI tăng 0,34 điểm phần trăm do một số cơ sở giáo dục điều chỉnh học phí. Ngoài ra, giá đồ uống, thuốc lá; may mặc, giày dép và thiết bị, đồ dùng gia đình cũng tăng do chi phí nguyên vật liệu, sản xuất và vận chuyển tăng. Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,24%, góp phần kiềm chế mức tăng CPI nhờ giá các dòng điện thoại đời cũ giảm do các chương trình khuyến mại và kích cầu của doanh nghiệp. 3. Hoạt động du lịch Mùa hè 2026, du lịch Lâm Đồng diễn ra sôi động với chuỗi hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao và lễ hội được tổ chức trên nhiều địa bàn, tạo sức hút đối với người dân và du khách. Nổi bật là chương trình “Hoài niệm trăm năm 2”, Âm nhạc đường phố, Lễ hội Cầu ngư Phan Thiết, Lễ hội Nghinh Ông Quan Thánh Đế Quân xuất du, Ngày hội Du lịch, Mua sắm và Giao lưu ẩm thực Việt,… Các hoạt động không chỉ góp phần bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa đặc trưng mà còn quảng bá hình ảnh Lâm Đồng, đa dạng về không gian, sản phẩm và trải nghiệm du lịch. Tiếp nối đà sôi động của mùa hè, Tháng Du lịch Lâm Đồng 2026 được tổ chức với nhiều sự kiện quy mô lớn như Lễ công bố mở lại Cảng Hàng không quốc tế Liên Khương, Diễn đàn Du lịch Quốc gia, Lễ hội Hoa - Rau - Quả, Festival Ẩm thực, Festival Khinh khí cầu và Drone Show, Gala quốc tế “LamDong Night”, Ngày Văn hóa - Du lịch Lâm Đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đặc biệt, việc Cảng Hàng không quốc tế Liên Khương dự kiến hoạt động trở lại từ giữa tháng 8 sẽ mở rộng kết nối với các trung tâm kinh tế, du lịch trong nước và quốc tế, tạo điều kiện thu hút khách, xúc tiến đầu tư và thúc đẩy du lịch Lâm Đồng tăng tốc trong những tháng cuối năm 2026. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt đạt 2.324,7 nghìn lượt, tăng 12,93% so tháng trước và tăng 27,3% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 80,9 nghìn lượt, tăng 14,77% so với tháng trước và tăng 13,44% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ ước đạt 4.234,5 nghìn ngày khách, tăng 12,41% so với tháng trước và tăng 29,05% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 96,5 nghìn lượt khách, tăng 3,23% so với tháng trước và tăng 11,88% so với cùng kỳ; ngày khách phục vụ ước đạt 310,1 nghìn ngày khách, tăng 3,86% so với tháng trước và tăng 13,25% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 14.211,5 nghìn lượt, tăng 18,58% so với cùng kỳ (trong đó lượt khách trong ngày đạt 505,9 nghìn lượt, tăng 13,16% so với cùng kỳ); ngày khách phục vụ đạt 26.433,7 nghìn ngày khách, tăng 20,47% so với cùng kỳ. Lượt khách quốc tế lũy kế 7 tháng năm 2026 đạt 899,9 nghìn lượt, tăng 15,1% so với cùng kỳ; ngày khách quốc tế đạt 2.869,2 nghìn ngày khách, tăng 18,37% so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 810,5 tỷ đồng, tăng 11,51% so với tháng trước và tăng 31,93% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.091,9 tỷ đồng, tăng 6,63% so với tháng trước và tăng 32,97% so với cùng kỳ; du lịch lữ hành ước đạt 65,4 tỷ đồng, tăng 11,57% so với tháng trước và tăng 48,6% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 4.794,4 tỷ đồng, tăng 23,54% so với cùng kỳ; dịch vụ ăn uống đạt 18.370,5 tỷ đồng, tăng 23,78% so với cùng kỳ; dịch vụ lữ hành đạt 389,6 tỷ đồng, tăng 42,61% so với cùng kỳ. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.385,9 tỷ đồng, tăng 11,27% so với tháng trước và tăng 28,12% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 39.336,4 tỷ đồng, tăng 21,96% so với cùng kỳ. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.211,9 tỷ đồng, tăng 4,26% so với tháng trước và tăng 22,59% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 767,4 tỷ đồng, tăng 5,68% so với tháng trước và tăng 10,32% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 176,7 tỷ đồng, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 13,15% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 147,1 tỷ đồng, tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 20,48% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 258,2 tỷ đồng, tăng 3,13% so với tháng trước và tăng 17,37% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.529,2 tỷ đồng, tăng 4,55% so với tháng trước và tăng 33,48% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 333,4 tỷ đồng, tăng 3,19% so với tháng trước và tăng 18,75% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 20.894,8 tỷ đồng, tăng 16,93% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 5.052 tỷ đồng, tăng 10,61% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 1.181 tỷ đồng, tăng 11,37% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 1.034,1 tỷ đồng, tăng 20,77% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.699,1 tỷ đồng, tăng 15,69% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 9.785,1 tỷ đồng, tăng 22,29% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ khác đạt 2.143,6 tỷ đồng, tăng 11,89% so với cùng kỳ. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải, kho bãi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực nhờ sản xuất, kinh doanh, thương mại và dịch vụ phát triển ổn định, làm gia tăng nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách. Đồng thời, hệ thống hạ tầng giao thông ngày càng được đầu tư, nâng cấp và kết nối đồng bộ đã nâng cao hiệu quả khai thác, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp mở rộng hoạt động và gia tăng doanh thu. Trong tháng doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 1.316,5 tỷ đồng, tăng 5,14% so với tháng trước và tăng 30,05% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng năm 2026 doanh thu ước đạt 8.427,1 tỷ đồng, tăng 23,82% so với cùng kỳ, phản ánh xu hướng tăng trưởng bền vững của lĩnh vực vận tải, đáp ứng tốt nhu cầu lưu thông hàng hóa và đi lại của người dân. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.106,5 nghìn HK, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 19,59% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 445.767,3 nghìn HK.Km, tăng 3,9% so với tháng trước và tăng 19,65% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 20.029,5 nghìn HK, tăng 17,29% so với cùng kỳ; lượt khách luân chuyển ước đạt 2.883.969,7 nghìn HK.Km, tăng 17,86% so với cùng kỳ. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.370,6 nghìn tấn, tăng 6,83% so với tháng trước và tăng 30,12% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 348.453 nghìn tấn.Km, tăng 6,86% so với tháng trước và tăng 30,57% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 14.631,4 nghìn tấn, tăng 19,09% so với cùng kỳ; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.152.591,4 nghìn tấn.Km, tăng 19,62% so với cùng kỳ. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.316,5 tỷ đồng, tăng 5,14% so với tháng trước và tăng 30,05% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 8.427,1 tỷ đồng, tăng 23,82% so với cùng kỳ. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.909,3 tỷ đồng, tăng 28,16% so với cùng kỳ; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 4.107,1 tỷ đồng, tăng 25,89% so với cùng kỳ; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.100 tỷ đồng, tăng 13,65% so với cùng kỳ; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 310,6 tỷ đồng, tăng 1,77% so với cùng kỳ. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước đạt 1.749,3 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.584,8 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 164,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.455,4 tỷ đồng, tăng 17,89% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 ước thực hiện 21.233 tỷ đồng, bằng 61,66% kế hoạch năm và tăng 12,63% so với cùng kỳ, trong đó: thu nội địa ước thực hiện 19.618 tỷ đồng, bằng 60,04% kế hoạch năm và tăng 9,51%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 1.615 tỷ đồng, bằng 91,76% kế hoạch năm và tăng 72,08% so với cùng kỳ. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 7 tháng năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 2.700 tỷ đồng (bằng 70,99% kế hoạch năm và tăng 2,6% so với cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 1.040 tỷ đồng (bằng 75,38% kế hoạch năm và tăng 12,21%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 5.399,6 tỷ đồng (bằng 80,74% kế hoạch năm và tăng 46,63%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 1.799,4 tỷ đồng (bằng 65,91% kế hoạch năm và giảm 2,60%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 2.759,3 tỷ đồng (bằng 37,41% kế hoạch năm và giảm 4,54%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 3.400 tỷ đồng (bằng 58,62% kế hoạch năm và tăng 10,26%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 4.455,5 tỷ đồng, lũy kế 7 tháng năm 2026 ước 30.244,2 tỷ đồng, bằng 61,98% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 12.907,4 tỷ đồng, bằng 97,69% kế hoạch năm; chi thường xuyên 17.323 tỷ đồng, bằng 57,06% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: Đến 30/6/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 247.439 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 18.163 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 7,92%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 244.626 tỷ đồng (chiếm 98,86% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.813 tỷ đồng, (chiếm 1,14% tổng huy động vốn). Ước đến 31/7/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 250.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 20.724 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 9,04%. Hoạt động tín dụng: Đến 30/6/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 377.423 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 6.440 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,74%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 375.332 tỷ đồng (chiếm 99,45% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.091 tỷ đồng (chiếm 0,55% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 267.009 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 110.414 tỷ đồng. Ước đến 31/7/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 379.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 8.516 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,3%. Lãi suất tiền gửi: Lãi suất huy động bằng VND bình quân: tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng ở mức 0,3% - 0,4%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng ở mức 4,2% - 4,6%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng ở mức 7% - 7,9%/năm, kỳ hạn trên 12 tháng trở lên ở mức 7% - 7,7%/năm. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay: Bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ở mức 9,1% - 10,5%/năm; cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,3% - 5,3%/năm.       Dư nợ cho vay: Đến 30/6/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 185.476 tỷ đồng, chiếm 49,14% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.513 tỷ đồng, chiếm 8,62% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 159.434 tỷ đồng, chiếm 42,24% tổng dư nợ tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu trên địa bàn tỉnh được kiểm soát ở mức 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng, không thay đổi so với cuối năm 2025. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thay mới và trang trí pano, khẩu hiệu phục vụ công tác tuyên các nhiệm vụ chính trị và chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc biệt chào mừng kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026); phục vụ tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026 với chủ đề “Lâm Đồng - Bản giao hưởng xanh”; chương trình âm nhạc đường phố phục vụ Nhân dân và du khách hưởng ứng sự kiện tháng cao điểm chào Mùa hè Du lịch năm 2026 vào thứ 7 hàng tuần; chương trình nghệ thuật phục vụ Lễ khánh thành dự án Quảng trường trung tâm Gia Nghĩa; chương trình “Hoài Niệm Trăm Năm 2” tại Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng gồm các hoạt động khai mạc triển lãm bộ sưu tập “Hương thơm phương Nam”, ra mắt bộ ấn phẩm quảng bá Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng và trình diễn nghệ thuật thời trang áo dài. Ngoài ra, trong tháng đã tổ chức 07 buổi biểu diễn phục vụ chính trị; 01 tuần phim; 15 buổi biểu diễn văn nghệ và 75 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở. Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến 14/7/2029), các đơn vị trên địa bàn tỉnh đã thực hiện 186 buổi biểu diễn văn nghệ (biểu diễn về cơ sở 180 buổi); tổ chức 580 buổi chiếu phim, 05 đợt phim, 02 tuần phim và 01 vở kịch tuyên truyền “Ngày Mai Tươi Sáng”. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 30.716 lượt khách, trong đó có 1.140 lượt khách quốc tế (Trong đó: Nhà trưng bày chính: 5.164 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.332 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 209 lượt; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 21.562 lượt; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 449 lượt). Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 13/7/2026) đã đón 201.744 lượt khách tham quan, trong đó có 15.568 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 50.612 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 35.442 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 6.841 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 100.423 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 8.426 lượt khách). + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tiếp đón 192 đoàn với 15.756 lượt khách (trong đó có 47 khách quốc tế); phục vụ 32 lễ viếng, 01 báo công, 01 tuyên dương, 01 kết nạp Đảng, 02 sinh hoạt chuyên đề. Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 10/7/2026) đã tiếp đón 1.267 đoàn khách tham quan với 90.663 lượt khách (trong đó có 298 khách nước ngoài); phục vụ: 169 lễ viếng, 09 báo công, 06 kết nạp Đoàn, 03 kết nạp Đảng, 02 lễ rước đuốc và 10 sinh hoạt chuyên đề; tổ chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón, phục vụ 12 đoàn với 1.292 lượt khách; lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 14/7/2026) đã đón 14.562 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 360 thẻ (thiếu nhi 192 thẻ), phục vụ 285.332 lượt bạn đọc, luân chuyển 14.477 lượt tài liệu, trưng bày 990 bản sách và 02 mô hình nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị. Ngoài ra đã tổ chức các hoạt động phục vụ hè cho các em thiếu nhi trên địa bàn với các hoạt động “Hè vui đọc sách - Viết cảm nhận sách”, “Thi đọc sách nhanh và phát triển tư duy”, “Vẽ tranh theo chủ đề”,... Lũy kế 7 tháng năm 2026 (tính đến ngày 14/7/2026), Thư viện tỉnh cấp mới và gia hạn 5.950 thẻ (thiếu nhi 4.417 thẻ), phục vụ 1.683.233 lượt bạn đọc, luân chuyển 459.559 lượt tài liệu và trưng bày 144.063 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Phối hợp với Uỷ ban Olympic Việt Nam tổ chức Chương trình thể thao cộng đồng tại Phường Phan Thiết; phối hợp với Hiệp hội Thể thao Công an Nhân dân Việt Nam tổ chức Liên hoan khiêu vũ Thể thao Quốc tế Cúp CAND mở rộng; tổ chức Giải Vô địch Triathlon trẻ và U23 quốc gia năm 2026. Ngoài ra đã tổ chức các môn Bóng đá 11 người, Võ thuật Cổ truyền, Bóng chuyền 6 người, Cầu lông trong khuôn khổ Đại hội thể dục thể thao tỉnh. - Thể thao thành tích cao: Trong tháng, cử các đoàn tham gia 11 giải thể thao, đạt 123 huy chương (28 HCV, 31 HCB, 64 HCĐ). Tính đến thời điểm ngày 15/7/2026, đã tham dự 62 giải thể thao quốc gia và quốc tế, kết quả đạt được 459 huy chương (91 HCV, 121 HCB, 247 HCĐ), trong đó có 1 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 9 huy chương quốc tế (3 HCV, 1 HCB, 5 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Hoạt động giáo dục duy trì ổn định. Đã tổ chức thành công kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 nghiêm túc, an toàn và đúng quy chế. Kết quả, toàn tỉnh có 39.082/39.652 thí sinh được công nhận tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 98,56% (trong đó hệ THPT đạt 99,18%, hệ GDTX đạt 91,05%); toàn tỉnh có 49/131 đơn vị đạt tỷ lệ tốt nghiệp 100%. Đến nay, tỉnh đã triển khai thực hiện và hiệu quả chương trình giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên, phổ cập giáo dục và xóa mù chữ; đảm bảo công bằng trong tiếp cận giáo dục cho mọi đối tượng, nhất là các đối tượng là người dân tộc thiểu số, người sống vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trẻ mồ côi, trẻ em không nơi nương tựa, người khuyết tật, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo. Tính đến ngày 10/7/2026, toàn tỉnh có 947/1.433 trường công lập đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 66,09%. 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; tiếp tục thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 409 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 221 ca so với tháng trước (188 ca) và giảm 58 ca so với cùng kỳ (467 ca); không có trường hợp tử vong. Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 1.578 ca mắc, giảm 68 ca so với cùng kỳ (1.646 ca). Trong tháng đã phát hiện và xử lý 69 ổ dịch; lũy kế đến ngày 30/6/2026 đã phát hiện xử lý 224 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 7 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 392 ca mắc, giảm 201 ca so với tháng trước và giảm 165 ca so với cùng kỳ. Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 2.757 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 14 ca mắc, giảm 09 ca so với tháng trước và giảm 69 ca so với cùng kỳ. Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 83 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 4.054 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.540 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.273 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.329 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.836 trẻ, mũi 2 cho 3.765 trẻ và mũi 3 cho 4.329 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.992 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng có 01 bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 436 bệnh nhân; đang điều trị 04 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 422 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý là 02 người (01 người tử vong và 01 người chuyển đi nơi khác). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 188 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 05 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 BN/100.000 dân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 39 bệnh nhân nhiễm HIV mới, 05 bệnh nhân chuyển sang AIDS và có 01 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.866 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.795 người, tử vong 1.578 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 804.038 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 67.251 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 396.235 ngày, xét nghiệm cho 1.130.518 tiêu bản, chẩn đoán 269.020 hình ảnh và phẫu thuật 12.440 trường hợp. Ước 7 tháng năm 2026 tổ chức khám bệnh cho 2.985.641 lượt người; 243.585 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.256.544 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,14 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 98,67%; xét nghiệm cho 4.130.846 tiêu bản; chẩn đoán 1.013.824 hình ảnh và phẫu thuật cho 37.055 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 60 cơ sở thực phẩm, phát hiện 12 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 120,5 triệu đồng. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (do độc tố trong nấm hái tại rừng thông Kinh tế mới Châu Sơn, xã D’ran) làm 07 người mắc và 01 người tử vong. Lũy kế 7 tháng năm 2026 xảy ra 02 vụ ngộ độc thực phẩm làm 104 người mắc và 01 người tử vong. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; họp báo cung cấp thông tin về tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2026 và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 6 tháng cuối năm; đồng thời tuyên truyền các hoạt động “Chào Mùa du lịch hè 2026” và thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 02 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 01 giấy phép xác nhận thay đổi thông tin đăng ký hoạt động cơ sở in. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống được gìn giữ và phát huy; đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS từng bước được cải thiện. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng; trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai đồng bộ, gắn với xây dựng nông thôn mới. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet, nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin vùng đồng bào DTTS và miền núi. - Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Công tác xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và vùng sâu, vùng xa được triển khai tích cực để đầu năm học 2026-2027 đưa vào sử dụng. Toàn tỉnh duy trì hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú và các cơ sở giáo dục phổ thông tại địa bàn khó khăn, bảo đảm điều kiện học tập cho học sinh DTTS. Tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi ra lớp đạt trên 99%; tỷ lệ học sinh DTTS trong độ tuổi đến trường ở cấp tiểu học đạt 97,3%; trung học cơ sở đạt khoảng 90,0%; trung học phổ thông đạt trên 70,0%. - Hệ thống y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Các hoạt động khám chữa bệnh, tiêm chủng,… tiếp tục được triển khai có hiệu quả. Người dân, đặc biệt là hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào DTTS được tiếp cận các dịch vụ y tế để khám chữa bệnh, qua đó góp phần giảm thiểu bệnh tật và nâng cao chất lượng sống cho người đồng bào DTTS. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. - Phật giáo: Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng tổ chức Trại họp bạn Lục Hòa 2026 Gia đình Phật tử Lâm Đồng khu vực 1 cho khoảng 300 Huynh trưởng, đoàn sinh tại chùa Pháp Vân, xã Đức Trọng và tổ chức Liên trại huấn luyện Huynh trưởng sơ cấp Lộc Uyển và A Dục lần thứ I Gia đình Phật tử Lâm Đồng khu vực 2 cho khoảng 190 Huynh trưởng, đoàn sinh tại chùa Linh Sơn, xã Tánh Linh. Ngoài ra, các cơ sở thờ tự tổ chức nhiều khóa tu mùa hè cho thanh thiếu niên theo đạo Phật trên địa bàn tỉnh. - Công giáo: Giáo phận Ban Mê Thuột tổ chức lễ Tĩnh huấn hiền mẫu; Tĩnh huấn Ban thường vụ Hội đồng giáo xứ tại Trung tâm hành hương Đồi Thánh Tâm, xã Đức Lập; mỗi cuộc lễ có khoảng 2.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận. Giáo phận Ban Mê Thuột khánh thành nhà thờ; làm phép nhà giáo lý; làm phép 14 chặng đàng thánh giá tại Giáo xứ Thiên Ân, xã Tuy Đức; tham dự có khoảng 1.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận. Giáo phận Đà Lạt chủ trì Thánh lễ đặt đá xây dựng nhà thờ Giáo xứ Xà Lùng, xã Hoà Ninh. Tham dự lễ có gần 1.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân địa phương. - Tin lành: Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh Lâm Đồng thông báo phong phẩm Mục sư nhiệm chức 21 trường hợp; tổ chức lễ ra mắt các Chi hội Tin Lành Tô Rơ Ne, xã Hòa Ninh và Chi hội Tin Lành Bột Be, xã Hòa Ninh; mỗi buổi lễ có khoảng trên 600 người là chức sắc, chức việc, tín hữu trong và ngoài chi hội tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 258 hồ sơ về chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng và thân nhân người có công và giải quyết 230 hồ sơ về chế độ mai táng phí liên thông theo Đề án 06. Đã phê duyệt kinh phí hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở cho 03 người có công với cách mạng tại phường Hàm Thắng với kinh phí hỗ trợ 250 triệu đồng. Thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng kịp thời, đầy đủ, đúng đối tượng theo quy định; đã giải quyết cho 14.318 đối tượng nhận trợ cấp không dùng tiền mặt qua tài khoản cá nhân. Hiện nay tỉnh tiếp tục phối hợp với Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN được thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định. Tính đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh có 320.083 người tham gia BHXH, đạt 100,94% kế hoạch và tăng 15,90% so với cùng kỳ; 239.615 người tham gia BHTN, đạt 103,12% kế hoạch và tăng 13,96%; 3.134.199 người tham gia BHYT, đạt 98,79% kế hoạch và tăng 8,72%. Tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 92,52% dân số. Trong tháng 6/2026, đã giải quyết mới 11.243 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.987 người (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 246 người; trợ cấp 1 lần cho 2.615 người; chế độ ốm đau cho 6.736 người; chế độ thai sản cho 1.321 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 325 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.826 người và hỗ trợ học nghề cho 161 người). Lũy kế đến ngày 30/6/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 58.461 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 10.319 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 981 người; trợ cấp 1 lần cho 13.746 người; chế độ ốm đau cho 34.049 người; chế độ thai sản cho 7.591 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 2.094 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 9.793 người và hỗ trợ học nghề cho 526 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/6 - 14/7/2026) Trong tháng xảy ra 58 vụ tai nạn giao thông, tăng 4 vụ so với tháng trước và giảm 15 vụ so với cùng kỳ; số người chết là 39 người, giảm 01 người so với tháng trước và giảm 14 người so với cùng kỳ; số người bị thương là 28 người, giảm 13 người so với tháng trước và giảm 16 người so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 403 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 104 vụ so với cùng kỳ; số người chết 262 người, tương đương so với cùng kỳ; số người bị thương 258 người, giảm 137 người so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 25/6 - 23/7/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ thiên tai do mưa lớn kèm theo lốc xoáy; thiên tai đã làm 02 căn nhà bị tốc mái, 10 ha lúa 80 ngày tuổi bị ảnh hưởng, xói lở 100 mét đường dân sinh, 26 cây sầu riêng 7 năm tuổi bị đổ ngã,... Lũy kế 7 tháng năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 17 vụ thiên tai làm 01 người chết, 02 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 13 căn nhà bị hư hỏng, 153 căn bị ảnh hưởng nhẹ, 02 căn phòng làm việc bị tốc mái hoàn toàn, 10,6 ha lúa sạ bị ngập, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 69,6 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại (qua kết quả đánh giá lại) là 29,66 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/6 - 15/7/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy nổ, giảm 01 vụ so với tháng trước và giảm 03 vụ so với cùng kỳ; đang thống kê thiệt hại. Lũy kế 7 tháng năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 40 vụ cháy, tăng 10 vụ so với cùng kỳ, làm 02 người chết và 02 người bị thương. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra (tháng 7/2025 cũng không xảy ra). Lũy kế 7 tháng năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 15 vụ so với cùng kỳ, đã xử phạt 415 triệu đồng (7 tháng năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Trong 7 tháng năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực, nhiều lĩnh vực đạt kết quả khá, tạo nền tảng thuận lợi để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026. Nông nghiệp phát triển ổn định, sản xuất được duy trì đúng thời vụ, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 2,02% so với cùng kỳ; chăn nuôi tăng trưởng khá với sản lượng thịt hơi tăng 11,68%; sản lượng khai thác thủy sản tăng 3,58%. Khu vực công nghiệp tăng trưởng khá, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,48%, trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng 17,25%, khai khoáng tăng 19,12%; vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tăng 11,55% so với cùng kỳ. Hoạt động sản xuất, kinh doanh có nhiều tín hiệu tích cực, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 34,52% với tổng vốn đăng ký tăng 38,46%; đồng thời thu hút 38 dự án đầu tư mới. Khu vực thương mại và dịch vụ duy trì mức tăng khá, phản ánh sức mua và nhu cầu đi lại, du lịch tiếp tục được cải thiện. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 18,08%; doanh thu du lịch tăng 21,96%, tổng lượt khách phục vụ tăng 18,58%; doanh thu vận tải, kho bãi tăng 23,82%. Hoạt động du lịch hè diễn ra sôi động, thời gian lưu trú của khách có xu hướng cải thiện, tạo tác động lan tỏa đến lưu trú, ăn uống, vận tải và các dịch vụ hỗ trợ. Các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế và an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm; kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông được tổ chức an toàn, tỷ lệ tốt nghiệp đạt cao; số người tham gia bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp tăng. Công tác chăm sóc sức khỏe, thực hiện chính sách đối với người có công và đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai kịp thời. Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số hạn chế, khó khăn. Dịch tả lợn châu Phi vẫn diễn biến phức tạp, còn 07 xã chưa qua 21 ngày có dịch. Tình trạng vi phạm lâm luật tiếp tục gia tăng. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý đạt tỷ lệ thấp; dư nợ tín dụng chỉ tăng 2,30% so với cuối năm 2025, thấp hơn nhiều so với huy động vốn tăng 9,04%. Sản lượng oxit nhôm và điện sản xuất tăng còn thấp so với tốc độ chung. Số doanh nghiệp giải thể tăng 74,46%; thu về nhà, đất mới đạt 37,41% dự toán. Tai nạn giao thông giảm về số vụ và số người bị thương nhưng số người chết không giảm. Áp lực lạm phát còn hiện hữu khi CPI bình quân 7 tháng tăng 4,3%, chủ yếu do giá nhà ở, vật liệu xây dựng, thực phẩm, giao thông và giáo dục tăng. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   03/07/2026 23:28

Tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, chi phí đầu vào chịu áp lực tăng, tỉnh Lâm Đồng tiếp tục tập trung chỉ đạo phục hồi sản xuất, thúc đẩy đầu tư, thương mại, dịch vụ, du lịch và bảo đảm an sinh xã hội. Nhìn chung, kinh tế - xã hội duy trì đà tăng trưởng khá; quý II có chuyển biến tích cực hơn quý I, song một số lĩnh vực vẫn tăng chưa tương xứng với kịch bản điều hành, nhất là xây dựng, một số sản phẩm công nghiệp, vận tải hành khách, thu nhà đất và tiến độ chuyển hóa vốn đầu tư thành khối lượng thực hiện. Tình hình cụ thể như sau: I. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý II/2026 tăng trưởng tích cực, ước tăng 9,22% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 6 tháng đầu năm 2026, GRDP tăng 7,90%. Kết quả này cho thấy đà phục hồi và phát triển của nền kinh tế tiếp tục được củng cố, trong đó cả ba khu vực kinh tế đều duy trì mức tăng khá. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,05%, đóng góp 1,18 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,43%, đóng góp 2,30 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 9,17%, tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ yếu, đóng góp 4,00 điểm phần trăm. Đối với khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, sản xuất nông nghiệp tiếp tục giữ vai trò nền tảng, duy trì tăng trưởng ổn định trong bối cảnh còn chịu tác động của thời tiết, thị trường và dịch bệnh. Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 5,15% so với cùng kỳ, đóng góp 1,00 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Ngành lâm nghiệp tăng 4,54%, tuy nhiên do chiếm tỷ trọng thấp nên đóng góp 0,03 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,49%, đóng góp 0,14 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng đạt mức tăng khá, trong đó công nghiệp tiếp tục là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng. Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,81% so với cùng kỳ, đóng góp 1,72 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Đáng chú ý, công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao, lần lượt đạt 17,67% và 16,76%, đóng góp tương ứng 0,10 và 0,98 điểm phần trăm. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,09%, đóng góp 0,62 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,58%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ tiếp tục phục hồi mạnh trong 6 tháng đầu năm 2026. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ tăng 9,17% so với cùng kỳ, nhờ hoạt động thương mại, vận tải, du lịch và các dịch vụ phục vụ tiêu dùng tiếp tục khởi sắc. Trong đó, ngành bán buôn và bán lẻ tăng 11,34%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm; vận tải, kho bãi tăng 14,81%, đóng góp 0,45 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 13,40%, đóng góp 0,93 điểm phần trăm; thông tin và truyền thông tăng 7,35%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm. Một số ngành dịch vụ khác cũng đạt mức tăng khá góp phần củng cố xu hướng phục hồi và mở rộng của khu vực dịch vụ. II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò ổn định của nền kinh tế. Trồng trọt duy trì nhịp tăng nhờ thời tiết cơ bản thuận lợi, nguồn nước phục vụ sản xuất được bảo đảm; chăn nuôi tăng khá, nhất là lợn và gia cầm; thủy sản khai thác và sản xuất tôm giống tiếp tục phát huy lợi thế. Tuy nhiên, khu vực này vẫn chịu sức ép từ chi phí vật tư, nhiên liệu, dịch bệnh cây trồng, vật nuôi và biến động giá một số nông sản chủ lực. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm - Kết quả sản xuất vụ Đông xuân: Tổng diện tích gieo trồng ước đạt 106.482 ha, tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, cây lương thực ước đạt 61.950 ha, tăng 1,02% (lúa diện tích ước đạt 55.400 ha, tăng 0,16%, năng suất ước đạt 66,79 tạ/ha, tăng 0,65 tạ/ha; sản lượng ước đạt 370.000 tấn, tăng 1,14%; ngô diện tích ước đạt 6.550 ha, tăng 9,0%, năng suất ước đạt 74,81 tạ/ha, tăng 2,14 tạ/ha; sản lượng ước đạt 49.000 tấn, tăng 12,21%). Nhóm cây chất bột diện tích ước đạt 3.670,3 ha, tăng 0,68% so với cùng kỳ năm trước (tăng chủ yếu ở cây khoai sọ, khoai môn). Nhóm cây có hạt chứa dầu, chủ yếu là cây đậu phộng, diện tích gieo trồng ước đạt 1.360,7 ha, tăng 0,42% so với cùng kỳ năm trước; năng suất ước đạt 22,78 tạ/ha, tăng 0,40 tạ/ha; sản lượng ước đạt 3.100 tấn, tăng 2,21%. Nhóm cây rau, đậu các loại và hoa diện tích gieo trồng ước đạt 34.000 ha, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: diện tích rau các loại 27.000 ha, tăng 1,02%; năng suất ước đạt 337,04 tạ/ha, tăng 10,65 tạ/ha, sản lượng ước đạt 910.000 tấn, tăng 4,31%). Đã chuyển đổi 3.987,6 ha đất lúa kém hiệu quả sang trồng các cây ngắn ngày khác góp phần nâng hiệu quả sử dụng đất, tiết kiệm nước tưới và hạn chế sâu bệnh. - Tiến độ sản xuất vụ Hè thu: Mùa mưa đến sớm, lượng mưa phân bổ tương đối đều tạo điều kiện để nông dân xuống giống sớm. Ước đến ngày 15/6/2025 toàn tỉnh xuống giống vụ Hè thu đạt 45.501 ha, tăng 6,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó lúa diện tích đạt 9.495 ha, tăng 3,14%; ngô diện tích đạt 8.830 ha, giảm 1,84%; cây lang diện tích đạt 1.779 ha, tăng 6,55%; đậu phộng diện tích đạt 1.745 ha, tăng 6,10%; cây rau các loại diện tích đạt 13.270 ha, tăng 13,26%; cây đậu các loại diện tích đạt 1.391 ha, tăng 6,3%. 1.2. Cây lâu năm Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 635.258 ha, tăng 0,54% so với cùng kỳ. Cơ cấu cây lâu năm tiếp tục dịch chuyển theo hướng nâng tỷ trọng cây có giá trị kinh tế cao như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, dâu tằm; trong khi một số cây hiệu quả thấp hoặc già cỗi như điều, chè tiếp tục giảm diện tích. Một số cây chủ lực có diễn biến như sau: - Cây cà phê: Diện tích hiện có 329.488 ha, tăng 1,29% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tỉa cành, làm cỏ,...; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.375 ha, tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 31.182,5 tấn, tăng 5,55%. Diện tích cao su trồng mới có khả năng tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do nông dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư; - Cây điều: Diện tích điều hiện có 45.715 ha, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 36.183,9 tấn, giảm 7,48%. Diện tích điều tiếp tục có xu hướng giảm so với cùng kỳ do người dân chuyển sang trồng mới các loại cây có hiệu quả kinh tế vượt trội hơn như cà phê, sầu riêng, chanh leo, dâu tằm,…; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.246 ha, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 126.745 tấn, tăng 12,74%; sản lượng tăng cao so với cùng kỳ do diện tích cho thu hoạch tăng; - Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có 37.673 ha, tăng 1,31% so với cùng kỳ năm trước; hiện đã hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026, sản lượng thu hoạch ước đạt 94.193 tấn, tăng 5,65%. Giá hồ tiêu duy trì ở mức khá cao trong những tháng đầu năm 2026, đây là động lực giúp người nông dân tái đầu tư và chăm sóc vườn cây tốt hơn; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.851 ha, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 345.655 tấn, tăng 0,88%. “Đề án phát triển bền vững cây thanh long đến năm 2030” tạo định hướng rõ ràng phát triển cây thanh long theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm. Thanh long Lâm Đồng đã được Liên minh châu Âu EU bảo hộ chỉ dẫn địa lý và thương hiệu được bảo hộ tại nhiều quốc gia, xu hướng tiêu dùng nông sản sạch, truy xuất nguồn gốc tiếp tục mở ra cơ hội xuất khẩu; - Cây chè: Diện tích hiện có 9.184 ha, giảm 2,55% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 48.331 tấn, giảm 4,02%. Diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...; - Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.150 ha, tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 147.790 tấn, tăng 4,46%. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Nguồn nước phục vụ sản xuất vụ Đông Xuân 2025 - 2026, vụ Hè Thu năm 2026 và nhu cầu dân sinh được theo dõi, điều tiết thường xuyên. Đến ngày 02/6/2026, tổng diện tích được cấp nước tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện đạt 34.094 ha (đạt 30,8% diện tích sản xuất nông nghiệp). Công tác kiểm tra an toàn hồ, đập, cảnh báo vùng hạ du và xử lý nguy cơ sạt lở được tăng cường, góp phần giảm rủi ro trong mùa mưa. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong 6 tháng đầu năm 2026, dịch bệnh trên cây trồng nhìn chung được kiểm soát, song vẫn xuất hiện cục bộ trên một số cây trồng chủ lực: Sầu riêng, bệnh xì mủ, thối rể gây hại 2.164 ha (108 ha nhiễm nặng); Điều, bọ xít muỗi gây hại 3.931 ha, bệnh thán thư gây hại 3.043 ha; Dâu tằm, bệnh tuyến trùng gây hại 119 ha; Cà phê chè, bọ xít muỗi gây hại 2.229 ha; Cà chua, sâu đục lá Nam Mỹ gây hại 1,7 ha, bệnh xoăn lá virus gây hại 103 ha; Lúa, bệnh đạo ôn lá gây hại 465 ha, ốc bươu vàng gây hại 544 ha, sâu đục thân gây hại 245 ha; Thanh long, bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha, bệnh thán thư cành, quả gây hại 208 ha, ốc sên gây hại 156 ha. 2. Chăn nuôi Chăn nuôi tiếp tục là điểm sáng của khu vực nông nghiệp. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với cùng kỳ, nguồn cung thịt, trứng, sữa cơ bản bảo đảm cho thị trường. Sản lượng thịt hơi các loại tháng 6 ước đạt 23.525,1 tấn, tăng 11,96%; quý II đạt 92.044,9 tấn, tăng 9,54%; lũy kế 6 tháng đạt 185.269 tấn, tăng 9,69%. Kết quả này chủ yếu nhờ chăn nuôi trang trại, liên kết với doanh nghiệp và công tác phòng, chống dịch bệnh được chú trọng. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,5 nghìn con, tăng 0,28% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tương đối ổn định nhờ người dân tận dụng các vùng chăn thả và nguồn phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn. Tuy nhiên, tốc độ tăng đàn còn chậm do hiệu quả kinh tế chưa cao, thời gian sinh trưởng dài và diện tích đồng cỏ tự nhiên ngày càng thu hẹp. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,4 nghìn con, tăng 2,87% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 31,0 nghìn con, tăng 0,58%). Quy mô đàn bò tiếp tục tăng nhờ công tác cải tạo giống, mở rộng diện tích đồng cỏ, tận dụng nguồn phụ phẩm nông nghiệp và duy trì các chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm, đặc biệt đối với chăn nuôi bò sữa. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.541,5 nghìn con, tăng 5,43% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.259,4 nghìn con, tăng 5,48%). Quy mô đàn lợn tăng khá nhờ chăn nuôi trang trại phát triển, các mô hình liên kết sản xuất với doanh nghiệp tiếp tục được mở rộng, công tác phòng chống dịch bệnh được tăng cường và giá lợn hơi duy trì ở mức có lợi cho người chăn nuôi. Bên cạnh đó, nhu cầu tiêu thụ lợn thịt của các doanh nghiệp chế biến, cơ sở giết mổ và thị trường trong nước tăng, tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm chăn nuôi. Trước triển vọng thị trường thuận lợi, nhiều doanh nghiệp và trang trại đã chủ động tăng quy mô đàn, tái đàn và đầu tư mở rộng sản xuất, góp phần thúc đẩy tổng đàn lợn trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước (Công ty TNHH Việt Hoàng T&T tăng từ 7,07 nghìn con lên 23 nghìn con; Công ty TNHH Bách Minh tăng từ 4,1 nghìn con lên 6,57 nghìn con; Công ty TNHH Khang Thọ, Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam - Chi nhánh Lâm Đồng, Công ty Chăn nuôi Duy Ngọc Đạ Huoai đều có quy mô đàn tăng từ 0,5 đến dưới 2,0 nghìn con so với cùng kỳ năm trước). - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 23.600 nghìn con, tăng 8,69% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.337 nghìn con, chiếm 69,22% trong tổng đàn gia cầm, tăng 8,46%). Quy mô đàn gia cầm tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định, thời gian quay vòng vốn nhanh, khả năng thích ứng linh hoạt với thị trường, cùng với việc áp dụng các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, dịch bệnh phát sinh tại 01 hộ trên địa bàn xã Đức An, đã tiêu hủy 800 con/43,33 tấn. Lũy kế từ 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 14.877 con lợn mắc bệnh với tổng trọng lượng 744,01 tấn; đến nay còn 03 xã có ổ dịch chưa qua 21 ngày. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Trong tháng, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả (đã phân bổ bổ sung 15.000 liều vắc xin phòng bệnh Cúm gia cầm cho xã Nam Ban để triển khai tiêm phòng, nâng cao khả năng miễn dịch cho đàn gia cầm). Các dịch bệnh nguy hiểm trên vật nuôi như: Dại, tai xanh, Lở mồm long móng, Tụ huyết trùng, cúm gia cầm không xảy ra. Công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất, nhập tỉnh được duy trì thực hiện theo đúng quy định; công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y tiếp tục được tăng cường. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, diện tích trồng rừng ước đạt 2.221 ha, tăng 5,54% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.226 ha, tăng 5,2%; diện tích trồng cây phân tán ước đạt 5,6 triệu cây, tăng 3,36% so với cùng kỳ. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 42.705 m3, tăng 4,94% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 129.224 m3, tăng 5,02%, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 233.289 m3, tăng 3,89%. - Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 30.123 ste, tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 86.622 ste, tăng 1,84%; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 180.081 ste, tăng 1,98%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (từ 10/5/2026 - 10/6/2026) là 60 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 31 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 5,3 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 15 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 20 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 4,3 ha). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 (từ 10/12/2025 - 10/6/2026), tổng số vụ vi phạm là 300 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 136 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 22,7 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 42 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 34 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 5,9 ha). - Công tác phòng, chống cháy rừng: Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh đã triển khai thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy rừng mùa khô năm 2026, tập trung theo dõi và thông báo kịp thời cấp dự báo cháy rừng trên địa bàn các xã, phường; cập nhật kịp thời thông tin dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng để kiểm tra, xác minh và xử lý; rà soát, xác định các khu vực trọng điểm có nguy cơ cháy rừng cao trên địa bàn; tổ chức trực và canh gác tại các khu rừng có nguy cơ cháy rừng cao khi dự báo cháy rừng cấp III, IV, V. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 1,1 ha; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 02 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,1 ha. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, đã xảy ra 08 vụ cháy rừng, gây thiệt hại 2,9 ha rừng; so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 03 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,7 ha. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng tháng 6 ước đạt 487,8 ha, tăng 1,59% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.873,4 ha, tăng 1,43% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 2.581,6 ha, tăng 1,25%; diện tích nuôi tôm đạt 269,1 ha, tăng 3,46%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.305,3 tấn, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 395 tấn, tăng 10,92%); quý II/2026 ước đạt 6.934,1 tấn, giảm 0,16% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.160,7 tấn, tăng 6,23%); lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13.890 tấn, tăng 0,45% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 2.311,2 tấn, tăng 4,95%) - Khai thác thủy sản: Những tháng đầu năm, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền bám biển hoạt động khai thác ổn định; nguồn lợi cá cơm, cá nục xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho một số nghề như lưới kéo, vây rút chì, lưới rê, mành. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, đảo Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 25.660 tấn, tăng 3,04% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 25.560 tấn, tăng 2,84%); quý II/2026 ước đạt 66.843,5 tấn, tăng 3,1% (sản lượng khai thác biển đạt 66.578,5 tấn, tăng 2,92%); lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 120.113,5 tấn, tăng 3,29% (sản lượng khai thác biển đạt 119.700,2 tấn, tăng 3,19%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,8 tỷ post, tăng 32,06% so với cùng kỳ năm trước; quý II/2026 ước đạt 7,3 tỷ post, tăng 17,2%; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 13,2 tỷ post, tăng 10,01%. 5. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông vào sản xuất Trong 6 tháng đầu năm 2026, công tác đào tạo, tập huấn chuyển giao khoa học công nghệ, khuyến nông tiếp tục được đẩy mạnh và mang lại hiệu quả tích cực (đã triển khai 12 lớp tập huấn); Công tác thông tin tuyên truyền khuyến nông tiếp tục được quan tâm thực hiện thường xuyên. Ngành chức năng tiếp tục theo dõi, thực hiện 07 mô hình chuyển tiếp từ năm 2025 và triển khai thực hiện 13 mô hình mới. Sản xuất an toàn bền vững tiếp tục được quan tâm đẩy mạnh; diện tích sản xuất được chứng nhận an toàn bền vững ngày càng được mở rộng; đến nay, toàn tỉnh hiện có trên 154.375 ha được chứng nhận sản xuất an toàn bền vững (trong đó, diện tích VietGAP, GlobalGAP đạt 23.800 ha, diện tích hữu cơ đạt 4.075 ha, diện tích cà phê chứng nhận 4C, UTZ/Rainforest… đạt 126.500 ha). 6. Chương trình xây dựng nông thôn mới Trong 6 tháng đầu năm 2026, tập trung triển khai các Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030. Tiếp tục theo dõi hoạt động kinh tế trang trại, kinh tế hợp tác và hợp tác xã (HTX); Tập trung phát triển, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của các HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh; Công tác hỗ trợ HTX, đào tạo cán bộ, đặc biệt về kỹ năng thị trường và Luật HTX được chú trọng (đã tổ chức 01 lớp tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ quản lý, thành viên của các tổ chức kinh tế tập thể, HTX nông nghiệp). Toàn tỉnh hiện có 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp đang hoạt động theo Luật HTX năm 2023 với 45 HTX thành viên và 959 HTX nông nghiệp với 19.582 thành viên (trong đó 166 HTX ngừng hoạt động); có 1.290 Tổ hợp tác (các Tổ hợp tác hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi) và 1.448 trang trại (trong đó, có 1.410 trang trại đang hoạt động, 38 trang trại ngừng hoạt động). Hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh với 428 chuỗi liên kết, thu hút 47.590 hộ tham gia; diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85 nghìn ha, sản lượng khoảng 920 nghìn tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt 2.230 nghìn con, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Chương trình OCOP tiếp tục được triển khai hiệu quả với 936 sản phẩm còn hạn chứng nhận, trong đó có 88 sản phẩm 4 sao và 848 sản phẩm 3 sao, với 526 chủ thể tham gia. III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh ước tháng 6, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 duy trì đà tăng trưởng khá. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng toàn ngành, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế địa phương. Nhiều nhóm sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm trước, thể hiện sự phục hồi và phát triển tích cực của ngành công nghiệp tỉnh. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 24,68% so với cùng kỳ năm trước, quý II/2026 tăng 24,87% so với quý trước và tăng 13,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,98%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 17,04%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 11,63%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,29%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 19,02%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 16,92%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,68%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,05%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 388.861 m3, giảm 1,21% so với tháng trước và tăng 7,46% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.226.079 m3, tăng 17,57% so với cùng kỳ. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.136.985 m3, tăng 19,15% so với cùng kỳ. Tăng mạnh so với cùng kỳ do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang chỉ đạo tập trung giải ngân vốn đầu tư công cũng như các hạng mục công trình xây dựng khác đang đầu tư tại tỉnh. - Các sản phẩm từ thuỷ sản: Ước trong tháng sản lượng ước đạt 2.205 tấn, tăng 2,31% so với tháng trước và tăng 27,90% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 6.192 tấn, tăng 12,56% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 12.183 tấn, tăng 19,12% so với cùng kỳ. Các doanh nghiệp tập trung sản xuất khi mùa khai thác thủy hải sản đang thuận lợi, chủ động nguồn hàng cho các tháng tiếp theo. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến: Trong tháng ước đạt 4.851 tấn, tăng 16,98% so với tháng trước và tăng 29,71% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 12.539 tấn, tăng 20,79% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 21.431 tấn, tăng 15,38% so với cùng kỳ, một số doanh nghiệp đã đưa được sản phẩm vào siêu thị và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua một số nước trong khu vực ASEAN. - Đồ uống các loại: Ước trong tháng đạt 21.440 nghìn lít, tăng 3,22% so với tháng trước và tăng 26,07% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 60.363 nghìn lít, tăng 18,92% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 124.131 nghìn lít, tăng 16,80% so với cùng kỳ, các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 850 nghìn đôi, tăng 12,38% so với tháng trước và tăng 146,69% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.242 nghìn đôi, tăng 29,52% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.799 nghìn đôi, tăng 29,21% so với cùng kỳ, nguyên nhân là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm và đến nay vẫn duy trì tốc độ tăng đáng kể. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 12.896 tấn tăng 9,20% so với tháng trước và tăng 1,77% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 30.586 tấn, giảm 2,75% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng ước đạt 65.614 tấn, tăng 20,65% so với cùng kỳ nguyên nhân do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng để chuẩn bị cho mùa vụ 2026. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Ước trong tháng 135,3 nghìn tấn, tăng 1,12% so với tháng trước và tăng 10,83%% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 388,1 nghìn tấn, tăng 5,24% so với cùng kỳ, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 789,9 nghìn tấn tăng 2,53% so với cùng kỳ. - Điện sản xuất: Trong tháng ước đạt 3.380 triệu kwh, giảm 0,79% so với tháng trước và tăng 26,54% so với cùng kỳ. Quý II/2026 sản lượng sản xuất ước đạt 10.341 triệu kwh, tăng 11,30% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng ước đạt 18.079 triệu kwh, tăng 5,26% so với cùng kỳ. - Điện thương phẩm: Trong tháng ước đạt 482 triệu kwh, giảm 4,27% so với tháng trước và tăng 16,21% so với cùng kỳ. Quý II/2026 ước đạt 1.526 triệu kwh tăng 13,96% so với cùng kỳ; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3.016 triệu kwh, tăng 8,93% so với sùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,34% so với tháng trước và tăng 7,42% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 12,7%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,55%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,49%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,34%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 7,54% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 12,05%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 5,66%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,96%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 3,48%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,22%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,38%. Chỉ số sử dụng lao động tăng cho thấy các doanh nghiệp có nhu cầu mở rộng sản xuất, nhất là trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Tuy nhiên, lao động trong khai khoáng và cung cấp nước, xử lý rác thải còn giảm; đồng thời kết quả khảo sát doanh nghiệp cho thấy khó tuyển dụng lao động theo yêu cầu vẫn là một trong những khó khăn đáng chú ý, cần được theo dõi trong thời gian tới. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 11,77% so với tháng trước và tăng 12,35% so với cùng kỳ; lũy kế quý II/2026 chỉ số tiêu thụ giảm 1,43% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 30,45%; sản xuất đồ uống tăng 28,25%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 36,73%; chế biến gỗ tăng 48,89%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 76,47%; in và sao chép bản ghi các loại tăng 26,13%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 11,15%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 17,99%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 8,63%; sản xuất kim loại tăng 3,08%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 88,93%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: ngành dệt giảm 5,73%; sản xuất trang phục giảm 45,18%... Chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng là tín hiệu tích cực, nhưng quý II vẫn giảm 1,43% so với cùng kỳ, phản ánh sức mua và đơn hàng chưa đồng đều giữa các ngành. Các ngành thực phẩm, đồ uống, da giày, gỗ, giấy, hóa chất, cao su - plastic tăng tiêu thụ; ngược lại, dệt và sản xuất trang phục còn giảm, cho thấy rủi ro thị trường đang chịu ảnh hưởng của những biến động chưa tích cực từ tình hình kinh tế thế giới. 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 14,52% so với tháng trước và giảm 21,4% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho giảm so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 23,29%; sản xuất đồ uống giảm 26,68%; dệt giảm 77,93%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 29,52%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 56,35%… Ngược lại những ngành tăng như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 54,23%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 9,66%. 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Sản xuất kinh doanh quý II/2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 32,14% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 21,43% đánh giá khó khăn hơn và 46,43% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi. Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp nhà nước 12,5% có chiều hướng thuận lợi; 75% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 31,03% có chiều hướng thuận lợi; 45,69% có chiều hướng không thay đổi và 23,28% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 50% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 37,5% có chiều hướng không thay đổi và 12,5% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý II/2026, có 50,94% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 26,42% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 35,85% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 7,55% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 22,64% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 5,66% cho rằng thiếu năng lượng; 33,96% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 28,3% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 20,75% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 20,75% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 9,43% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 20,75% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 3,77% lý do khác. 1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã thu hút được 06 dự án đầu tư (trong đó có 01 dự án nước ngoài và 05 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 258,66 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích đất thuê lại 5,18 ha. Các dự án thu hút mới chủ yếu tập trung tại KCN Lộc Sơn và KCN Phú Hội, gồm: Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina, vốn đăng ký 0,2 triệu USD, thuê lại 0,3 ha nhà xưởng tại KCN Lộc Sơn; Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam, vốn đăng ký 26 tỷ đồng, diện tích 0,3128 ha tại KCN Lộc Sơn; Kho Transimex Phú Hội, vốn đăng ký 98,658 tỷ đồng, diện tích 1,29 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV Nhựa Stroman Lâm Đồng, vốn đăng ký 40 tỷ đồng, diện tích 1,3879 ha tại KCN Phú Hội; Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm, vốn đăng ký 14 tỷ đồng, diện tích 1,0887 ha tại KCN Phú Hội; và Nhà máy chế biến nông sản của Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà, vốn đăng ký 80 tỷ đồng, diện tích 1,0981 ha tại KCN Phú Hội. Lũy kế đến nay, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh có 244 dự án đầu tư, trong đó có 58 dự án FDI và 186 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 46.728,75 tỷ đồng và 515,132 triệu USD; diện tích đất đăng ký 727,11 ha, tỷ lệ lấp đầy chung đạt 53,88%. Hiện có 175 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Kết quả sản xuất kinh doanh lũy kế đến ngày 30/6/2026 ước đạt 16.520 tỷ đồng doanh thu; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 353,8 triệu USD; nộp ngân sách ước đạt 949,5 tỷ đồng. Về tình hình từng khu công nghiệp: - KCN Lộc Sơn thu hút được 58 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 48 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,8ha/132,6 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%; - KCN Phú Hội thu hút được 34 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 23 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%; - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%; - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%; - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,7 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%; - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,9 ha/276,9 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%; - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,4 ha/202,3 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%; - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,1 ha/210,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%; - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130,6 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%; - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,4 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%; - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Hoạt động xây dựng duy trì tăng trưởng, song tốc độ chưa thật sự bứt phá so với yêu cầu tăng trưởng cao. Các dự án hạ tầng giao thông, chỉnh trang đô thị, công trình phục vụ du lịch, dịch vụ và nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục tạo khối lượng cho ngành; tuy nhiên, vướng mắc về mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, giá vật liệu và thủ tục dự án vẫn là những yếu tố làm chậm tiến độ thi công, nghiệm thu và thanh toán. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ngành xây dựng chia theo loại hình quý II/2026 ước đạt 16.492,3 tỷ đồng, tăng 14,87% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 63 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,38%), tăng 75,11% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 8.935,4 tỷ đồng (54,18%), tăng 16,04% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 176,3 tỷ đồng (1,07%), tăng 19,95% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 7.317,6 tỷ đồng (44,37%), tăng 13,03% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành ước đạt 28.653,6 tỷ đồng, tăng 13,68% so cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 120,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,42%), tăng 85,67% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 15.741,8 tỷ đồng (54,94%), tăng 14,40% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 352,0 tỷ đồng (1,23%), tăng 12,27% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 12.439,8 tỷ đồng (43,41%), tăng 12,27% so với cùng kỳ. Chia theo loại công trình, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý II/2026 công trình nhà ở đạt 6.578,8 tỷ đồng, tăng 11,55% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 3.476,3 tỷ đồng, tăng 12,52% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 4.400,3 tỷ đồng, tăng 15,69% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.036,9 tỷ đồng, tăng 29,99% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành loại công trình nhà ở đạt 11.554,8 tỷ đồng, tăng 10,92% so cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 5.952,9 tỷ đồng, tăng 11,54% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 7.425,7 tỷ đồng, tăng 13,88%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 3.720,2 tỷ đồng, tăng 26,92% so với cùng kỳ. Theo giá so sánh 2010, giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại hình ước quý II/2026 đạt 13.139,2 tỷ đồng, tăng 9,72% so cùng kỳ. Trong đó, công trình nhà ở đạt 5.167,2 tỷ đồng, tăng 5,88% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 2.730,4 tỷ đồng, tăng 6,8% so với cùng kỳ; Công trình kỹ thuật dân dụng 3.456,1 tỷ đồng, tăng 9,81% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 1.785,6 tỷ đồng, tăng 28,31% so với cùng kỳ. Ước 6 tháng đầu năm 2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh ước đạt 22.924,9 tỷ đồng, tăng 8,76% so với cùng kỳ. Trong đó, công trình nhà ở đạt 9.107,6 tỷ đồng, tăng 5,4% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 4.691,6 tỷ đồng, tăng 5,99% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 5.851,9 tỷ đồng, tăng 8,21% so với cùng kỳ; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 3.273,9 tỷ đồng, tăng 25,78% so với cùng kỳ. Kết quả khảo sát doanh nghiệp xây dựng cho thấy tâm lý thận trọng còn rõ nét. Quý II/2026 so với quý I/2026 có 14,5% doanh nghiệp nhận định thuận lợi hơn, 50,8% ổn định và 34,7% khó khăn hơn; chỉ số cân bằng chung là -20,2%. Dự báo quý III/2026, tỷ lệ doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn tăng lên 48%, chỉ số cân bằng chung giảm -35,3%, cho thấy ngành xây dựng cần được hỗ trợ mạnh hơn về mặt bằng, thủ tục, nguồn vật liệu và thanh toán khối lượng. 3. Đầu tư phát triển Đầu tư phát triển tiếp tục là kênh tạo động lực tăng trưởng quan trọng sau khi tỉnh mở rộng không gian phát triển. Vốn đầu tư toàn xã hội tăng khá, cơ cấu vốn ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng chủ lực, tập trung vào công nghiệp chế biến, khai khoáng, năng lượng, du lịch, nông nghiệp công nghệ cao và hạ tầng. Tuy nhiên, tốc độ thực hiện một số dự án còn chậm, nhất là nhóm dự án liên quan đến bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và thủ tục đất đai. Trong 6 tháng đầu năm, công tác phân bổ và triển khai vốn cho các dự án hạ tầng trọng điểm, công trình khởi công mới được thực hiện khẩn trương. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện của các dự án còn chậm do vướng mắc trong chuyển đổi mục đích sử dụng rừng và bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa được xử lý dứt điểm. 3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 964,78 tỷ đồng, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 900,34 tỷ đồng, chiếm 93,32% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 2,11% so với cùng kỳ (trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách ước đạt 410,57 tỷ đồng, tăng 33,01% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 129,45 tỷ đồng, giảm 49,16% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài đạt 14,21 tỷ đồng, giảm 27,47% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết đạt 340,45 tỷ đồng, tăng 15,13% so với cùng kỳ; vốn khác đạt 5,66 tỷ đồng, tăng 79,54% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 64,44 tỷ đồng, chiếm 6,68% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,24% so với cùng kỳ. Quý II/2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.628,92 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.451,39 tỷ đồng, chiếm 93,25% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,90% so với cùng kỳ (trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.122,49 tỷ đồng, tăng 49,08% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 349,27 tỷ đồng, giảm 47,10% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài ước đạt 38,68 tỷ đồng, giảm 28,20% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 925,05 tỷ đồng, tăng 4,67% so với cùng kỳ; vốn khác ước đạt 15,90 tỷ đồng, tăng 85,92% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 177,53 tỷ đồng (chiếm 6,75% tổng số vốn trên địa bàn), tăng 4,77% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.539,56 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 4.233,71 tỷ đồng, tăng 4,15% so với cùng kỳ, chiếm 93,26% tổng số vốn trên địa bàn (trong đó: nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.956,99 tỷ đồng, tăng 24,47% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 605,25 tỷ đồng, giảm 46,71% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài ước đạt 68,05 tỷ đồng, giảm 28,28% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết ước đạt 1.576,63 tỷ đồng, tăng 26,42% so với cùng kỳ; vốn khác ước đạt 26,79 tỷ đồng, tăng 77,36% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 305,85 tỷ đồng, chiếm 6,74% tổng số vốn trên địa bàn, tăng 3,24% so với cùng kỳ. 3.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn Vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục mở rộng, trong đó vốn ngoài nhà nước giữ vai trò dẫn dắt. Dòng vốn tập trung vào các dự án có khả năng tạo năng lực sản xuất và không gian phát triển mới như Thung lũng Đại dương, Điện phân nhôm Đắk Nông, Nam sông Đa Nhim, các khu công nghiệp Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2, cùng nhóm dự án chế biến, logistics và nông nghiệp công nghệ cao. Đây là nguồn lực quan trọng cho tăng trưởng trung hạn, nhưng cần tiếp tục theo dõi khả năng chuyển hóa thành khối lượng thực hiện trong năm 2026. Quý II/2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 29.527,20 tỷ đồng, tăng 31,68% so với quý I/2026 và tăng 15,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn nhà nước đạt 4.865,68 tỷ đồng (16,48%), tăng 7,54%; vốn ngoài nhà nước 23.599,76 tỷ đồng (79,69%), tăng 17,03% (vốn của các tổ chức, doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 12.112,12 tỷ đồng, tăng 15,04%; vốn đầu tư của dân cư đạt 11.487,64 tỷ đồng, tăng 19,20%); vốn FDI đạt 1.061,77 tỷ đồng (3,6%), tăng 11,95%. Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất (22.423,98 tỷ đồng, tăng 16,66%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 13,75% (4.060,46 tỷ đồng, tăng 11,12%), ... Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư toàn xã hội đạt 51.950,24 tỷ đồng, tăng 14,38% so với cùng kỳ năm trước. Vốn nhà nước đạt 8.379,9 tỷ đồng (chiếm 16,13%), tăng 6,95%. Vốn ngoài nhà nước đạt 41.688,83 tỷ đồng (41,78%), tăng 16,16% tiếp tục giữ vai trò chủ lực, huy động hiệu quả nguồn xã hội hóa (vốn của tổ chức, doanh nghiệp đạt 21.705,37 tỷ đồng, tăng 15,15%; vốn của dân cư đạt 19.983,46 tỷ đồng, tăng 17,27%). Vốn FDI đạt 1.881,51 tỷ đồng (3,62%), tăng 11,21%, dòng vốn FDI có sự chọn lọc chiến lược, tập trung vào nông nghiệp công nghệ sinh học, chế biến sâu nông sản, logistics và du lịch sinh thái. Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất 77,1% (40.053,09 tỷ đồng, tăng 16,37%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định chiếm 12,74% (6.616,59 tỷ đồng, tăng 7,11%), cùng các khoản mục mua sắm tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động và vốn khác đều tăng trưởng. Kết quả trên cho thấy dòng vốn đầu tư tiếp tục mở rộng, cơ cấu chuyển dịch tích cực, đóng góp quan trọng cho phát triển hạ tầng, công nghiệp chế biến chế tạo và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong tháng (từ ngày 15/5-14/6/2026) toàn tỉnh có 376 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 25% so với cùng kỳ năm trước; 48 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 24%; 106 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 6%; 96 doanh nghiệp giải thể, tăng 23%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 2.382 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 58,38% so với cùng kỳ; 556 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 10,76%; 1.191 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 2,03%; 491 doanh nghiệp giải thể, tăng 71,68% (tương ứng 205 doanh nghiệp). Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 11.965,5 tỷ đồng, tăng 34,63%. Bình quân một tháng số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao xấp sỉ 6 lần số doanh nghiệp rút lui (490 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại so với gần 82 doanh nghiệp rút lui). Điều này cho thấy niềm tin kinh doanh có cải thiện; tuy nhiên, số doanh nghiệp giải thể tăng mạnh cũng phản ánh áp lực cạnh tranh, chi phí và khả năng chống chịu của một bộ phận doanh nghiệp còn hạn chế. Về thu hút đầu tư (tính từ đầu năm đến ngày 18/6/2026), toàn tỉnh có 31 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 143.886,6 tỷ đồng; 28 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Lũy kế đến ngày 18/6/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.950 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư 916.601 tỷ đồng (trong đó: có 245 dự án FDI còn hiệu lực hoạt động, với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 224.958 tỷ đồng). * Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm Trong 6 tháng đầu năm 2026, tiến độ triển khai các công trình trọng điểm, dự án đô thị, thương mại và khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có nhiều chuyển biến tích cực nhờ sự quyết liệt trong tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục pháp lý. Tuy nhiên, một số dự án vẫn chậm tiến độ do công tác giải phóng mặt bằng kéo dài và tác động của giá nguyên vật liệu xây dựng tăng cao. Đối với các dự án hạ tầng giao thông chiến lược, tỉnh đang tập trung triển khai đồng bộ nhiều dự án quy mô lớn. Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành dài 124,13 km được chia thành 5 dự án thành phần; trong đó tỉnh phụ trách công tác xây dựng đường gom, cầu vượt và thực hiện bồi thường, hỗ trợ tái định cư với tổng kinh phí khoảng 1.000 tỷ đồng. Dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc dài khoảng 66 km và dự án cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương dài 73,6 km đang hoàn thiện các thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng và tái định cư. Riêng dự án Bảo Lộc - Liên Khương còn gặp khó khăn do thủ tục chuyển đổi đất rừng, đất lúa và áp lực tăng giá vật liệu xây dựng. Các dự án giao thông quan trọng khác cũng được triển khai tích cực. Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh với chiều dài 156,5 km đang thực hiện công tác quản lý hiện trạng, khoanh vùng hành lang và chuẩn bị dữ liệu phục vụ công tác đo đạc, kiểm đếm. Dự án đường ven biển ĐT.719B đoạn Phan Thiết - Kê Gà đã hoàn thành khoảng 92% khối lượng, trong đó đoạn dài 17,8 km từ Quốc lộ 1 đến cầu Suối Nhum đã đưa vào khai thác. Dự án nâng cấp Quốc lộ 28B đạt 99% khối lượng giải phóng mặt bằng. Lĩnh vực hạ tầng hàng không ghi nhận những bước tiến quan trọng. Dự án Cảng hàng không Phan Thiết (hạng mục hàng không dân dụng) đã hoàn tất bàn giao toàn bộ mặt bằng sạch, sẵn sàng triển khai thi công. Dự án nâng cấp Cảng hàng không Liên Khương với tổng vốn đầu tư gần 5.000 tỷ đồng đang thực hiện công tác đo đạc, kiểm đếm trên 115 ha, đạt 33,8% khối lượng chuẩn bị mặt bằng. Các dự án thủy lợi tiếp tục được đẩy mạnh nhằm nâng cao năng lực cấp nước phục vụ sản xuất và dân sinh. Dự án hồ chứa nước KaZam đã hoàn thành 91% diện tích giải phóng mặt bằng và đạt khoảng 38% khối lượng xây lắp. Hồ chứa nước Ka Pét đạt 72% khối lượng kiểm đếm, bồi thường và tái định cư. Hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây đạt khoảng 62% giá trị xây dựng, trong khi hệ thống kênh mương hồ Đạ Sị đạt 51% khối lượng thực hiện. Dự án hồ Đắk Gang đã hoàn thành 84,5% diện tích bàn giao mặt bằng và đạt khoảng 28% khối lượng xây lắp. Trong lĩnh vực công nghiệp, Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông với tổng vốn đầu tư trên 28.000 tỷ đồng đã hoàn thành khoảng 82% khối lượng xây lắp và lắp đặt thiết bị. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1 đạt trên 85% công tác giải phóng mặt bằng và khoảng 25% khối lượng hạ tầng kỹ thuật giai đoạn 1. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 2 cơ bản hoàn tất công tác chuẩn bị đầu tư và đang triển khai các hạng mục kỹ thuật ban đầu. Khu công nghiệp Tân Đức đã hoàn thành trên 97% công tác giải phóng mặt bằng. Đối với các dự án phát triển đô thị, Khu đô thị mới Nam sông Đa Nhim quy mô 153,65 ha với tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 11.800 tỷ đồng hiện đang tập trung thực hiện công tác giải phóng mặt bằng. Dự án cải thiện môi trường đô thị tại khu vực Đắk Nông cũ đã triển khai đồng loạt các gói thầu xây lắp và đạt trên 75% giá trị hợp đồng. Nhìn chung, các dự án trọng điểm của tỉnh đang được triển khai theo hướng tích cực, tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kết cấu hạ tầng, mở rộng không gian đô thị, thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tới. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Hoạt động thương mại, dịch vụ và vận tải trên địa bàn tỉnh trong tháng, quý II và 6 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Sức mua tăng, nguồn cung hàng hóa ổn định, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá bán trên thị trường tương đối ổn định, không xảy ra biến động khan hiếm làm tăng giá đột biến. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, nhiều hoạt động văn hoá, thể thao và nhiều lễ hội khác đã thu hút nhiều du khách. Dịch vụ lữ hành tiếp tục tăng cường; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hoá trên thị trường kịp thời; vận tải đường thuỷ diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.324,4 tỷ đồng, tăng 3,51% so với tháng trước và tăng 23,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: uớc tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 10.305,5 tỷ đồng, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 20,99% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.938,4 tỷ đồng, tăng 14,46% so với tháng trước và tăng 38,03% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.080,6 tỷ đồng, tăng 0,15% so với tháng trước và tăng 15,92% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 50.295,5 tỷ đồng, tăng 20,21% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 30.655,7 tỷ đồng, tăng 18,44% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 10.451,8 tỷ đồng, tăng 24,67% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 9.188,1 tỷ đồng, tăng 21,36% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 97.606,7 tỷ đồng, tăng 17,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 60.083,8 tỷ đồng, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 19.840 tỷ đồng, tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Công tác quản lý thị trường được tăng cường, tập trung vào xăng dầu, gạo, vật liệu xây dựng, hàng giả, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và gian lận thương mại. Trong tháng, lực lượng chức năng kiểm tra 153 vụ, phát hiện 124 vụ vi phạm, xử lý 112 vụ với tổng số tiền xử phạt 864,5 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/6/2026, đã kiểm tra 798 vụ, phát hiện 741 vụ vi phạm, xử lý 720 vụ; số tiền xử phạt 5.741,4 triệu đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 2.013,4 triệu đồng. Kết quả này góp phần ổn định thị trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và môi trường kinh doanh lành mạnh. 2. Giá cả 2.1. Giá tiêu dùng (CPI) Chỉ số giá tiêu dùng 6 tháng đầu năm chịu tác động đan xen: một mặt, nguồn cung hàng hóa cơ bản ổn định và điều hành giá xăng dầu góp phần hạn chế biến động đột biến; mặt khác, giá nhà ở, điện nước, vật liệu xây dựng, thực phẩm, giao thông và giáo dục tăng đã tạo áp lực lên mặt bằng giá chung. Vì vậy, kiểm soát giá, nhất là nhóm hàng thiết yếu và chi phí đầu vào, tiếp tục là nhiệm vụ quan trọng trong thời gian tới. Trong tháng CPI giảm 0,19% so với tháng trước, tăng 0,60% so với tháng 12/2025 và tăng 4,01% so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm chủ yếu do nhóm giao thông giảm mạnh 4,51%, trong đó giá xăng giảm 10,05%, dầu diesel giảm 10,62% và dầu hỏa giảm 18,73% theo các kỳ điều hành giá nhiên liệu trong tháng. Bên cạnh đó, giá sách giáo khoa giảm 1,49% làm nhóm giáo dục giảm 0,09%. Tuy nhiên, nhiều nhóm hàng vẫn tăng giá như hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,62%, văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,77%, nhà ở, điện nước và vật liệu xây dựng tăng 0,15% do nhu cầu tiêu dùng mùa hè và chi phí đầu vào tăng. Bình quân quý II/2026, CPI tăng 4,44% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng chủ yếu đến từ nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 7,33%, làm CPI chung tăng 1,31 điểm phần trăm; nhóm giao thông tăng 9,39%, đóng góp 1,07 điểm phần trăm do giá nhiên liệu tăng 19,02% và giá dịch vụ vận tải hành khách tăng 37,1%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,76%, nhóm giáo dục tăng 7,20% do điều chỉnh học phí tại một số cơ sở giáo dục ngoài công lập. Trong khi đó, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,32%, góp phần kiềm chế đà tăng CPI nhờ các chương trình giảm giá thiết bị công nghệ và điện thoại di động. Bình quân 6 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước. Các nhóm hàng tác động lớn đến CPI gồm: nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,04%, làm CPI chung tăng 1,08 điểm phần trăm; thực phẩm tăng 4,58%, đóng góp 1,14 điểm phần trăm; giao thông tăng 5,38%, làm CPI tăng 0,61 điểm phần trăm; giáo dục tăng 7,18%, góp phần tăng 0,34 điểm phần trăm. Ngoài ra, nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 4,92%, đồ uống và thuốc lá tăng 3,3%, thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,49%. Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,27%, góp phần giảm áp lực tăn giá. Nhìn chung, mặt bằng giá 6 tháng đầu năm 2026 chịu tác động chủ yếu từ chi phí nguyên vật liệu đầu vào, giá nhiên liệu, giá nhà ở, vật liệu xây dựng và việc điều chỉnh học phí tại một số cơ sở giáo dục. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất  Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2026 tăng 5,93% so cùng kỳ năm trước và 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước. Trong 3 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 5,59%; sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 7,21% và sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 3,76%. Chỉ số giá sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2026 tăng 7,68% so cùng kỳ năm trước, trong đó tăng cao nhất là nhóm sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 7,47%; tiếp đến là nhóm sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 6,55%; nhóm sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng thấp 3,49%.  Chỉ số giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào dùng cho sản xuất quý II/2026 tăng 11,72% so với cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 1,93%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,85%; nguyên vật liệu khác tăng 14,61%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,29%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,33%; sản phẩm xây dựng tăng 6,9%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,47%. Tính bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng 9,19% so cùng kỳ năm trước, trong 7 nhóm sản phẩm chính các nhóm hàng đều tăng giá so cùng kỳ năm trước: Nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, và thuỷ sản tăng 4,3%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 18,6%; nguyên vật liệu khác tăng 9,44%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí tăng 4,04%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,62%; sản phẩm xây dựng tăng 5,37%; dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,66%. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý II/2026 tăng 1,01% so với quý trước; tăng 3,9% so với quý cùng kỳ năm trước. Tính bình quân chỉ số giá 6 tháng đầu năm 2026 tăng 3,85% so với cùng kỳ năm năm trước, trong đó: nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 19,59% so với cùng kỳ năm trước (nhờ nhóm sản phẩm quặng kim loại và tinh quặng kim loại, nhóm nhóm sản phẩm khai khoáng khác); nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,95% (hầu hết sản phẩm đều tăng giá); nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,28% (do những tháng đầu năm công ty cổ phần thủy điện Trung Nam, Đăk R'tih áp dụng theo đơn giá điện mùa khô; bên cạnh đó sản lượng điện phát ra của công ty cổ phần thủy điện Đa Nhim - àm Thuận - Đa Mi cao hơn giá hợp đồng, tác động làm tăng chỉ số giá nhóm thủy điện; ngoài ra giá điện mặt trời biến động theo tỷ giá đồng Đô la Mỹ); nhóm nước tự nhiên khai thác, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,79% (do lượng nước tiêu thụ tăng tác động lên giá nước sản xuất; bên cạnh đó chi phí nhân công, giá nhiên liệu và chi phí vận hành tăng nên một số công ty điều chỉnh tăng giá dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu). 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, tỉnh Lâm Đồng sôi động với nhiều sự kiện văn hóa và thể thao quy mô lớn, nổi bật là Hội thao Quân sự, võ thuật và thể thao Công an nhân dân (từ ngày 17-24/6/2026) thu hút khoảng 1.500 vận động viên tham gia thi đấu các môn: bắn súng, võ thuật, vượt vật cản, bóng đá nam 7 người và Pickleball. Giải Thể thao học sinh phổ thông toàn quốc (từ ngày 20-30/6/2026); Chương trình kích cầu du lịch nội tỉnh diễn ra xuyên suốt trong tháng và kéo dài đến cuối năm 2026 hưởng ứng mùa du lịch hè, tỉnh triển khai chương trình “Người Lâm Đồng đi du lịch Lâm Đồng - Khám phá quê hương, kết nối yêu thương”, với nhiều chuỗi trải nghiệm, khám phá thiên nhiên, văn hóa và kết nối các vùng miền trên toàn tỉnh. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.166,7 nghìn lượt, tăng 11,25% so tháng trước và tăng 20,65% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 73,5 nghìn lượt, tăng 7,14% so với tháng trước và tăng 7,43% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.997,7 nghìn ngày khách, tăng 12,21% so với tháng trước và tăng 23,91% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 115 nghìn lượt khách, tăng 10,36% so với tháng trước và tăng 34,66% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 369,5 nghìn ngày khách, tăng 11,97% so với tháng trước và tăng 40,98% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 lượt khách phục vụ đạt 6.138,6 nghìn lượt, tăng 17,03% so với quý cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 212,2 nghìn lượt, tăng 10,55 % so với quý cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 11.311,4 nghìn ngày khách, tăng 19,17% so với quý cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế quý II/2026 ước đạt 328,7 nghìn lượt khách, tăng 15,74% so với quý cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế phục vụ ước đạt 1.047,2 nghìn ngày khách, tăng 20,51% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 11.995 nghìn lượt, tăng 18,08% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 428 nghìn lượt, tăng 13,91% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 22.430 nghìn ngày khách, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 825 nghìn lượt, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.630 nghìn ngày khách, tăng 22,32% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 769 tỷ đồng, tăng 18,46% so với tháng trước và tăng 30,39% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.110 tỷ đồng, tăng 13,73% so với tháng trước và tăng 39,95% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 59,4 tỷ đồng, tăng 3,64% so với tháng trước và tăng 44,03% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 2.033,6 tỷ đồng, tăng 19,33% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 8.249,3 tỷ đồng, tăng 25,7% so với quý cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 168,8 tỷ đồng; tăng 44,7% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt gần 4.026 tỷ đồng, tăng 23,25% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 15.498 tỷ đồng, tăng 23,75% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 325 tỷ đồng, tăng 41,8% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 6.098,5 tỷ đồng, tăng 12,21% so với tháng trước và tăng 24,7% so với cùng kỳ. Quý II/2026 doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 17.264,2 tỷ đồng, tăng 19,92% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 33.310 tỷ đồng, tăng 22,15% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.080,6 tỷ đồng, tăng 0,38% so với tháng trước và tăng 15,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 726,4 tỷ đồng, tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 10,45% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 166,1 tỷ đồng, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 6,03% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148,4 tỷ đồng, giảm 9,27% so với tháng trước và tăng 24,73% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 249,3 tỷ đồng, tăng 7,42% so với tháng trước và tăng 19,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.472,9 tỷ đồng, giảm 1,15% so với tháng trước và tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 317,4 tỷ đồng, tăng 3,54% so với tháng trước và tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 9.172,9 tỷ đồng, tăng 21,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.137,9 tỷ đồng, tăng 13,23%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 497,3 tỷ đồng, tăng 8,06%; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 460,6 tỷ đồng, tăng 27,04%; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 720,3 tỷ đồng, tăng 14,71%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 4.444 tỷ đồng, tăng 30,23%; doanh thu dịch vụ khác đạt 927,9 tỷ đồng, tăng 13,24%; doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông ước đạt 191,2 tỷ đồng, tăng 11,27%; doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 640 tỷ đồng, tăng 11,64%. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 17.682,9 tỷ đồng, tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 4.284,9 tỷ đồng, tăng 10,67%; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 995,5 tỷ đồng, tăng 10,09%; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 892 tỷ đồng, tăng 21,51%; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.439,8 tỷ đồng, tăng 15,31%; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 8.266,2 tỷ đồng, tăng 20,57%; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.804,5 tỷ đồng, tăng 10,36%. 5. Hoạt động vận tải Do nhu cầu đi lại của người dân và khách du lịch đến Đà Lạt, Phan Thiết và các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh tăng trong tháng đầu tiên của mùa hè; đồng thời hoạt động vận chuyển nông sản, vật liệu xây dựng và hàng hóa phục vụ sản xuất, kinh doanh diễn ra sôi động để phục vụ cho các công trình đang thi công. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông kết nối giữa Lâm Đồng với các tỉnh khu vực lân cận ngày càng thuận lợi, góp phần thúc đẩy hoạt động logistics, kho bãi và doanh thu ngành vận tải tăng so với cùng kỳ. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.274,7 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 27,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 ước đạt 3.669,4 tỷ đồng, tăng 25,25% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.168 nghìn HK, tăng 6,67% so với tháng trước và tăng 25,15% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 457.748,3 nghìn HK.Km, tăng 6,96% so với tháng trước và tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 lượt khách vận chuyển ước đạt 8.850,3 nghìn HK, tăng 19,19% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.277.743,4 nghìn HK.Km, tăng 20,08% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 17.098 nghìn HK, tăng 18,09% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 2.466.897 nghìn HK.Km, tăng 18,92% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.232,9 nghìn tấn, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 24,11% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 328.108,6 nghìn tấn.Km, tăng 5,10% so với tháng trước và tăng 24,51% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 khối lượng vận chuyển ước đạt 6.280 nghìn tấn, tăng 19,62% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 924.781,3 nghìn tấn.Km, tăng 20,27% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 12.274,5 nghìn tấn, tăng 17,30% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.806.168 nghìn tấn.Km, tăng 17,85% so với cùng kỳ năm trước - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.274,6 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 27,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý II/2026 ước đạt 3.669,4 tỷ đồng, tăng 25,25% so với cùng quý năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.133 tỷ đồng, tăng 23,12% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.465 tỷ đồng, tăng 28,05% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.465 tỷ đồng, tăng 24,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 939,7 tỷ đồng, tăng 13,54% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 263,3 tỷ đồng, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt đạt 91,4 nghìn tấn trong đó xuất cảng 81,4 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 10 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.373 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.250 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 123 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước quý II/2026 đạt 7.446,7 tỷ đồng, bằng 21,63% kế hoạch năm và giảm 6,91% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 18.623,9 tỷ đồng bằng 54,08% kế hoạch năm và tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 17.320,4 tỷ đồng, bằng 53,01% kế hoạch năm và tăng 8,71%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.303,5 tỷ đồng, bằng 74,06% kế hoạch năm và tăng 55,69% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa trong 6 tháng đầu năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 2.490 tỷ đồng (bằng 65,46% kế hoạch năm và tăng 6,57% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 873 tỷ đồng (bằng 63,27% kế hoạch năm và tăng 11,10%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 4.856 tỷ đồng (bằng 72,61% kế hoạch năm và tăng 53,37%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 1.600 tỷ đồng (bằng 58,61% kế hoạch năm và tăng 0,34%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 2.220 tỷ đồng (bằng 30,10% kế hoạch năm và giảm 17,39%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 3.087 tỷ đồng (bằng 53,22% kế hoạch năm và tăng 9,89%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh ước quý II/2026 đạt 11.826,7 tỷ đồng, lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 25.309,5 tỷ đồng (bằng 51,87% kế hoạch, tăng 0,36% so với cùng kỳ), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 9.051,8 tỷ đồng, giảm 2,91% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 16.138,6 tỷ đồng, tăng 0,40% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động tín dụng Tính đến 31/5/2026, công tác huy động vốn của các TCTD (Tổ chức tín dụng) trên địa bàn tỉnh đạt 240.469 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 11.193 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4,88%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 237.670 tỷ đồng (chiếm 98,84% tổng huy động vốn); huy động bằng ngoại tệ đạt 2.799 tỷ đồng, (chiếm 1,16% tổng huy động vốn). Ước đến 30/6/2026, huy động vốn của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 243.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 13.728 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 5,99%. Hoạt động tín dụng: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 374.447 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.463 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,93%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 371.780 tỷ đồng (chiếm 99,29% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.667 tỷ đồng (chiếm 0,71% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 264.635 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 109.812 tỷ đồng. Ước đến 30/6/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn toàn tỉnh đạt 382.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng khoảng 11.016 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 2,97%. Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của NHTM trong tỉnh ở mức 0,18% - 0,40%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 4,31% - 4,74%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 7,22% -8,01%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; 7,43% - 7,92%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của TCTD ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân của NHTM đối với các khoản cho vay mới ở mức 9% - 10,51%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng VND đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,17% - 4,52%/năm. Dư nợ cho vay: Đến 31/5/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 184.967 tỷ đồng, chiếm 49,4% tổng dư nợ tín dụng; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.253 tỷ đồng, chiếm 8,61% tổng dư nợ tín dụng; ngành nông lâm thủy sản đạt 157.227 tỷ đồng, chiếm 41,99% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.759 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,8% trong tổng dư nợ tín dụng. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Tập trung thực hiện công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: tuyên truyền cổ động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026; tuyên truyền chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026); tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền, phát động Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng; kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Đà Lạt (03/4/1975 - 03/4/2026), Ngày giải phóng Phan Thiết (19/4/1975 - 19/4/2026); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch); Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026); 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); kỷ niệm 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026),… đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh.- Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ các nhiệm vụ chính trị và chào mừng các sự kiện kỷ niệm của địa phương, đất nước như: chương trình bắn pháo hoa nổ tầm thấp đón giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; chương trình văn nghệ phục vụ cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031; các hoạt động văn nghệ kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886-01/5/2026); kỷ niệm 72 năm Ngày chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954-07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2026),... Ngoài ra, đến nay đã tổ chức 69 buổi biểu diễn phục vụ chính trị, biểu diễn doanh thu với số tiền 433.657.200 đồng; xây dựng mới 11 chương trình nghệ thuật; tổ chức 05 đợt phim, 01 tuần phim, 96 buổi biểu diễn văn nghệ, 505 buổi chiếu phim, 05 buổi triển lãm tranh lưu động, 40 buổi tuyên truyền xe loa và 01 vở kịch tuyên truyền phục vụ cơ sở.- Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Trong tháng đón 13.900 lượt khách, trong đó có 656 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 2.642 lượt; di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.778 lượt; di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 221 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 6.392 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 867 lượt). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã đón 160.323 lượt khách, trong đó có 13.721 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 43.717 lượt; di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 31.050 lượt; di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 6.528 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 71.227 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 7.801 lượt). Ngoài ra đã tổ chức tổ chức 12 cuộc triển lãm chuyên đề và lưu động; đồng thời tổ chức khảo sát, đánh giá hiện trạng tại các tuyến, điểm trong vùng Công viên địa chất toàn cầu UNESCO Đắk Nông và chuẩn bị các điều kiện tham dự Hội thảo mạng lưới Công viên địa chất Châu Á - Thái Bình Dương lần thứ 9 năm 2026 (APGN 2026) của Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Langkawi, Malaysia. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Trong tháng tiếp đón 11.230 lượt khách đến tham quan; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã tiếp đón 66.476 lượt khách (trong đó có 237 khách quốc tế). Ngoài ra đã thực hiện 08 phóng sự chuyên đề; chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh; trưng bày triển lãm 95 hình ảnh với chuyên đề: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc”; trưng bày triển lãm 130 ảnh chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh với những chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng với tên gọi “Dục Thanh nhớ Bác”,... và tổ chức nhiều hoạt động văn hóa phục vụ người dân, du khách. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 1.367 lượt khách; luỹ kế 6 tháng đầu năm 2026 đã đón 12.657 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 133 thẻ (19 thẻ thiếu nhi), phục vụ 126.257 lượt bạn đọc, luân chuyển 67.568 lượt tài liệu, trưng bày 1.647 bản sách. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, đã cấp mới và gia hạn 5.590 thẻ (4.225 thẻ thiếu nhi), phục vụ 1.397.901 lượt bạn đọc, luân chuyển 442.082 lượt tài liệu, trưng bày 143.073 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức và phối hợp tổ chức: Giải Pickleball tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; giải chạy bộ “Vietnam Highlands Trail - Lâm Đồng”; giải chạy Chinh phục thử thách lần thứ 3 “Prenn Trail Summit”; giải đua thuyền truyền thống Phan Thiết mở rộng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; giải Võ thuật Cổ truyền tỉnh Lâm Đồng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; lễ phát động đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; tháng hoạt động thể dục, thể thao cho mọi người và “Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân - Vì an ninh Tổ quốc” năm 2026; lễ hội các môn thể thao địa hình phối hợp Di Linh năm 2026 “Di Linh out door festival 2026”; giải Việt Nam FesTrival 3 môn phối hợp Lâm Đồng năm 2026; giải Siêu Marathon Đà Lạt ULtra Trail 2026; lễ khai mạc hè, phát động bơi an toàn phòng, chống đuối nước năm 2026; lớp tập huấn bơi an toàn, phòng, chống đuối nước trẻ em trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2026 (KV1); hội thi bơi, cứu đuối tỉnh Lâm Đồng năm 2026; giải cúp các CLB Yoga tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026; giải chạy “Dalat Music Night Run 2026”. - Thể thao thành tích cao: Trong 6 tháng đầu năm, tỉnh đã cử 778 vận động viên tham gia 44 giải thể thao quốc gia, quốc tế. Kết quả đã đạt được 254 huy chương (45 HCV, 70 HCB, 139 HCĐ); trong đó có 01 huy chương bạc Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X và 09 huy chương quốc tế (03 HCV, 1 HCB, 5 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Trong tháng tập trung triển khai công tác chuẩn bị tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, nhất là việc rà soát cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự phục vụ kỳ thi; xây dựng phương án bảo đảm an ninh, an toàn, phòng chống gian lận thi cử và các điều kiện phục vụ tổ chức kỳ thi trên địa bàn tỉnh. Thường xuyên cập nhật các thông tin liên quan đến việc tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học, cao đẵng. Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, toàn tỉnh có 91 điểm thi được bố trí tại các xã, phường, đặc khu; toàn tỉnh có 1.845 phòng thi với 41.309 thí sinh đăng ký dự thi (trong đó có 39.594 thí sinh đang học lớp 12 tại các trường THPT, GDTX và 1.715 thí sinh tự do). Kỳ thi THPH năm 2026 (từ ngày 11-12/6/2026) được diễn ra an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế. Theo kế hoạch, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ công bố điểm thi tốt nghiệp THPT năm 2026 vào ngày 01/7/2026. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 526 cơ sở giáo dục mầm non với 10.662 nhóm, lớp và 155.054 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (289 trường đạt chuẩn quốc gia) với 10.382 lớp và 327.349 học sinh; 366 trường trung học cơ sở (234 trường đạt chuẩn quốc gia) với 6.238 lớp và 248.983 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (52 trường chuẩn quốc gia) với 2.876 lớp và 116.160 học sinh. Toàn tỉnh có 78 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN), gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó: 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm, nhất là phòng, chống dịch bệnh do vi rút Ebola; tiếp tục thực hiện đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; đồng thời chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 174 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 05 ca so với tháng trước (169 ca) và giảm 99 ca so với cùng kỳ năm trước (273 ca), không có trường hợp tử vong. Lũy kế từ đầu năm đến 31/5/2026, toàn tỉnh có 1.155 ca mắc; ước 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.766 ca mắc. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 30 ổ dịch, Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 đã phát hiện xử lý 155 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 593 ca mắc, giảm 156 ca so với tháng trước và tăng 207 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 2.709 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 23 ca mắc, tăng 13 ca so với tháng trước và giảm 218 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 76 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.877 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.337 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.220 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.277 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.818 trẻ, mũi 2 cho 3.834 trẻ và mũi 3 cho 7.228 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.651 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 03 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân. Số bệnh nhân tăng thêm trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân chuyển về cư trú lại). Bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 186 bệnh nhân (05 bệnh nhân /100.000 dân); bệnh nhân lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 BN/100.000 dân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 09 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 03 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.827 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.790 người, tử vong 1.577 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 429.377 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.813 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 223.477 ngày, xét nghiệm cho 584.145 tiêu bản, chẩn đoán 130.951 hình ảnh và phẫu thuật 6.168 trường hợp. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 2.524.114 lượt người; 204.599 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.256.544 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,01 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 80,0%; ước xét nghiệm cho 3.318.303 tiêu bản; chẩn đoán 756.752 hình ảnh và phẫu thuật cho 32.742 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng đã tổ chức kiểm tra tại 119 cơ sở thực phầm, phát hiện 18 cơ sở vi phạm quy định về an toàn thực phẩm, đã xử phạt 142,5 triệu đồng (trong đó: 02 đoàn kiểm tra tại 62 cơ sở theo kế hoạch kiểm tra liên ngành Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2026). Trong tháng không xảy ra ngộ độc thực phẩm; lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (do ăn bánh mì tại phường Phan Thiết) làm 97 người mắc, không có tử vong. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tuyên truyền kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền chuỗi hoạt động “Chào mùa Du lịch hè năm 2026”,... đồng thời thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Đã ban hành Kế hoạch số 6842/KH-UBND ngày 14/5/2026 về thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045 trên đại bàn tỉnh Lâm Đồng; đồng thời triển khai thuê phần mềm giám sát thông tin trên không gian mạng trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong 6 tháng đầu năm 2026, đã cấp 13 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 02 giấy phép tổ chức hội chợ triển lãm xuất bản phẩm. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu tiếp tục được quan tâm đầu tư, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy, qua đó góp phần nâng cao điều kiện sinh hoạt, học tập và chăm sóc sức khỏe người dân. - Kết quả giải ngân Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng DTTS: Tổng kế hoạch vốn giao thực hiện Chương trình giai đoạn 2021-2025, kéo dài sang năm 2026 thực hiện 1.140.892,89 triệu đồng (gồm: vốn đầu tư phát triển 725.335,61 triệu đồng và vốn sự nghiệp 415.557,28 triệu đồng); kết quả đến tháng 6/2026 đã giải ngân 871.158,59 triệu đồng, đạt 76,36% kế hoạch (trong đó: vốn đầu tư: 560.268,49 triệu đồng, vốn sự nghiệp: 290.890,1 triệu đồng). Hiện nay các xã và các đơn vị được giao chủ đầu tư đang khẩn trương triển khai thực hiện và giải ngân theo kế hoạch. - Kết quả thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất cho vùng đồng bào DTTS và miền núi: Đã triển khai cho 991 hộ dân đăng ký nhu cầu hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất bắp lai, lúa nước năm 2026 với diện tích là 5.916,15 ha; tổ chức 12 lớp tập huấn, tư vấn kỹ thuật sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và quy trình thâm canh bắp lai, lúa nước cho hơn 800 lượt hộ dân; tiếp tục thực hiện cung ứng dịch vụ công ích sử dụng ngân sách nhà nước theo quy định, gồm: vận chuyển và cung ứng 15 tấn lúa giống, 10 tấn bắp giống, 500 tấn phân bón; hỗ trợ tiêu thụ 3.500 tấn bắp lai thương phẩm và 10 tấn mủ cao su,… qua đó đảm bảo cung ứng giống, vật tư và các yếu tố đầu vào thiết yếu, góp phần giúp hộ đồng bào DTTS ổn định đời sống và phát triển sản xuất; từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế hộ, nâng cao thu nhập và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác tôn giáo được thực hiện hiệu quả; công tác giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện kịp thời, đúng quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và bộ thủ tục hành chính, qua đó đáp ứng nhu cầu chính đáng của các tổ chức, cá nhân theo các tôn giáo. Trong 6 tháng đầu năm 2026, tỉnh chấp thuận thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc 25 trường hợp; chia tách tổ chức tôn giáo trực thuộc 01 trường hợp; chấp thuận các tổ chức tôn giáo bổ nhiệm 25 chức việc; mở 22 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo; sự cần thiết và quy mô xây dựng công trình tôn giáo trong khuôn viên 08 trường hợp; xác nhận tiếp nhận thông báo phong phẩm chức sắc 80 trường hợp của các tôn giáo; thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung 01; thuyên chuyển địa bàn hoạt động tôn giáo 27 chức sắc,… Nhìn chung, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt các quy định của pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa và phong tục, tập quán của đồng bào, địa phương, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy các giá trị văn hóa tôn giáo và ổn định đời sống tinh thần của người dân. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 324 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chuẩn bị kế hoạch triển khai các hoạt động kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947-27/7/2026) và triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” do Ban Chỉ đạo 515 quốc gia phát động. Công tác chăm lo đời sống cho người có công cách mạng được thực hiện hiệu quả. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh tổ chức thăm, tặng quà tết theo Quyết định số 01/QĐ-CTN ngày 05/01/2026 của Chủ tịch nước 27.201 suất với tổng số tiền hơn 8,3 tỷ đồng; thăm tặng quà theo Nghị quyết số 92/2025/NQ-HĐND ngày 30/12/2025 của HĐND tỉnh Lâm Đồng 65.234 suất với tổng kinh phí hơn 83,8 tỷ đồng. Đã giải quyết cho 18.315 đối tượng hưởng trợ cấp ưu đãi người có công hằng tháng với tổng kinh phí gần 46,3 tỷ đồng. Từ đầu năm đến nay, tỉnh phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 đối tượng (47 căn xây mới, 40 căn sửa chữa); tổ chức 04 đợt điều dưỡng tập trung đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ tại Trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công Khánh Hòa, Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng với 425 lượt người; ban hành Quyết định điều dưỡng tại nhà đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với 3.745 người, tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng và giải quyết 1.875 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Thực hiện chi trả trợ cấp hằng tháng không dùng tiền cho đối tượng người có công với cách mạng 13.802 người với tổng kinh phí 182,24 tỷ đồng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết tháng 5 năm 2026, toàn tỉnh có 317.946 người tham gia BHXH, tăng 1,10% so với tháng trước; có 240.259 người tham gia BHTN, tăng 0,85%; số người tham gia BHYT là 3.110.300 người, tăng 1,17% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 91,81% dân số. Trong tháng đã giải quyết mới 10.864 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.248 người (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 213 người; trợ cấp 1 lần cho 2.600 người; chế độ ốm đau cho 6.172 người; chế độ thai sản cho 1.437 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 442 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.106 người và hỗ trợ học nghề cho 142 người). Lũy kế đến ngày 31/5/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 47.218 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 7.332 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 735 người; trợ cấp 1 lần cho 11.131 người; chế độ ốm đau cho 27.313 người; chế độ thai sản cho 6.270 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 1.769 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 6.967 người và hỗ trợ học nghề cho 365 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/5 - 14/6/2026) Trong tháng xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, tăng 13 vụ so với tháng trước và giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 40 người, tăng 13 người so với tháng trước và bằng cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 41 người, tăng 23 người so với tháng trước và giảm 14 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến nay, toàn tỉnh xảy ra 345 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 89 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 223 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 230 người, giảm 121 người so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do người điều khiển phương tiện chạy quá tốc độ, thiếu quan sát, đi không đúng phần đường, lấn làn, qua đường bất cẩn, sử dụng rượu bia và vượt xe sai quy định. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 26/5-23/6/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 06 vụ thiên tai do mưa kèm theo dông lốc; thiên tai đã làm 02 người bị thương, 06 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 02 căn nhà bị hư hỏng, 0,6 ha lúa mới gieo xạ bị vùi lấp, 03 tàu cá bị chìm, 01 trụ sở trường học tốc mái, 02 căn phòng làm việc (tại trụ sở UBND phường Hàm Thắng) bị tốc mái hoàn toàn và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 21,595 tỷ đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 14 vụ thiên tai làm 01 người chết, 02 người bị thương, 08 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, 11 căn nhà bị hư hỏng, 0,5 ha rau màu bị thiệt hại nặng, 0,6 ha lúa mới gieo xạ bị vùi lấp, 14 con gia sức bị cuốn trôi, khoảng 70.000 con gia cầm chết do ảnh hưởng của sét đánh, 03 tàu cá bị chìm và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại là 29,5 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/5-15/6/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ cháy nổ, giảm 07 vụ so với tháng trước và bằng so với cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 248,5 triệu đồng. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 39 vụ cháy, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 02 người bị thương; có 30 vụ đã được thống kê thiệt hại với số tiền là 2.975 triệu đồng, 09 vụ đang thống kê thiệt hại. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra (tháng 6/2025 xảy ra 04 vụ vi phạm và xử phạt 600 triệu đồng). Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 15 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 415,0 triệu đồng (6 tháng đầu năm 2025 xảy ra 18 vụ vi phạm, xử phạt 3.278 triệu đồng). * Đánh giá chung Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phục hồi, duy trì tăng trưởng khá và có chuyển biến rõ hơn trong quý II. GRDP 6 tháng ước tăng 7,90% so với cùng kỳ, riêng quý II tăng 9,22%, cao hơn quý I, cho thấy tác động tích cực của các giải pháp chỉ đạo, điều hành. Nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là trụ đỡ ổn định; công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch và vận tải đều tăng, tạo nền tảng quan trọng cho mục tiêu phát triển cả năm. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là khu vực giữ vai trò ổn định nền kinh tế. Diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng so với cùng kỳ; một số cây trồng chủ lực như cà phê, sầu riêng, hồ tiêu, rau, hoa duy trì quy mô sản xuất lớn; chăn nuôi phát triển khá, tổng sản lượng thịt hơi xuất chuồng 6 tháng tăng 9,69%; sản lượng sữa tăng 25,96%. Sản xuất thủy sản tăng 2,99%; sản xuất tôm giống tăng 10,01%. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông, sản xuất an toàn bền vững, liên kết sản xuất và Chương trình OCOP tiếp tục được quan tâm, góp phần nâng cao chất lượng và khả năng tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Sản xuất công nghiệp duy trì đà tăng trưởng khá, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực chủ yếu. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) 6 tháng đầu năm tăng 9,60%. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ như đá các loại, thủy sản chế biến, rau quả chế biến, đồ uống, giày dép, phân bón, gạch xây dựng, bê tông trộn sẵn, điện thương phẩm. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo giảm so với cùng kỳ, cho thấy khả năng tiêu thụ sản phẩm có chuyển biến tích cực. Hoạt động xây dựng và đầu tư phát triển tiếp tục được thúc đẩy. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 14,38%; trong đó vốn ngoài nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ lực, tăng 16,16%. Một số dự án hạ tầng giao thông, khu công nghiệp, đô thị, hàng không, thủy lợi và công nghiệp quy mô lớn tiếp tục được triển khai, tạo nền tảng cho tăng trưởng các quý tiếp theo và trung hạn. Thương mại, dịch vụ và du lịch tăng khá trong 6 tháng đầu năm. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng 17,33%. Hoạt động du lịch tiếp tục đóng vai trò động lực của khu vực dịch vụ, với tổng lượt khách phục vụ đạt gần 12 triệu lượt, tăng 18,08%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 22,15%. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng khá, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hành khách, hàng hóa, du lịch và sản xuất kinh doanh. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt kết quả tích cực, tổng thu 6 tháng đạt tăng 11,06% so với cùng kỳ; trong đó thu nội địa tăng 8,71%. Hoạt động tín dụng tiếp tục bảo đảm vốn cho nền kinh tế; huy động vốn đến cuối tháng 6 ước tăng 5,99% so với cuối năm 2025. Tình hình đăng ký doanh nghiệp có tín hiệu tích cực, 6 tháng đầu năm số doanh nghiệp thành lập mới tăng 58,38%; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 10,76%; số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động cao hơn nhiều so với số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện. Nhiều hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch, bảo tồn di sản được tổ chức, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và phục vụ đời sống tinh thần của Nhân dân. Công tác giáo dục tập trung hoàn thành nhiệm vụ năm học, chuẩn bị và tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 an toàn, nghiêm túc. Ngành y tế chủ động giám sát, phòng chống dịch bệnh, duy trì công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân. Các chính sách đối với người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tiếp tục được triển khai, góp phần bảo đảm an sinh xã hội và ổn định đời sống dân cư. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm vẫn còn một số vấn đề cần chú ý. Tăng trưởng giữa các khu vực kinh tế chưa thật sự đồng đều. Một số ngành, lĩnh vực có quy mô lớn tuy duy trì mức tăng so với cùng kỳ nhưng tốc độ tăng chưa tương xứng với yêu cầu tăng trưởng cao của cả năm. Sản xuất công nghiệp tiếp tục phục hồi, nhiều sản phẩm chủ yếu tăng khá; tuy nhiên, mức tăng của một số sản phẩm còn thấp, chưa đồng đều giữa các nhóm ngành. Trong lĩnh vực xây dựng và đầu tư phát triển, giá trị sản xuất xây dựng và vốn đầu tư toàn xã hội tiếp tục tăng, song tiến độ thực hiện một số công trình, dự án trọng điểm còn phụ thuộc nhiều vào công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đất rừng, thủ tục đầu tư và biến động giá nguyên vật liệu xây dựng. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý 6 tháng đạt 22,57% kế hoạch năm, cho thấy khối lượng cần thực hiện trong các tháng cuối năm còn lớn. Trong lĩnh vực nông nghiệp, mặc dù sản xuất cơ bản ổn định, nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro do dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, biến động giá vật tư đầu vào, chi phí vận chuyển và thời tiết bất thường. Một số cây trồng như điều, chè giảm diện tích hoặc sản lượng so với cùng kỳ; dịch tả lợn Châu Phi còn phát sinh tại một số địa bàn; tình hình vi phạm lâm luật, phá rừng và cháy rừng tăng so với cùng kỳ. Thiên tai, mưa dông, lốc, cháy nổ, tai nạn giao thông, bệnh tay chân miệng và một số dịch bệnh truyền nhiễm vẫn cần được theo dõi chặt chẽ, không để phát sinh thành điểm nóng ảnh hưởng đến đời sống Nhân dân và hoạt động sản xuất kinh doanh. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   01/06/2026 14:31

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tương đối ổn định. Các địa phương trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành thu hoạch vụ Đông xuân và đang xuống giống vụ Hè thu; cây trồng lâu năm đang được người dân tích cực đầu tư, chăm sóc; các loại dịch bệnh trên cây trồng xảy ra không đáng kể. Chăn nuôi ổn định, quy mô đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ; dịch bệnh trên vật nuôi xảy ra cục bộ tại một số địa phương và đã được kiểm soát. Hoạt động trồng rừng được triển khai; công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng được tập trung tăng cường. Khai thác thủy sản tăng so với cùng kỳ. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tính đến ngày 15/5/2026 ước đạt 134.789 ha, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: diện tích lúa ước đạt 61.740 ha, tăng 2,1%; diện tích cây ngô ước đạt 11.580 ha, tăng 2,2%; diện tích cây khoai lang ước đạt 3.350 ha, tăng 3,48%; diện tích đậu các loại ước đạt 3.351 ha, tăng 2,6%; diện tích rau các loại ước đạt 37.680 ha, tăng 4,83%; diện tích hoa các loại ước đạt 5.340 ha, tăng 4,76%. 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh bắt đầu bước vào mùa mưa trên diện rộng, giảm chi phí tưới nước sau mùa khô kéo dài; người dân đang tiếp tục chăm sóc các loại cây trồng lâu năm và chuẩn bị đầu tư trồng mới. - Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.732 ha; người dân chủ động tưới nước, chăm sóc tốt ở vùng trọng điểm như Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’lấp; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.371 ha; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện. Trong thời gian tới, diện tích trồng mới cao su có khả năng tăng nhưng với tốc độ chậm do biến động về giá và chi phí đầu tư; - Cây điều: Diện tích hiện có 45.483 ha; hiện đã hoàn tất thu hoạch năm 2026; diện tích điều chủ yếu già cỗi, giống cũ, kỹ thuật chăm sóc chưa đồng đều, kèm theo sự bất lợi của thời tiết mưa trái mùa trong giai đoạn ra hoa và nắng nóng kéo dài, năng suất và sản lượng điều đều giảm so với năm trước. Hiện hiệu quả kinh tế của cây điều không cao, người dân đang có xu hướng chuyển sang các loại cây trồng khác như sầu riêng, cây ăn quả,...; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.230 ha; hiện đang giai đoạn chăm sóc nuôi trái, sinh trưởng tương đối ổn định. Diện tích trồng mới đang tiếp tục được mở rộng trong thời gian tới do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh; - Cây tiêu: Diện tích hiện có 37.719 ha; người dân đang hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025 - 2026. Giá hồ tiêu duy trì ở mức cao (khoảng 148.000 - 151.000 đồng/kg) là điểm sáng của ngành hồ tiêu trên địa bàn tỉnh, giúp người dân duy trì sản xuất; tuy nhiên vấn đề sâu bệnh vẫn là rủi ro lớn gây ảnh hưởng đến phát triển của ngành hồ tiêu. Năm 2026, cây tiêu ở Lâm Đồng được đánh giá phát triển theo hướng tập trung nâng cao năng suất và chất lượng, hạn chế mở rộng diện tích tự phát; mô hình trồng tiêu xen cà phê kết hợp canh tác hữu cơ và sinh thái đang được đẩy mạnh nhằm giảm chi phí; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.820 ha; cây sinh trưởng tương đối ổn định, sâu bệnh phát sinh ít, chi phí sản xuất tăng do nhu cầu tưới nước và xử lý hoa trái vụ; giá thanh long đang ở mức trung bình - khá, giúp người dân duy trì sản xuất. Cây thanh long đang chuyển từ mở rộng diện tích sang nâng cao năng suất, chất lượng như mở rộng sản xuất VietGAP, GloabaGAP; - Cây chè: Diện tích hiện có 9.200 ha; cây chè sinh trưởng và cho thu hoạch liên tục, đều đặn theo lứa, đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến. Giá chè duy trì ổn định, thị trường tiêu thụ thuận lợi, góp phần duy trì hiệu quả sản xuất của ngành chè trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên diện tích chè chủ yếu đã già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp nên người dân đang dần chuyển đổi sang cây cà phê, sầu riêng,...; 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp trong những tháng mùa khô; diện tích canh tác được tưới đạt 75% diện tích cần tưới (trong đó, diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt 24,5%). Tổng dung tích tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh khoảng 382,4 triệu m3, đạt trung bình khoảng 44,5% so với dung tích thiết kế, giảm 77,4 m3 so với tháng trước. 2. Chăn nuôi Trong tháng, tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì ổn định, chuyển từ quy mô nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, liên kết sản xuất theo chuỗi, quy mô đàn các loại vật nuôi đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù còn chịu áp lực từ chi phí đầu vào và nguy cơ dịch bệnh, song với giá bán nhiều sản phẩm chăn nuôi ở mức khá đã thúc đẩy người chăn nuôi tiếp tục đầu tư, tái đàn. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 33.517,2 tấn, tăng 6,0% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 161.743,9 tấn, tăng 9,51%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,4 nghìn con, tăng 0,46% so với cùng kỳ. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,0 nghìn con, tăng 1,54% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 30,2 nghìn con, tăng 3,61%). Chăn nuôi bò sữa tiếp tục phát triển ổn định, các trang trại tận dụng tối đa lợi thế về khí hậu mát mẻ và diện tích đồng cỏ dồi dào; cùng với việc chú trọng cải thiện con giống, nâng cao kỹ thuật chăm sóc, áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.496 nghìn con, tăng 5,98% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.221 nghìn con, tăng 6,86%). Giá lợn hơi trong tháng dao động theo xu hướng tăng nhẹ, giúp người chăn nuôi mạnh dạn tái đàn. Khu vực chăn nuôi trang trại và doanh nghiệp tiếp tục giữ vai trò chủ lực với mô hình sản xuất khép kín, an toàn sinh học và liên kết tiêu thụ ổn định. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.720 nghìn con gia cầm, tăng 7,17% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.120 nghìn con, chiếm 70,95% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,18%). Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển nhờ thời gian quay vòng vốn nhanh, nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định. Nhiều cơ sở chăn nuôi đã chú trọng áp dụng quy trình an toàn sinh học, vệ sinh chuồng trại và tiêm phòng định kỳ nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh dịch bệnh. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, tại xã Đạ Tẻh 3 phát sinh 01 cơ sở chăn nuôi có lợn mắc bệnh, đã tiêu hủy 9.081 con với tổng trọng lượng 257.811 kg. Lũy kế từ ngày 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 11.787 con lợn mắc bệnh, tương đương 633.872 kg. Hiện nay, xã Đạ Tẻh 3 vẫn còn ổ dịch chưa qua 21 ngày theo quy định. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...): không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện tiêu hủy, khoanh vùng xử lý bệnh DTLCP phát sinh; triển khai tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường, tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi (đã thực hiện phân bổ 1.500 liều vắc xin phòng bệnh Lở mồm long móng và 50 lít hóa chất cho xã Tánh Linh và xã Đạ Tẻh 3 để tổ chức tiêm phòng cho đàn vật nuôi). 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, hoạt động trồng rừng được triển khai, diện tích rừng trồng mới ước đạt 2.005 ha, tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước; diện tích trồng cây phân tán ước đạt 2,3 triệu cây, tăng 3,91%. Tỉnh đã tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô năm 2026. Tuy nhiên, trong tháng đã xảy ra 04 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 0,9 ha; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 1,8 ha (so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 01 vụ, diện tích rừng thiệt hại tăng 0,6 ha). - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 43.425 m3, tăng 5,02% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 190.584 m3, tăng 3,66%. - Sản lượng củi khai thác ước đạt 30.035 ste, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 149.958 ste, tăng 2,02%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/4 - 10/5/2026) là 53 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 26 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 3,9 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 18 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 15 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,9 ha). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 - 10/5/2026), tổng số vụ vi phạm là 240 vụ, tăng 18 vụ so với cùng kỳ năm trước (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 105 vụ, giảm 11 vụ; diện tích rừng bị thiệt hại 17,5 ha, giảm 0,3 ha). 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, tình hình nuôi trồng thủy sản tương đối ổn định; công tác hỗ trợ kỹ thuật, phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi trồng thủy sản được chú trọng. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 490,2 ha, tăng 2,07% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.385,6 ha, tăng 1,40% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 2.143,7 ha, tăng 1,27%; diện tích nuôi tôm đạt 222,1 ha, tăng 2,90%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.318,8 tấn, giảm 0,37% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 390,3 tấn, tăng 5,18%). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 11.589,7 tấn, tăng 0,72% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.920 tấn, tăng 4,07%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi; nguồn lợi cá cơm xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho các tàu nghề vây cá nồi nhỏ, nghề pha xúc đánh bắt. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 21.686 tấn, tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 21.600 tấn, tăng 3,03%). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 94.125,9 tấn, tăng 3,0 (sản lượng khai thác biển đạt 93.811,6 tấn, tăng 2,93%). - Sản xuất giống thủy sản: Hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên, chất lượng tôm giống được giữ vững trên thị trường. Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,3 tỷ post, tăng 9,57% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 10,4 tỷ post, tăng 5,27%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Những tháng đầu năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục phục hồi và tăng trưởng khá, nhiều ngành chủ lực duy trì đà phát triển ổn định. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực tăng trưởng chính, cùng với sự tăng trưởng của ngành khai khoáng và các ngành hạ tầng thiết yếu như điện, nước và xử lý rác thải. Nhờ đó, sản xuất công nghiệp toàn tỉnh trong tháng Năm và 5 tháng đầu năm đều đạt mức tăng tích cực so với cùng kỳ năm trước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 12,03% so với tháng trước và tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 22,44% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 22,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,14%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,94%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,04% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,01%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,71%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,81%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 394.477 m3, giảm 5,04% so với tháng trước và tăng 22,05% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu  năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.698.630 m3, tăng 20,63% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang tập trung nhiều giải pháp để giải ngân vốn đầu tư công cũng như đạt chỉ tiêu về vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026; tháng 5 giảm so với tháng 4 là do trong tháng có kỳ nghỉ lễ 30/4-01/5/2026 được nghỉ liên tiếp trong các ngày đầu tháng 5/2026. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.511 tấn, giảm 0,77% so với tháng trước và tăng 16,62% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 15.941 tấn, tăng 12,49% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu và chủ động nguồn hàng cho các tháng sắp tới. - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.313 tấn, tăng 32,29% so với tháng trước và tăng 13,92% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 10.052 tấn, tăng 18,05% so với cùng kỳ. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 19.491 nghìn lít, tăng 7,39% so với tháng trước và tăng 25,12% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 101.409 nghìn lít, tăng 16,52% so với cùng kỳ, nguyên nhân là các do doanh nghiệp tăng cường sản xuất các sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Ước trong tháng sản lượng đạt 746 nghìn đôi, tăng 17,43% so với tháng trước và tăng 21,70% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.956 nghìn đôi, tăng 25,18% so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 10.848 tấn, tăng 3,14% so với tháng trước và tăng 14,30% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 56.394 tấn, tăng 36,64% so với cùng kỳ; nguyên nhân là do các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất phục vụ mùa sản xuất nông nghiệp năm 2026. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Ước trong tháng đạt 121,993 nghìn tấn, tăng 2,51% so với tháng trước và tăng 5,68% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 642,801 nghìn tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.843 triệu kwh, tăng 17,65% so với tháng trước và tăng 11,85% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 15.186 triệu kwh, tăng 2,03% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 507 triệu kwh, giảm 3,19% so với tháng trước nhưng tăng 14,37% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.525 triệu kwh tăng 7,0% so với cùng kỳ. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,87% so với tháng trước và tăng 8,37% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,26%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,85%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,69%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,41%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động tháng 5/2026 của khối doanh nghiệp nhà nước giảm 1,01% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 13,22%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 4,95%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 6,19%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,96%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,19%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,63%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,75%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2025 và xu hướng cao hơn bình quân các tháng đầu năm 2026 là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong tháng (từ ngày 15/4 - 15/5/2026) đã thu hút 01 dự án đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh (Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà; vốn đầu tư 80 tỷ, diện tích đất thuê lại 1,098 ha). Lũy kế từ đầu năm 2026 đến nay đã thu hút được 06 dự án đầu tư (trong đó có 01 dự án nước ngoài và 05 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 258,7 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích đất thuê lại 5,18 ha. Lũy kế đến nay, trong các KCN trên địa bàn tỉnh có 244 dự án (58 dự án FDI và 186 dự án trong nước) với tổng vốn đăng ký đầu tư là 46.728,8 tỷ đồng và 515,132 triệu USD, diện tích đất đăng ký 727,11 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 53,88%. Hiện nay, trong các KCN có 175 doanh nghiệp đi vào hoạt động; kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thực hiện đến tháng 5/2025: doanh thu đạt 10.335 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 219,6 triệu USD; nộp ngân sách đạt 672,2 tỷ đồng. Công tác đầu tư hạ tầng các KCN được các chủ đầu tư quan tâm triển khai. Trong tháng, có 6/14 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị là 20,41/881,6 tỷ đồng đạt 2,32% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026, tăng 13,90% so với cùng kỳ (17,9 tỷ đồng). Cụ thể: - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Chủ đầu tư duy tu cây xanh. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,01/0,8 tỷ đồng đạt 1,22% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm I: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, duy tu giao thông trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,10/22,8 tỷ đồng đạt 0,44% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm II: Chủ đầu tư san lấp mặt bằng KCN; duy tu cây xanh trong KCN; duy tu và thi công các tuyến đường trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 10,0/205,0 tỷ đồng đạt 4,88% kế hoạch năm 2026. - KCN Sông Bình: Chủ đầu tư duy tu cây xanh trong KCN; tiếp tục thi công các tuyến đường giao thông (đường D1, D3, N4, N6) trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,1/59,1 tỷ đồng đạt 0,17% kế hoạch năm 2026. - KCN Tuy Phong: Chủ đầu tư triển khai thi công hệ thống thoát nước mưa tuyến D2 và các tuyến giao thông. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,2 tỷ đồng. - KCN Tân Đức: Chủ đầu tư tiếp tục đền bù giải tỏa KCN những diện tích đất còn lại; dọn dẹp và thi công san lấp mặt bằng KCN, thi công các tuyến đường trong KCN (D2, D3, D4, N1, N2, N3), nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 10,0/473 tỷ đồng đạt 2,11% kế hoạch năm 2026. - KCN Lộc Sơn: Thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phú Hội: Thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết: Giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Tâm Thắng: Đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Nhân Cơ: Thu hút được 01 dự án. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 860,1 tỷ đồng, tăng 2,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 801,6 tỷ đồng, chiếm 93,2% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn, tăng 2,52% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh trong tháng đạt 368,7 tỷ đồng, tăng 34,01% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 110,6 tỷ đồng, giảm 49,11% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 13,2 tỷ đồng, giảm 26,03% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 303,8 tỷ đồng, tăng 13,02% so với cùng kỳ; vốn khác 5,4 tỷ đồng, tăng 91,2% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 58,5 tỷ đồng, chiếm 6,8% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn và tăng 4,24% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.552,9 tỷ đồng, đạt 23,34% so với kế hoạch năm, tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 3.312,8 tỷ đồng, tăng 4,06% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.539,61 tỷ đồng, tăng 21,85% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 471,03 tỷ đồng, giảm 46,54% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 53,78 tỷ đồng, giảm 28,55% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 1.227,24 tỷ đồng, tăng 28,98% so với cùng kỳ; vốn khác 21,14 tỷ đồng, tăng 76,82% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 240,1 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến ngày 14/5/2026, toàn tỉnh có 2.019 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 96,2% so với cùng kỳ năm trước; 1.086 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 3,12%; 393 doanh nghiệp giải thể, tăng 88,9%; 508 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 15,72%. Tổng số vốn trong 5 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp đã đăng ký 9.808,4 tỷ đồng, tăng 49,53% so với cùng kỳ năm trước.. Tình hình thu hút đầu tư (từ đầu năm đến ngày 22/5/2026), toàn tỉnh có 22 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 115.171,5 tỷ đồng; 20 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Về giải ngân vốn đầu tư công, đến ngày 21/5/2026, toàn tỉnh giải ngân 1.097,8 tỷ đồng, đạt 7,4% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Kết quả này cho thấy áp lực giải ngân trong các tháng còn lại là rất lớn. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Tình hình thương mại và dịch vụ trong tháng tiếp tục phát triển tích cực, các ngành, lĩnh vực duy trì ổn định. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị thương mại diễn ra bình thường; nhiều siêu thị, trung tâm thương mại triển khai chương trình khuyến mãi nhằm kích cầu tiêu dùng. Lĩnh vực lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác đã chủ động chuẩn bị nhân lực, hàng hóa và cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu du khách trong các dịp lễ lớn như Giỗ Tổ Hùng Vương, ngày 30/4 và 01/5 với thời gian nghỉ kéo dài. Các doanh nghiệp thương mại, du lịch và vận tải cũng tăng cường quảng bá, khuyến mãi để thu hút khách du lịch, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại và dịch vụ trong mùa du lịch hè năm 2026. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Tình hình thị trường trong tháng tương đối ổn định, sức mua người dân tăng so với tháng trước, các nhóm hàng tăng trưởng ổn định. Nhu cầu người dân tập trung vào những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu cá nhân và gia đình. Tại địa phương công tác kích cầu tiêu dùng được tăng cường nhiều mặt, các hệ thống siêu thị, cửa hàng điện máy, siêu thị tiện ích thường xuyên có các chương trình khuyến mãi, giảm giá nhiều mặt hàng khuyến khích nhu cầu mua sắm của người dân. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 16.791,8 tỷ đồng, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 20,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.402,5 tỷ đồng, tăng 2,69% so với tháng trước và tăng 20,88% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.330,7 tỷ đồng, tăng 8,4% so với tháng trước và tăng 18,51% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.058,7 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 22,79% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 80.343,5 tỷ đồng, tăng 16,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 49.960,2 tỷ đồng, tăng 15,08% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 15.791,3 tỷ đồng, tăng 20,01% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 14.591,9 tỷ đồng, tăng 15,88% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu; đồng thời đẩy mạnh đấu tranh với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và kiểm soát thị trường đối với mặt hàng gạo, vật liệu xây dựng. Công tác theo dõi cung cầu, giá bán xăng dầu cũng được tăng cường nhằm kịp thời phát hiện các dấu hiệu bất thường như tăng giá bất hợp lý, gián đoạn nguồn cung hoặc ngừng bán hàng không đúng quy định. Trong tháng, lực lượng chức năng đã kiểm tra 159 vụ, phát hiện 151 vụ vi phạm, xử lý 150 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 1,1 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/5/2026, đã kiểm tra 629 vụ, với 603 tổng số vụ vi phạm; 604 tổng số vụ xử lý (05 vụ kỳ trước chuyển sang, 03 vụ đoàn kiểm tra liên ngành chuyển sang) với tổng số tiền xử phạt gần 4,8 tỷ đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng    Trong tháng và 5 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân cơ bản ổn định. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa và dịch vụ vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố như biến động giá nhiên liệu, chi phí vận tải, nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ, cùng với diễn biến giá cả trên thị trường thế giới, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,21% so với tháng trước. So với tháng 12/2025, CPI trong tháng tăng 0,76% và tăng 4,66% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 5 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,47% so với bình quân cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 07 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,48%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,08%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; Giao thông tăng 0,26%; Giáo dục tăng 0,02%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,12%. Có 04 nhóm hàng giảm giá: May mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,11%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,16%; Thông tin và truyền thông giảm 0,17%; Hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,2%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá xăng tăng 1,39% so với tháng trước, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá trong tháng. Giá nhóm lương thực tăng 0,22% so tháng trước, trong đó chủ yếu các mặt hàng gạo tăng 0,28%; nguyên nhân, do thương lái thu mua lúa giá có phần cao so tháng trước, tác động giá bán thị trường tăng theo; bên cạnh đó, giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và giá vật tư phân bón, nguyên liệu đầu vào sản xuất đang ở mức cao. Giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 0,55% so tháng trước, do giá nguyên vật liệu chế biến, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng; đồng thời trong tháng có kỳ nghỉ Lễ 30/4-01/5 kéo dài nhiều ngày nhu cầu ăn uống bên ngoài tăng. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,56% do chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là giá nguyên, nhiên liệu sản xuất và chi phí vận chuyển tăng, tác động đẩy giá các loại vật liệu như: cát, đá, xi măng, thép, gạch... tăng so tháng trước. - Nguyên nhân giảm: Giá gas trong tháng giảm 2,92% so với tháng trước, mặc dù giá gas thế giới đi ngang ở mức 775 USD/tấn, giá bán lẻ trong nước công ty điều chỉnh giảm 22.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 07, 14 và 21 tháng 5/2026, tính bình quân chung tháng 5/2026 chỉ số giá mặt hàng dầu hỏa giảm 21,08% so với tháng trước; giá dầu diezel giảm 16,44% so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng đầu năm 2026 tăng 4,47% so với bình quân cùng kỳ năm 2025. * Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2026 CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng thiết yếu tăng so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm lương thực tăng 2,52%, làm CPI chung tăng 1,13 điểm phần trăm; riêng giá gạo tăng 1,14% do chịu tác động từ giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng tăng trong dịp lễ, Tết. Nhóm thực phẩm tăng 4,94%, làm CPI chung tăng 1,23 điểm phần trăm, đáng chú ý là giá thịt lợn tăng 6,15%, thịt gia cầm tăng 4,36% do nguồn cung thiếu hụt, nhu cầu tiêu dùng tăng và chi phí chăn nuôi còn ở mức cao. Nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 4,97%, làm CPI chung tăng 0,42 điểm phần trăm, do giá lương thực, thực phẩm, gas, chi phí thuê mặt bằng và nhân công tăng. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,99%, tác động làm CPI tăng 1,07 điểm phần trăm, chủ yếu do giá vật liệu xây dựng như xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào; giá thuê nhà ở tăng; giá gas tăng 10,38% và giá dầu hỏa tăng 39,62% theo biến động giá thế giới. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng, dịch vụ khác cũng tạo áp lực tăng CPI, như: đồ uống và thuốc lá tăng 3,36%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,12%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,49% do nhu cầu tiêu dùng dịp Tết tăng, trong khi chi phí sản xuất, vận chuyển và nguyên liệu đầu vào tăng. Nhóm giao thông tăng 5,34%, làm CPI chung tăng 0,61 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 9,24% và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 25,57%. Nhóm giáo dục tăng 7,20%, làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm, do một số cơ sở giáo dục ngoài công lập điều chỉnh tăng học phí thường niên. Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,25%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá một số dòng điện thoại thế hệ cũ giảm khi doanh nghiệp triển khai các chương trình khuyến mại, kích cầu tiêu dùng. 3. Hoạt động du lịch Dịp lễ năm nay, nhờ giao thông thuận lợi, thời tiết mát mẻ và nhu cầu nghỉ dưỡng tăng cao, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, thu hút đông đảo du khách. Các điểm đến như Mũi Né, Phan Thiết, Tiến Thành và Đà Lạt tiếp tục được nhiều du khách lựa chọn nhờ kết hợp hài hòa giữa nghỉ dưỡng, vui chơi và trải nghiệm biển. Trong tháng diễn ra nhiều hoạt động hấp dẫn như Lễ hội thả diều “Hello Sunny 2026”, Lễ hội Diều khổng lồ Sky Fest tại Bikini Beach với nhiều chương trình biểu diễn, âm nhạc và pháo hoa. Đặc khu Phú Quý cũng đưa vào hoạt động khu ẩm thực đêm phục vụ du lịch, góp phần hình thành sản phẩm du lịch đêm mới. Bên cạnh đó, ngành đường sắt đã thử nghiệm tour trải nghiệm “Hành trình đêm Đà Lạt” trên tuyến tàu cổ từ Ga Đà Lạt đến Ga Trại Mát, tạo thêm điểm nhấn thu hút du khách. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.115,8 nghìn lượt, tăng 4,52% so tháng trước và tăng 19,39% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 71,5 nghìn lượt, tăng 2,08% so với tháng trước và tăng 13,09% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.909 nghìn ngày khách, tăng 4,21% so với tháng trước và tăng 21,95% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 119 nghìn lượt khách, tăng 8,77% so với tháng trước và tăng 20,96% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 380,7 nghìn ngày khách, tăng 9,52% so với tháng trước và tăng 27,17% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 9.996,5 nghìn lượt, tăng 19,54% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 357,4 nghìn lượt, tăng 16,31% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 18.778,5 nghìn ngày khách, tăng 21,66% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 đạt 724,8 nghìn lượt, tăng 18,76% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.311,2 nghìn ngày khách, tăng 22,41% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến tỉnh trong 5 tháng đầu năm 2026 chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc, Đức, Mỹ, Pháp, Anh. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 654,8 tỷ đồng, tăng 6,38% so với tháng trước và tăng 14,26% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.621,1 tỷ đồng, tăng 9% so với tháng trước và tăng 19,24% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 54,8 tỷ đồng, tăng 5,08% so với tháng trước và tăng 39,84% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 3.262,6 tỷ đồng, tăng 21,89% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 12.265,6 tỷ đồng, tăng 19,15% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 263,1 tỷ đồng, tăng 39,99% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.986,5 tỷ đồng, tăng 4,46% so với tháng trước và tăng 23,17% so với cùng kỳ. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 27.763,1 tỷ đồng, tăng 24,06% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.058,7 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 22,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 712,6 tỷ đồng, tăng 2,06% so với tháng trước và tăng 12,79% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 167,7 tỷ đồng, tăng 0,05% so với tháng trước và tăng 8,81% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148,1 tỷ đồng, giảm 0,39% so với tháng trước và tăng 25,64% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 239,8 tỷ đồng, tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 13,20% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.478,7 tỷ đồng, giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 34,20% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 311,8 tỷ đồng, tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 14.591,9 tỷ đồng, tăng 15,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 3.557,8 tỷ đồng, tăng 10,69% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 833,5 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 728,1 tỷ đồng, tăng 18,37% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.198,3 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 6.781,9 tỷ đồng, tăng 20,78% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.492,3 tỷ đồng, tăng 9,75% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trong tháng diễn ra sôi động nhờ nhu cầu đi lại, tham quan tăng cao trong kỳ nghỉ lễ 30/4 và 01/5 kéo dài. Cùng với đó, thời tiết biển thuận lợi, sóng êm đã giúp các tuyến vận tải thủy nội địa, đặc biệt tuyến ra đảo Phú Quý, tăng cường tần suất hoạt động, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và du khách. Doanh thu vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.236,4 tỷ đồng, tăng 3,49% so với tháng trước và tăng 26,62% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.894,6 tỷ đồng, tăng 22,96% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.815,0 nghìn HK, tăng 3,78% so với tháng trước và tăng 10,86% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 407.296,7 nghìn HK.Km, tăng 3,90% so với tháng trước và tăng 11,88% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 13.775,2 nghìn HK, tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.988.465,3 nghìn HK.Km, tăng 16,18% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 1.982,6 nghìn tấn, tăng 2,59% so với tháng trước và tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 292.351,8 nghìn tấn.Km, tăng 2,77% so với tháng trước và tăng 15,96% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 9.909,7 nghìn tấn, tăng 14,37% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.458.211,3 nghìn tấn.Km, tăng 14,90% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.236,4 tỷ đồng, tăng 3,49% so với tháng trước và tăng 26,62% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.894,6 tỷ đồng, tăng 22,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.012,6 tỷ đồng, tăng 26,69% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.889,6 tỷ đồng, tăng 25,58% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 770,6 tỷ đồng, tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 221,8 tỷ đồng, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.135,8 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 972,8 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 163 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.527,2,9 tỷ đồng, tăng 3,78% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước thực hiện 16.300 tỷ đồng, bằng 47,34% kế hoạch năm và tăng 17,76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước thực hiện 15.150 tỷ đồng, bằng 46,37% kế hoạch năm và tăng 15,03%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 1.150 tỷ đồng, bằng 65,34% kế hoạch năm và tăng 71,43% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 2.227 tỷ đồng (bằng 58,55% kế hoạch năm và tăng 7,41% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 745 tỷ đồng (bằng 54% kế hoạch năm và tăng 11,4%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 4.286 tỷ đồng (bằng 64,09% kế hoạch năm và tăng 62,62%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 1.418 tỷ đồng (bằng 51,94% kế hoạch năm và tăng 5,6%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 1.786,2 tỷ đồng (bằng 24,22% kế hoạch năm và giảm 7,33%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 2.800 tỷ đồng (bằng 48,28% kế hoạch năm và tăng 9,51%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước 3.892,2 tỷ đồng; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước 20.976,6 tỷ đồng, bằng 47,15% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 9.046,1 tỷ đồng, bằng 68,46% kế hoạch năm; chi thường xuyên 11.928,2 tỷ đồng, bằng 39,29% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) trong tỉnh ở mức 0,17% - 0,42%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; ở mức 4,28% - 4,74%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; ở mức 6,73% -8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; ở mức 6,88% - 7,98%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh NHTM ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ 9,06%/năm - 10,84%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,3% - 4,66%/năm. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đến 30/4/2026,  đạt 237.889 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 8.614 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,76%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 233.187 tỷ đồng (chiếm 98,86% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.702 tỷ đồng, (chiếm 1,14% tổng huy động vốn). Ước đến 31/5/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 239.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 9.725 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4,2%. Dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đến 30/4/2026, đạt 373.244 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 2.260 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,361. Trong đó: Dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 370.659 tỷ đồng (chiếm 99,31% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.585 tỷ đồng (chiếm 0,69% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn 264.088 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 109.156 tỷ đồng. Ước đến 31/5/2026, dư nợ cho vay đạt 374.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1%. Đến 30/4/2026, dư nợ cho vay ngành dịch vụ, du lịch, thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 185.088 tỷ đồng, chiếm 49,59% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.630 tỷ đồng, chiếm 8,74% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm thủy sản đạt 155.526 tỷ đồng, chiếm 41,6% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.186 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,7% trong tổng dư nợ tín dụng. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thay mới và trang trí pano các loại, biểu trưng, cổng hơi, cờ hồng, cờ lá pano,… phục vụ công tác tuyên truyền trực quan các nhiệm vụ chính trị và chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026) theo Công văn số 98-CV/BTGDVĐU ngày 14/5/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy về “Đẩy mạnh tuyên truyền Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026)”; đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026) và chương trình Dạ hội Điện ảnh chủ đề “Lâm Đồng - Đại ngàn, hoa và biển” tại Đặc khu Phú Quý; ngoài ra đã thực hiện 55 buổi chiếu phim lưu động tại cơ sở để phục vụ người dân và du khách. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 29.510 lượt khách, trong đó có 1.813 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 6.074 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.706 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 1.183 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 13.867 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 4.680 lượt). Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026 đã đón 146.423 lượt khách, trong đó có 13.065 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 41.075 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 27.272 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 6.307 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 64.835 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 6.934 lượt). Ngoài ra đã tổ chức triển lãm ảnh chuyên đề “Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử”; chương trình giáo dục trải nghiệm “Chúng em làm chiến sĩ Điện Biên” và tổ chức trưng bày triển lãm chuyên đề “Sắc màu di sản văn hóa, thiên nhiên và nghề thủ công truyền thống tỉnh Lâm Đồng” tại Trường THCS Nguyễn Du, xã Thuận Hạnh. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ tiếp đón 256 đoàn với 21.838 lượt khách (trong đó có 14 khách quốc tế); phục vụ 45 lễ viếng, lễ kết nạp Đảng, sinh hoạt chuyên đề. Luỹ kế từ ngày 01/01 - 12/5/2026 đã đón 850 đoàn với 55.246 lượt khách (trong đó có 237 khách quốc tế); phục vụ 93 lễ viếng, 03 báo công, 05 kết nạp Đoàn, 01 kết nạp Đảng,... đồng thời tổ chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 22 đoàn khách với 3.310 lượt khách; luỹ kế từ ngày 01/01 - 13/5/2026 đã đón 67 đoàn với 11.290 lượt khách (có 17 lượt khách quốc tế) đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 4.848 thẻ (4.029 thẻ thiếu nhi), phục vụ 387.324 lượt bạn đọc, luân chuyển 173.873 lượt tài liệu, trưng bày 129.450 bản sách, giới thiệu trên mạng xã hội 48 bản sách mới, sưu tầm 185 tin bài tỉnh Lâm Đồng và giới thiệu 92 bản sách theo chuyên đề. Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026 đã cấp mới và gia hạn 5.457 thẻ (4.206 thẻ thiếu nhi), phục vụ 1.271.644 lượt bạn đọc, luân chuyển 374.514 lượt tài liệu, trưng bày 141.426 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Lễ khai mạc hè, phát động bơi an toàn phòng, chống đuối nước năm 2026; lớp tập huấn bơi an toàn, phòng, chống đuối nước trẻ em trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2026 (KV1); Hội thi bơi, cứu đuối tỉnh Lâm Đồng năm 2026; Giải thể dục thể hình và nữ fitness vô địch các CLB tỉnh; Môn Cờ tướng - Đại hội Thể dục thể thao tỉnh lần thứ I năm 2026; Giải Vô địch Thể hình các Câu lạc bộ toàn quốc năm 2026. - Thể thao thành tích cao: Trong tháng tổ chức Giải Quần vợt quốc tế NovaWorld Phan Thiet U16 ATF Tennis Classic và UTR Pro Tennis Tour năm 2026; Giải cúp các CLB Yoga tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026; Giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2026 và cử đoàn vận động viên tham gia 12 giải thể thao quốc gia, kết quả đạt được 155 huy chương (20 HCV, 45 HCB, 90 HCĐ). Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026, đã đạt được 222 huy chương (35 HCV, 58 HCB, 129 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Trong tháng, các cơ sở giáo dục tập trung tổ chức dạy và học, ôn thi học kỳ II năm học 2025 - 2026 theo kế hoạch; tiếp tục thực hiện công tác xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích, an toàn giao thông, phòng chống đuối nước cho trẻ em, phòng chống cháy nổ, các loại tội phạm; đẩy mạnh tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, vệ sinh cảnh quan môi trường “Xanh - Sạch - Đẹp” trong các cơ sở giáo dục và đẩy mạnh công tác chuyển đổi số trong quản lý, giảng dạy. Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 1.593 cơ sở giáo dục với 24.494 lớp và 818.588 học sinh, gồm: 526 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó 400 công lập) với 5.707 lớp và 151.943 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó 558 công lập) với 10.210 lớp và 321.257 học sinh; 365 trường trung học cơ sở (trong đó 363 công lập) với 6.016 lớp và 240.603 học sinh; 122 trường trung học phổ thông với 2.561 lớp và 104.785 học sinh; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó 02 công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ - Tin học; 11 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập với 7.529 học viên. Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Toàn tỉnh có 78 cơ sở GDNN, gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. Tính đến thời điểm 14/5/2026, toàn tỉnh có 931/1.434 trường công lập đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 64,92%); trong đó cấp mầm non 247/400 trường (đạt tỷ lệ 61.75%), cấp tiểu học 355/557 trường (đạt tỷ lệ 63,73%), cấp trung học cơ sở 256/363 trường (đạt tỷ lệ 70,52%) và cấp trung học phổ thông 73/114 trường (đạt tỷ lệ 64,04%). Hiện nay tỉnh tập trung rà soát cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự phục vụ kỳ thi; xây dựng phương án bảo đảm an ninh, an toàn, phòng chống gian lận thi cử và các điều kiện phục vụ tổ chức kỳ thi. Kỳ thi năm 2026, toàn tỉnh có 91 điểm thi được bố trí tại các xã, phường, đặc khu; số phòng thi dự kiến: 1.845 phòng; số lượng thí sinh dự kiến đăng ký: 41.309 thí sinh (trong đó thí sinh đang học lớp 12 tại các trường THPT, GDTX: 39.594 thí sinh; thí sinh tự do: 1.715 thí sinh). 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; đồng thời đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 164 ca mắc sốt xuất huyết mới, bằng so với tháng trước và giảm 35 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong, phát hiện và xử lý 26 ổ dịch. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.600 ca mắc và phát hiện xử lý 125 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 749 ca mắc, tăng 296 ca so với tháng trước và tăng 535 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 2.080 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 10 ca mắc, giảm 06 ca so với tháng trước và giảm 716 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 53 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.673 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.337 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.201 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.289 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.907 trẻ, mũi 2 cho 3.900 trẻ và mũi 3 cho 4.445 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.722 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 03 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân. Bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 163 bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân lao mới các thể/dân số là 04  bệnh nhân/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03  bệnh nhân/100.000 dân; bệnh nhân lao kháng thuốc trong tháng là 04 bệnh nhân . - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 05 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 02 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.818 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.789 người, tử vong 1.574 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 473.726 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.342 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 234.326 ngày, xét nghiệm cho 671.773 tiêu bản, chẩn đoán 145.500 hình ảnh và phẫu thuật 5.528 trường hợp. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 2.161.490 lượt người; 171.671 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.035.416 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,27 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 85,0%; ước xét nghiệm cho 2.593.528 tiêu bản; chẩn đoán 627.601 hình ảnh và phẫu thuật cho 24.561 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 44 cơ sở (trong đó 05 bếp ăn tập thể và bếp ăn trường học, cả 05 cơ sở đều đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm), kết quả có 8 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 52,5 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 4.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy. Hiện nay, do ảnh hưởng của giá xăng, dầu tăng cao, tình trạng thiếu nước tưới trong mùa khô xảy ra ở một số địa phương đã hưởng đến đời sống, sinh hoạt và sản xuất của người dân, trong đó có đồng bào DTTS. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng. Các hoạt động thể thao truyền thống, trò chơi dân gian, hoạt động vui chơi giải trí được quan tâm tổ chức; công tác quảng bá các sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương gắn liền với bản sắc văn hóa vùng đồng bào DTTS được triển khai thông qua các chương trình kích cầu du lịch hè 2026, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS. - Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Công tác xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và vùng sâu, vùng xa được triển khai tích cực để đầu năm học 2026 - 2027 đưa vào sử dụng. Hiện nay, các trường học vùng đồng bào DTTS của tỉnh tập trung vào tổ chức kỳ thi học kỳ II năm học 2025 - 2026 và chuẩn bị tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ học sinh yếu kém và đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng cho học sinh vùng đồng bào DTTS. - Hệ thống Y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Các hoạt động khám chữa bệnh, tiêm chủng,… tiếp tục được triển khai có hiệu quả. Trong tháng, tỉnh đã xây dựng Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT tỉnh Lâm Đồng năm 2026; trong đó, trọng tâm là tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân, BHYT hộ gia đình, tỷ lệ tham gia BHXH, BHXH tự nguyện năm 2026 và xây dựng chính sách hỗ trợ đóng BHYT cho đồng bào người DTTS đang sinh sống tại địa bàn các xã, thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh. 4.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng ban hành Kế hoạch hướng dẫn tổ chức Đại lễ Phật đản năm 2026 và tổ chức các hoạt động nhân dịp kỷ niện Đại lễ Phật đản năm 2026, qua đó phần lan tỏa giá trị hòa bình, nhân ái, hướng thiện và gắn kết cộng đồng; tổ chức mở lớp bồi dưỡng cho 52 chư Ni hệ phái khất sỹ tại Tịnh xá Ngọc Cảnh, phường Xuân Hương - Đà Lạt; Ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh, thuộc Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Lâm Đồng tổ chức Trại Huấn luyện Huynh trưởng cấp II - Huyền Trang 1-2026 tại Chùa Linh Quang, đặc khu Phú Quý, có khoảng 120 trại sinh tham dự. Các cơ sở Công giáo trên địa bàn tỉnh tổ chức hoạt động tôn giáo theo kế hoạch. Tu hội Truyền giáo Thánh Vinh Sơn - Tỉnh dòng Việt Nam, phường Xuân Hương- Đà Lạt tổ chức Thánh lễ bế mạc năm Thánh và kỷ niệm 400 năm thành lập Tu hội, 70 năm Tu hội hiện diện tại Việt Nam, có khoảng 2.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong và ngoài tỉnh tham dự; Giáo phận Ban Mê Thuột tổ chức Thánh lễ tạ ơn thành lập Giáo xứ Hòa Thuận, xã Quảng Tín và bổ nhiệm linh mục quản xứ tiên khởi, có khoảng 1.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận tham dự; Giám mục Giáo phận Đà Lạt, Giáo phận Phan Thiết và Giáo phận Ban Mê Thuột tham gia cùng Phái đoàn Hội đồng Giám mục Việt Nam (gồm 37 chức sắc, chức việc) hoạt động tôn giáo tại Toà Thánh Vatican; các Giáo xứ thuộc các Giáo phận trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tổ chức Thánh lễ, dâng hoa, rước kiệu mừng kính Đức Mẹ Maria trong chuỗi sự kiện của Tháng Hoa năm 2026. Ban Đại điện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh tổ chức lễ ra mắt công nhận Chi hội và bổ nhiệm chức việc làm quản nhiệm Chi hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam) xã Ka Đô và xã Tà Hine, có khoảng 1.600 người là chức sắc, chức việc, tín đồ trong và ngoài tỉnh tham dự; tổ chức huấn luyện chấp sự, đặc trách các điểm nhóm, tại Chi hội Tin Lành Liên Nghĩa, xã Đức Trọng và Chi hội Tin Lành Bảo Lộc, phường 1 Bảo Lộc, có khoảng 1.000 người tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 4.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 402 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Tổ chức thăm, tặng quà người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Miền nam, thống nhất đất nước; đồng thời tổ chức đưa 189 lượt người có công với cách mạng đi điều dưỡng tập trung tại trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công tỉnh Khánh Hòa và Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng. Từ đầu năm đến nay đã giải quyết 1.551 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chi trả trợ cấp hàng tháng không dùng tiền mặt cho 13.802 người có công với cách mạng với tổng kinh phí 182,24 tỷ đồng. Phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 người (47 căn xây mới, 40 căn sửa chữa). Tổ chức 04 đợt điều dưỡng tập trung đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ tại Trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công Khánh Hòa, Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng với 425 lượt người. Phê duyệt Quyết định điều dưỡng tại nhà đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với 3.745 người, tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng. 5. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết ngày 30/4/2026, toàn tỉnh có 314.472 người tham gia BHXH, tăng 0,75% so với tháng trước; có 238.238 người tham gia BHTN, tăng 0,4%; 3.074.232 người tham gia BHYT, tăng 0,87% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 90,75% dân số. Trong tháng đã giải quyết mới 10.708 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.682 người (trong đó: 120 người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; 2.555 người hưởng trợ cấp 1 lần; 6.500 người hưởng chế độ ốm đau; 1.193 người hưởng chế độ thai sản; 340 người hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; 1.592 người hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng và 90 người được hỗ trợ học nghề). Lũy kế đến ngày 30/4/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 36.354 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 5.084 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 522 người; trợ cấp 1 lần cho 8.531 người; chế độ ốm đau cho 21.141 người; chế độ thai sản cho 4.833 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 1.327 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 4.861 người và hỗ trợ học nghề cho 223 người).  6. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/4 - 14/5/2026) Trong tháng xảy ra 41 vụ tai nạn giao thông, giảm 13 vụ so với tháng trước và giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 27 người, giảm 12 người so với tháng trước và giảm 04 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 18 người, giảm 19 người so với tháng trước và giảm 39 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 xảy ra 291 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 78 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 183 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 189 người, giảm 107 người so với cùng kỳ năm trước. 7. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 23/4 - 25/5/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ thiên tai do mưa lớn kèm theo giông lốc, sét xảy ra tại xã Đạ Huoai 2, xã Hàm Kiệm, xã Đạ Huoai 2, xã Nâm Nung và xã Cát Tiên 3. Thiên tai đã làm cuốn trôi và mất tích 01 người, 09 căn nhà bị tốc mái (01 nhà bị tốc mái hoàn toàn), 35 ha cây sầu riêng, sét đánh làm cháy hệ thống điện làm chết khoảng 70.000 con gà của Công ty TaFa Việt, xã Trà Tân; ước thiệt hại khoảng 17,25 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 28/12/2025 đến nay xảy ra 08 vụ thiên tai, làm tốc mái 26 căn nhà (03 nhà bị sập tốc mái hoàn toàn) và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 17,90 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/4 - 15/5/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 09 vụ cháy nổ, giảm 03 vụ so với tháng trước và bằng với số vụ của cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 248,5 triệu đồng. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 37 vụ cháy, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 03 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại 2.819 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra vi phạm (cùng kỳ năm trước xảy ra 03 vụ vi phạm và xử phạt 585 triệu đồng). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 415,0 triệu đồng. * Đánh giá chung Trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực trên nhiều lĩnh vực. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định; diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 3,2% so với cùng kỳ; chăn nuôi tiếp tục phát triển, tổng sản lượng thịt hơi 5 tháng tăng 9,51%; khai thác thủy sản duy trì. Sản xuất công nghiệp phục hồi rõ nét, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 5 tháng đầu năm tăng 8,04%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,01%, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Khu vực thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục là điểm sáng nổi bật. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 5 tháng tăng 16,17% so với cùng kỳ; trong đó doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành tăng 20,01%. Hoạt động du lịch phục hồi mạnh, toàn tỉnh đón gần 10 triệu lượt khách, tăng 19,54%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 24,06%. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng trưởng khá, doanh thu 5 tháng tăng 22,96%, phản ánh nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hóa và hoạt động du lịch tiếp tục sôi động. Hoạt động đầu tư, phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư có chuyển biến tích cực. Số doanh nghiệp thành lập mới, tăng 96,2%; số doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 15,72%; thu hút 22 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký 115.171,5 tỷ đồng. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn bằng 47,34% dự toán năm và tăng 17,76% so với cùng kỳ. Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện; các hoạt động tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức phù hợp với nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân. Công tác giáo dục tập trung hoàn thành chương trình năm học, chuẩn bị các điều kiện tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026. Công tác y tế, phòng chống dịch bệnh và khám chữa bệnh tiếp tục được triển khai. Các chính sách dân tộc, tôn giáo, người có công và bảo hiểm xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn tỉnh đạt 90,75% dân số. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số khó khăn. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn thấp so với yêu cầu, trong khi khối lượng vốn còn lại phải thực hiện trong các tháng cuối năm rất lớn. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng tăng 4,47%, trong đó nhiều nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, nhà ở, vật liệu xây dựng, giao thông, giáo dục tăng, tạo áp lực nhất định đến chi phí sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân. Hoạt động doanh nghiệp tuy có tín hiệu tích cực về số doanh nghiệp thành lập mới, nhưng có 1.086 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động và 393 doanh nghiệp giải thể. Trong nông nghiệp, dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục là yếu tố rủi ro cần theo dõi, kiểm soát chặt chẽ để hạn chế lây lan, bảo đảm ổn định sản xuất chăn nuôi. Một số vấn đề xã hội như dịch bệnh ở người, tai nạn giao thông, thiên tai, giông lốc, sét, thiếu nước tưới cục bộ trong mùa khô vẫn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất và an sinh xã hội. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG-----

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   03/05/2026 08:53

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tương đối ổn định. Các địa phương trên địa bàn tỉnh tích cực thu hoạch cho vụ Đông xuân và xuống giống cho vụ Hè thu. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát hiệu quả, không có dịch bệnh nghiêm trọng xảy ra. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào khâu chăm sóc rừng, ươm cây giống lâm nghiệp. Khai thác thủy sản giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước do giá nhiên liệu cao, một số đội tàu khai thác xa bờ tạm dừng khai thác. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tính đến ngày 15/4/2026 ước đạt 116.049 ha, tăng 3,14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 57.690 ha, tăng 2% (diện tích lúa tăng chủ yếu ở các xã Đức Linh, xã Tánh Linh xuống giống sớm trong vụ Hè thu); cây ngô, diện tích ước đạt 6.280 ha, tăng 2,36%; rau các loại, diện tích ước đạt 32.380 ha, tăng 4,85%; hoa các loại, diện tích ước đạt 4.900 ha, tăng 4,90%; đậu các loại, diện tích ước đạt 2.910 ha, tăng 2,16%; cây hàng năm còn lại, diện tích ước đạt 11.889 ha, tăng 4,13%. 1.2. Cây lâu nămTrong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung đầu tư, chăm sóc các loại cây trồng lâu năm; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện mưa cục bộ một số nơi, lượng nước mùa khô cơ bản đủ cung cấp cho cây trồng. - Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.732 ha; cây đang trong giai đoạn đậu quả, người dân chủ động tưới nước, chăm sóc tốt ở vùng trọng điểm như Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’lấp;- Cây cao su: Diện tích hiện có 75.371 ha; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện;- Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.224 ha; hiện đang giai đoạn chăm sóc nuôi trái, sinh trưởng tương đối ổn định; nhờ hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác nên người dân đang tích cực đầu tư, tăng năng suất. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhất là nhu cầu từ Trung Quốc, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh;- Cây tiêu: Diện tích hiện có 37.760 ha; người dân đang hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026. Giá hồ tiêu duy trì ở mức cao (khoảng 148.000 - 151.000 đồng/kg) đã góp phần cải thiện thu nhập cho người sản xuất;- Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.802 ha; cây sinh trưởng tương đối ổn định, sâu bệnh phát sinh ít; người dân đang chuyển từ mở rộng diện tích sang nâng cao năng suất, chất lượng như mở rộng sản xuất VietGAP, GloabaGAP;- Cây chè: Diện tích hiện có 9.282 ha; giá chè duy trì ổn định, thị trường tiêu thụ thuận lợi, góp phần duy trì hiệu quả sản xuất của ngành chè trên địa bàn tỉnh; tuy nhiên diện tích chè chủ yếu đã già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp nên người dân đang dần chuyển đổi sang cây cà phê, sầu riêng,...;- Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.217 ha; những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp trong những tháng mùa khô; tổng diện tích được cấp nước tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện là 99.242 ha, đạt 22,8% diện tích sản xuất nông nghiệp được tưới. Chuẩn bị bước vào mùa mưa công tác phòng, chống thiên tai được chủ động triển khai, rà soát, cập nhật phương án phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý an toàn công trình thủy lợi, hồ đập. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 80 ha, bệnh đạo ôn lá gây hại 377 ha, chuột gây hại 290 ha, rầy nâu gây hại 249 ha (so với tháng trước, sâu đục thân gây hại giảm 142 ha, bệnh đạo ôn lá gây hại giảm 167 ha, chuột gây hại giảm 73 ha, rầy nâu gây hại tăng 109 ha); Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 1.796 ha (tăng 35 ha so với tháng trước); Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.661 ha (tăng 771 ha so với tháng trước); Bọ xít muỗi gây hại 1.585 ha cà phê chè (giảm 581 ha so với tháng trước); Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.931 ha (tăng 680 ha so với tháng trước), bệnh thán thư gây hại 2.919 ha (giảm 176 ha so với tháng trước); Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 92 ha (tăng 27 ha so với tháng trước); Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 527 ha (giảm 95 ha so với tháng trước); bệnh thối rễ tóp cành gây hại 119 ha (giảm 03 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 137 ha (tăng 24 ha so với tháng trước); 2. Chăn nuôi Trong tháng, tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì và phát triển ổn định; quy mô đàn các loại vật nuôi đều có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn do giá thức ăn tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 34.998 tấn, tăng 12,17% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 128.226,7tấn, tăng 10,47%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,8 nghìn con, tăng 0,45% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tăng nhẹ cho thấy sự ổn định của loại vật nuôi này trong điều kiện hiệu quả kinh tế chưa thật sự nổi trội. Người dân chủ yếu duy trì quy mô đàn để phục vụ nhu cầu sản nuất nông nghiệp và cung cấp thịt tại chỗ. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,5 nghìn con, tăng 1,69% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 30,1 nghìn con, tăng 3,81%). Quy mô đàn bò được duy trì mức tăng bền vững nhờ thị trường tiêu thụ tương đối ổn định. Việc chú trọng cải thiện con giống, nâng cao kỹ thuật chăm sóc và áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.498 nghìn con, tăng 6,09% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.225 nghìn con, tăng 7,19%). Quy mô đàn lợn tăng chủ yếu từ khu vực chăn nuôi trang trại và doanh nghiệp, với xu hướng mở rộng quy mô, đầu tư bài bản và liên kết sản xuất theo chuỗi. Công tác kiểm soát dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn châu Phi, được triển khai hiệu quả đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái đàn và phát triển đàn lợn. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.600 nghìn con gia cầm, tăng 7,11% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.200 nghìn con, chiếm 71,68% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,88%). Với ưu thế thời gian nuôi ngắn, chi phí đầu tư linh hoạt và khả năng quay vòng vốn nhanh, chăn nuôi gia cầm tiếp tục là lựa chọn phù hợp của nhiều hộ dân và doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng thịt và trứng duy trì ổn định. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, tại phường Bắc Gia Nghĩa, xã Đạ Tẻh 3, xã Đạ Hoai phát sinh 03 hộ có lợn mắc bệnh và chưa qua 21 ngày, với số lợn bị tiêu hủy 1.132 con. Lũy kế từ ngày 01/01/2026 đến nay, tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 2.231 con. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện tiêu hủy, khoanh vùng xử lý bệnh DTLCP phát sinh; triển khai tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường, tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, hoạt động trồng rừng chưa được triển khai, chủ yếu tập trung chăm sóc rừng, chuẩn bị mặt bằng, ươm giống cây trồng. Tỉnh đã tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, trong tháng đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 0,87 ha; lũy kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 0,87 ha (so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng giảm 03 vụ, diện tích rừng thiệt hại giảm 0,3 ha). - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 43.094 m3, tăng 5,09% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 147.159 m3, tăng 3,26%. - Sản lượng củi khai thác ước đạt 26.464 ste, tăng 1,46% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 119.923 ste, tăng 1,97%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/3 - 10/4/2026) là 48 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 30 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 6,9 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 11 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 18 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 5,6 ha). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/4/2026), tổng số vụ vi phạm là 187 vụ bằng cùng kỳ năm trước (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 79 vụ, giảm 26 vụ; diện tích rừng bị thiệt hại 13,5 ha, giảm 1,6 ha). 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 467,9 ha, tăng 2,26% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.895,4 ha, tăng 1,17% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 1.703,7 ha, tăng 1,15%; diện tích nuôi tôm (chủ yếu là tôm thẻ trắng) đạt 175 ha, tăng 1,93%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.315 tấn, tăng 0,80% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 380 tấn, tăng 4,08%). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 9.270,9 tấn, tăng 1,0% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.530 tấn, tăng 3,79%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền khai thác quyết tâm bám biển khai thác dù giá dầu tăng cao; đặc biệt nguồn lợi cá cơm xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho các tàu nghề vây cá nồi nhỏ, nghề pha xúc đánh bắt. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 18.670 tấn, giảm 1,31% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 18.590 tấn, giảm 1,48%). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 72.354,7 tấn, tăng 2,82 (sản lượng khai thác biển đạt 71.711,8 tấn, tăng 2,18%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên, chất lượng tôm giống được giữ vững trên thị trường. Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,2 tỷ post, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 8,1 tỷ post, tăng 4,11%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Những tháng đầu năm ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có nhiều chuyển biến tích cực, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 12,90% so với tháng trước, tính chung 4 tháng đầu năm 2026 tăng 8,07% so với cùng kỳ, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,65%. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 12,90% so với tháng trước và tăng 15,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 7,04% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 19,72%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 13,53%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,40%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,96%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,65%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,93%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,71%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 415.415 m3, tăng 8,40% so với tháng trước và tăng 8,31% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.306.321 m3, tăng 17,71% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang tập trung nhiều giải pháp để giải ngân vốn đầu tư công cũng như đạt chỉ tiêu về vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.520 tấn, giảm 5,49% so với tháng trước nhưng tăng 8,17% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 12.486 tấn, tăng 10% so với cùng kỳ. - Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 1.835 tấn, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 19,11% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 7.827 tấn, tăng 23,90% so với cùng kỳ. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 22.440 nghìn lít, tăng 7,58% so với tháng trước và tăng 21,75% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 86.208 nghìn lít, tăng 16,11% so với cùng kỳ do các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 646 nghìn đôi, tăng 7,52% so với tháng trước và tăng 20,06% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.220 nghìn đôi, tăng 27,02% so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng mới ngay từ các tháng đầu năm. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 11.095 tấn giảm 20,84% so với tháng trước nhưng tăng 40,71% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 46.123 tấn, tăng 50,92% so với cùng kỳ, nguyên nhân trong tháng giảm do ảnh hưởng của giá xăng dầu nên các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, tuy nhiên so với cùng kỳ và cộng dồn vẫn tăng cao là do các doanh nghiệp đã chủ động cho kế hoạch cả năm 2026. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 126,5 nghìn tấn, tăng 9,13% so với tháng trước và tăng 3,85% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 528,313 nghìn tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.649 triệu kwh, tăng 19,64% so với tháng trước và tăng 13,5% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 11.420 triệu kwh, tăng 2,69% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 505 triệu kwh, giảm 4,68% so với tháng trước nhưng tăng 4,76% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.001 triệu kwh tăng 5,62% so với cùng kỳ. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 2,98% so với tháng trước và tăng 8,74% so cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,82%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,32%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,75%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,13%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, Chỉ số sử dụng lao động tăng 6,09%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,33%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,01%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,02%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,47%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước và xu hướng cao hơn bình quân các tháng đầu năm 2026 là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Hiện nay trong các KCN có khoảng 166 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh. Lũy kế đến hết tháng 3/2026, doanh thu đạt 9.300 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 171,6 triệu USD; nộp ngân sách đạt 551 tỷ đồng. Đầu năm đến nay thu hút được 05 dự án đầu tư, trong đó có 01 dự án nước ngoài và 04 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký 178,66 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích 4,08 ha. Cụ thể: - Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina (vốn 0,2 triệu USD, thuê lại 0,3 ha nhà xưởng) tại KCN Lộc Sơn. - Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam của Công ty TNHH may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam (vốn 26 tỷ, diện tích 0,3128 ha) tại KCN Lộc Sơn. - Kho Transimex Phú Hội của Công ty cổ phần Transimex Logistics (vốn 98,658 tỷ, diện tích 1,29 ha). - Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV nhựa Stroman Lâm Đồng (vốn đầu tư 40 tỷ đồng, diện tích 1,3879 ha) tại KCN Phú Hội. - Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm của Công ty TNHH Trường Phát Tâm (vốn đầu tư 14 tỷ đồng, diện tích 1,0887 ha) tại KCN Phú Hội. Công tác đầu tư hạ tầng các KCN được các chủ đầu tư quan tâm triển khai, có 5/14 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị khoảng 2,82 tỷ đồng đạt 0,32% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026, giảm 89,258% so với cùng kỳ (43,82 tỷ đồng), gồm: KCN Phan Thiết giai đoạn 1; KCN Hàm Kiệm I; KCN Hàm Kiệm II; KCN Sông Bình; KCN Tân Đức. Tình hình thu hút dự án đến nay: - KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn 6 nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước. - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài). - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Trong tháng, tình hình thực hiện vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh ghi nhận sự chuyển động tích cực với mục tiêu trọng tâm là hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các tuyến giao thông kết nối vùng. Tỉnh tập trung cao độ các nguồn lực để triển khai đồng loạt các dự án trọng điểm và khẩn trương hoàn thiện hồ sơ pháp lý cho 43 dự án khởi công mới trong năm. Tuy nhiên, công tác thực hiện các dự án chưa đạt kỳ vọng do vướng mắc kéo dài trong giải phóng mặt bằng và sự chồng lấn quy hoạch khai thác khoáng sản. Bên cạnh đó, áp lực từ việc tăng giá nhiên liệu cùng tình trạng khan hiếm nguồn cung vật liệu xây dựng tại chỗ đã gây ra những trở ngại lớn cho năng lực thực thi của các đơn vị thi công. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 769,9 tỷ đồng, tăng 3,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 718,1 tỷ đồng, chiếm 93,27% và tăng 3,21% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 331,7 tỷ đồng, tăng 33,08% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 102,6 tỷ đồng, giảm 45,5% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 11,2 tỷ đồng, giảm 31,91% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 267,8 tỷ đồng, tăng 11,91% so với cùng kỳ; vốn khác 4,8 tỷ đồng, tăng 86,1% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 51,8 tỷ đồng, chiếm 6,73% và tăng 1,8% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.680,6 tỷ đồng, đạt 17,61% so với kế hoạch năm, tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.500,4 tỷ đồng, tăng 4,12% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.166,2 tỷ đồng, tăng 17,98% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 358,6 tỷ đồng, giảm 45,98% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 40,6 tỷ đồng, giảm 29,4% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 919,4 tỷ đồng, tăng 34,67% so với cùng kỳ; vốn khác 15,7 tỷ đồng, tăng 71,89% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 180,2 tỷ đồng, tăng 3,06% so với cùng kỳ. Tình hình phát triển doanh nghiệp tính từ ngày 01/01/2026 đến ngày 20/4/2026, toàn tỉnh có 1.715 doanh nghiệp thành lập mới, gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm trước; 1.004 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 4,74%; 332 doanh nghiệp giải thể, gấp 2,1 lần; 474 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 15,3%. Tổng số vốn trong 4 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp đã đăng ký 8.731,2 tỷ đồng, tăng 56,61% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình thu hút đầu tư (từ đầu năm đến ngày 23/4/2026), toàn tỉnh có 18 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 55.281,1 tỷ đồng; 18 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Trong tháng, hoạt động thương mại của tỉnh tiếp tục duy trì sự ổn định với sức mua tăng trưởng tích cực, đặc biệt trong các dịp lễ và cuối tuần. Nguồn cung hàng hóa dồi dào, đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu dùng; mặt bằng giá cả tuy chịu tác động từ biến động giá xăng dầu nhưng vẫn được kiểm soát, không xảy ra tăng giá đột biến. Du lịch ghi nhận sự khởi sắc rõ rệt nhờ nhiều sự kiện hấp dẫn, góp phần thúc đẩy lượng khách và doanh thu tăng so với tháng trước và cùng kỳ. Các ngành dịch vụ như ăn uống, vận tải tiếp tục hoạt động hiệu quả, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và du khách trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Hoạt động vận tải và kho bãi duy trì ổn định, đảm bảo lưu thông hàng hóa và phục vụ nhu cầu đi lại, góp phần hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế địa phương. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Thị trường hàng hóa trong tháng tiếp tục đà tăng trưởng. Nhu cầu tiêu dùng từ người dân và du khách tăng cao, đặc biệt trong dịp lễ, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng thiết yếu như thực phẩm, thủy hải sản,... Các hệ thống siêu thị, cửa hàng điện máy và bán lẻ địa phương đã góp phần quan trọng bình ổn thị trường và kích cầu hiệu quả qua các chương trình khuyến mãi. Hoạt động các ngành dịch vụ khác diễn ra khá nhộn nhịp, đặc biệt là hoạt động du lịch, vui chơi giải trí trong dịp lễ sắp đến. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 16.414,2 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 18,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: uớc tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 10.409,6 tỷ đồng, tăng 2,83% so với tháng trước và tăng 18,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.121,8 tỷ đồng, tăng 13,19% so với tháng trước và tăng 14,77% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.882,7 tỷ đồng, tăng 3,42% so với tháng trước và tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 63.725,4 tỷ đồng, tăng 15,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 39.837,8 tỷ đồng, tăng 14,46% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 12.510 tỷ đồng, tăng 20,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 11.377,6 tỷ đồng, tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Quản lý thị trường đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu; đồng thời siết chặt giám sát đối với mặt hàng gạo và vật liệu xây dựng. Công tác đấu tranh chống hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ được đẩy mạnh, song song với việc theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả xăng dầu để kịp thời phát hiện các dấu hiệu bất thường như tăng giá bất hợp lý hay gián đoạn nguồn cung. Kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường lũy kế từ 15/12/2025 đến 14/4/2026: đã kiểm tra 470 vụ, phát hiện 452 vụ vi phạm và xử lý 454 vụ, tổng số tiền xử phạt đạt 3,65 tỷ đồng; trị giá hàng hóa vi phạm hơn 863,6 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng Giá gas, giá dầu trong nước tăng cao theo giá nhiên liệu thế giới, cùng với giá vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào và chi phí vận chuyển tăng, là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,56% so với tháng trước, CPI trong tháng tăng 4,62% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2026 tăng 4,42% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 09 nhóm hàng tăng giá: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,40%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,50%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,69%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,44%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; Thông tin và truyền thông tăng 0,05%; Giáo dục tăng 0,04%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24%. Có 02 nhóm hàng giảm giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,18%; Giao thông giảm 0,8%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 02, 03, 08, 09, 16, 21 và 23 tháng 4/2026, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng dầu hỏa tăng 26,54% so với tháng trước; giá dầu diezel tăng 18,35% so với tháng trước; Giá gas trong tháng tăng 48,86% so với tháng trước do từ ngày 01/4/2026, giá gas 12 ký trong nước điều chỉnh tăng 95.000 đồng/bình sau khi giá gas thế giới tăng 232,5 USD/tấn (từ mức 537,5 USD/tấn lên mức 770 USD/tấn); Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 3,26% do chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là giá nguyên, nhiên liệu sản xuất và chi phí vận chuyển tăng, tác động đẩy giá các loại vật liệu như: cát, đá, xi măng, thép, gạch... tăng so tháng trước. - Nguyên nhân giảm: Giá rau tươi giảm 0,7% so tháng trước, do một số loại rau đang vào vụ thu hoạch và thời tiết thuận lợi nên sản lượng rau tươi dồi dào, nhiều chủng loại; Giá nhóm lương thực giảm 0,33% so tháng trước, trong đó giảm chủ yếu các mặt hàng gạo giảm 0,51%. Nguyên nhân, do nguồn cung được đảm bảo vì một số khu vực đang trong kỳ thu hoạch lúa vụ đông xuân. Đồng thời ảnh hưởng giá gạo xuất khẩu giảm do nguồn cung gạo thế giới tăng; Nguồn cung sản lượng gia cầm, trứng các loại tại địa phương dồi dào tác động làm cho giá các loại thịt gia cầm tươi sống giảm 2,08%, giá trứng các loại giảm 1,84% so với tháng trước; Giá các loại quả tươi giảm 2,70% so với tháng trước, trong đó giảm mạnh nhất giá xoài các loại giảm 8,01%; quả có múi giảm 1,70%; chuối giảm 2,27%; quả tươi khác giảm 2,57%. Nguyên nhân, hiện nay một số loại trái cây đang vào mùa vụ thu hoạch nguồn cung nhiều, nhu cầu tiêu dùng giảm tác động giá bán thị trường có phần giảm so tháng trước; Giá xăng giảm 3,93% so với tháng trước, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá trong tháng. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2026 tăng 4,42% so với bình quân cùng kỳ năm 2025. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2026 - Nguyên nhân tăng: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 1,13 điểm phần trăm, trong đó tăng do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo 4 tháng đầu năm 2026 tăng 1,21% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 5,61% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 1,40 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng mạnh 7,96%; giá thịt gia cầm tăng 5,39, so cùng kỳ tăng do thiếu hụt nguồn cung trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết và chi phí chăn nuôi ở mức cao. Chỉ số giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 5,23% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 0,44 điểm phần trăm, do giá lương thực thực phẩm đang ở mức tăng cao so cùng kỳ, giá gas, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng. Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,57% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI tăng 0,99 điểm phần trăm, do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào và giá thuê nhà ở tăng cao. Chỉ số giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, giá gas 4 tháng đầu năm 2026 tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá dầu hỏa tăng 32,03% do điều chỉnh giá dầu trong nước tăng theo biến động giá thế giới. Chỉ số giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng 3,46%; hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,28% và các thiết bị đồ dùng gia đình tăng 3,51%, do nhu cầu tiêu dùng cao trong dịp Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất, vận chuyển tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán sản phẩm. Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 3,79% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung tăng 0,43 điểm phần trăm, trong đó giá tăng chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu tăng 5,63%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước; giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 22,26% do giá xăng dầu đang mức tăng cao nên các công ty vận tải hành khách tăng giá vé so cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 7,19%, làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Nguyên nhân giảm: Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,21%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng có các kỳ nghỉ lễ dài ngày như Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), Lễ 30/4 và 1/5. Trên địa bàn tỉnh diễn ra các sự kiện như Giải vô địch các đội mạnh Lân - Sư - Rồng quốc gia năm 2026; Giải đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026 “Non sông liền một dải”. Bên cạnh đó hưởng ứng chương trình kích cầu du lịch tỉnh Lâm Đồng năm 2026, các doanh nghiệp du lịch, dịch vụ trên địa bàn tỉnh đăng ký tham gia chương trình với nhiều gói khuyến mãi, giảm giá, dịch vụ tặng kèm quà tặng hấp dẫn dành cho nhiều đối tượng khách lựa chọn Lâm Đồng cho chuyến tham quan và nghỉ dưỡng trong thời gian tới. Hầu hết các cơ sở lưu trú đăng ký tham gia đều giảm giá trung bình từ 10 - 30% tập trung vào mùa du lịch hè sắp tới, kèm theo nhiều ưu đãi như miễn phí các dịch vụ, tham gia các hoạt động văn hóa - thể thao do cơ sở tổ chức phục vụ khách, quà tặng lưu niệm, xe đưa đón miễn phí, hướng dẫn tham quan các địa điểm du lịch nổi tiếng. Đặc biệt, là các gói khuyến mãi “đặt ăn” có nhiều quà tặng hấp dẫn và các chương trình nghệ thuật đặc sắc miễn phí. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.080 nghìn lượt, tăng 14,85% so tháng trước và tăng 24% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 75 nghìn lượt, tăng 18,2% so với tháng trước và tăng 24,46% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.886 nghìn ngày khách, tăng 13,52% so với tháng trước và tăng 26,97% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 135 nghìn lượt khách, giảm 8,78% so với tháng trước và tăng 34,64% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 436 nghìn ngày khách, giảm 10,05% so với tháng trước và tăng 41,76% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, lượt khách phục vụ đạt 7.936,4 nghìn lượt, tăng 20,42% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 290,8 nghìn lượt, tăng 19,16% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 15.004,6 nghìn ngày khách, tăng 22,69% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 đạt 631,3 nghìn lượt, tăng 23,33% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.018,8 nghìn ngày khách, tăng 27,07% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến tỉnh trong 4 tháng đầu năm 2026 chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc, Đức, Mỹ, Pháp, Anh.... Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 617,9 tỷ đồng, tăng 15,33% so với tháng trước và tăng 14,13% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.449,1 tỷ đồng, tăng 12,94% so với tháng trước và tăng 14,32% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 54,8 tỷ đồng, tăng 1,93% so với tháng trước và tăng 51,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 2.610,2 tỷ đồng, tăng 24,08% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 9.688,8 tỷ đồng, tăng 19,67% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 211 tỷ đồng, tăng 41,81% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.891,3 tỷ đồng, tăng 17,58% so với tháng trước và tăng 26,82% so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 21.907,7 tỷ đồng, tăng 25,05% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.882,7 tỷ đồng, tăng 3,42% so với tháng trước và tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 702,5 tỷ đồng, tăng 1,29% so với tháng trước và tăng 17,32% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 169,4 tỷ đồng, tăng 4,79% so với tháng trước và tăng 13,39% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148 tỷ đồng, tăng 4,86% so với tháng trước và tăng 17,69% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 254,8 tỷ đồng, tăng 5,31% so với tháng trước và tăng 22,47% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.305,7 tỷ đồng, tăng 4,25% so với tháng trước và tăng 22,06% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 302,4 tỷ đồng, tăng 1,90% so với tháng trước và tăng 11,75% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 11.377,6 tỷ đồng, tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.849,4 tỷ đồng, tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 667,6 tỷ đồng, tăng 12,49% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 579,4 tỷ đồng, tăng 16,51% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 974,3 tỷ đồng, tăng 17,56% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 5.127,9 tỷ đồng, tăng 13,62% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.179 tỷ đồng, tăng 8,54% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trong tháng diễn ra khá nhộn nhịp, đáp ứng nhu cầu đi lại, du lịch và tiêu dùng tăng cao của người dân trong chuỗi nghỉ lễ kéo dài (Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch, 30/4 và 1/5) đã thúc đẩy lưu lượng giao thông và vận chuyển hàng hóa phục vụ lễ hội diễn ra sôi nổi. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.235,8 tỷ đồng, tăng 6,71% so với tháng trước và tăng 29,58% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.699,4 tỷ đồng, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.703 nghìn HK, tăng 5,39% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 392.145,3 nghìn HK.Km, tăng 5,93% so với tháng trước và tăng 16,31% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 10.950,7 nghìn HK, tăng 16,39% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.581.298,9 nghìn HK.Km, tăng 17,35% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 1.956 nghìn tấn, tăng 4,78% so với tháng trước và tăng 13,11% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 288.878,2 nghìn tấn.Km, tăng 5,27% so với tháng trước và tăng 14,05% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 7.950,5 nghìn tấn, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.170.264,9 nghìn tấn.Km, tăng 15,07% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.235,8 tỷ đồng, tăng 6,71% so với tháng trước và tăng 29,58% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.699,4 tỷ đồng, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.594,3 tỷ đồng, tăng 27,42% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.306,9 tỷ đồng, tăng 25,12% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 614,6 tỷ đồng, tăng 12,41% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 183,6 tỷ đồng, tăng 4,47% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 857,5 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 725,1 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 132,4 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.090,9 tỷ đồng, giảm 20,66% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước thực hiện 13.268,1 tỷ đồng, bằng 38,53% kế hoạch năm và tăng 16,33% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 12.480 tỷ đồng, bằng 38,19% kế hoạch năm và tăng 14,39%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 788,1 tỷ đồng, bằng 44,78% kế hoạch năm và tăng 58,81% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 2.022,7 tỷ đồng (bằng 53,18% kế hoạch năm và tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 607 tỷ đồng (bằng 44% kế hoạch năm và tăng 1,34%);[T1]  khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 3.435,5 tỷ đồng (bằng 51,37% kế hoạch năm và tăng 51,65%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 1.137 tỷ đồng (bằng 41,65% kế hoạch năm và tăng 3,78%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 1.359,3 tỷ đồng (bằng 18,43% kế hoạch năm và giảm 1,38%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 2.503 tỷ đồng (bằng 43,16% kế hoạch năm và tăng 7,31%). 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước 4.707,2 tỷ đồng, lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước 20.877 tỷ đồng, bằng 46,93% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 9.160,3 tỷ đồng, bằng 69,33% kế hoạch năm; chi thường xuyên 11.716,1 tỷ đồng, bằng 38,59% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) trong tỉnh ở mức 0,21% - 0,41%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; ở mức 4,17% - 4,65%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; ở mức 6,67% -7,64%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; ở mức 7,02% - 7,79%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh NHTM ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ 8,89%/năm - 10,73%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,34% - 4,65%/năm. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đến 31/3/2026, đạt 236.394 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 7.188 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,11%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 233.275 tỷ đồng (chiếm 98,68% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 3.119 tỷ đồng, (chiếm 1,32% tổng huy động vốn). Ước đến 30/4/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 238.400 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 9.124 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4%. Dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đến 31/3/2026, đạt 372.289 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 1.305 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,35%. Trong đó: Dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 369.935 tỷ đồng (chiếm 99,37% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.354 tỷ đồng (chiếm 0,63% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn 264.156 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 108.133 tỷ đồng. Ước đến 30/4/2026, dư nợ cho vay đạt 374.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1%. Đến 31/3/2026, dư nợ cho vay ngành dịch vụ, du lịch, thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 186.497 tỷ đồng, chiếm 50,09% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.013 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm thủy sản đạt 153.779 tỷ đồng, chiếm 41,31% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.945 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,87% trong tổng dư nợ tín dụng. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện trang trí pano cổ động trực quan tuyên truyền tấm lớn, pano bảng, tiêu đề, pano xe loa, biểu trưng,… phục vụ công tác tuyên truyền nhiệm vụ chính trị và chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Đà Lạt (03/4/1975 - 03/4/2026), Ngày giải phóng Phan Thiết (19/4/1975 - 19/4/2026), Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch) và 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng và thi thiết kế cổng chào bằng hoa tươi tại chân đèo Prenn (đợt 2). - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương: Tổ chức Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2026 tại 03 khu vực (Đền thờ Âu Lạc tại Phường Xuân Hương - Đà Lạt; xã Phan Rí Cửa và xã Tuy Đức); tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng thành công Cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031; chương trình văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày kỷ niệm của địa phương và đất nước; duy trì biểu diễn chương trình Âm nhạc đường phố tại khu vực Hồ Xuân Hương phục vụ nhân dân, du khách; ngoài ra đã thực hiện 55 buổi chiếu phim lưu động tại cơ sở và 05 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị khác. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 41.627 lượt khách, trong đó có 2.329 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 12.935 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 10.204 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 1.851 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 15.948 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 689 lượt khách); lũy kế từ ngày 01/01 đến ngày 13/4/2026, Bảo tàng tỉnh đã đón 116.913 lượt khách, trong đó có 11.252 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 35.001 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 23.566 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 5.124 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 50.968 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 2.254 lượt khách). Tổ chức khảo sát, thu thập tư liệu phục vụ công tác lập hồ sơ khoa học “Nghề làm nước mắm truyền thống Phan Thiết” trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam xem xét đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; xây dựng Hồ sơ hiện vật Linga - Yoni Mường Mán và Linga thạch anh trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, đề nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 147 đoàn với 11.504 lượt khách; phục vụ 32 lễ viếng Bác, lễ kết nạp Đoàn, sinh hoạt chuyên đề; lũy kế từ 01/01 đến 13/4/2026, Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận đón 517 đoàn 28.009 lượt khách. Ngoài ra, đã tổ chức trưng bày triển lãm 95 hình ảnh với chuyên đề: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc” tại Khu Di tích Dục Thanh phục vụ người dân và du khách. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 22 đoàn khách với 3.316 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm; lũy kế từ ngày 01/01 đến ngày 15/4/2026 đã đón 45 đoàn với 7.980 lượt khách. Ngoài ra, đã thực hiện triển lãm ảnh chủ đề “Lâm Đồng gắn kết lịch sử - Khát vọng vươn xa” và phối hợp tổ chức Giải leo núi “Hành trình về Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận” lần thứ nhất, thu hút đông đảo vận động viên tham gia. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 174 thẻ (49 thẻ thiếu nhi), phục vụ 268.325 lượt bạn đọc, luân chuyển 118.637 lượt tài liệu và trưng bày 3.876 bản sách; lũy kế từ 01/01 đến 10/4/2026, Thư viện tỉnh cấp mới và gia hạn 609 thẻ (thiếu nhi 177 thẻ), phục vụ 884.320 lượt bạn đọc, luân chuyển 200.641 lượt tài liệu và trưng bày 17.976 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị. Ngoài ra, đã tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ V năm 2026; trưng bày, triển lãm và giới thiệu sách với chủ đề “Sách - Tri thức - Khát vọng phát triển đất nước”; tọa đàm chuyên đề “Sáng tạo từ bản sắc: Đưa di sản thiên nhiên và văn hóa địa phương vào trang sách của trẻ em” tại trường THCS Nguyễn Du, phường Phan Thiết và tổ chức chương trình bồi dưỡng “Kỹ năng siêu đọc sách - Giải tỏa áp lực học đường”. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Giải Thể dục dưỡng sinh tỉnh Lâm Đồng mở rộng lần thứ VI - năm 2026; Giải Xe đạp Cúp Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026; phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Giải Golf Audi by Cội nguồn 2026 và Giải Yoga Cúp các câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026. - Thể thao thành tích cao: Đăng cai tổ chức Giải Vô địch Cầu lông đồng đội nam nữ hỗn hợp quốc gia 2026; Giải Vô địch các đội mạnh Lân Sư Rồng toàn quốc lần thứ II năm 2026. Tổ chức Giải Pickleball, Giải Golf, Giải Xe đạp trong chương trình Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026. Phối hợp tổ chức Giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2026 (trên Sân vận động Đà Lạt). Cử đoàn vận động viên tham gia 11 giải thể thao quốc gia và 1 giải thể thao quốc tế, kết quả đạt được 38 huy chương (06 HCV, 11 HCB, 21 HCĐ); thành tích đạt được tính đến thời điểm báo cáo (14/4/2026): 67 huy chương (15 HCV, 16 HCB, 36 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2025-2026. Thực hiện công tác xây dựng trường học an toàn phòng, chống tai nạn thương tích, an toàn giao thông, phòng chống đuối nước cho trẻ em, phòng chống cháy nổ, tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, vệ sinh cảnh quan môi trường “Xanh - Sạch - Đẹp”; đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số trong quản lý và giảng dạy, tăng cường huy động xã hội hóa giáo dục và phát triển trường ngoài công lập. Bên cạnh đó tập trung rà soát, củng cố điều kiện cơ sở vật chất, thiệt bị, đội ngũ nhà giáo để ổn định công tác dạy và học. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.593 cơ sở giáo dục với 24.494 lớp và 818.588 học sinh, gồm: 526 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó: 400 công lập) với 5.707 lớp và 151.943 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó: 558 công lập) với 10.210 lớp và 321.257 học sinh; 365 trường trung học cơ sở (trong đó: 363 công lập) với 6.016 lớp và 240.603 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (trong đó: 114 công lập; trong tổng số có 02 trường phổ thông dân tộc nội trú, 09 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông, 11 trường trung học cơ sở - trung học phổ thông và 100 trường trung học phổ thông) với 2.561 lớp và 104.785 học sinh; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó: 02 công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ - Tin học; 11 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập với 7.529 học viên. Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Toàn tỉnh có 78 cơ sở GDNN, gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó: 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. Công tác đánh giá, kiểm định chất lượng và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia được chú trọng. Tính đến thời điểm 31/3/2026, toàn tỉnh có 912/1.434 trường công lập đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 63,60%); trong đó: cấp mầm non có 246/400 trường (đạt tỷ lệ 61.50%), cấp tiểu học có 342/557 trường (đạt tỷ lệ 61,40%), cấp trung học cơ sở có 253/363 trường (đạt tỷ lệ 69,70%) và cấp trung học phổ thông có 71/114 trường (đạt tỷ lệ 62,28%). 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các bệnh truyền nhiễm; đảm bảo đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 162 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 37 ca so với tháng trước và giảm 23 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.436 ca mắc. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 33 ổ dịch, bốn tháng đầu năm 2026 đã phát hiện xử lý 99 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 453 ca mắc, tăng 228 ca so với tháng trước và tăng 347 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 1.331 ca mắc.- Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 16 ca mắc, tăng 02 ca so với tháng trước và giảm 973 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 43 ca mắc.- Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 4.261 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.527 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.323 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.390 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 4.269 trẻ, mũi 2 cho 4.349 trẻ và mũi 3 cho 4.562 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.749 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng phát hiện 02 bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 02 bệnh nhân; đang giám sát 09 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 6 người.- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 179 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 5 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 BN/100.000 dân; BN lao kháng thuốc trong tháng là 05 người.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 14 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 03 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.813 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.787 người, tử vong 1.572 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 484.848 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 38.018 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 221.631 ngày, xét nghiệm cho 612.199 tiêu bản, chẩn đoán 142.247 hình ảnh và phẫu thuật 5.494 trường hợp. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 1.719.671 lượt người; 137.600 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 800.478 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,03 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 90,83%; ước xét nghiệm cho 2.079.629 tiêu bản; chẩn đoán 488.672 hình ảnh và phẫu thuật cho 18.590 trường hợp.- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 3.741 cơ sở, kết quả có 38 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 147 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm.4. Thông tin, báo chí, xuất bản- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tuyên truyền kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2026; chuỗi hoạt động “Chào mùa Du lịch hè năm 2026”. Thực hiện hướng dẫn cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp triển khai Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số trên địa bàn tỉnh; đồng thời thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng.- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Đã xây dựng dự thảo Kế hoạch thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 03 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; công tác chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được quan tâm; các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo được triển khai thực hiện. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy. Tuy nhiên do ảnh hưởng của giá xăng, dầu tăng cao, tình trạng thiếu nước tưới trong mùa khô xảy ra cục bộ ở một số địa phương đã hưởng đến đời sống, sinh hoạt và sản xuất của người dân, trong đó có đồng bào DTTS.- Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng. Các lễ hội truyền thống như: Tết Chol Chnam Thmay của đồng bào Khmer, Lễ mừng lúa mới của dân tộc Kho, Mạ, Chu Ru sau khi đã thu hoạch xong vụ mùa cũ,… được tổ chức chu đáo, mang đậm bản sắc văn hóa của đồng bào, qua đó góp phần tạo không khí vui tươi, nâng cao tinh thần đoàn kết và duy trì bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS.- Mạng lưới trường lớp vùng đồng bào DTTS ngày càng hoàn thiện. Sĩ số học sinh là người DTTS tiếp tục được duy trì ổn định. Các trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú thực hiện việc trang cấp các vật dụng thiết yếu như chăn, màn, chiếu, gối, quần áo đồng phục và học phẩm cho học sinh. Các chính sách miễn, giảm học phí; hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở nội trú, bán trú,… được thực hiện theo đúng chế độ quy định. Các mô hình đưa văn hóa truyền thống vào trường học và dạy tiếng K'ho (điển hình là Trường THCS Tân Thượng, xã Đinh Trang Thượng) đang phát huy hiệu quả, giúp học sinh DTTS giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình. Công tác phòng chống bạo lực học đường và xây dựng môi trường giáo dục an toàn được tuyên truyền, triển khai đến tất cả các trường ở vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh. - Hệ thống Y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Công tác y tế vùng đồng bào DTTS đang chuyển dịch từ “điều trị” sang “chủ động phòng bệnh”. Các hoạt động khám sàng lọc bệnh không lây nhiễm (huyết áp, tiểu đường), tư vấn dinh dưỡng, cấp thuốc miễn phí cho người già và trẻ em thường xuyên được các bác sĩ trẻ tình nguyện tổ chức tại các xã khó khăn và vùng DTTS. Công tác tiêm chủng, tiêm bù, tiêm vét cho trẻ em vùng sâu, vùng xa chưa tiêm đủ mũi theo chương trình tiếp tục được triển khai. Từ quý I/2026, vắc - xin phế cầu bắt đầu đưa vào chương trình tiêm chủng miễn phí cho trẻ em vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) ban hành Giáo chỉ số 29-TCĐ/GC-HĐCM tấn phong giáo phẩm cho 70 chức sắc tỉnh Lâm Đồng; tổ chức khóa tu truyền thống khất sỹ lần thứ 40 cho 100 chư Tăng tại Tịnh xá Ngọc Thiền, phường Xuân Hương- Đà Lạt; Phân ban Ni giới tỉnh tổ chức Đại lễ tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Đại Ái đạo tại Quảng trường Lâm Viên, phường Xuân Hương - Đà Lạt, có khoảng 2.000 Phật tử tham dự, qua đó trao tặng 01 căn nhà tình thương (trị giá 100,0 triệu đồng) cho 01 em học sinh, 120 phần học bổng (mỗi phần trị giá 1,0 triệu đồng) cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn và 36 phần học bổng cho 36 tăng ni sinh đang theo học tại Trường Trung cấp Phật học tỉnh Lâm Đồng. Các cơ sở Công giáo trên địa bàn tỉnh tổ chức các hoạt động mừng lễ Phục sinh năm 2026 vào ngày 05/4/2026; Toà Giám mục Giáo phận Phan Thiết tổ chức Thánh lễ hành hương cho Hội Lòng Chúa Thương xót Giáo phận tại Trung tâm Thánh Mẫu Tàpao, xã Đồng Kho; Thánh lễ Kinh thánh Giuse tại Nhà hưu dưỡng linh mục Phan Thiết, xã Tân Lập. Đạo Tin Lành tổ chức Lễ Phục sinh năm 2026 trong không khí vui tươi, trang trọng; Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh tổ chức lễ công bố thành lập chi hội và bổ nhiệm chức việc làm quản nhiệm 04 chi hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam); Giáo hội Báp Tít Việt Nam tổ chức Đại Hội đồng lần thứ V, nhiệm kỳ 2026-2030, đoàn tỉnh Lâm Đồng có 28 người tham dự; Hội thánh Tin Lành Trưởng Lão Việt Nam tổ chức lễ công bố Quyết định thành lập Hội thánh Trung Thành, xã Tà Đùng với khoảng 600 người là chức sắc, chức việc, tín đồ trong và ngoài tỉnh tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 429 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Thực hiện chi trả trợ cấp hàng tháng không dùng tiền mặt cho 13.919 người có công với cách mạng với tổng kinh phí 48.057.554.478 đồng. Phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 đối tượng (xây mới: 47 căn, sửa chữa: 40 căn). Tổ chức đưa 189 lượt người có công với cách mạng đi điều dưỡng tập trung tại trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công tỉnh Khánh Hòa và Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết 31/3/2026, toàn tỉnh có 312.140 người tham gia BHXH, tăng 1,18% so với tháng trước; có 237.284 người tham gia BHTN, tăng 5,57%; số người tham gia BHYT là 3.047.805 người, tăng 2,65% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 89,97% dân số. Trong tháng đã giải quyết mới 10.993 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.198 người (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 115 người; trợ cấp 1 lần cho 2.944 người; chế độ ốm đau cho 5.919 người; chế độ thai sản cho 1.567 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 448 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 1.144 người và hỗ trợ học nghề cho 54 người). Lũy kế đến 31/3/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 25.646 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 3.402 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 402 người; trợ cấp 1 lần cho 5.976 người; chế độ ốm đau cho 14.641 người; chế độ thai sản cho 3.640 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 987 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 3.269 người và hỗ trợ học nghề cho 133 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/3/2026 - 15/4/2026) Trong tháng xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, giảm 08 vụ so với tháng trước và giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 39 người, tăng 01 người so với tháng trước và giảm 02 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 37 người, tăng 15 người so với tháng trước và giảm 30 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 250 vụ (trong đó có 04 vụ đường sắt), giảm 51 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 156 người, tăng 18 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 171 người, giảm 68 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 28/3/2026 đến 22/4/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ thiên tai (mưa lớn kèm theo giông lốc) tại khu vực phường 1, 2, 3 Bảo Lộc, xã Đam Rông 2 và xã Nhân Cơ; thiên tai làm tốc mái 16 nhà dân, sập 0,9 ha giàn chanh giây, một số cây xanh và tường rào bệnh viện ngã đổ; ước thiệt hại khoảng 650 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 04 vụ thiên tai, làm tốc mái 17 căn nhà, sạt lở 375m bờ biển và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; chưa thống kê giá trị thiệt hại. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 15/3 đến ngày 15/4/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 12 vụ cháy nổ, tăng 07 vụ so với tháng trước và tăng 05 vụ so với cùng kỳ năm trước; ước thiệt hại 1.542 triệu đồng. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 28 vụ cháy (tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước), làm chết 02 người và bị thương 03 người; ước tổng giá trị thiệt hại 2.570 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ vi phạm môi trường, đã xử phạt 65 triệu đồng. Lũy kế từ 4 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 08 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt là 415 triệu đồng. * Đánh giá chung Trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực trên hầu hết các ngành, lĩnh vực. Hoạt động sản xuất nông nghiệp cơ bản ổn định, sản xuất vụ Đông xuân đạt tiến độ, chăn nuôi phát triển khá, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Công nghiệp tiếp tục tăng với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 4 tháng đầu năm tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,65%. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 15,33%, tổng lượt khách du lịch phục vụ đạt gần 7,94 triệu lượt, tăng 20,42% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động vận tải, lưu thông hàng hóa cơ bản thông suốt, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và du lịch. Thu ngân sách nhà nước đạt khá với tổng thu 4 tháng đầu năm ước tăng 16,33% so với cùng kỳ; môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, số doanh nghiệp thành lập mới gấp 2,1 lần cùng kỳ năm trước. Bên cạnh những kết quả tích cực, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số khó khăn, thách thức cần lưu ý. Giá xăng dầu, khí đốt và vật liệu xây dựng tăng cao tiếp tục gây áp lực lên chi phí sản xuất, vận tải và mặt bằng giá cả; CPI bình quân 4 tháng đầu năm tăng 4,42% so với cùng kỳ năm trước. Tiến độ thực hiện và giải ngân một số dự án đầu tư công còn chậm do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, quy hoạch khoáng sản và thiếu nguồn vật liệu xây dựng. Hoạt động khai thác thủy sản còn chịu tác động bởi chi phí nhiên liệu tăng; dịch tả lợn châu Phi vẫn phát sinh cục bộ tại một số địa phương. Bên cạnh đó, tình hình vi phạm lâm luật còn diễn biến phức tạp; thị trường tiêu thụ một số nông sản chủ lực tiềm ẩn rủi ro khi diện tích mở rộng nhanh và phụ thuộc lớn vào thị trường xuất khẩu.THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG  [T1]Giảm so với quý 1/2026 là do Công ty TNHH Linkfarm (Khu vực Đầu tư nước ngoài-xã Hồng Sơn) do Công ty nộp nhầm phân bổ thuế TNDN 303 tỷ

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   06/04/2026 11:03

Trong tháng và quý I năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng diễn ra trong bối cảnh thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, khó lường; căng thẳng địa chính trị, biến động giá năng lượng, thị trường tài chính và thời tiết cực đoan đã tạo thêm áp lực đối với quá trình phục hồi kinh tế. Ở trong nước, kinh tế tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt của các cấp, các ngành, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng cơ bản giữ vững ổn định, nhiều lĩnh vực tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống Nhân dân từng bước được cải thiện. I. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý I năm 2026 ước tăng 7,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,39%, đóng góp 1,29 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,91%, đóng góp 1,94 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,20%, đóng góp 3,77 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,52%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm. II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Quý I năm 2026, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng ổn định, đồng thời thể hiện rõ sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng. Vụ Đông xuân được triển khai đúng lịch thời vụ, bảo đảm tiến độ; các địa phương chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng kỹ thuật mới và tăng cường phòng chống dịch bệnh; diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm hầu hết tăng so với cùng kỳ; sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao tiếp tục được chú trọng. Chăn nuôi duy trì đà tăng trưởng ổn định, quy mô đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi cơ bản được kiểm soát, không xảy ra dịch lớn trên diện rộng. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng và ươm cây giống lâm nghiệp. Khai thác thủy sản tiếp tục tăng trưởng về sản lượng nuôi trồng và khai thác, góp phần đảm bảo nguồn cung trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn do tăng giá xăng, dầu làm gia tăng chi phí đầu vào, chi phí vận chuyển và giá vật tư nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của người dân. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Vụ Đông xuân 2026, nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất, tăng cường tiết kiệm nguồn nước tưới và hạn chế sâu bệnh, người dân đã chuyển đổi sang cây trồng khác trên đất trồng lúa với diện tích 1.870 ha. Tính đến ngày 15/3/2026, tổng diện tích gieo trồng vụ Đông xuân ước đạt 108.931 ha, tăng 3,14% so với vụ Đông xuân năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 56.400 ha, tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước; cây ngô, diện tích ước đạt 6.150 ha, tăng 2,34%; cây khoai lang, diện tích ước đạt 2.250 ha, tăng 2,86%; cây đậu các loại diện tích ước đạt 2.750 ha, tăng 2,14%; cây lạc, diện tích ước dạt 1.400 ha, tăng 3,33%; cây rau các loại, diện tích ước đạt 28.100 ha, tăng 5,13%; hoa các loại, diện tích ước đạt 4.450 ha, tăng 4,90%,... Sản xuất rau và hoa trên địa bàn tỉnh ngày càng chuyển mạnh sang hướng nông nghiệp công nghệ cao, ứng dụng nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới tự động và các quy trình sản xuất an toàn như VietGAP, GlobalGAP; nhờ đó năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm được nâng cao, nhiều sản phẩm rau của tỉnh đã tham gia vào chuỗi cung ứng cho các hệ thống siêu thị, doanh nghiệp chế biến và thị trường xuất khẩu. 1.2. Cây lâu năm Trong quý I năm 2026, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm. Cụ thể một số loại cây chính như sau: - Cây chè: Diện tích hiện có 9.282 ha, giảm 1,52% so với cùng kỳ năm trước; diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...; - Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.732 ha, tăng 1,05% so với cùng kỳ năm trước (toàn tỉnh hiện có hơn 22.700 ha cà phê được canh tác theo hướng ứng dụng công nghệ cao; đang xây dựng 5 vùng sản xuất cà phê công nghệ cao với quy mô gần 1.750 ha, trong đó có 3 vùng đã được công nhận); hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tưới, tỉa cành, làm cỏ,...; - Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.216,9 ha, tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích; - Cây sầu riêng: Hiện đang giai đoạn chăm sóc, xử lý để đậu hoa kết trái; diện tích hiện có 44.224,2 ha, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; nhờ hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác nên người dân đang tích cực đầu tư, tăng năng suất. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhất là nhu cầu từ Trung Quốc, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh; - Cây thanh long: Trong quý I chủ yếu là vụ nghịch mùa, người nông dân đang xử lý ra hoa bằng chong đèn, chi phí sản xuất cao; diện tích hiện có 25.801,7 ha, giảm 0,69% so với cùng kỳ năm trước (diện tích thanh long có 09 mã số vùng trồng xuất khẩu đi thị trường Hoa Kỳ với diện tích là 171,6 ha). Diện tích giảm so với cùng kỳ do một số vùng bị thiệt hại do lũ vừa qua và một số vườn thanh long già cỗi, người trồng thanh long không tiếp tục đầu tư và chuyển sang canh tác các loại cây trồng khác; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.371,4 ha, tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện. - Cây điều: Diện tích điều hiện có 50.150 ha, tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026 là thời kỳ quan trọng của vụ điều, là giai đoạn ra hoa, phát triển trái, bắt đầu bước vào mùa thu hoạch; một số địa phương trong tỉnh tiếp tục khuyến khích duy trì và phát triển cây điều gắn với chế biến, góp phần ổn định sinh kế cho người dân; - Cây hồ tiêu: Hiện đang là vụ thu hoạch chính của cây hồ tiêu; diện tích hồ tiêu hiện có 37.759,5 ha, tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích và sản lượng hồ tiêu có xu hướng ổn định và tích cực, nhờ giá mặt hàng này duy trì ở mức cao và ổn định, người dân mở rộng diện tích cũng như tăng cường thâm canh để nâng cao năng suất. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Trong quý I năm 2026, hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định tình hình sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Công tác phòng, chống hạn hán, thiếu nước được tăng cường thông qua việc theo dõi sát diễn biến thời tiết, tích trữ nguồn nước và áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm; việc kiểm tra an toàn công trình thủy lợi, đặc biệt là các hồ chứa và đập dâng, được thực hiện thường xuyên. Tỉnh đã chủ động triển khai kế hoạch phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn mùa khô năm 2026; thực hiện các giải pháp ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh mùa khô 2026 trên địa bàn; đến nay trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra tình trạng hạn hán. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng 3 và quý I năm 2026, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; công tác dự báo luôn được tăng cường nên không xảy ra dịch bệnh nghiêm trọng trên diện rộng. Một số loại sâu bệnh hại xuất hiện rải rác trên các loại cây trồng chủ lực như lúa, rau màu, cây công nghiệp và cây ăn quả; tuy nhiên mức độ gây hại thấp, cụ thể: Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 219 ha, Bệnh đạo ôn lá gây hại 468,3 ha; Cây cà chua: Sâu đục lá cà chua Nam Mỹ gây hại 0,5 ha, Bệnh xoăn lá virus gây hại 64 ha; Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 320,4 ha; Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại 46,9 ha; Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.164,3 ha (109 ha nhiễm nặng); Cây cà phê chè: Bọ xít muỗi gây hại 2.117,2 ha; Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.312 ha, Bệnh thán thư gây hại 2.972 ha; Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha, Bệnh thán thư cành, quả gây hại 213 ha, ốc sên gây hại 321 ha. 1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao tiếp tục được chú trọng. Đến nay, toàn tỉnh có 107.456 ha diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, chiếm 10% diện tích gieo trồng toàn tỉnh (trong đó có khoảng 1.200 ha ứng dụng nông nghiệp thông minh); có 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa); có 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật được công nhận (Công ty TNHH Dalat Hasfarm; Công ty TNHH Hoa Mặt Trời; Công ty TNHH Trang trại Langbiang; Công ty TNHH SX-TM-NS Phong Thúy; Công ty TNHH Quang Nguyên Đà Lạt; Công ty CP cây giống Cao Nguyên; Công ty CP INNO GENETICS).  2. Chăn nuôi Trong quý, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định và có xu hướng tăng ở hầu hết các vật nuôi chủ lực. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với cùng kỳ năm trước, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính tháng 3/2026 đạt 34.999,1 tấn, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026 ước đạt 93.228,7 tấn, tăng 9,84%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,9 nghìn con trâu, tăng 0,75% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tăng nhẹ do giá bán tương đối ổn định, người chăn nuôi duy trì đàn phục vụ sản xuất và cung cấp thịt cho thị trường. Tuy nhiên, do thời gian nuôi dài và hiệu quả kinh tế chưa cao nên việc mở rộng quy mô còn hạn chế. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,3 nghìn con bò, tăng 1,69% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 30,1 nghìn con, tăng 3,79%). Quy mô đàn bò tiếp tục được duy trì nhờ đầu ra sản phẩm thịt và sữa tương đối ổn định; nhiều cơ sở chăn nuôi chú trọng cải thiện con giống và áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.495 nghìn con, tăng 6,03% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.228 nghìn con, tăng 7,45%). Quy mô đàn lợn tăng nhờ một số doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn mở rộng sản xuất, nâng công suất chuồng trại, tăng cường liên kết chăn nuôi gia công với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, công tác phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn châu Phi, được triển khai chặt chẽ nên nguy cơ phát sinh dịch bệnh cơ bản được kiểm soát. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.500 nghìn con, tăng 7,14% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.150 nghìn con, chiếm 71,78% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,95%). Quy mô đàn gia cầm tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định, thời gian nuôi ngắn và khả năng quay vòng vốn nhanh nên người chăn nuôi dễ dàng điều chỉnh quy mô đàn theo nhu cầu thị trường. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Trong Quý I năm 2026, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Các loại dịch bệnh nguy hiểm như: lở mồm long móng, tai xanh ở lợn, viêm da nổi cục... không xảy ra trên địa bàn tỉnh. Công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất, nhập tỉnh được duy trì thực hiện theo đúng quy định; công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y tiếp tục được tăng cường. - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong quý I/2026, đã xảy ra tại 03 hộ/03 thôn/03 xã với tổng số 1.099 con lợn chết và tiêu hủy, trọng lượng tiêu hủy 53.254 kg. Các địa phương đã triển khai đồng bộ các biện pháp chống dịch, thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc tại khu vực có dịch, nơi có ổ dịch cũ và những nơi có nguy cơ cao; xử lý dứt điểm, không để dịch bệnh kéo dài. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong quý, thời tiết trên địa bàn tỉnh đang vào mùa khô, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung, chủ yếu gieo tạo giống cây rừng phục vụ công tác trồng rừng khi điều kiện thời tiết thuận lợi. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 3 năm 2026 ước đạt 36.682,9 m3, tăng 4,93% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 104.065 m3, tăng 2,52%. - Sản lượng củi khai thác tháng 3 năm 2026 ước đạt 32.172,2 ste, tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 93.459 ste, tăng 2,12%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/02/2026 - 10/3/2026) là 19 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 07 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 1,03 ha; trong đó 01 vụ vi phạm khai thác rừng trái pháp luật có tính chất phức tạp, nổi cộm xảy ra tại xã Tân Lập, thiệt hại 1.161 gốc cây gỗ Tếch, tương đương 126,9 m3 gỗ); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm giảm 46 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 39 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 6,9 ha). Quý I năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/3/2026), tổng số vụ vi phạm là 139 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 49 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 6,6 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm giảm 11 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 44 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 7,2 ha). 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, các địa phương tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra, giám sát môi trường và chú ý phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi thủy sản; tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 472,8 ha, tăng 1,05% so với cùng kỳ; lũy kế 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.427,5 ha, tăng 0,89% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 423,7 ha, tăng 1,15%; diện tích nuôi tôm (chủ yếu là tôm thẻ trắng) đạt 130 ha, tăng 1,83%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.320,4 tấn, giảm 0,39% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 420 tấn, tăng 4,74%); quý I năm 2026 ước đạt 6.955,9 tấn, tăng 1,07% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.150,5 tấn, tăng 3,07%). - Khai thác thủy sản: Những tháng đầu năm, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền bám biển hoạt động khai thác ổn định; nguồn lợi cá cơm xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho các tàu nghề vây cá nổi nhỏ, nghề pha xúc đánh bắt. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn,... Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 16.209,6 tấn, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 16.159 tấn, tăng 3,02%); quý I năm 2026 ước đạt 53.257,3 tấn, tăng 3,5% (sản lượng khai thác biển đạt 53.109 tấn, tăng 3,5%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,06 tỷ post, tăng 3,73% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026 ước đạt 5,9 tỷ post, tăng 2,24%. 5. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông vào sản xuất Trong quý I năm 2026, công tác ứng dụng khoa học, công nghệ và khuyến nông tiếp tục được quan tâm triển khai gắn với phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản. Ngành chức năng tiếp tục theo dõi, thực hiện 07 mô hình chuyển tiếp từ năm 2025 về sản xuất lúa, tái canh cà phê, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu. Công tác sản xuất, cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản được duy trì hiệu quả, đáp ứng nhu cầu sản xuất. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục được đẩy mạnh; toàn tỉnh có 107.456 ha ứng dụng công nghệ cao, chiếm khoảng 10% diện tích gieo trồng, trong đó khoảng 1.200 ha ứng dụng nông nghiệp thông minh; có 16 vùng trồng trọt và 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng và tính bền vững của ngành nông nghiệp. 6. Chương trình xây dựng nông thôn mới Trong quý I năm 2026, các chương trình mục tiêu quốc gia tiếp tục được triển khai đồng bộ, bao gồm xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 (giai đoạn I: 2026-2030); đồng thời xây dựng dự thảo phân loại nhóm xã thực hiện Chương trình nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 và rà soát, lập kế hoạch triển khai nhiệm vụ cho giai đoạn 2026-2030 và năm 2026. Kinh tế tập thể tiếp tục được củng cố với 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp hoạt động theo Luật HTX năm 2023, gồm 45 HTX thành viên; toàn tỉnh có 959 HTX nông nghiệp với 19.582 thành viên (trong đó có 166 HTX ngừng hoạt động). Hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh với 428 chuỗi liên kết, thu hút 47.590 hộ tham gia; diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85 nghìn ha, sản lượng khoảng 920 nghìn tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt 2.230 nghìn con, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Chương trình OCOP tiếp tục được triển khai hiệu quả với 945 sản phẩm còn hạn chứng nhận, trong đó có 08 sản phẩm đang đề nghị đánh giá 5 sao, 80 sản phẩm 4 sao và 857 sản phẩm 3 sao, với 530 chủ thể tham gia; đồng thời tăng cường quảng bá, tiêu thụ, mở rộng mạng lưới phân phối, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu sản phẩm đặc trưng của địa phương. III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh ước tháng 3 và quý I năm 2026 với mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp khai khoáng; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao là động lực chính cho tăng trưởng toàn ngành; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải hoạt động ổn định. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 43,32% so với tháng trước và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,2%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 27,3%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,72%. Tính chung quý I năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,20% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,68%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 19,50%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,30%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,53%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 404.989 m3, tăng 2,3 lần so với tháng trước và tăng 11,75% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 888.739 m3, tăng 16,68% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình đầu tư công đang gấp rút giải ngân vốn năm 2025. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.594 tấn, tăng 45,1% so với tháng trước và tăng 9,47% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 8.892 tấn, tăng 5,18% so với cùng kỳ. - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.240 tấn, tăng 30,99% so với tháng trước và tăng 24,72% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 5.991 tấn, tăng 29,02% so với cùng kỳ. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 12.426 nghìn lít, giảm 50,3% so với tháng trước và tăng 6,99% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 63.768 nghìn lít, tăng 17,1% so với cùng kỳ do các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 585 nghìn đôi, tăng 81,55% so với tháng trước và tăng 9,69% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.558 nghìn đôi, tăng 28,77% so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 17.166 tấn tăng 52,75% so với tháng trước và tăng 12,57% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 35.028 tấn, tăng 28,69% so với cùng kỳ, nguyên nhân do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng để chuẩn bị cho mùa vụ 2026 và nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông đi vào sản xuất từ tháng 3/2025 nên so với cùng kỳ tăng khá cao. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 138,9 nghìn tấn, tăng 4,09% so với tháng trước và tăng 9,34% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 401,8 nghìn tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.147 triệu kwh, tăng 40,1% so với tháng trước và giảm 2,92% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 8.077 triệu kwh tăng 1,91% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 533 triệu kwh, tăng 12,66% so với tháng trước và tăng 3,61% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.496 triệu kwh tăng 4,47% so với cùng kỳ. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 0,78% so với tháng trước và tăng 6,29% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 0,07%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,92%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,74%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động của khối doanh nghiệp nhà nước giảm 1,97% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 11,25%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,06%. Tính chung quý I năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,38%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,52%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,10%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,52%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,30%. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 43,38% so với tháng trước và tăng 2,08% so với cùng kỳ; lũy kế quý I năm 2026 chỉ số tiêu thụ tăng 0,05% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 18,36%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 16,01%; chế biến gỗ tăng 2,84%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 27,78%; in và sao chép bản ghi các loại tăng 16,88%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,17%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 8,63%; sản xuất kim loại tăng 1,28%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 88,41%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: sản xuất đồ uống giảm 3,78%; ngành dệt giảm 11,47%; sản xuất trang phục giảm 34,38%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 11,68%... 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 7,28% so với tháng trước và tăng 1,37% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 5,09%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,36%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 6,80%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 121,76%… Ngược lại những ngành giảm như: ngành dệt giảm 59,76%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ giảm 49,18%; sản xuất kim loại giảm 1%. 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Sản xuất kinh doanh quý I năm 2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 31,65% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 21,59% đánh giá khó khăn hơn và 46,76% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi. Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 32,17% có chiều hướng thuận lợi; 43,48% có chiều hướng không thay đổi và 24,35% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 37,50% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 43,75% có chiều hướng không thay đổi và 18,75% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong doanh nghiệp nhà nước đánh giá 25,00% có chiều hướng thuận lợi; 62,50% có chiều hướng không thay đổi và 12,50% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I năm 2026, có 50,36% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 20,86% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 52,52% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 11,51% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 37,41% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 26,62% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 21,58% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 22,30% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 20,14% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 4,32% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 15,11% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 2,88% lý do khác. Dự kiến tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm 2026 so với quý I năm 2026: Có 84,17% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và tốt hơn (37,41% doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt hơn, 46,76% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định); 15,83% dự báo khó khăn hơn. 1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong Quý I năm 2026 thu hút được 05 dự án đầu tư, trong đó có 1 dự án nước ngoài và 04 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 178,6 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích 4,08 ha. Lũy kế đến nay, trong các KCN trên địa bàn tỉnh có 246 dự án (58 dự án FDI và 188 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 44.780,238 tỷ đồng và 514,788 triệu USD và diện tích đất đăng ký 731,2 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 54,18%. Hiện nay có 166 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện lũy kế đến nay: Doanh thu đạt 3.765 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 49 triệu USD; nộp ngân sách đạt 191 tỷ đồng. Trong Quý I năm 2026, có 5/14 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị khoảng 2,8/881,6 tỷ đồng đạt 0,32% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026, giảm 89,26% so với cùng kỳ (43,8 tỷ đồng). - KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,8ha/132,6 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%. - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 0,02/0,8 tỷ đồng đạt 1,22% kế hoạch năm 2026. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 15 dự án vốn đầu tư trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,7 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 0,20/22,8 tỷ đồng đạt 0,88% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,9 ha/276,9 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 1,00/205 tỷ đồng đạt 0,49% kế hoạch năm 2026. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,4 ha/202,3 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 0,10/59,1 tỷ đồng đạt 0,17% kế hoạch năm 2026. - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,1 ha/210,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 1,5/473 tỷ đồng đạt 0,32% kế hoạch năm 2026. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130,6 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,4 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Trong Quý I năm 2026, hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục giữ vai trò là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Việc đẩy mạnh triển khai các dự án đầu tư công, đặc biệt là các công trình hạ tầng giao thông liên vùng, cùng với sự phát triển của các dự án đô thị, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao đã góp phần duy trì đà tăng trưởng ổn định của ngành. Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I năm 2026 ước đạt 12.308 tỷ đồng, tăng 13,45% so cùng kỳ. Trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 56 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,45%), tăng 94,27% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 7.041,1 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 57,21%), tăng 16,2% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 93 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,76%), giảm 39,46% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 5.117,9 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 41,58%), tăng 11,1% so với cùng kỳ. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý I năm 2026 phân theo loại công trình: Nhà ở đạt 5.038,3 tỷ đồng, tăng 11,47% so với cùng kỳ; nhà không để ở đạt 2.588,1 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 3.122 tỷ đồng, tăng 14,91% so với cùng kỳ (tăng chủ yếu một số công trình giao thông trọng điểm); hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 1.559,7 tỷ đồng, tăng 14,33% so với cùng kỳ. Kết quả khảo sát xu hướng hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp xây dựng quý I năm 2026 so quý IV năm 2025 với 6,4% doanh nghiệp nhận định hoạt động thuận lợi hơn, 35,8% doanh nghiệp nhận định hoạt động ổn định và 57,8% doanh nghiệp nhận định hoạt động khó khăn hơn. Dự báo quý II năm 2026 so với quý I/2026, các doanh nghiệp xây dựng nhận định hoạt động SXKD tốt lên với 11,6% doanh nghiệp dự báo thuận lợi hơn; 39,3% nhận định ổn định và 49,1% dự báo khó khăn hơn. 3. Đầu tư phát triển Trong quý I năm 2026, cùng với việc tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tiếp tục có chuyển biến tích cực. Nhằm tạo thêm động lực cho tăng trưởng, tỉnh xác định 20 dự án trọng điểm trong năm 2026, với tổng vốn trên 88 nghìn tỷ đồng. Trong đó, có 10 dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, 02 dự án thực hiện theo phương thức đối tác công tư (PPP) và 08 dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách. Việc lựa chọn danh mục dự án được thực hiện trên cơ sở tính cấp thiết, khả năng triển khai, hiệu quả kinh tế - xã hội, thứ tự ưu tiên bố trí vốn và năng lực tổ chức thực hiện, qua đó tạo tiền đề quan trọng để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển của tỉnh. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 715,1 tỷ đồng, tăng 6,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 669 tỷ đồng, chiếm 93,35% và tăng 7,03% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 314,6 tỷ đồng, tăng 3,6% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 96,8 tỷ đồng, giảm 43,64% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 10,6 tỷ đồng, giảm 29,88% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 243 tỷ đồng, tăng 80,11% so với cùng kỳ; vốn khác 4 tỷ đồng, tăng 58,26% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 46,1 tỷ đồng, chiếm 6,45% và tăng 3,39% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.918,3 tỷ đồng, đạt 12,60% so với kế hoạch năm, tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.790,2 tỷ đồng, tăng 4,95% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 839,5 tỷ đồng, tăng 2,47% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 255,6 tỷ đồng, giảm 46,24% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 29,6 tỷ đồng, giảm 27,89% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 655 tỷ đồng, tăng 80,25% so với cùng kỳ; vốn khác 10,5 tỷ đồng, tăng 60,09% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 128,1 tỷ đồng, tăng 3,39% so với cùng kỳ. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn trong quý I năm 2026 ước đạt 22.007,4 tỷ đồng, tăng 11,27% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vốn nhà nước đạt 3.488,4 tỷ đồng, tăng 5,36%, chiếm 15,85% trong tổng nguồn vốn; vốn ngoài nhà nước đạt 17.745,9 tỷ đồng, tăng 12,85%, chiếm 80,64%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 773,1 tỷ đồng, tăng 4%, chiếm 3,51%. Tình hình phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư tiếp tục có chuyển biến tích cực. Tính đến ngày 18/3/2026, trong tháng toàn tỉnh có 400 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 43,88% so với tháng trước và tăng 51,52% so với cùng kỳ năm trước; 45 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; 60 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động; 70 doanh nghiệp giải thể. Tính chung quý I năm 2026, toàn tỉnh có 1.349 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 2,0 lần so với cùng kỳ; 433 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 16,71%; 889 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 7,2%; 263 doanh nghiệp giải thể, tăng 2,1 lần. Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 5.032 tỷ đồng, tăng 10,5%; bình quân mỗi tháng có gần 600 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Về thu hút đầu tư, từ đầu năm đến ngày 18/3/2026, toàn tỉnh có 10 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký 54.648 tỷ đồng; 12 dự án được chấp thuận điều chỉnh quy mô, tổng mức đầu tư, tiến độ thực hiện và một số nội dung liên quan. Tính đến ngày 18/3/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.938 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký khoảng 828.602 tỷ đồng; trong đó có 237 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 224.297 tỷ đồng. * Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm Trong quý I năm 2026, tỉnh tiếp tục tập trung triển khai các công trình, dự án trọng điểm trên các lĩnh vực giao thông, hàng không, thủy lợi, công nghiệp và hạ tầng đô thị, tạo nền tảng quan trọng cho liên kết vùng, thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng. Về giao thông, dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành có chiều dài 124,13 km, đi qua địa bàn 2 tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, được chia thành 5 dự án thành phần; trong đó khu vực Đắk Nông cũ phụ trách 2 dự án thành phần, gồm dự án đường gom và cầu vượt với sơ bộ mức đầu tư khoảng 338 tỷ đồng, và dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư với tổng mức đầu tư khoảng 662 tỷ đồng. Dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc dài khoảng 66 km, tổng mức đầu tư hơn 18.000 tỷ đồng theo hình thức PPP, BOT. Dự án cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương giai đoạn 1 dài 73,6 km, tổng mức đầu tư khoảng 17.718 tỷ đồng, được bố trí kế hoạch vốn năm 2026 là 3.110 tỷ đồng. Về hạ tầng hàng không và đường sắt, dự án nâng cấp Cảng hàng không Liên Khương có tổng vốn gần 5.000 tỷ đồng, đang được triển khai nhằm đưa Liên Khương trở thành cảng hàng không quốc tế. Dự án Cảng hàng không Phan Thiết có công suất thiết kế 2 triệu hành khách/năm, tổng mức đầu tư hạng mục dân dụng khoảng 3.800 tỷ đồng. Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh có chiều dài 156,5 km, đi qua 18 phường, xã, có 02 nhà ga, 04 trạm bảo dưỡng, diện tích giải phóng mặt bằng khoảng 1.046,4 ha, ảnh hưởng đến 2.441 hộ gia đình, 35 tổ chức và dự kiến bố trí tái định cư cho 991 hộ. Trong lĩnh vực thủy lợi, dự án hồ chứa nước KaZam có tổng mức đầu tư 495,5 tỷ đồng, lũy kế giải ngân đạt 407,16/495,50 tỷ đồng, bằng 82% tổng vốn; riêng năm 2025 giải ngân 60,89/149,28 tỷ đồng, đạt 41%. Hồ chứa nước Ka Pét có tổng mức đầu tư 874,09 tỷ đồng, đến nay đã giải ngân 48,92 tỷ đồng/267,52 tỷ đồng kế hoạch vốn năm. Dự án hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây, Đạ Sị có tổng mức đầu tư 565,35 tỷ đồng, phục vụ tưới cho khoảng 2.900 ha đất nông nghiệp, song đến nay chưa thể triển khai do chưa hoàn tất thủ tục nhiệm vụ - dự toán và đo đạc giải thửa phục vụ giải phóng mặt bằng. Dự án hồ Đắk Gang có tổng vốn đầu tư 1.082 tỷ đồng, dung tích hồ khoảng 15 triệu m³, cung cấp nước tưới cho khoảng 2.000 - 2.500 ha cây trồng. Trong lĩnh vực công nghiệp và đô thị, dự án Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông có tổng mức đầu tư trên 28.000 tỷ đồng, công suất thiết kế 450.000 tấn nhôm nguyên chất/năm, dự kiến vận hành phân kỳ đầu tiên trong quý III năm 2026. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1 có quy mô 1.070 ha, Khu công nghiệp Sơn Mỹ 2 giai đoạn 1 có quy mô 1.225 ha, định hướng phát triển các ngành năng lượng, vật liệu xây dựng, điện tử, chế tạo máy, công nghiệp công nghệ cao và logistics. Dự án cải thiện môi trường đô thị các thành phố loại II - Hợp phần tỉnh Đắk Nông cũ có tổng mức đầu tư 1.499 tỷ đồng, được bố trí kế hoạch vốn năm 2026 là 62,5 tỷ đồng. Nhìn chung, các công trình trọng điểm đang từng bước được triển khai, song một số dự án còn gặp khó khăn về thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, tái định cư và lựa chọn nhà đầu tư, cần tiếp tục tập trung tháo gỡ để đẩy nhanh tiến độ thực hiện. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Hoạt động thương mại trong quý I/2026 diễn ra sôi động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, chủng loại phong phú, cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu mua sắm của người dân và khách du lịch, nhất là trong các dịp lễ, tết và cuối tuần. Hoạt động du lịch tiếp tục khởi sắc; các cơ sở lưu trú, nhà hàng và dịch vụ lữ hành duy trì hoạt động ổn định, phục vụ tốt nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng. Cùng với đó, hoạt động vận tải, kho bãi được duy trì thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại của Nhân dân và vận chuyển hàng hóa trên địa bàn. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Trong tháng, thị trường trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định; hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường, sức mua của người dân tăng nhẹ so với tháng trước, chủ yếu tập trung vào các mặt hàng thiết yếu. Nguồn cung hàng hóa dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng, không xảy ra tình trạng khan hiếm hoặc biến động bất thường. Các dịch vụ ăn uống, lưu trú và dịch vụ liên quan tiếp tục duy trì ổn định, phục vụ tốt nhu cầu của người dân và du khách. Tính chung quý I năm 2026, thị trường hàng hóa và giá cả nhìn chung ổn định, lượng hàng hóa lưu thông tăng, hệ thống phân phối chủ động nguồn hàng và triển khai nhiều chương trình khuyến mãi, góp phần kích cầu tiêu dùng và nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại trên địa bàn. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 15.420,9 tỷ đồng, giảm 0,92% so với tháng trước và tăng 14,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: uớc tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 9.689,1 tỷ đồng, tăng 1,17% so với tháng trước và tăng 14,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 2.825 tỷ đồng, giảm 8,91% so với tháng trước và tăng 13,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.906,8 tỷ đồng, tăng 0,75% so với tháng trước và tăng 16,06% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 46.619 tỷ đồng, tăng 12,73% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 28.991,7 tỷ đồng, tăng 11,31% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 9.013,1 tỷ đồng, tăng 18,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 8.614,2 tỷ đồng, tăng 12,18% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong thời gian qua, tình trạng vi phạm trong hoạt động kinh doanh trên địa bàn vẫn còn xảy ra, chủ yếu tập trung ở các mặt hàng như thời trang, mỹ phẩm và thực phẩm. Các hành vi vi phạm phổ biến gồm kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ. Trước thực tế đó, lực lượng chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đặc biệt đối với một số sản phẩm có dấu hiệu vi phạm như thực phẩm chức năng mang nhãn hiệu “DOPPELHERZ” và thuốc Clorocid TW3. Đồng thời, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, nhất là trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán; chú trọng rà soát, xử lý các sản phẩm mỹ phẩm vi phạm, tăng cường quản lý trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng. Kết quả, từ ngày 05/02 đến 14/3/2026, lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm tra 299 vụ, phát hiện 290 vụ vi phạm và xử lý 287 vụ; hiện còn 03 vụ đang tiếp tục xử lý. Tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính đạt 2.488,63 triệu đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy ước tính 854,55 triệu đồng. Qua đó cho thấy công tác quản lý thị trường được triển khai quyết liệt, góp phần ổn định môi trường kinh doanh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. 2. Giá cả 2.1. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 giảm 0,39% so với tháng trước, tăng 0,01% so với tháng 12/2025 và so với cùng kỳ năm trước tăng 4,26%. Tính chung quý I năm 2026, CPI tăng 4,36% so với cùng kỳ năm trước. - Nguyên nhân tăng CPI bình quân quý I năm 2026: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,82% làm CPI chung tăng 1,15 điểm phần trăm, trong đó tăng do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo quý I/2026 tăng 1,50% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 6,78% làm CPI chung tăng 1,64 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng mạnh 10,72%; giá thịt gia cầm tăng 7,15%, so cùng kỳ tăng do thiếu hụt nguồn cung trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết; Chỉ số giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 5,75%, do giá lương thực thực phẩm đang mức tăng cao so cùng kỳ, giá gas, giá thuê mặt bằng và nhân công tăng; Chỉ số giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,79% do giá xi măng, cát, đá tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào và giá nhà thuê tăng, làm CPI chung tăng 0,86 điểm phần trăm; Chỉ số giá dầu hỏa tăng 12,33% do điều chỉnh giá dầu trong nước tăng theo biến động giá thế giới; Chỉ số giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng 3,59%; hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,46% và các thiết bị đồ dùng gia đình tăng 3,40%, do nhu cầu tiêu dùng cao trong dịp Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán sản phẩm; Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 1,52% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó giá tăng chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu tăng 0,58%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước; giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 16,57% do giá xăng dầu đang mức tăng cao nên các công ty vận tải hành khách tăng giá vé so cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 7,17%, làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Nguyên nhân giảm CPI bình quân quý I năm 2026: Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,21%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian. Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, bình quân quý I/2026 giá gas giảm 5,55% so với cùng kỳ năm trước. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất Trong Quý I năm 2026, giá nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu phục vụ sản xuất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có xu hướng tăng nhẹ, phù hợp với diễn biến chung của cả nước trong bối cảnh mặt bằng giá đầu vào vẫn duy trì ở mức cao. Sự gia tăng này chịu tác động từ nhiều yếu tố như biến động giá năng lượng, chi phí vận chuyển và nhu cầu sản xuất, đầu tư phục hồi. Biến động giá đầu vào đã ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, làm tăng giá thành sản phẩm và tạo áp lực nhất định lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tính chung trong quý, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 6,72% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh áp lực chi phí vẫn còn hiện hữu. Xét theo nhóm hàng, cả 7 nhóm sản phẩm chính đều ghi nhận mức tăng giá so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 18,34%, nhóm nông, lâm, thủy sản tăng 6,73%, dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,84%, điện, khí đốt và điều hòa không khí tăng 4,79%, nguyên vật liệu khác tăng 4,5%, sản phẩm xây dựng tăng 3,87% và nước tự nhiên khai thác tăng 0,9%. Diễn biến này cho thấy áp lực chi phí đầu vào lan tỏa trên nhiều lĩnh vực sản xuất, không chỉ tập trung ở một số ngành riêng lẻ. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý I năm 2026 tăng 1,93% so với quý trước và tăng 5,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 5,06% so với quý trước, tăng 17,44% so cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,52% so với quý trước, tăng 4,87% so cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,2% so với quý trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước (nguyên nhân chủ yếu là do các nhà máy thủy điện áp dụng giá điện mùa khô, cùng với sản lượng phát điện vượt giá hợp đồng tại một số nhà máy, kéo theo chỉ số giá nhóm thủy điện tăng. Đồng thời, chi phí đầu vào như than, dầu, điện và chi phí bảo trì ở mức cao cũng làm tăng giá nhiệt điện và các dịch vụ liên quan); chỉ số giá sản phẩm nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,32% so với quý trước, tăng 0,78% so cùng kỳ năm trước, giá nhiên liệu và chi phí vận hành tăng nên một số công ty điều chỉnh tăng giá dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu phù hợp với tình hình thực tế.. Nhìn chung, diễn biến giá trong quý cho thấy áp lực chi phí sản xuất vẫn còn, đòi hỏi các doanh nghiệp cần chủ động thích ứng, tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động trong bối cảnh giá đầu vào còn nhiều biến động. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều sự kiện văn hóa, thể thao phục vụ Nhân dân và du khách, như: Giải xe đạp nữ quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh - Cúp BIWASE, Giải Việt Nam Festival 3 môn thể thao địa hình lần thứ 4, Lễ hội các môn thể thao địa hình phối hợp Di Linh năm 2026 “Di Linh Outdoor Festival 2026”, Giải chạy địa hình Dalat Ultra Trail 2026... Các cơ sở kinh doanh ăn uống, vui chơi giải trí duy trì hoạt động ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của người dân và du khách. Tính chung quý I năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, lượng khách đến địa phương trong các dịp lễ, tết tăng khá. Địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động đón và quảng bá hình ảnh du lịch, như chào đón những du khách đầu tiên đến bằng đường hàng không trong dịp năm mới, tặng quà đặc sản địa phương tại sân bay Liên Khương,…; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch Lâm Đồng thân thiện, hấp dẫn. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.865,1 ngàn lượt, giảm 9% so tháng trước và tăng 22,23% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 65,5 ngàn lượt, giảm 11% so với tháng trước và tăng 18,87% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.536 ngàn ngày khách, giảm 8,99% so với tháng trước và tăng 23,76% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 160 ngàn lượt khách, giảm 5,21% so với tháng trước và tăng 18,57% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 517,5 ngàn ngày khách, giảm 6,39% so với tháng trước và tăng 22,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 5.910,4 ngàn lượt, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 217,8 ngàn lượt, tăng 18,51% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 11.231,4 ngàn ngày khách, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế quý I năm 2026 đạt 508,3 ngàn lượt, tăng 23,49% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 1.615,6 ngàn ngày khách, tăng 26,1% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 570,2 tỷ đồng, giảm 8,32% so với tháng trước và tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.209,3 tỷ đồng, giảm 9,05% so với tháng trước và tăng 12,39% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 45,4 tỷ đồng, giảm 9,38% so với tháng trước và tăng 26,82% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.886,8 tỷ đồng, tăng 20,77% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 6.980,5 tỷ đồng, tăng 17,25% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 145,8 tỷ đồng, tăng 29,6% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.083,3 tỷ đồng, giảm 7,3% so với tháng trước và tăng 26,86% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 16.070,4 tỷ đồng, tăng 24,84% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.906,8 tỷ đồng, tăng 0,75% so với tháng trước và tăng 16,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 717,7 tỷ đồng, tăng 2,34% so với tháng trước và tăng 17,57% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 169,4 tỷ đồng, tăng 0,29% so với tháng trước và tăng 16,68% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 140,1 tỷ đồng, tăng 0,01% so với tháng trước và tăng 22% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 242,7 tỷ đồng, tăng 1,10% so với tháng trước và tăng 19,97% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.332,9 tỷ đồng, tăng 0,02% so với tháng trước và tăng 14,59% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 304 tỷ đồng, tăng 0,61% so với tháng trước và tăng 13,12% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 8.614,2 tỷ đồng, tăng 12,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.171,1 tỷ đồng, tăng 9,45% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 506,1 tỷ đồng, tăng 13,97% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 430,3 tỷ đồng, tăng 15,83% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 720,3 tỷ đồng, tăng 16,03% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 3.902,5 tỷ đồng, tăng 13,33% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác đạt 883,9 tỷ đồng, tăng 8,36% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông ước đạt 179 tỷ đồng, tăng 0,94% so với quý trước và tăng 10,44% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 635,3 tỷ đồng, tăng 0,26% so với quý trước và tăng 14,26% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong Quý I năm 2026, hoạt động vận tải và kho bãi trên địa bàn tỉnh duy trì mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên có sự giảm nhẹ vào thời điểm sau Tết Nguyên đán. Nguyên nhân chủ yếu do lượng khách du lịch giảm sau kỳ nghỉ lễ, kéo theo nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa phục vụ du lịch không còn sôi động như giai đoạn trước Tết. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.833,8 nghìn HK, giảm 3,19% so với tháng trước và tăng 22,13% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 409.716,4 nghìn HK.Km, giảm 2,74% so với tháng trước và tăng 23,28% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 8.516,6 nghìn HK, tăng 20,74% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.228.677,7 nghìn HK.Km, tăng 21,62% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.057,3 nghìn tấn, giảm 3,59% so với tháng trước và tăng 20,92% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 303.193,3 nghìn tấn.Km, giảm 3,30% so với tháng trước và tăng 21,67% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 6.185,0 nghìn tấn, tăng 18,62% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 910.160,3 nghìn tấn.Km, tăng 19,17% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.184,1 tỷ đồng, giảm 1,53% so với tháng trước và tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 ước đạt 3.488,7 tỷ đồng, tăng 21,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.189,8 tỷ đồng, tăng 26,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.706,5 tỷ đồng, tăng 23,25% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 455,2 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 137,2 tỷ đồng, tăng 3,86% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Quý I năm 2026 ước đạt 585 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 509,4 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 75,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.906 tỷ đồng, tăng 33,74% so với tháng trước và tăng 7,96% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 ước đạt 11.070,7 tỷ đồng, bằng 32,15% kế hoạch năm và tăng 26,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 10.518,3 tỷ đồng, bằng 30,82% kế hoạch năm và tăng 24,45%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 552,3 tỷ đồng, bằng 31,38% kế hoạch năm và tăng 73,24% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa quý I năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 1.689 tỷ đồng (bằng 44,41% kế hoạch năm và tăng 30,49% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 784 tỷ đồng (bằng 56,80% kế hoạch năm và tăng 62,39%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 2.851 tỷ đồng (bằng 42,63% kế hoạch năm và tăng 63,30%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 905 tỷ đồng (bằng 33,16% kế hoạch năm và tăng 10,04%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 1.017 tỷ đồng (bằng 13,79% kế hoạch năm và tăng 2,02%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 2.183 tỷ đồng (bằng 37,64% kế hoạch năm và tăng 7,70%). 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh quý I năm 2026 ước thực hiện 13.233 tỷ đồng (bằng 29,75% kế hoạch, tăng 15,75% so với cùng kỳ), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 6.213 tỷ đồng, tăng 37,75% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 7.020 tỷ đồng, tăng 1,42% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: đến 28/02/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 233.566 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 4.291 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,87%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 230.499 tỷ đồng (chiếm 98,69% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 3.067 tỷ đồng, (chiếm 1,31% tổng huy động vốn). Ước 31/3/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 236.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 6.725 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,0%. Hoạt động tín dụng: đến 28/02/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 371.093 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 110 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,03%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 368.832 tỷ đồng (chiếm 99,39% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.261 tỷ đồng (chiếm 0,61% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 263.534 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 107.559 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/3/2026, dư nợ cho vay đạt 374.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,0%. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng bình quân trong tỉnh ở mức 0,16% - 0,32%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; ở mức 3,41% - 4,69%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; ở mức 5,69% - 7,12%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; ở mức 5,9% - 6,23%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh NHTM ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Đối với lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay bằng VND bình quân vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn 7,84%/năm, trung dài hạn 9,40%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,02% - 4,15%/năm. Dư nợ cho vay các lĩnh vực: đến 28/02/2026, dư nợ cho vay ngành dịch vụ, du lịch, thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 186.999 tỷ đồng, chiếm 50,39% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32727 tỷ đồng, chiếm 8,82% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm thủy sản đạt 151367 tỷ đồng, chiếm 40,79% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.862 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,80% trong tổng dư nợ tín dụng. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thiết kế, in ấn và thi công các biểu tượng trang trí, pano, băng rôn, hình ảnh, cờ hồng,... phục vụ công tác tuyên truyền bầu cử Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, phát động Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng, Cuộc thi thiết kế cổng chào bằng hoa tươi tại chân đèo Prenn và tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị của địa phương, góp phần lan tỏa giá trị văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần của người dân. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tập trung tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương: Tổ chức 10 buổi biểu diễn văn nghệ phục vụ cơ sở tuyên truyền chào mừng Đại hội đại biểu Đảng các cấp tại một số xã trên địa bàn tỉnh; thực hiện 49 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị và phát sinh (trong đó biểu diễn phục vụ cơ sở là 38 buổi); thực hiện 202 buổi chiếu phim lưu động thu hút trên 50.000 lượt người xem và duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né). Ngoài ra trong quý I năm 2026, tỉnh đã tổ chức thành công các hoạt động mừng Đảng - mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026; chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhiệm kỳ 2025 - 2030; chương trình nghệ thuật phục vụ gặp mặt kiều bào; chương trình văn nghệ mừng Đảng - mừng xuân Bính Ngọ 2026 tại 03 khu vực; biểu diễn chương trình nghệ thuật phục vụ Nhân dân và du khách từ mùng 01 Tết đến mùng 03 Tết; chiếu phim, chương trình văn nghệ chủ đề “Mùa Xuân Hy Vọng” phục vụ cán bộ, chiến sĩ và phạm nhân tại Trại giam Đại Bình nhân dịp Xuân Bính Ngọ năm 2026; tổ chức Hội Tết Bính Ngọ; Hội Báo xuân Bính Ngọ (trưng bày sách, báo tạp chí, ấn phẩm xuân với 3.605 bản sách; xếp 11 mô hình sách nghệ thuật…); triển lãm chào mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 với chủ đề “Sắc xuân đại ngàn”; “Sắc xuân Đà Lạt”; “Cổ vật và sắc xuân”; “Lâm Đồng vào xuân”; “Vùng đất và con người Lâm Đồng” và các hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026),… phục vụ người dân và du khách. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 75.286 lượt khách, trong đó có 8.923 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 22.066 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 13.362 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 3.273 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 35.020 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 1.565 lượt khách). Tổ chức sưu tầm 55 hiện vật, hình ảnh, tư liệu; xây dựng hồ sơ hiện vật Linga - Yoni và Linga thạch anh để UBND tỉnh trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, đề nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 324 đoàn với 12.859 lượt khách, trong đó có 131 khách nước ngoài. Phục vụ 28 lễ viếng, 01 kết nạp Đoàn và 02 sinh hoạt chuyên đề. Trưng bày triển lãm 130 ảnh chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh với những chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng với tên gọi “Dục Thanh nhớ Bác”; trưng bày ảnh nghệ thuật, ảnh tư liệu “Sắc xuân Lâm Đồng” và “Xuân về dưới mái Trường Dục Thanh” tại khu di tích Dục Thanh; tiếp nhận 02 tượng đồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hưng đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn; phối hợp với Báo và Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng thực hiện phóng sự “Triển lãm ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích Dục Thanh”, Báo Lâm Đồng điện tử thực hiện phóng sự “Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận - Lâm Đồng” thu hút hơn 134.000 lượt khách hưởng thụ văn hóa. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 4.664 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Sưu tầm được 04 hiện vật là ảnh tư liệu liên quan hoạt động cách mạng của cán bộ, chiến sĩ cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 435 thẻ (128 thẻ thiếu nhi); phục vụ 615.905 lượt bạn đọc; luân chuyển 82.004 lượt tài liệu; bổ sung 2.091 cuốn sách; đăng tải 339 bài viết về hoạt động Thư viện trên Fanpage; giới thiệu 364 đầu sách trên mạng xã hội; giới thiệu 10 video clip; cập nhật 420 tin bài lên trang website của Thư viện và sưu tầm 243 tin bài về Lâm Đồng. 1.2. Hoạt động thể thao Tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” với phương châm đưa thể dục thể thao về cơ sở nhằm duy trì và phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng. - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Lễ phát động Tháng hoạt động TDTT cho mọi người và Ngày chạy Olympic vì sức khoẻ toàn dân năm 2026; Giải chạy bộ “Vietnam Highlands Trail - Lâm Đồng”; Giải chạy Chinh phục thử thách lần thứ 3 “Prenn Trail Summit”; Giải đua thuyền truyền thống Phan Thiết mở rộng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; Giải Võ thuật Cổ truyền tỉnh Lâm Đồng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; môn Việt dã - Leo núi Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026 - Giải Leo núi Tà Cú tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; Giải Pickleball tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; lễ hội các môn thể thao địa hình phối hợp Di Linh năm 2026 “DI LINH OUT DOOR FESTIVAL 2026”; Giải Việt Nam FesTrival 3 môn phối hợp Lâm Đồng năm 2026; Giải Siêu Marathon Đà Lạt ULtra Trail 2026. - Thể thao thành tích cao: Đã ban hành Quyết định cử đoàn vận động viên tham gia 07 giải thể thao quốc gia theo kế hoạch. Thành tích đạt được tính đến thời điểm báo cáo (12/3/2026) là 22 huy chương (05 HCV, 05 HCB, 12 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2025-2026. Công tác chuyên môn, nghiệp vụ được triển khai toàn diện ở tất cả các cấp học; chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục. Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 1.593 cơ sở giáo dục với 24.494 lớp và 818.588 học sinh, gồm: 526 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó: 400 công lập và 126 ngoài công lập) với 5.707 lớp và 151.943 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó: 558 công lập và 06 ngoài công lập) với 10.210 lớp và 321.257 học sinh; 365 trường trung học cơ sở (trong đó: 363 công lập và 02 ngoài công lập) với 6.016 lớp và 240.603 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (trong đó: 114 công lập và 08 ngoài công lập; trong tổng số có 02 trường phổ thông dân tộc nội trú, 09 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông, 11 trường trung học cơ sở - trung học phổ thông và 100 trường trung học phổ thông) với 2.561 lớp và 104.785 học sinh; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó: 02 công lập và 01 ngoài công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ - Tin học; 11 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập với 7.529 học viên. Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên toàn tỉnh là 50.702 người. Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Toàn tỉnh có 78 cơ sở GDNN, gồm: 06 trường cao đẳng (trong đó: 04 trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý, 02 trường thuộc bộ, ngành quản lý); 05 trường trung cấp (trong đó: 01 trường trung cấp công lập và 04 trường trung cấp tư thục); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập, 16 tư thục); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. Kết quả kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026: Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hàng năm nhằm phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, nâng cao chất lượng dạy và học. Kết quả, toàn tỉnh giành 104 giải, gồm: 01 giải nhất, 11 giải nhì, 29 giải ba và 63 giải khuyến khích. 3. Y tế Trong tháng tập trung công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý ngay khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 199 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 250 ca so với tháng trước và giảm 48 ca so với cùng kỳ năm trước; không có trường hợp tử vong. Quý I năm 2026, toàn tỉnh có 1.274 ca mắc. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 19 ổ dịch, quý I đã phát hiện xử lý 66 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 01 ca mắc; quý I năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 225 ca mắc, giảm 111 ca so với tháng trước và tăng 197 ca so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, toàn tỉnh ước có 878 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 14 ca mắc, tăng 07 ca so với tháng trước và giảm 756 ca so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, toàn tỉnh ước có 27 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, đã tiêm chủng đầy đủ cho 2.128 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 2.796 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 2.194 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 2.262 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 2.104 trẻ, mũi 2 cho 1.808 trẻ và mũi 3 cho 2.109 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 1.999 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 441 bệnh nhân, đang điều trị 01 bệnh nhân; đang giám sát 11 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 434 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 4 người.- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 122 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 3 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03 BN/100.000 dân; BN lao kháng thuốc trong tháng là 06 người.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 04 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 01 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.799 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.784 người, tử vong 1.569 người.- Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 318.612 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 29.747 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 154.801 ngày, xét nghiệm cho 400.330 tiêu bản, chẩn đoán 90.484 hình ảnh và phẫu thuật 3.636 trường hợp. Quý I năm 2026 ước khám bệnh cho 1.205.709 lượt người; 95.777 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 577.418 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,2 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 68%; ước xét nghiệm cho 1.683.550 tiêu bản; chẩn đoán 339.649 hình ảnh và phẫu thuật cho 12.295 trường hợp.- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 3.638 cơ sở, kết quả có 31 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 209,15 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và các ngày lễ, sự kiện chính trị quan trọng. Công tác thông tin, tuyên truyền về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được triển khai kịp thời trên báo chí và hệ thống thông tin cơ sở. Kịp thời cung cấp, theo dõi và tổng hợp thông tin báo chí, dư luận xã hội về tỉnh Lâm Đồng; thực hiện điểm báo, báo cáo định kỳ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh.- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách mới, sự kiện quan trọng và quảng bá hình ảnh tỉnh Lâm Đồng được tăng cường với nhiều hình thức; đã xây dựng Kế hoạch thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 04 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được cải thiện, các chương trình mục tiêu quốc gia, các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh đã quan tâm, tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ gạo,... cho hộ nghèo, gia đình chính sách và người có uy tín với số tiền hơn 300 tỷ đồng, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao trong vùng đồng bào DTTS phát triển sâu rộng, phong phú với các lễ hội truyền thống như: Lễ hội Lồng tồng, Lễ hội mừng lúa mới (tết đầu lúa), giữ gìn văn hóa cồng chiêng, duy trì tổ chức các trò chơi truyền thống; qua đó góp phần tạo không khí vui tươi, nâng cao tinh thần đoàn kết và duy trì bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS. Trong dịp Tết Bính Ngọ 2026, một số xã vùng DTTS và biên giới như Nâm Nung, Đắk Mil, Quảng Trực, Quảng Hòa, Đạ Tẻh, Cát Tiên 3, Đam Rông 4,... tổ chức bắn pháo hoa tầm thấp vào thời khắc giao thừa và các chương trình văn nghệ “Mừng Đảng - Mừng Xuân”, thu hút đông đảo người dân tham gia, hưởng thụ. - Mạng lưới trường lớp vùng đồng bào DTTS ngày càng hoàn thiện. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú duy trì sĩ số học sinh ổn định. Các chính sách miễn, giảm học phí; hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở nội trú, bán trú,… được thực hiện theo đúng chế độ quy định. Việc dạy tiếng Chăm, Ê đê, M’nông, K’ho trong nhà trường tiếp tục được triển khai, qua đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. - Hệ thống Y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Tiếp tục thực hiện chủ trương nâng cao tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ, hướng tới mục tiêu giúp đồng bào DTTS tiếp cận dịch vụ y tế hiện đại và chăm sóc sức khỏe toàn diện; công tác đào tạo nhân lực y tế là người DTTS được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng công tác y tế vùng đồng bào DTTS. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, hệ thống y tế cơ sở tại 100% các xã vùng DTTS đảm bảo trực và chăm sóc sức khỏe người dân. - Công tác phục vụ người dân vùng đồng bào DTTS trong dịp Tết Đầu lúa và Tết Nguyên đán 2026 được quan tâm triển khai, đã dự trữ đầy đủ các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu và hoàn thành việc cung ứng hàng hóa xuống hệ thống các cửa hàng, đại lý trực thuộc trước Tết Đầu lúa và Tết Nguyên đán, bảo đảm nguồn cung ổn định, kịp thời phục vụ nhu cầu mua sắm của ngưởi dân. Tại các điểm bán hàng, giá cả được niêm yết công khai, hàng hóa bảo đảm rõ nguồn gốc, xuất xứ; các mặt hàng tham gia chương trình bình ổn giá được thông báo công khai, góp phần ổn định thị trường, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh tổ chức Đại giới đàn Chơn Thành tại Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Thiện, xã Tân Lập; tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác phật sự năm 2025; đăng ký bổ nhiệm Trụ trì 08 cơ sở Phật giáo; đề nghị thành lập 12 Ban Quản trị các cơ sở tự viện trong tỉnh; Thiền viện Linh Ẩn, xã Nam Ban - Lâm Hà tổ chức lễ Cầu quốc thái dân an thu hút khoảng 1.000 tăng ni, phật tử (trong đó có 04 tu sỹ người Nepal, Ấn Độ) tham dự. Cộng đoàn Don Bosco Đà Lạt tổ chức Hội chợ mừng năm mới 2026 cho hơn 1.700 em thiếu nhi thuộc các Giáo hạt: Đà Lạt, Đơn Dương và Đức Trọng tham dự; Giám mục Giáo phận Đà Lạt chủ trì Thánh lễ tạ ơn, khánh thành Quần thể mục vụ Giáo xứ Ka La, xã Bảo Thuận với khoảng 3.000 linh mục, tu sĩ, giáo dân tham dự; Giáo xứ Chính Toà, phường Xuân Hương - Đà Lạt tổ chức Thánh lễ Tạ ơn Tất Niên năm 2025, họp mặt mừng Xuân Bính Ngọ 2026 và phát 280 phần quà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn; Nữ Đan viện Xitô Thánh Mẫu Phước Hải tổ chức Thánh lễ Tạ ơn Thiết lập Nữ Đan viện Xitô Thánh Mẫu Phước Thanh, xã Bảo Lâm 1 với khoảng 500 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân tham dự. Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh tổ chức lễ công bố quyết định thành lập Chi hội và bổ nhiệm quản nhiệm Chi hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam) Hang Hớt, xã Nam Ban Lâm Hà với khoảng 1.000 người là chức sắc, tín đồ tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Công tác chăm lo Tết và thực hiện chính sách an sinh xã hội cho các đối tượng là người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí và đối tượng yếu thế được quan tâm thực hiện. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã chi 114.302,982 triệu đồng thăm hỏi, động viên người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng; 37.449,6 triệu đồng hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn và 1.220 triệu đồng hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội. Trong quý I năm 2026, đã giải quyết 501 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chi trả trợ cấp hằng tháng cho đối tượng người có công với cách mạng 13.802 người với tổng kinh phí 134.183.118.738 đồng. Giải quyết chế độ mai táng phí cho 212 hồ sơ. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 28/02/2026, toàn tỉnh có 292.335 người tham gia BHXH, giảm 0,95% so với tháng trước; có 224.773 người tham gia BHTN, tăng 1,36%; số người tham gia BHYT là 2.848.381 người, tăng 2,06% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 84,08% dân số. Trong 2 tháng đầu năm 2026, đã giải quyết mới 5.853 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 934 người (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 91 người; trợ cấp 1 lần cho 1.395 người; chế độ ốm đau cho 3.328 người; chế độ thai sản cho 814 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 225 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 933 người và hỗ trợ học nghề cho 01 người). Lũy kế đến ngày 28/02/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 16.857 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 2.204 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 287 người; trợ cấp 1 lần cho 3.032 người; chế độ ốm đau cho 8.722 người; chế độ thai sản cho 2.073 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 539 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.125 người và hỗ trợ học nghề cho 79 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/02/2026 - 14/3/2026) Trong tháng xảy ra 46 vụ tai nạn giao thông, giảm 42 vụ so với tháng trước và giảm 12 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 38 người, giảm 07 người so với tháng trước và tăng 08 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 22 người, giảm 45 người so với tháng trước và giảm 24 người so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 196 vụ (trong đó có 2 vụ đường sắt), giảm 24 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 117 người, tăng 20 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 134 người, giảm 38 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 26/02 đến ngày 28/3/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ mưa lốc, giông tại xã Đạ Tẻh 2 làm 01 căn nhà tốc mái. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 02 vụ thiên tai, làm sạt lở 375 m chiều dài bờ biển tại xã Tân Thành và 01 căn nhà bị tốc mái; chưa thống kê giá trị thiệt hại. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 15/02 đến ngày 15/3/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 05 vụ cháy (tăng 02 vụ so với tháng trước và tăng 02 vụ so với cùng kỳ năm trước), làm bị thương 02 người, ước thiệt hại 988 triệu đồng. Quý I năm 2026 (tính đến 15/3/2026), toàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy (tăng 08 vụ so với cùng kỳ năm trước), làm bị thương 02 người; ước tổng giá trị thiệt hại 1.028 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 02 vụ, giảm 7 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 350 triệu đồng. * Đánh giá chung Trong tháng 3 và quý I năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng nhìn chung tiếp tục duy trì xu hướng ổn định và tăng trưởng khá trong bối cảnh tình hình thế giới còn nhiều yếu tố biến động, giá cả một số yếu tố đầu vào sản xuất ở mức cao, tác động nhất định đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trên địa bàn tỉnh, nhiều ngành, lĩnh vực chủ yếu tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. GRDP quý I ước tăng 7,47% so với cùng kỳ năm trước; cả ba khu vực kinh tế đều duy trì đà tăng, trong đó khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực tăng trưởng nổi bật. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò nền tảng ổn định của nền kinh tế. Sản xuất nông nghiệp được triển khai đúng thời vụ, tổng diện tích gieo trồng vụ Đông xuân đạt 108.931 ha, tăng 3,14% so với cùng kỳ; chăn nuôi và thủy sản duy trì phát triển ổn định; sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tiếp tục được mở rộng với 107.456 ha. Khu vực công nghiệp, xây dựng và đầu tư tiếp tục duy trì xu hướng tăng khá. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I tăng 8,20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao. Vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn ước tăng 11,27%, cho thấy hoạt động đầu tư, xây dựng và mở rộng năng lực sản xuất tiếp tục được duy trì. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch tăng khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 12,73%, lượng khách du lịch tăng 20,30% so với cùng kỳ, hoạt động vận tải đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa, cho thấy sức mua, nhu cầu tiêu dùng và các hoạt động lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí phục hồi tích cực. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 26,22%. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện; công tác y tế, giáo dục, an sinh xã hội, chăm lo người có công, hộ nghèo và các đối tượng yếu thế được triển khai tương đối đầy đủ, kịp thời. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, một số khó khăn, hạn chế vẫn còn cần lưu ý. Chi phí đầu vào sản xuất còn ở mức cao, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và người sản xuất; mặc dù CPI tháng 3/2026 giảm 0,39% so với tháng trước, nhưng nhóm giao thông tăng 12,51%; trong đó giá nhiên liệu tăng 29,49%, giá xăng tăng 31,06%, giá dầu diezen tăng 57,71% và giá dầu hỏa tăng 63,25% gây áp lực chi phí vận tải, logistics, ảnh hưởng đến sản xuất và lưu thông hàng hóa. Dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi tuy cơ bản được kiểm soát nhưng vẫn còn phát sinh cục bộ; tăng trưởng công nghiệp chưa thật sự đồng đều giữa các ngành; công tác quản lý, bảo vệ rừng vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ vi phạm. Đây là những yếu tố cần tiếp tục theo dõi sát và có giải pháp phù hợp nhằm củng cố tính ổn định, bền vững của tăng trưởng trong thời gian tới.TKT Lâm Đồng

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và 02 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   03/03/2026 13:19

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng và hai tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì phát triển ổn định. Các địa phương trên địa bàn tỉnh tích cực xuống giống từ những tháng đầu năm, chủ yếu là lúa, rau màu, cây ngắn ngày, đảm bảo đúng tiến độ thời vụ. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát hiệu quả, không có dịch bệnh nghiêm trọng xảy ra. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào khâu chăm sóc rừng, ươm cây giống. Khai thác thuỷ sản giữ ổn định. Hầu hết các sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng, giá bán giữ ổn định trong dịp Tết Nguyên đán 2026. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Vụ Đông xuân năm 2026 được triển khai đúng lịch thời vụ; diện tích gieo trồng tăng so với vụ Đông xuân năm trước. Cơ cấu cây trồng tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng diện tích cây có giá trị kinh tế cao như rau, hoa. Tiến độ gieo trồng vụ Đông xuân năm 2026 (tính đến ngày 15/02/2026), tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 100.942,7 ha, tăng 2,94% so với vụ Đông xuân năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 52.524,7 ha, tăng 2,39% so với cùng kỳ năm trước; cây ngô, diện tích ước đạt 5.607 ha, tăng 2,67%; rau các loại, diện tích ước đạt 31.280,8 ha, tăng 3,81%; hoa các loại, diện tích ước đạt 4.362,7 ha, tăng 3,47%; đậu các loại, diện tích ước đạt 1.749,1 ha, tăng 3,55%; cây hàng năm còn lại, diện tích ước đạt 2.711 ha, tăng 3,53%. Diện tích rau, hoa tăng chủ yếu do nông dân tập trung xuống giống phục vụ nhu cầu Tết Nguyên đán của người dân. Các loại rau phục vụ Tết tập trung vào các nhóm rau truyền thống như: Rau ăn lá, rau ăn củ, rau ăn quả, đồng thời mở rộng các dòng rau cao cấp có giá trị kinh tế cao; nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi trong giai đoạn gần Tết, sản xuất rau sinh trưởng ổn định, bảo đảm sản lượng và chất lượng phục vụ kịp thời thị trường Tết.1.2. Cây lâu nămTrong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm; thị trường tiêu thụ, giá bán một số loại cây chủ lực của tỉnh nhìn chung có lợi cho người sản xuất. Cụ thể một số loại cây chính như sau:- Cây chè: Diện tích hiện có 9.310 ha, giảm 1,22% so với cùng kỳ năm trước; diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...;- Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.745 ha, tăng 1,06% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tưới, tỉa cành, làm cỏ,...;- Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.230 ha, tăng 4,10% so với cùng kỳ năm trước. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích;- Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.239 ha, tăng 4,23% so với cùng kỳ năm trước; nhờ hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác nên người dân đang tích cực đầu tư, tăng năng suất. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhất là nhu cầu từ Trung Quốc, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh;- Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.850 ha, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích giảm so với cùng kỳ do một số vùng bị thiệt hại do lũ vừa qua và một số vườn thanh long già cỗi, người trồng thanh long không tiếp tục đầu tư và chuyển sang canh tác các loại cây trồng khác;- Cây cao su: Diện tích hiện có 75.340 ha, tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Trong những tháng đầu năm 2026, tỉnh đã triển khai đồng bộ, bảo đảm nguồn nước phục vụ kịp thời nhu cầu sản xuất nông nghiệp và dân sinh. Các địa phương chủ động kiểm tra, duy tu, nạo vét hệ thống kênh mương, hồ đập; xây dựng kế hoạch điều tiết nước hợp lý, đáp ứng yêu cầu tưới tiêu cho sản xuất vụ Đông xuân năm 2026. Công tác phòng, chống hạn hán, thiếu nước được tăng cường thông qua việc theo dõi sát diễn biến thời tiết, tích trữ nguồn nước và áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm. Đồng thời, việc kiểm tra an toàn công trình thủy lợi, đặc biệt là các hồ chứa và đập dâng, được thực hiện thường xuyên nhằm hạn chế rủi ro, bảo đảm an toàn sản xuất và đời sống nhân dân. Nhìn chung, hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định tình hình nông nghiệp trong những tháng đầu năm. Tổng dung tích tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh khoảng 676,4 triệu m3, đạt trung bình khoảng 78,7% so với dung tích thiết kế. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 267 ha; Bệnh đạo ôn lá gây hại 208 ha; chuột gây hại 160 ha; rầy nâu gây hại 69 ha; - Cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus gây hại rải rác ở tất cả các vùng trồng cà chua với diện tích gây hại 64 ha; sâu đục lá cà chua Nam Mỹ gây hại 1,5 ha tại xã Hiệp Thạnh; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 320,4 ha tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.164,3 ha tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, Đắk Song, Thuận An, Đắk Mil, Đắk Sắk, Đức An, Thuận Hạnh, Đức Lập, phường Đông Gia Nghĩa, phường Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại chủ yếu ở xã Bảo Lâm và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác với diện tích nhiễm bệnh 1.660 ha; Bọ xít muỗi gây hại 2.006,2 ha cà phê chè tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.019,7 ha và bệnh thán thư gây hại 2.828 ha tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1, Đam Rông 2, Đam Rông 3, Đam Rông 4, Tánh Linh, Suối Kiết, Tân Minh, Nam Thành; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha, bệnh thối rễ tóp cành gây hại 287 ha, ốc sên gây hại 321 ha tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Tân Thành, Tiến Thành, Tân Lập, Tân Hải, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Liên Hương.1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ caoĐến nay, toàn tỉnh có 107.306 ha diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao; có 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa); diện tích ứng dụng nông nghiệp thông minh đạt khoảng 1.200 ha; có 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật được công nhận (Công ty TNHH Dalat Hasfarm; Công ty TNHH Hoa Mặt Trời; Công ty TNHH Trang trại Langbiang; Công ty TNHH SX-TM-NS Phong Thúy; Công ty TNHH Quang Nguyên Đà Lạt; Công ty CP cây giống Cao Nguyên; Công ty CP INNO GENETICS).  2. Chăn nuôiTrong tháng, tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi; công tác kiểm dịch, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện tốt nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với cùng kỳ. Nguồn cung thịt hơi, trứng và các sản phẩm chăn nuôi cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trong dịp Tết Nguyên đán, đồng thời bảo đảm cung ứng ra thị trường ngoài tỉnh, góp phần bình ổn giá cả và giữ vững ổn định thị trường. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính tháng 02/2026 đạt 28.950 tấn, tăng 7,54% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 58.229,6 tấn, tăng 8,39%.- Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27 nghìn con trâu, tăng 0,75% so với cùng kỳ; mặc dù tổng đàn trâu có xu hướng tăng nhẹ nhưng việc phát triển chăn nuôi trâu vẫn gặp nhiều khó khăn do hiệu quả kinh tế chưa cao. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,2 nghìn con bò, tăng 1,82% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 28,9 nghìn con, tăng 1,58%); quy mô đàn bò được duy trì và phát triển nhờ thị trường tiêu thụ tương đối ổn định, giá cả cơ bản thuận lợi; các cơ sở chăn nuôi chú trọng tái đàn có kiểm soát, cải thiện chất lượng con giống và đẩy mạnh áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.540 nghìn con, tăng 4,05% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.228 nghìn con, tăng 7,46%); đàn lợn tăng do có thêm đóng góp của một số doanh nghiệp và chi nhánh chính thức đi vào hoạt động; đồng thời các trang trại chăn nuôi gia công tiếp tục mở rộng sản xuất, nâng công suất chuồng trại và tăng cường liên kết với doanh nghiệp trong chuỗi tiêu thụ. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.420 nghìn con gia cầm, tăng 8,15% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.200 nghìn con, chiếm 72,26% trong tổng đàn gia cầm, tăng 11,29%); đàn gia cầm tăng cao do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm tăng cao trong dịp cuối năm và Tết Nguyên đán, người chăn nuôi chủ động điều chỉnh quy mô đàn để đáp ứng nhu cầu của thị trường. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, tại xã Tân Hội (xã cũ) phát sinh 01 hộ có lợn mắc bệnh, với số lợn bị tiêu hủy 05 con/94 kg. Lũy kế từ ngày 01/01/2026 đến nay, tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 1.085 con/52.022 kg và chỉ còn xã Tân Hội dịch bệnh chưa qua 21 ngày theo quy định. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện tiêu hủy, khoanh vùng xử lý bệnh DTLCP phát sinh; hướng dẫn UBND xã Phúc Thọ Lâm Hà khắc phục tồn tại và nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về phòng, chống bệnh DTLCP. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh đang vào mùa khô, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 33.801 m3, tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 67.382,1 m3, tăng 1,25%. - Sản lượng củi khai thác ước đạt 30.631,1 ste, tăng 0,79% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 61.287 ste, tăng 1,41%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/01/2026 - 10/02/2026) là 52 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 25 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 3,4 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 35 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 05 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 0,3 ha). Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/02/2026), tổng số vụ vi phạm là 120 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 42 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 5,5 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 35 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 05 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 0,3 ha). 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, tình hình nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định, thời tiết thuận lợi, không có dịch bệnh xảy ra. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 210,2 ha, tăng 0,1% so với cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 467,2 ha, tăng 0,03% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 420 ha, giảm 0,4%; diện tích nuôi tôm (chủ yếu là tôm thẻ trắng) đạt 84 ha, tăng 4,24%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.360,5 tấn, tăng 3,62% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 370 tấn, tăng 2,78%); lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.665,5 tấn, tăng 2,47% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 720 tấn, tăng 1,69%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng tàu thuyền khai thác tích cực bám biển đánh bắt thủy sản nhằm phục vụ nhu cầu tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán. Những ngày đầu tháng tình hình thời tiết chưa thuận lợi, do ảnh hưởng của gió Đông Bắc; tuy nhiên nguồn lợi hải sản vẫn còn xuất hiện nhiều, đặc biệt là nguồn cá chỉ, cá cơm với mật độ dày nên tàu thuyền hoạt động đánh bắt hiệu quả cao, đều trên các tuyến. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn,... Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 15.768 tấn, tăng 5,72% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 15.768 tấn, tăng 5,72%). Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 35.127,7 tấn, tăng 3,73% (sản lượng khai thác biển đạt 35.030 tấn, tăng 3,72%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản nên sản xuất tôm giống ổn định với sản lượng ước đạt 1,98 tỷ post, tăng 2,59% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 3,84 tỷ post, tăng 1,45%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp trong tháng trùng vào thời gian nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ nên các doanh nghiệp ngành khai khoáng; chế biến, chế tạo sản xuất không cao. Các ngành sản xuất, phân phối điện; cung cấp nước hoạt động ổn định. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, ngành công nghiệp tăng trưởng khá tích cực, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 8,24% so với cùng kỳ năm trước. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước giảm 16,5% so với tháng trước và tăng 1,42% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,90%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 2,0%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,98%. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,24% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 21,18%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,46%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 5,51%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,94%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu Trong tháng Hai và 02 tháng đầu năm 2026, các sản phẩm chủ yếu ngành công nghiệp tăng trưởng tốt so với cùng kỳ, cụ thể một số sản phẩm chủ yếu như sau: - Sản phẩm đá xây dựng: trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 176.919 m3, chỉ bằng 57,66 % so với tháng trước và tăng 9,23% so với cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 21,16%, nguyên nhân do tháng 02/2026 các doanh nghiệp nghỉ trước và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ thời gian kéo dài. Tuy nhiên, so với tháng cùng kỳ và cộng dồn so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn vật liệu xây dựng trong điều kiện đẩy mạnh đầu tư công, các doanh nghiệp khai thác đá đã chủ động tăng sản lượng ngay từ những tháng đầu năm để phục vụ nhu cầu xây dựng tăng mạnh trong năm. - Sản phẩm thủy sản chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.174 tấn, tăng 6,51% so với tháng trước, tăng 52,08% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 57,53% do các doanh nghiệp tăng cường sản xuất và để chủ động nguồn hàng trong các tháng trong năm. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 2.478 tấn, giảm 12,13% so với tháng trước, giảm 15% so với tháng cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 2,46%, nguyên nhân do tháng này các doanh nghiệp nghỉ trước và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu và nền tảng công nghệ sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản có cơ sở vững chắc để phát triển trong thời gian tới. - Sản phẩm đồ uống: Ước trong tháng sản lượng đạt 25.018 nghìn lít, giảm 4,96% so với tháng trước nhưng tăng 7,43% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 19,84%. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên vật liệu tăng cao so với năm trước (như: Malt, gạo, đường) cũng như sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm bia trong thời gian gần đây và sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa và thế giới. Tuy nhiên, so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn hàng phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ (đặc biệt sản phẩm rượu vang trái cây đang ngày càng được ưa chuộng). - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng sản lượng ước đạt 383 nghìn đôi, chỉ bằng 58,89% so với tháng trước nhưng tăng 17,81% so với tháng cùng kỳ và lũy kế 02 tháng năm 2026 tăng 52,87%, nguyên nhân giảm so với tháng trước là do tháng 02/2026 doanh nghiệp nghỉ Tết dài ngày và so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do phục vụ nhu cầu cuối năm. - Sản phẩm phân bón: Ước trong tháng sản lượng sản xuất 6.195 tấn, giảm 6,47% so với tháng trước nhưng tăng 23,38% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 48,19%. Nguyên nhân giảm mạnh so với tháng trước một phần do nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong mùa khô có xu hướng giảm, mặt khác do Công ty TNHH chế biến khoảng sản Thân Gia đã ngừng hoạt động. Tuy nhiên, so với tháng cùng kỳ năm trước vẫn tăng mạnh do trên địa bàn có Nhà máy hóa chất Đức Giang Đăk Nông đi vào sản xuất từ quý II/2025. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 121 nghìn tấn, giảm 6,41% so với tháng trước và giảm 2,25% so với cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 giảm 0,53%. - Điiảm 0,53%. 1 Ước trong tháng sản lượng đạt 2.246,4 triệu kwh, giảm 16,28% so với tháng trước và giảm 2,0% so với cùng kỳ; lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 5,26%. - Điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 472 triệu kwh, giảm 3,59% so với tháng trước nhưng tăng 4,4% so với tháng cùng kỳ, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tăng 4,84%. Do tháng 02/2026 nghỉ Tết dài ngày nên lượng điện thương phẩm giảm so với tháng trước (chủ yếu là điện sử dụng trong các nhà máy sản xuất công nghiệp). 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,13% so với tháng trước và tăng 5,27% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,97%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,98%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,89%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,74%. Khối doanh nghiệp nhà nước giảm 1,93% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 8,79%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 3,27%. Tính chung 02 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,06% so với cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,04%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,93%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,30%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,04%. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) - KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,77ha/132,62 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%. - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 55,95 ha/74,58 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,44 ha/51,44 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,09 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn 6 nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,66 ha/90,78 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,88 ha/276,93 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,35 ha/202,32 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,1 ha/210,84 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130,6 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,42 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Việc triển khai thực hiện hiệu quả vốn đầu tư công không những giúp tỉnh Lâm Đồng hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của năm, mà còn tạo động lực cho đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030. Năm 2026, tỉnh Lâm Đồng dự kiến triển khai 43 dự án mới trên nhiều lĩnh vực và là các dự án trọng điểm không chỉ đơn thuần là xây dựng hạ tầng mà còn đóng vai chiến lược để khơi thông nguồn lực, tạo đột phá cho giai đoạn mới. Trong tháng trùng vào dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ nhưng với mục tiêu thực hiện 100% kế hoạch vốn đầu tư công nhiều công trình vẫn tiếp tục được triển khai thực hiện nhằm đảm bảo đúng tiến độ. Bên cạnh đó, tỉnh cũng giao kế hoạch vốn 2026 để khởi công cho 07 dự án mới đủ điều kiện thực hiện và tiếp tục thúc đẩy tiến độ hoàn thiện trình tự, thủ tục để sớm khởi công các dự án còn lại. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 590,8 tỷ đồng, giảm 0,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 555,4 tỷ đồng, giảm 0,46% (vốn cân đối ngân sách tỉnh tháng 02/2026 ước đạt 260,95 tỷ đồng, giảm 2,46% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 78,12 tỷ đồng, giảm 50,69% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 9 tỷ đồng, giảm 31,97% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 204,4 tỷ đồng, tăng 75,1% so với cùng kỳ; vốn khác 2,96 tỷ đồng, tăng 44,94% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 35,4 tỷ đồng, giảm 3,34% so với cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.212,2 tỷ đồng, tăng 4,51% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.129,8 tỷ đồng, tăng 4,54% (vốn cân đối ngân sách tỉnh 02 tháng đầu năm ước đạt 528,41 tỷ đồng, tăng 2,49% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 161,14 tỷ đồng, giảm 46,97% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 19,19 tỷ đồng, giảm 25,92% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 414,53 tỷ đồng, tăng 79,15% so với cùng kỳ; vốn khác 6,54 tỷ đồng, tăng 61,88% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 82,4 tỷ đồng, tăng 4,11% so với cùng kỳ. Tình hình phát triển doanh nghiệp: tính đến ngày 23/02/2026, toàn tỉnh có 900 doanh nghiệp thành lập mới, gấp 2,3 lần so với cùng kỳ năm trước; 823 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 7,84%; 175 doanh nghiệp giải thể, gấp 2 lần; 386 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 16,62%. Tổng số vốn trong 02 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp đã đăng ký 3.242 tỷ đồng, giảm 1,84% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình thu hút đầu tư: tính đến ngày 23/02/2026, toàn tỉnh có 07 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 54.320 tỷ đồng; 07 dự án xin điều chỉnh quy mô dự án, tổng mức đầu tư, tiến độ thực hiện dự án và một số nội dung khác. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh có 2.935 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 828.274 tỷ đồng (trong đó có 236 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 224.284 tỷ đồng). III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải 1. Thương mại Trong tháng, hoạt động của các cơ sở kinh doanh trước, trong và sau Tết Nguyên đán ổn định; hàng hóa đáp ứng kịp thời nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng cho Tết Nguyên đán. Thị trường hàng hóa phục vụ dịp Tết sôi động, các mặt hàng phong phú và đa dạng. Sau Tết Nguyên đán, tình hình thương mại của tỉnh đã trở lại bình thường; các chợ, trung tâm thương mại, hệ thống siêu thị đã mở cửa phục vụ sớm cho nhu cầu người dân địa phương và du khách. Hoạt động du lịch trong tháng diễn ra khá sôi động, lượng khách đến tăng cao so với tháng trước và cùng kỳ năm trước; các điểm du lịch, các doanh nghiệp kinh doanh du lịch triển khai thực hiện tốt công tác phục vụ khách du lịch trong dịp Tết Nguyên đán. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa kịp thời; các phương tiện đường thuỷ vận tải hành khách và hàng hóa thông suốt đảm bảo hàng hóa phục vụ Tết cho người dân đảo Phú Quý. 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Trong tháng, các ngành, lĩnh vực phát triển ổn định, góp phần bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn. Công tác chuẩn bị nguồn hàng phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân và du khách được triển khai chủ động, kịp thời, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Giá cả các mặt hàng thiết yếu cơ bản ổn định; không xảy ra tình trạng thiếu hàng, gián đoạn nguồn cung hay đầu cơ, tăng giá bất hợp lý; góp phần bảo đảm an sinh xã hội và giữ vững ổn định kinh tế - xã hội của tỉnh. Tỉnh đã triển khai các giải pháp thúc đẩy sản xuất, mở rộng thị trường và hỗ trợ doanh nghiệp; hoạt động xúc tiến thương mại được tăng cường, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Nhờ đó, lưu chuyển hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn cơ bản thông suốt; nguồn cung dồi dào, đa dạng, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng[1]. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 17.172,3 tỷ đồng, tăng 13,17% so với tháng trước và tăng 27,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.466,2 tỷ đồng, tăng 11,31% so với tháng trước và tăng 23,34% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.585,8 tỷ đồng, tăng 21,61% so với tháng trước và tăng 43,02% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.120,3 tỷ đồng, tăng 10,56% so với tháng trước và tăng 23,81% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 32.345,7 tỷ đồng, tăng 16,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 19.868,7 tỷ đồng, tăng 13,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 6.534,4 tỷ đồng, tăng 27,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 5.942,6 tỷ đồng, tăng 14,85% so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 10.466,2 tỷ đồng, tăng 11,31% so với tháng trước và tăng 23,34% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 19.868,7 tỷ đồng, tăng 13,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ như: lương thực, thực phẩm ước đạt 7.528,5 tỷ đồng, tăng 18,14% so với cùng kỳ năm trước; may mặc ước đạt 1.342,4 tỷ đồng, tăng 16,95% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 2.971,3 tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.558,9 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 2.593,1 tỷ đồng, tăng 11,51% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Tình hình lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra thuận lợi, các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cơ sở kinh doanh bán lẻ hoạt động bình thường, cung ứng lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng về chủng loại, phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, không có tình trạng găm hàng, sốt giá; không có hiện tượng mất an toàn thực phẩm; các cửa hàng xăng dầu trên địa bàn tỉnh cung ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân. Từ ngày 13/01 đến ngày 13/02/2026, tổng số vụ kiểm tra là 154 vụ, số vụ vi phạm là 153 vụ, số vụ xử lý là 167 vụ (01 vụ kỳ trước chuyển sang), số vụ đang xử lý là 01 vụ (từ kỳ trước chuyển sang). Tổng số tiền xử phạt là 1.647 triệu đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy là 522,73 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng Do tháng Hai có Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 nên nhu cầu mua sắm của người dân tăng cao theo quy luật tiêu dùng vào dịp Tết; giá xăng dầu trong nước tăng theo giá nhiên liệu thế giới; giá gas trong nước tăng theo giá gas thế giới; giá thịt lợn tăng do ảnh hưởng dịch bệnh nên nguồn cung ít; giá ăn uống ngoài gia đình và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng theo nhu cầu tiêu dùng là những nguyên chính làm cho chỉ số giá tiêu dùng tháng 02/2026 tăng 0,61% so với tháng trước; tăng 0,40% so với tháng 12/2025 và tăng 4,52% so với cùng kỳ năm 2025. Bình quân 02 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước. * CPI tháng Hai so với tháng trước - Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 10 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,31%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,65%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,98%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,42%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,51%; Giao thông tăng 1,36%; Thông tin và truyền thông tăng 0,11%; Giáo dục tăng 0,02%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,95%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,92%. Có 01 nhóm hàng giá ổn định: Thuốc và dịch vụ y tế 100%. - Các nguyên nhân làm tăng/giảm CPI trong tháng + Nguyên nhân tăng: Giá gas trong tháng tăng 1,37% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh tăng 5.184 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới (Giá gas thế giới bình quân tháng 02/2026 công bố ở mức 542,5 USD/tấn, tăng 20 USD/tấn so với tháng 01/2026). Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 05, 12, 20 và 26 tháng 02/2026, tính bình quân chung tháng 02/2026 chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu tăng 2,01% so với tháng trước. Nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng thực phẩm, đồ uống, may mặc chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên Đán tăng cao hơn tháng trước, trong đó nhóm hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng ở mức 0,98% so tháng trước. Nhu cầu đi lại và bảo dưỡng phương tiện cuối năm tăng nên giá dịch vụ giao thông công cộng và bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng so với tháng trước. + Nguyên nhân giảm: Giá rau tươi giảm 10,12% so tháng trước, do đang vào vụ thu hoạch rau và thời tiết thuận lợi nên sản lượng rau tươi dồi dào, nhiều chủng loại. Giá nhóm lương thực giảm 0,58% so tháng trước, trong đó giảm chủ yếu các mặt hàng gạo tẻ thường và gạo tẻ ngon. Nguyên nhân, do nguồn cung thị trường nhiều và ảnh hưởng giá gạo xuất khẩu giảm do nguồn cung gạo thế giới tăng. * CPI bình quân 02 tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025: tăng 4,40%. - Nguyên nhân tăng: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,99%, trong đó tăng do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo 2 tháng đầu năm 2026 tăng 1,72% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 8,63%, làm CPI chung tăng 1,95 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng mạnh 14,98% do thiếu hụt nguồn cung trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết; Chỉ số giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 6,95%, do giá lương thực, thực phẩm, giá gas, giá thuê mặt bằng và nhân công tăng. Do đó các mặt hàng ăn uống ngoài gia đình có giá phụ thu trong dịp Tết tăng từ 20 - 30% so ngày thường như: Phở/bún/miến/mỳ, cơm bình dân, trà sữa, nước cam, các loại sinh tố trái cây, chè lipton…; Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,84% do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào; Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 7,16%, làm CPI chung tăng 0,48 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Nguyên nhân giảm: Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,91% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,28 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 8,98%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước; Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,19%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch phong phú, tạo không khí vui tươi, phấn khởi phục vụ Nhân dân và du khách dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Nổi bật là Chợ hoa Xuân và mua sắm Tết “Lâm Đồng đại ngàn 2026”, Hội Tết Bính Ngọ, các chương trình nghệ thuật đặc sắc mừng xuân; Giải võ thuật cổ truyền tỉnh Lâm Đồng; Giải Việt dã - leo núi Tà Cú trong khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh lần thứ I; vòng loại “Race to Legends” thuộc Vietnam Legends Festival 2026; Giải Lướt ván buồm quốc tế Fun Cup lần thứ 25 năm 2026. Tại Di tích tháp Pô Sah Inư, các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian Chăm được tổ chức, góp phần quảng bá giá trị truyền thống và đáp ứng nhu cầu tham quan, thưởng lãm của người dân và du khách. Song song đó, nhiều doanh nghiệp lưu trú chủ động tổ chức các chương trình đón Tết đặc sắc nhằm gia tăng trải nghiệm cho du khách. Khu nghỉ dưỡng biển Asteria Mũi Né triển khai chuỗi hoạt động mừng Tết từ ngày 14/2 đến 22/2 (27 đến mùng 6 Tết) với không gian đậm phong vị Tết cổ truyền; The Cliff Resort & Residences tổ chức Lễ hội Bánh chưng lần thứ 13 năm 2026; Radisson Phan Thiết Resort xây dựng chương trình chủ đề “Tết Xưa” diễn ra từ ngày 15-19/2 (28 đến mùng 3 Tết); TTC World - Thung lũng Tình Yêu khởi động chuỗi hoạt động “Vui xuân rộn ràng - Lộc xuân gõ cửa”. Hoạt động lữ hành được chuẩn bị chủ động với các tour đầu năm phục vụ du khách. Hệ thống nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống duy trì hoạt động ổn định, bảo đảm chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm, niêm yết giá công khai và tuân thủ quy định quản lý, góp phần giữ vững hình ảnh điểm đến an toàn, thân thiện và hấp dẫn. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.965,6 nghìn lượt, tăng 18,69% so tháng trước và tăng 40,16% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 82 nghìn lượt, tăng 17,95% so với tháng trước và tăng 33,85% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.664,1 nghìn ngày khách, tăng 18,65% so với tháng trước và tăng 42,38% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 190 nghìn lượt khách, tăng 5,88% so với tháng trước và tăng 39,05% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 588,8 nghìn ngày khách, tăng 6,03% so với tháng trước và tăng 43,25% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 3.621,6 nghìn lượt, tăng 27,96% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 151,5 nghìn lượt, tăng 24,69% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 6.752,1 nghìn ngày khách, tăng 30,06% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 đạt 369,4 nghìn lượt, tăng 43,93% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 1.144,1 nghìn ngày khách, tăng 47,21% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 742,1 tỷ đồng, tăng 20,51% so với tháng trước và tăng 39,27% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.795,1 tỷ đồng, tăng 22,21% so với tháng trước và tăng 44,16% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 48,7 tỷ đồng, tăng 6,77% so với tháng trước và tăng 37,45% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.357,8 tỷ đồng, tăng 27,24% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 5.082,2 tỷ đồng, tăng 27,44% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 94,3 tỷ đồng, tăng 22,93% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.570,9 tỷ đồng, tăng 19,42% so với tháng trước và tăng 43,46% so với cùng kỳ. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 10.236,1 tỷ đồng, tăng 30,67% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.120,3 tỷ đồng, tăng 10,56% so với tháng trước và tăng 23,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 738,6 tỷ đồng, giảm 1,81% so với tháng trước (nhu cầu mua bán và cho thuê bất động sản giảm hơn so với tháng trước do rơi vào kỳ nghỉ Tết Nguyên đán) và tăng 10,99% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 186,6 tỷ đồng, tăng 11,43% so với tháng trước và tăng 26,82% so với cùng kỳ (tăng chủ yếu ở các nhóm ngành cho thuê xe ô tô, xe máy và máy móc thiết bị thể thao...); Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 150,1 tỷ đồng, giảm 0,1% so với tháng trước và tăng 26,31% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 252,6 tỷ đồng, tăng 6,34% so với tháng trước và tăng 29,53% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.459,2 tỷ đồng, tăng 17,95% so với tháng trước (trong tháng các khu vui chơi giải trí hoạt động khá nhộn nhịp nhằm phục vụ cho người dân và du khách dịp nghỉ tết) và tăng 29,82% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 333,2 tỷ đồng, tăng 19,97% so với tháng trước (nhu cầu sửa chữa đồ dùng cá nhân và gia đình dịp trước tết tăng khá, bên cạnh đó nhu cầu làm đẹp để đón tết cũng tăng hơn) và tăng 23,5% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 5.942,6 tỷ đồng, tăng 14,85% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 1.490,7 tỷ đồng, tăng 8,56% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 354,4 tỷ đồng, tăng 18,59% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 300,3 tỷ đồng, tăng 16,96% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 490,1 tỷ đồng, tăng 17,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 2.696,2 tỷ đồng, tăng 18,24% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 610,8 tỷ đồng, tăng 11,69% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng các đơn vị kinh doanh du lịch đã tích cực phục vụ du khách trong dịp Tết Nguyên đán. Lượng khách du lịch nhất là khách nội địa đến tham quan và nghỉ dưỡng tại Lâm Đồng tăng hơn so với tháng trước và tăng cao so với cùng kỳ (do Tết Nguyên đán năm trước diễn ra trong tháng 01). Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước tăng 12,75% so với tháng trước và tăng 30,29% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước tăng 21,79% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.078,0 nghìn HK, tăng 11,7% so với tháng trước và tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 437.365,1 nghìn HK.Km, tăng 9,98% so với tháng trước và tăng 27,65% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 5.833,6 nghìn HK, tăng 23,24% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 835.058,4 nghìn HK.Km, tăng 23,17% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.242,2 nghìn tấn, tăng 12,46% so với tháng trước và tăng 31,04% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 327.299,7 nghìn tấn.Km, tăng 11,55% so với tháng trước và tăng 30,6% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 4.236,0 nghìn tấn, tăng 20,58% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 620.710,3 nghìn tấn.Km, tăng 20,64% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.242,6 tỷ đồng tăng 12,75% so với tháng trước và tăng 30,29% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.344,6 tỷ đồng, tăng 21,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 793,9 tỷ đồng, tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.138,9 tỷ đồng, tăng 22,09% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 319,7 tỷ đồng, tăng 16,96% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 92,1 tỷ đồng, tăng 2,95% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 420 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 344,3 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 75,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 1.159 tỷ đồng, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước đạt 7.273,4 tỷ đồng, bằng 21,12% kế hoạch năm và tăng 20,15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 6.812,9 tỷ đồng, bằng 20,85% kế hoạch năm và tăng 16,43% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 338,2 tỷ đồng, bằng 19,21% kế hoạch năm và tăng 67,39% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa 02 tháng đầu năm 2026: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 849 tỷ đồng (bằng 22,31% kế hoạch năm và tăng 21,99% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 601 tỷ đồng (bằng 43,56% kế hoạch năm và tăng 65,94%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 2.042 tỷ đồng (bằng 30,53% kế hoạch năm và tăng 60,28%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 442 tỷ đồng (bằng 16,20% kế hoạch năm và giảm 22,36%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 669 tỷ đồng (bằng 9,07% kế hoạch năm và tăng 19,88%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 1.596 tỷ đồng (bằng 27,51% kế hoạch năm và giảm 2,06%). 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước 4.224 tỷ đồng, lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 ước 7.224 tỷ đồng, bằng 14,81% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 560 tỷ đồng, bằng 4,24% kế hoạch năm; chi thường xuyên 5.395 tỷ đồng, bằng 17,77% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: đến 31/01/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 234.498 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 5.223 tỷ đồng[2], với tỷ lệ tăng 2,20%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 231.781 tỷ đồng (chiếm 98,84% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.717 tỷ đồng, (chiếm 1,16% tổng huy động vốn). Ước 28/02/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 236.800 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 7.525 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,28%. Hoạt động tín dụng: đến 31/01/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 371.456 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 473 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,10%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 368.861 tỷ đồng (chiếm 99,30% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.595 tỷ đồng (chiếm 0,70% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 264.875 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 106.581 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 28/02/2026, dư nợ cho vay đạt 371.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,10%. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,33% - 0,37%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 4,3% - 4,75%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 5,93% - 7,36%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 5,84% - 7,06%/năm; lãi suất huy động USD: 0%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4,00%/năm; cho vay đối với các khoản vay mới ở mức 7,37% - 9,74%/năm. Lãi suất cho vay USD đối với các khoản cho vay mới ở mức 3,97% - 4,19%/năm. Dư nợ cho vay: đến 31/01/2026, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 188.722 tỷ đồng, chiếm 50,81% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.235 tỷ đồng, chiếm 8,68% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm nghiệp đạt 150.499 tỷ đồng, chiếm 40,51% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.675 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,80% trong tổng dư nợ tín dụng. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã tổ chức các hoạt động tuyên truyền kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026); tuyên truyền bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031; tuyên truyền cổ động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 trên các tuyến đường chính, khu vực trung tâm các xã, phường, đặc khu; tổ chức tuyên truyền công tác đảm bảo an toàn giao thông, phòng cháy, chữa cháy, phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm; công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; phòng, chống gian lận thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng hóa kém chất lượng nhằm đảm bảo an toàn cho người dân vui Xuân đón Tết. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ mừng Đảng mừng Xuân Bính Ngọ 2026: Chương trình bắn pháo hoa nổ tầm thấp đón giao thừa Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 tại 11 địa phương trên địa bàn tỉnh; chương trình nghệ thuật phục vụ gặp mặt kiều bào; chương trình biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhân dân và du khách từ mùng 01 đến mùng 03 Tết; tổ chức chiếu phim, chương trình văn nghệ và Hội Báo xuân tại Trại giam Đại Bình; Hội chợ hoa xuân và mua sắm Tết; Hội Tết Bính Ngọ; Hội Báo xuân Bính Ngọ; triển lãm chào mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 với chủ đề “Sắc xuân đại ngàn”; “Sắc xuân Đà Lạt”; “Cổ vật và sắc xuân”; “Lâm Đồng vào xuân”; “Vùng đất và con người Lâm Đồng”; Chương trình “Xuân Chiến sĩ” lần thứ XI năm 2026; bên cạnh đó, các địa phương đã tổ chức Giải đua truyền thống tại đặc khu Phú Quý, Lễ hội Lồng Tồng tại xã Cát Tiên 2, Lễ hội cúng bến nước tại xã Quảng Khê,... Ngoài ra, đã thực hiện 21 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Đón 34.073 lượt khách, trong đó có 3.674 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: 12.556 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 7.914 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 1.297 lượt; Cơ sở 1 - Đông Lâm Đồng: 11.931 lượt; Cơ sở 2 - Tây Lâm Đồng: 375 lượt). Ngoài ra, đã tổ chức thu thập tư liệu về lễ tấu chức hệ phái thầy vỗ (Muduen) - trống Baranung trong lễ hội Rija của người Chăm tại xã Bắc Bình phục vụ công tác thuyết minh, giới thiệu khách tham quan, nghiên cứu tại Trung tâm trưng bày văn hóa Chăm; đồng thời duy trì thường xuyên các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian phục vụ du khách tại Trung tâm Trưng bày văn hóa Chăm; di tích Tháp Pô Sah Inư; di tích Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt và di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận tỉnh Lâm Đồng: Tổ chức phục vụ 77 đoàn với 5.373 lượt người, trong đó có 105 khách nước ngoài. Phục vụ 08 lễ viếng và 01 buổi xem phim tư liệu. Tổ chức các hoạt động mừng Đảng - mừng Xuân Bính Ngọ và kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026). Trưng bày triển lãm 130 ảnh chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những chặng đường cách mạng với tên gọi “Dục Thanh nhớ Bác”; trưng bày ảnh nghệ thuật, ảnh tư liệu “Sắc xuân Lâm Đồng” và “Xuân về dưới mái Trường Dục Thanh” tại khu di tích Dục Thanh. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 1.050 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Thường xuyên sưu tầm tài liệu, hiện vật, các mẩu chuyện kể của cán bộ, chiến sĩ cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ phục vụ trưng bày bổ sung tại nhà Tưởng niệm - Trưng bày Khu di tích. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 149 thẻ (34 thẻ thiếu nhi); phục vụ 249.629 lượt bạn đọc; luân chuyển 34.997 lượt tài liệu; bổ sung 782 bản sách từ nguồn biếu tặng; số hóa 3.959 trang tài liệu. Trưng bày theo chuyên đề 05 đợt với 2.982 tài liệu; trưng bày, giới thiệu 133 bản sách mới; cập nhật 241 tin bài lên trang website và phát hành 02 tập Thông tin Tư liệu Lâm Đồng - Khu vực Đông Lâm Đồng với 190 tin bài. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Giải Việt dã - Leo núi, thuộc khuôn khổ Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026 gắn với Giải Leo núi Tà Cú tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026 tại Khu du lịch Cáp treo Tà Cú, xã Hàm Thuận Nam; Giải Đua thuyền truyền thống Phan Thiết mở rộng - Mừng Xuân Bính Ngọ 2026; Giải Võ thuật Cổ truyền tỉnh Lâm Đồng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; tổ chức Đại hội Thể dục thể thao ngành Giáo dục lần thứ I năm 2026; doanh nghiệp tư nhân Trăng Tròn tổ chức Giải Lướt ván buồm lần thứ 25 - Mui Ne Fun Cup. Ngoài ra, đã thành lập đội bóng đá nữ dân tộc thiểu số tham gia thi đấu “Giải bóng đá nữ các dân tộc thiểu số lần thứ nhất - năm 2026”. - Thể thao thành tích cao: Số huy chương đạt được từ đầu năm tính đến 13/02/2026: Đạt 15 huy chương (03 HCV, 03 HCB, 09 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Tiếp tục chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục; tăng cường giáo dục thể chất, hoạt động thể thao, y tế học đường, rèn luyện đạo đức, kỹ năng sống và bảo đảm an toàn trường học. Trong tháng, đã tổ chức Chương trình trao học bổng cho học sinh-sinh viên nghèo học giỏi do Tập đoàn CJ CheilJedang tài trợ cho 100 học sinh, sinh viên với tổng giá trị 510 triệu đồng. Phối hợp với Quỹ vì Trẻ em khuyết tật Việt Nam tổ chức trao tặng học bổng cho 82 học sinh khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông cũ với tổng số tiền 205 triệu đồng, trao học bổng “Hoa Xương Rồng” năm 2026 cho 200 học sinh khuyết tật có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trong học tập, với tổng giá trị học bổng 1.000 triệu đồng. Cuối học kỳ I năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.592 cơ sở giáo dục và đào tạo, bao gồm: 525 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó: 400 công lập và 125 ngoài công lập); 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó 558 công lập và 06 ngoài công lập); 365 trường trung học cơ sở (trong đó 363 công lập và 02 ngoài công lập); 122 trường trung học phổ thông, trong đó 02 trường phổ thông dân tộc nội trú; 09 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông; 11 trường trung học cơ sở và trường trung học phổ thông; 100 trường trung học phổ thông; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó: 02 công lập và 01 ngoài công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ, Tin học; 10 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập; 02 trường trung cấp (ngoài công lập). Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên toàn tỉnh là 50.702 người. Đến nay, 100% xã, phường, đặc khu trên địa bàn tỉnh có cơ sở giáo dục mầm non; tỷ lệ huy động trẻ mẫu giáo đạt 90,45%, riêng trẻ 5 - 6 tuổi đạt 99,79%. Toàn tỉnh có 79 cơ sở Giáo dục nghề nghiệp (GDNN): 06 trường cao đẳng (trong đó 04 trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý, 02 trường thuộc bộ, ngành quản lý); 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập và 04 trường trung cấp tư thục); 29 trung tâm GDNN (13 công lập, 16 tư thục); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 đơn vị GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. 3. Y tế Trong tháng tập trung cho công tác chăm sóc sức khỏe người dân, xây dựng phương án sẵn sàng ứng phó với các tình huống của dịch bệnh; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, qua đó góp phần kiểm soát dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe để người dân vui Xuân đón Tết. * Tình hình dịch bệnh xảy ra trong tháng - Phòng chống sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 447 ca mắc, giảm 179 ca so với tháng trước và tăng 179 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.073 ca mắc. Trong tháng triển khai giám sát lăng quăng tại 71 điểm, đã phát hiện và xử lý 47 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng không phát hiện trường hợp mắc bệnh sốt rét; lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 01 ca mắc sốt rét ngoại lai. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 336 ca mắc, tăng 10 ca so với tháng trước và tăng 312 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 662 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 07 ca mắc, giảm 02 ca so với tháng trước và giảm 985 ca so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 2 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 16 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.181 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.245 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.272 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.044 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 2.262 trẻ, mũi 2 cho 3.491 trẻ và mũi 3 cho 1.932 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 2.865 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 445 bệnh nhân, đang điều trị 01 bệnh nhân; 11 bệnh nhân đang giám sát; chăm sóc tàn tật cho 438 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 6 người. - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 212 người, bệnh nhân lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) là 163 người, bệnh nhân lao kháng thuốc phát hiện, thu nhận là 05 người. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 04 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 02 trường hợp chuyển AIDS và 03 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.795 người mắc HIV, chuyển AIDS 1.784 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 437.951 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 32.826 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 203.704 ngày, xét nghiệm cho 497.033 tiêu bản, chẩn đoán 116.224 hình ảnh và phẫu thuật 4.323 trường hợp. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 đã tổ chức khám bệnh cho 916.211 lượt người; 69.835 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 424.046 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,2 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 80%; đã xét nghiệm cho 1.067.100 tiêu bản; chẩn đoán 255.941 hình ảnh và phẫu thuật cho 9.460 trường hợp. Tình hình khám chữa bệnh trong 07 ngày nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 từ ngày 16/02/2026 (ngày 29 âm lịch) đến hết ngày 22/02/2026 (Mùng 6 âm lịch): Tổng số bệnh nhân khám bệnh, cấp cứu là 6.528 người (tăng 1.614 người so với năm 2025); trong đó: Tai nạn giao thông đến điều trị 629 người (có 02 trường hợp tử vong tại bệnh viện và 03 trường hợp tử vong trên đường đến cơ sở y tế); tại nạn do pháo nổ 11 người (có 06 trường hợp nhập viện điều trị). - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 1.301 cơ sở, kết quả có 18 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 76,0 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương, địa phương và các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026. Chủ động cung cấp, theo dõi và tổng hợp thông tin báo chí, dư luận xã hội về tỉnh Lâm Đồng; thực hiện điểm báo, báo cáo định kỳ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Ban hành Kế hoạch công tác thông tin đối ngoại tỉnh Lâm Đồng và triển khai các hoạt động thông tin đối ngoại năm 2026. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 01 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, công tác an sinh xã hội được triển khai đồng bộ, đồng bào các DTTS đón Tết trong không khí vui tươi, phấn khởi. Các địa phương tổ chức lễ hội truyền thống, giao lưu cồng chiêng tại các buôn làng trong dịp Tết và tổ chức chương trình văn nghệ “Mừng Đảng - Mừng Xuân” mang đậm bản sắc dân tộc; tại một số xã vùng DTTS và biên giới như Nâm Nung, Đắk Mil, Quảng Trực, Quảng Hòa, Đạ Tẻh, Cát Tiên 3, Đam Rông 4,... tổ chức bắn pháo hoa tầm thấp vào thời khắc giao thừa để phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa của người dân. - Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng quà cho người có công, gia đình chính sách, hộ nghèo, hộ cận nghèo vùng đồng bào DTTS. Bên cạnh đó, tỉnh đã thăm, chúc Tết đối với cán bộ, chiến sĩ, công chức, người lao động và người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào DTTS, trong đó triển khai thực hiện chính sách đối với 883 người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào DTTS với tổng kinh phí 441,5 triệu đồng, qua đó kịp thời động viên, khích lệ, phát huy vai trò nòng cốt của người có uy tín trong công tác tuyên truyền, vận động đồng bào chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. - Công tác phục vụ người dân vùng đồng bào DTTS trong dịp Tết Nguyên đán 2026 được quan tâm triển khai, đã hoàn thành việc cung ứng hàng hóa xuống hệ thống các cửa hàng, đại lý trực thuộc trước Tết Đầu lúa và Tết Nguyên đán, qua đó bảo đảm nguồn cung ổn định, kịp thời phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân. Tại các điểm bán hàng, giá cả được niêm yết công khai, hàng hóa bảo đảm rõ nguồn gốc, xuất xứ; các mặt hàng tham gia chương trình bình ổn giá được thông báo công khai, góp phần ổn định thị trường, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Ban Trị sự GHPGVN tỉnh tổ chức Khánh tuế ân 2 sư, chúc thọ một số phật tử cao niên tại địa phương; một số nhà thờ, giáo xứ tham gia Hội chợ không đồng; tổ chức các gian hàng ẩm thực, phiên chợ đầu xuân và các trò chơi dân gian, bốc thăm trúng thưởng; lễ mừng xuân Bính Ngọ 2026; lễ cầu cho ông bà ngày Tết… Bên cạnh đó, tỉnh đã tổ chức các đoàn đi thăm, chúc mừng và động viên một số chức sắc, cơ sở thờ tự tiêu biểu, các cơ sở tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, qua đó, thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và chính quyền địa phương đối với các tổ chức tôn giáo. Nhìn chung, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo thực hiện tốt các quy định của pháp luật, phù hợp với truyền thống văn hóa và phong tục, tập quán của đồng bào, địa phương, góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, phát huy các giá trị văn hóa tôn giáo và ổn định đời sống tinh thần của người dân. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng, tỉnh đã chú trọng chăm lo Tết cho người dân, thực hiện an sinh xã hội cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, gia đình bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, đồng bào vùng sâu, vùng xa, người có công với cách mạng, người có uy tín tiêu biểu trong đồng bào dân tộc thiểu số. Trong dịp Tết Bính Ngọ 2026, tỉnh đã chi 153.774,6 triệu đồng (quà và tiền mặt) hỗ trợ; trong đó: 114.302,98 triệu đồng hỗ trợ cho người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng; 37.449,6 triệu đồng hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn; 1.220 triệu đồng hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội,… Nhìn chung, công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đối với người có công với cách mạng, gia đình liệt sĩ và các đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, đối tượng khó khăn,... luôn được lãnh đạo, chính quyền và cộng đồng quan tâm, góp phần cho người có công, gia đình liệt sĩ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn và các đối tượng bảo trợ xã hội đón Tết vui tươi, đầm ấm. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 31/01/2026, toàn tỉnh có 308.982 người tham gia BHXH, tăng 0,28% so với tháng trước; có 221.748 người tham gia BHTN, giảm 6,0%; số người tham gia BHYT là 2.790.785 người, giảm 6,94% so với tháng trước (giảm do xã Phước Thể cũ không còn là xã đảo nên người dân không được hưởng lợi BHYT miễn phí và Hộ NLTS có thu nhập trung bình chưa được phê duyệt cấp thẻ BHYT). Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 82,38% dân số. Trong tháng 01 năm 2026, đã giải quyết mới 8.800 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.270 người (Trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 196 người; trợ cấp 1 lần cho 1.637 người; chế độ ốm đau cho 5.394 người; chế độ thai sản cho 1.259 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 314 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 1.192 người và hỗ trợ học nghề cho 78 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/01/2026 - 14/02/2026) Trong tháng xảy ra 88 vụ tai nạn giao thông, tăng 26 vụ so với tháng trước và tăng 10 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 45 người, tăng 11 người so với tháng trước và tăng 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 67 người, tăng 22 người so với tháng trước và tăng 10 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 150 vụ (trong đó có 2 vụ đường sắt), giảm 12 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 79 người, tăng 12 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 112 người, giảm 14 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng không xảy ra thiên tai. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 01 vụ, chưa thống kê giá trị thiệt hại. - Cháy, nổ: Từ ngày 16/01 đến ngày 15/02/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 03 vụ cháy, giảm 5 vụ so với tháng trước và giảm 1 vụ so với cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 40,0 triệu đồng. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 11 vụ cháy, tăng 6 vụ so với cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 40 triệu đồng; không có thiệt hại về người. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra. Lũy kế 02 tháng đầu năm 2026 xảy ra 01 vụ vi phạm, giảm 6 vụ so cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 210 triệu đồng. * Đánh giá chung Trong 02 tháng đầu năm 2026, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng ghi nhận nhiều tín hiệu khởi sắc, tạo nền tảng thuận lợi cho việc thực hiện các mục tiêu phát triển của cả năm. Sản xuất nông nghiệp được triển khai đúng thời vụ, diện tích gieo trồng bảo đảm kế hoạch; chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản duy trì ổn định, không phát sinh dịch bệnh lớn. Khu vực công nghiệp tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng với chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 8,24% so với cùng kỳ. Hoạt động thương mại - dịch vụ diễn ra sôi động, đặc biệt trong dịp Tết Nguyên đán; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 16,09%, nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả cơ bản ổn định. Du lịch phục hồi mạnh mẽ với lượng khách tăng 27,96% và doanh thu tăng 30,67%, cho thấy sức hấp dẫn và năng lực phục vụ của địa phương ngày càng được nâng cao. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 20,15% so với cùng kỳ, bảo đảm nguồn lực cho chi đầu tư phát triển và các nhiệm vụ an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm; công tác chăm lo Tết cho Nhân dân được triển khai kịp thời, đúng đối tượng, góp phần giữ vững ổn định xã hội. Quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Tuy vậy, một số lĩnh vực vẫn chịu tác động của biến động thị trường và yếu tố thời tiết; tiến độ triển khai một số dự án và giải ngân vốn đầu tư công cần tiếp tục được đẩy nhanh để tạo động lực tăng trưởng bền vững trong thời gian tới. TKT Lâm Đồng [1] Kế hoạch số 3364/KH-UBND ngày 23/12/2025 của UBND tỉnh về dự trữ hàng hóa và bình ổn thị trường cuối năm 2025 và dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng. [2] Tăng chủ yếu từ nguồn tiền gửi không kỳ hạn của Trung tâm phát triển quỹ đất phục vụ công tác đền bù giải phóng mặt bằng cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc, Bảo Lộc - Liên Khương.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 01 năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
  •   04/02/2026 10:19

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trong tháng diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi; giá các mặt hàng nông sản ổn định, thúc đẩy người nông dân tích cực sản xuất, tập trung vào gieo cấy, chăm sóc lúa Vụ Đông xuân và các loại cây hoa màu khác. Các địa phương trên địa bàn tỉnh đã chủ động phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn phục vụ sản xuất nông nghiệp trong mùa khô năm 2026. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ (đặc biệt là đàn lợn). Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát hiệu quả, không có dịch bệnh nghiêm trọng xảy ra. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào khâu chăm sóc rừng, ươm cây giống cho công tác trồng rừng sắp tới. Sản lượng khai thác thuỷ sản biển tăng khá so với cùng kỳ năm trước. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tiến độ sản xuất cây hàng năm vụ Đông xuân năm 2026 (tính đến ngày 20/01/2026), tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh ước đạt 74.202,8 ha, tăng 1,42% so với vụ Đông xuân năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 41.378,8 ha, giảm 0,38% so với cùng kỳ năm trước (diện tích gieo trồng lúa giảm chủ yếu do vụ Đông xuân năm nay xuống giống muộn tại xã Trà Tân và xã Hoài Đức); cây ngô, diện tích ước đạt 3.914,4 ha, tăng 1,17%; rau các loại, diện tích ước đạt 21.218,1 ha, tăng 4,51%; hoa các loại, diện tích ước đạt 2.499,5 ha, tăng 2,60%; đậu các loại, diện tích ước đạt 1.306,2 ha, tăng 3,74%; cây hàng năm còn lại, diện tích ước đạt 3.885,8 ha, tăng 3,43%. Nhìn chung tiến độ gieo trồng vụ Đông xuân ổn định so với cùng kỳ năm trước do thời tiết trong vụ thuận lợi, người dân xuống giống gieo trồng đúng lịch thời vụ. 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm. Tổng diện tích các loại cây lâu năm trên địa bàn tỉnh ước đạt 622.873,0 ha, tăng 1,24% so với cùng kỳ năm trước. Một số loại cây trồng chính: Cây cà phê diện tích ước đạt 328.650 ha, tăng 1,03%; Cây chè diện tích ước đạt 9.329,3 ha, giảm 5,48%; Cây điều diện tích ước đạt 50.215 ha, tăng 1,49%; Cây tiêu diện tích ước đạt 37.193 ha, tăng 0,02%; Cây dâu tằm diện tích ước đạt 11.320,4 ha, tăng 4,93%; Cây sầu riêng diện tích ước đạt 44.283,5 ha, tăng 4,34%; Cây bơ diện tích ước đạt 9.050,0 ha, giảm 1,56%; Cây thanh long diện tích ước đạt 26.126 ha, tăng 0,56%; Cây ca cao diện tích ước đạt 426,1 ha, tăng 0,48%; Cây cao su diện tích ước đạt 75.381 ha, tăng 2,6%; Cây mắc ca diện tích ước đạt 11.316,9 ha, tăng 2,55%; Cây chanh leo diện tích ước đạt 1.813,2 ha, tăng 3,27%. 1.3. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 676 ha (tại các xã La Gi, Phước Hội, Hải Ninh, Hồng Thái, Liên Hương, Bắc Bình, Cát Tiên); bệnh đạo ôn lá gây hại 208 ha (tại các xã La Gi, Phước Hội, Nghị Đức, Đức Linh, Đồng Kho, Nam Thành, Tánh Linh, Hàm Thuận, Hồng Sơn, Bắc Bình, Hồng Thái, Hải Ninh, Liên Hương, Vĩnh Hảo); chuột gây hại 160 ha (tại các xã Tánh Linh, Nam Thành, Đồng Kho, Bắc Bình); ốc bươu vàng gây hại 207 ha (tại các xã Cát Tiên 2, Bắc Bình, Nam Thành, Tánh Linh, Hồng Thái); - Cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus gây hại 64 ha; bệnh mốc sương gây hại 131 ha (tại các xã Hiệp Thạnh, Đức Trọng, Tân Hội, Ninh Gia, Tà Hine, Tà Năng, D’Ran, Quảng Lập, Đơn Dương, Ka Đô); sâu đục lá cà chua Nam Mỹ gây hại 01 ha (tại xã Hiệp Thạnh); - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.660 ha (tại các xã Gia Hiệp, Phường 1 Bảo Lộc, Phường 2 Bảo Lộc, Phường 3 Bảo Lộc, Phường B’Lao, Bảo Lâm 1, Bảo Lâm 2, Bảo Lâm 4, Di Linh, Hiệp Thạnh, Đức Trọng, Tân Hội, Ninh Gia, Tà Hine, Tà Năng, Đam Rông 1, Đam Rông 2, Đam Rông 3); bọ xít muỗi gây hại 2.006,2 ha (tại các phường Cam Ly, Xuân Trường, Lang Biang, Lạc Dương, Di Linh); Bệnh chết khô ngọn gây hại 28 ha (tại xã Bảo Lâm 1, Bảo Lâm 5); - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 1.717 ha (tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Tân Lập, Tuyên Quang, Tân Hải, Bình Thuận); Bệnh thối rễ tóp cành gây hại 287 ha (tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Thuận Nam, Hàm Kiệm, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Hàm Thuận Bắc); - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.019,7 ha (tại các xã Hiệp Thạnh, xã Đức Trọng, xã Tân Hội, xã Trà Tân, xã Hoài Đức, xã Bắc Ruộng, phường Đông Gia Nghĩa, phường Bắc Gia Nghĩa, xã Quảng Sơn, xã Trường Xuân, xã Đắk Song, xã Thuận Hạnh, xã Đức An, xã Thuận An, xã Đăk Mil); Bệnh tuyến trùng gây hại 391,1 ha (tại các phường Nam Gia Nghĩa, phường Bắc Gia Nghĩa, xã Trường Xuân, xã Quảng Sơn, xã Quảng Khê); - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 320,4 ha (tại xã Đạ Tẻh 3); - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha (tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Tân Lập, Tuyên Quang, Tân Hải, Bình Thuận); Bệnh thối rễ tóp cành gây hại 287 ha (tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Thuận Nam, Hàm Kiệm, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Hàm Thuận Bắc). 2. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi;công tác kiểm dịch, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện tốt (đặc biệt là trại chăn nuôi gia công) nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với cùng kỳ. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính tháng 01/2026 đạt 28.729,6 tấn, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27,1 nghìn con trâu, tăng 0,74% so với cùng kỳ; mặc dù tổng đàn trâu có xu hướng tăng nhẹ nhưng việc phát triển chăn nuôi trâu vẫn gặp nhiều khó khăn do hiệu quả kinh tế chưa cao, giá bán thiếu ổn định, chi phí chăn nuôi có xu hướng tăng. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319 nghìn con bò, tăng 1,77% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 28,9 nghìn con, tăng 1,51%); giá thức ăn chăn nuôi và chi phí đầu vào vẫn ở mức cao, hiệu quả kinh tế chưa thật sự hấp dẫn, nhờ thị trường tiêu thụ tương đối ổn định cùng với việc triển khai các chính sách hỗ trợ chăn nuôi kịp thời, quy mô đàn bò trên địa bản tỉnh vẫn duy trì xu hướng tăng. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.533 nghìn con, tăng 4,07% (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.227,9 nghìn con, tăng 7,46%); đàn lợn tăng do có thêm đóng góp của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thái Việt Corporation với quy mô hơn 35.000 con, Công ty Thái Thịnh Tây Nguyên với quy mô hơn 8.000 con đi vào hoạt động từ giữa năm 2025. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.400 nghìn con gia cầm, tăng 8,07% (trong đó gà các loại 16.100 nghìn con, chiếm 71,88% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,61%); đàn gia cầm tăng cao do nhu cầu tiêu thụ thịt gia cầm tăng cao trong dịp cuối năm và Tết Nguyên đán sắp đến, người chăn nuôi chủ động điều chỉnh quy mô đàn để đáp ứng nhu cầu của thị trường. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, bệnh DTLCP phát sinh tại 01 hộ tại xã Tân Hội với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 05 con. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh đang vào mùa khô, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 33.581 m3, tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác ước đạt 30.655,9 ste, tăng 2,03%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/12/2025-10/01/2026) là 68 vụ (đã xử lý 67 vụ), diện tích thiệt hại do phá rừng 2,1 ha. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 36 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 0,05 ha. 4. Thuỷ sản - Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.305 tấn, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 350 tấn, tăng 0,57%). - Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 19.312,7 tấn, tăng 2,15% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 19.262 tấn, tăng 2,15%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản nên sản xuất tôm giống ổn định. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 1,86 tỷ post, tăng 0,27% so với cùng kỳ năm trước. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp trong tháng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 15,64% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 28,03%, ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 17,01%. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước giảm 2,67% so với tháng trước và tăng 15,64% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 28,03% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 17,01%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 14,83%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,65%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 318.361 m3, giảm 11,92% so với tháng trước và tăng 29,26% so với cùng kỳ năm trước. Nhằm chủ động tránh tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng trong điều kiện đẩy mạnh đầu tư công, các doanh nghiệp khai thác đá đã chủ động tăng sản lượng ngay từ những tháng đầu năm để phục vụ nhu cầu xây dựng tăng mạnh trong năm. - Sản phẩm thủy sản chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 1.672 tấn, giảm 6,85% so với tháng trước và tăng 34,20% so với cùng kỳ năm trước. Các doanh nghiệp chủ động tăng cường sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tồn kho phục vụ nhu cầu trong dịp tết Nguyên đán Bính Ngọ. - Sản phẩm rau, quả chế biến, bảo quản: Sản lượng trong tháng ước đạt 3.098 tấn, tăng 4,65% so với tháng trước và tăng 37,38% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu tiêu dùng trong nước có xu hướng tăng cũng như đơn hàng xuất khẩu tăng. Với lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu và nền tảng công nghệ sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản có cơ sở vững chắc để phát triển trong thời gian tới. - Sản phẩm đồ uống: Ước trong tháng sản lượng đạt 26.094 nghìn lít, giảm 14,61% so với tháng trước và tăng 30,11% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên vật liệu tăng cao so với năm trước (như: Malt, gạo, đường) cũng như sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm bia trong thời gian gần đây, bên cạnh đó là sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa và thế giới. Tuy nhiên, so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn hàng phục vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ sắp đến (đặc biệt sản phẩm rượu vang trái cây đang ngày càng được ưa chuộng). - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng sản lượng ước đạt 571 nghìn đôi, giảm 17,08% so với tháng trước và tăng 62,51% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân giảm so với tháng trước là do doanh nghiệp tiếp tục tiêu thụ sản phẩm tồn kho và so với cùng kỳ vẫn tăng mạnh do phục vụ nhu cầu cuối năm và tháng cùng kỳ năm trước là tháng Tết Ất Tỵ nên số ngày hoạt động giảm so với tháng 01/2026. - Sản phẩm phân bón: Ước trong tháng sản lượng sản xuất 5.940 tấn, giảm 27,43% so với tháng trước và tăng 60,14% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân giảm mạnh so với tháng trước một phần do nhu cầu phục vụ sản xuất nông nghiệp trong mùa khô có xu hướng giảm, mặt khác do Công ty TNHH chế biến khoảng sản Thân Gia đã ngừng hoạt động. Tuy nhiên, so với tháng cùng kỳ năm trước vẫn tăng mạnh do trên địa bàn có Nhà máy hóa chất Đức Giang Đắk Nông đi vào sản xuất từ quý II/2025. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng, sản lượng ước đạt 129,3 nghìn tấn, tăng 19,62% so với tháng trước và tăng 1,13% so với cùng kỳ năm trước. - Điện sản xuất: Sản lượng trong tháng ước đạt 2.670 triệu kwh, giảm 3,84% so với tháng trước và tăng 15,26% so với cùng kỳ năm trước. - Điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 509 triệu kwh, tăng 3,48% so với tháng trước và tăng 12,33% so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 7,01% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,89%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,15%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,48%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,25%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 0,34% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 11,09%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,84%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng so với cùng kỳ năm trước là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho thời gian hoạt động sản xuất sản phẩm dịp tết Nguyên đán; dự báo thị trường lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong tháng, các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh tiếp tục thu hút đầu tư, với 02 dự án đầu tư mới, tổng vốn đăng ký 54 tỷ đồng, diện tích 24.766 m². Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 243 dự án còn hiệu lực, gồm 57 dự án FDI và 186 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký 44.655,58 tỷ đồng và 514,588 triệu USD, diện tích đất đăng ký 729,59 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 54%. Hiện nay, 166 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các KCN, ước thực hiện trong tháng đạt doanh thu 2.135 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu 20 triệu USD và nộp ngân sách 92 tỷ đồng, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Cụ thể theo từng KCN: - KCN Lộc Sơn thu hút 55 dự án (09 FDI, 46 trong nước), tổng vốn đăng ký 3.120,43 tỷ đồng và 48,63 triệu USD; diện tích cho thuê 115,77/132,62 ha, tỷ lệ lấp đầy 87,29%. - KCN Phú Hội có 32 dự án (11 FDI, 21 trong nước), tổng vốn 2.384,12 tỷ đồng và 77,10 triệu USD; diện tích cho thuê 55,95/74,58 ha, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút 39 dự án, tổng vốn 857,94 tỷ đồng và 74,8 triệu USD; diện tích cho thuê 51,44/51,44 ha, đạt 100% lấp đầy. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 có 12 dự án, tổng vốn 548,08 tỷ đồng và 11,85 triệu USD; diện tích cho thuê 23,01/28,09 ha, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút 21 dự án, tổng vốn 1.676,9 tỷ đồng và 56,18 triệu USD; diện tích cho thuê 59,25/90,78 ha, tỷ lệ lấp đầy 65,27%. - KCN Hàm Kiệm II có 17 dự án, tổng vốn 772,41 tỷ đồng và 185,58 triệu USD; diện tích cho thuê 87,99/276,93 ha, tỷ lệ lấp đầy 31,77%. - KCN Sông Bình thu hút 03 dự án trong nước, tổng vốn 13.544,93 tỷ đồng; diện tích cho thuê 58,35/202,32 ha, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức có 01 dự án trong nước, vốn đăng ký 100 tỷ đồng; diện tích cho thuê 1,5/210,84 ha, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. - KCN Tâm Thắng thu hút 47 dự án (04 FDI, 43 trong nước), tổng vốn 1.948,8 tỷ đồng và 12,3 triệu USD; diện tích cho thuê 130/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ thu hút 01 dự án, quy mô 129,42 ha, tổng vốn đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lấp đầy 87,44%. Hiện nay, một số KCN đang trong giai đoạn xây dựng và chưa thu hút dự án đầu tư, gồm: KCN Tuy Phong, KCN Sơn Mỹ 1, KCN Sơn Mỹ 2, KCN Phú Bình và KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Năm 2026 là năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm 2026-2030; theo đó, ngày 16/01/2026, UBND tỉnh đã ban hành chỉ thị 04/CT-UBND về các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm đẩy mạnh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công với mục tiêu phấn đấu giải ngân 100% kế hoạch, góp phần hoàn thành mục tiêu tăng trưởng (GRDP) hai con số năm 2026 của Tỉnh. Kế hoạch tổng nguồn vốn đầu tư phát triển thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý năm 2026 là 15.221,6 tỷ đồng. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 609,1 tỷ đồng, tăng 7,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 563,2 tỷ đồng, tăng 7,74%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 45,8 tỷ đồng, tăng gần 7,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh, vốn cân đối ngân sách tỉnh trong tháng ước đạt 261,9 tỷ đồng, tăng 5,58% so với cùng kỳ năm trước, tiếp tục giữ vai trò nguồn lực chủ đạo cho đầu tư phát triển địa phương; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 82,7 tỷ đồng, giảm 43,51%; vốn nước ngoài 10,1 tỷ đồng, giảm 20,31% so với cùng kỳ năm trước; vốn xổ số kiến thiết 205 tỷ đồng, tăng mạnh 78,79%; vốn khác 3,6 tỷ đồng, tăng 78,71%, góp phần bù đắp sự sụt giảm của một số nguồn vốn và tạo thêm dư địa cho đầu tư công trên địa bàn. Tình hình phát triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng (tính đến ngày 18/01/2026) ghi nhận nhiều biến động đan xen. Toàn tỉnh có 341 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 19,19% so với tháng trước, tăng gấp 2,7 lần so với cùng kỳ năm trước; tổng vốn đăng ký đạt 1.223 tỷ đồng, giảm mạnh 65,21% so với tháng trước và giảm 37,7% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy quy mô vốn của doanh nghiệp mới thành lập có xu hướng thu hẹp; 343 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 3,57 lần so với tháng trước và tăng 27,51% so với cùng kỳ năm trước, đây là tín hiệu phục hồi tích cực; 716 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,8 lần so với tháng trước và giảm 8,91% so với cùng kỳ năm trước; 45 doanh nghiệp giải thể, giảm 38,36% so với tháng trước và tăng 50% so với cùng kỳ năm trước[1]. Tình hình thu hút đầu tư: tính đến ngày 20/01/2026, toàn tỉnh có 01 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 6,4 tỷ đồng; 01 dự án xin điều chỉnh. Lũy kế đến ngày 20/01/2026, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có 2.928 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 2.009.980 tỷ đồng (trong đó có 236 dự án FDI, tổng vốn đầu tư là 224.284 tỷ đồng). III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải 1. Thương mại Trong tháng, các cơ sở kinh doanh chuẩn bị hàng hóa đáp ứng kịp thời nhu cầu mua sắm của người tiêu dùng chuẩn bị cho Tết Nguyên đán sắp tới. Thị trường hàng hóa phục vụ dịp tết sôi động, các mặt hàng phong phú và đa dạng. Hoạt động du lịch trong tháng có chuyển biến tốt, lượng khách đến tăng so với tháng trước, dịch vụ ăn uống và dịch vụ khác hoạt động ổn định. Các công ty du lịch lữ hành đã chuẩn bị kế hoạch cho các tour du lịch trong đầu năm mới. Các phương tiện đường thuỷ vận tải hành khách và hàng hóa thông suốt đảm bảo hàng hóa phục vụ Tết cho người dân đảo Phú Quý. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa kịp thời. 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Tình hình thị trường trong tháng, lượng hàng hóa lưu thông đa dạng về chủng loại, phong phú về kiểu dáng. Sức mua của người dân tăng, tập trung vào một số mặt hàng chủ yếu như lương thực thực phẩm, quần áo, giầy dép và một số mặt hàng thiết yếu khác phục vụ cho nhu cầu ngày Tết. Để phục vụ kịp thời cho nhu cầu tiêu dùng của người dân và khách du lịch trong dịp Tết Bính Ngọ, các cửa hàng tạp hóa đến các kios chợ, siêu thị …đã bày bán đủ các loại mặt hàng với nhiều mẫu mã đa dạng, đảm bảo chất lượng để người mua có thể lựa chọn. Công tác kích cầu tiêu dùng được tăng cường thực hiện trong kinh doanh, các siêu thị giảm giá nhiều mặt hàng như các mặt hàng thực phẩm, quần áo may sẵn, đồ gia dụng..., các cửa hàng điện máy, trung tâm mua sắm tăng cường khuyến mãi. Các ngành dịch vụ kinh doanh ăn uống, nhà hàng, cơ sở lưu trú và dịch vụ khác tiếp tục hoạt động phục vụ cho người dân địa phương và du khách trong dịp Tết Nguyên đán sắp tới. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 21.408,2 tỷ đồng, tăng 4,74% so với tháng trước và tăng 16,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.199,2 tỷ đồng, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.211,9 tỷ đồng, tăng 6,19% so với tháng trước và tăng 22,31% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.997,1 tỷ đồng, tăng 8,22% so với tháng trước và tăng 18,36% so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 15.199,2 tỷ đồng, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ như: lương thực, thực phẩm ước đạt 6.504,4 tỷ đồng, tăng 5,59% so với tháng trước và tăng 19,24% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.700,2 tỷ đồng, tăng 3,86% so với tháng trước và tăng 11,78% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 905,9 tỷ đồng, tăng 2,65% so với tháng trước và tăng 18,72% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 2.200,6 tỷ đồng, giảm 0,72% so với tháng trước và tăng 7,18% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng tình hình thị trường trên địa bàn tỉnh ổn định, không có nhiều biến động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đa dạng, phong phú, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn cũng như khách du lịch đến tham quan. Trên địa bàn không có hiện tượng găm hàng, tăng giá quá mức để thu lợi bất chính. Từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/01/2026, đã tiến hành kiểm tra, phát hiện 106 vụ vi phạm, xử lý 88 vụ, tổng số tiền xử phạt 684,13 triệu đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 309,38 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng Giá lương thực, thực phẩm giảm do đang vào vụ thu hoạch rộ nguồn cung dồi dào; giá nhiên liệu giảm do điều chỉnh giá xăng dầu trong nước là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng giảm 0,22% so với tháng trước tăng 4,29% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 08 nhóm hàng tăng giá: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,81%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,59%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,47%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,45%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,34%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,16%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; Giáo dục tăng 0,03%. Có 03 nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 2,16%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33%; Thông tin và truyền thông giảm 0,09%. * Các nguyên nhân làm giảm CPI trong tháng: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33% so với tháng trước, do đang vào thời điểm thu hoạch, nguồn cung các mặt hàng gạo; rau tươi dồi dào nên giá lương thực, thực phẩm giảm so với tháng trước. Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 08, 15 và 22 tháng 01/2026, tính bình quân chung tháng 01/2026 chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu giảm 5,06% so với tháng trước. * Các nguyên nhân làm tăng CPI trong tháng: Giá gas trong tháng tăng 3,14% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh tăng 19.000 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới (giá gas thế giới bình quân tháng 01/2026 công bố ở mức 522,5 USD/tấn, tăng 32,5 USD/tấn so với tháng 12/2025). Nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng đồ uống và thuốc lá, may mặc chuẩn bị cho dịp Tết Nguyên Đán Bính Ngọ tăng cao hơn tháng trước, trong đó nhóm hàng đồ uống và thuốc lá tăng cao nhất ở mức 0,81% so tháng trước. Nhu cầu đi lại và bảo dưỡng phương tiện cuối năm tăng nên giá dịch vụ giao thông công cộng và bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng so với tháng trước. Vào tháng cuối năm nhu cầu sửa chữa nhà cửa tăng làm cho giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,19%; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,33%. 3. Hoạt động du lịch Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.766,1 nghìn lượt, tăng 5,65% so tháng trước và tăng 23,69% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 77,5 nghìn lượt, tăng 10,35% so với tháng trước và tăng 28,61% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.290,7 nghìn ngày khách, tăng 6,67% so với tháng trước và tăng 25,7% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 170 nghìn lượt khách, tăng 15,54% so với tháng trước và tăng 41,63% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 525,4 nghìn ngày khách, tăng 15,65% so với tháng trước và tăng 43,47% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 645,1 tỷ đồng, tăng 5,79% so với tháng trước và tăng 20,72% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.517,1 tỷ đồng, tăng 6,33% so với tháng trước và tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 49,8 tỷ đồng, tăng 4,16% so với tháng trước và tăng 23,37% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 4.945,8 tỷ đồng, tăng 7,24% so với tháng trước và tăng 25,19% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.977,1 tỷ đồng, tăng 8,22% so với tháng trước và tăng 18,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 706,5 tỷ đồng, tăng 0,57% so với tháng trước và tăng 16,55% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 177,3 tỷ đồng, tăng 3,82% so với tháng trước và tăng 16,54% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 160,5 tỷ đồng, tăng 0,25% so với tháng trước và tăng 18,07% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 265,8 tỷ đồng, tăng 0,12% so với tháng trước và tăng 17,5% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.393,2 tỷ đồng, tăng 17,55% so với tháng trước và tăng 21,44% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 293,7 tỷ đồng, tăng 2,98% so với tháng trước và tăng 11,12% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng hoạt động vận tải kho bãi trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và có xu hướng tăng so với tháng trước. Bên cạnh đó, do thời tiết thuận lợi và nhiều lễ hội, sự kiện du lịch diễn ra trong tháng, lượng hành khách và hàng hóa vận chuyển tăng, kéo theo doanh thu vận tải và dịch vụ kho bãi đều tăng. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.353,0 tỷ đồng tăng 3,58% so với tháng trước và tăng 17,76% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.217,0 nghìn HK, tăng 3,03% so với tháng trước và tăng 11,51% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 598.034,4 nghìn HK.Km, tăng 3,55% so với tháng trước và tăng 8,30% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.197,5 nghìn tấn, tăng 4,01% so với tháng trước và tăng 14,17% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 321.671,2 nghìn tấn.Km, tăng 4,45% so với tháng trước và tăng 18,06% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.353,0 tỷ đồng tăng 3,58% so với tháng trước và tăng 17,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 557,3 tỷ đồng, tăng 3,28% so với tháng trước và tăng 15,99% so với cùng kỳ năm trước; danh thu vận tải hàng hóa ước đạt 590,2 tỷ đồng, tăng 4,11% so với tháng trước và tăng 17,67% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 200,1 tỷ đồng, tăng 2,89% so với tháng trước và tăng 23,87% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 5,4 tỷ đồng, tăng 3,01% so với tháng trước và tăng 1,10% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trong tháng ước đạt 4.027 tỷ đồng, bằng 11,7% dự toán năm, tăng 7,0% so cùng kỳ. Trong đó: thu nội địa ước đạt 3.872 tỷ đồng bằng 11,85% dự toán năm, tăng 6,02% so cùng kỳ; thu cân đối xuất nhập khẩu ước đạt 155 tỷ đồng, bằng 8,83% dự toán năm, tăng 39,05% so cùng kỳ. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa như: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 278 tỷ đồng bằng 7,31% dự toán năm, tăng 4,76% so cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 281 tỷ đồng bằng 20,35% dự toán năm, giảm 3,33% so cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 730 tỷ đồng bằng 10,92% dự toán năm, giảm 3,8% so cùng kỳ; thuế thu nhập cá nhân ước đạt 340 tỷ đồng bằng 12,45% dự toán năm, tăng 27,6% so cùng kỳ; các khoản thu về nhà, đất ước đạt 420 tỷ đồng bằng 5,69% dự toán năm, tăng 45,03% so cùng kỳ; thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 1.370 tỷ đồng bằng 23,62% dự toán năm, tăng 0,36% so cùng kỳ. 2. Chi ngân sách Nhà nước Chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng 01/2026 ước đạt 3.000 tỷ đồng, bằng 6,15% dự toán năm. Trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 300 tỷ đồng, bằng 2,27% dự toán năm; chi thường xuyên ước đạt 2.500 tỷ đồng, bằng 8,24% dự toán năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: đến 31/12/2025, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 229.275 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 33.386 tỷ đồng, tăng 17,04%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 226.479 tỷ đồng (chiếm 98,78% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.796 tỷ đồng, (chiếm 1,22% tổng huy động vốn). Ước đến 31/01/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 228.500 tỷ đồng, giảm 0,30% so với đầu năm, tương ứng giảm 775 tỷ đồng. Hoạt động tín dụng: đến 31/12/2025, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 370.984 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 31.521 tỷ đồng, tăng 9,29%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 368.617 tỷ đồng (chiếm 99,36% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.367 tỷ đồng (chiếm 0,64% tổng dư nợ tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 265.205 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 105.778 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/01/2026, dư nợ cho vay đạt 371.700 tỷ đồng, tăng 0,20% so với đầu năm, tương ứng tăng 717 tỷ đồng. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,14% - 0,30%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 3,42% - 4,75%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 5,13% - 6,68%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 5,22% - 6,38%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 3,99%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,92% - 10,48%/năm, trung dài hạn 8,92% - 10,87%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,94% - 4,18%/năm. Dư nợ cho vay: đến 31/12/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 189.802 tỷ đồng, chiếm 51,16% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.602 tỷ đồng, chiếm 8,79% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm nghiệp đạt 148.580 tỷ đồng, chiếm 40,05% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu đạt 7.368 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2,00% trong tổng dư nợ trên địa bàn. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1 Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thiết kế, in ấn và thi công các biểu tượng trang trí, pano tấm lớn, pano dọc, pano phướn, pano tranh cổ động, standee, băng rôn,... phục vụ công tác tuyên truyền cổ động trực quan cho các sự kiện, chương trình chính trị - văn hóa trên địa bàn tỉnh: Chương trình Countdown - Chào năm mới 2026; tuyên truyền nhiệm vụ chiến lược tại Phường Xuân Hương - Đà Lạt và khu vực giáp ranh các tỉnh Khánh Hòa, Đắk Lắk; tuyên truyền chào mừng Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam; Chương trình Nâng cao nhận thức cộng đồng cho học sinh về Công viên Địa chất Toàn cầu UNESCO Đắk Nông - tỉnh Lâm Đồng; Chương trình Giao lưu các Câu lạc bộ Văn hóa - Văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân năm mới 2026 với chủ đề “Mùa Xuân Cao Nguyên”;… - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức bắn pháo hoa nghệ thuật tầm thấp chào đón Tết Dương lịch năm 2026 tại 03 địa điểm: Phường Xuân Hương, phường Phan Thiết và phường Nam Gia Nghĩa; chương trình chào xuân 2026 gồm các tiết mục nghệ thuật mang thông điệp “Lâm Đồng chào xuân”, “Sức sống Lâm Đồng”, “Sắc màu của biển”, “Đại ngàn chào xuân”; chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; tổ chức các hoạt động mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 chủ đề “Mùa Xuân hy vọng” cho phạm nhân tại Trại giam Đại Bình; phối hợp với Công ty Cổ phần truyền thông - giải trí - sáng tạo Viet Vision tổ chức đêm biểu diễn nghệ thuật THE ROSE; phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Lâm Đồng chuẩn bị tổ chức Chương trình “Xuân Chiến sĩ” lần thứ XI năm 2026. Ngoài ra, đã thực hiện 41 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở, trường học và 09 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng đã đón 15.110 lượt khách (Nhà trưng bày chính: 2.970 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 2.976 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 898 lượt; Cơ sở 1- Đông Lâm Đồng: 8.186 lượt; Cơ sở 2 - Tây Lâm Đồng: 80 lượt). Tổ chức triển lãm chuyên đề “Đảng Cộng sản Việt Nam - Từ Đại hội đến Đại hội” từ ngày 15/01/2026 đến hết ngày 28/02/2026 tại Nhà trưng bày - Bảo tàng tỉnh. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng tổ chức phục vụ 119 đoàn với 5.551 lượt người, trong đó có 41 khách nước ngoài; phục vụ 10 lễ viếng, 01 lễ kết nạp Đoàn và 01 đợt sinh hoạt chuyên đề. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 1.449 lượt khách (13 lượt khách quốc tế) đến thăm viếng, tham quan, nghiên cứu, trải nghiệm. Thường xuyên triển khai sưu tầm tài liệu, hiện vật, các mẩu chuyện kể của cán bộ, chiến sĩ cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ phục vụ trưng bày bổ sung tại Nhà tưởng niệm - Trưng bày Khu di tích. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 122 thẻ bạn đọc (37 thẻ thiếu nhi); phục vụ 226.763 lượt bạn đọc; luân chuyển 17.759 lượt tài liệu; bổ sung 793 bản sách từ nguồn biếu, tặng; số hóa 7.520 trang tài liệu địa chí/38 tài liệu. Trưng bày 307 tài liệu nhân các ngày kỷ niệm; cập nhật 53 tin bài lên trang website; chia sẻ bài lên trang fanpage Thư viện 197 lượt/29 bài; sưu tầm 79 tin bài về Lâm Đồng. Ngoài ra tổ chức phục vụ xe ô tô thư viện lưu động đa phương tiện với chủ đề “Đọc sách mỗi ngày - Nuôi dưỡng tương lai” tại trường Tiểu học N’Trang Lơng và trường THCS-THPT Nguyễn Khuyến phường Nam Gia Nghĩa. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Trong tháng tổ chức Giải Pickleball tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; Giải chạy bộ “Vietnam Highlands Trail - Lâm Đồng”; 02 giải Quần vợt ATP Challenger 50 tại NovaWolrd Phan Thiet; Giải Golf đồng đội quốc tế Việt Nam-Vietnam International Team Golf Championship 2026; Giải chạy Chinh phục thử thách lần thứ 3 “Prenn Trail Summit 2025”. - Thể thao thành tích cao: Cử đoàn vận động viên tham gia 03 giải thể thao quốc gia. Kết quả đạt được 15 huy chương (03 HCV, 03 HCB, 09 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2025-2026, đảm bảo ổn định nề nếp dạy học, chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục. Năm học 2025–2026, toàn tỉnh có 1.603 trường học và cơ sở giáo dục với 818.588 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 526 trường với 151.943 trẻ; cấp tiểu học có 564 trường với 321.257 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 240.603 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 104.785 học sinh. Trong tháng đã tổ chức thành công kỳ thi chọn học sinh giỏi THPT cấp tỉnh năm học 2025 - 2026 với gần 5.000 học sinh lớp 10, 11, 12 dự thi tại 07 điểm thi với 245 phòng thi. Đây là kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh với quy mô lớn nhằm phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, khuyến khích học sinh và giáo viên nâng cao chất lượng dạy và học. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoang vùng, xử lý khi phát hiện các bệnh truyền nhiễm; đảm bảo đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. - Phòng chống sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 626 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 229 ca so với tháng trước và tăng 31 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong. Trong tháng, triển khai giám sát lăng quăng tại 73 điểm với 124 lượt giám sát; đã phát hiện xử lý 40 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 01 ca mắc sốt rét ngoại lai (khu vực Đắk Song, bệnh nhân đi từ Conggo về). - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 326 ca mắc, tăng 70 ca so với tháng trước và tăng 281 ca với cùng kỳ năm trước. Khu vực có số ca mắc nhiều nhất là La Gi và Gia Nghĩa chiếm 7,4% số ca mắc toàn tỉnh. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 09 ca mắc, giảm 05 ca so với tháng trước và giảm 949 ca so với cùng kỳ năm trước. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.334 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.773 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 3.403 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.262 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 2.737 trẻ, mũi 2 cho 3.583 trẻ và mũi 3 cho 3.594 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 33.315 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng phát hiện 01 bệnh nhân phong mới tại xã Liên Hương. Hiện nay toàn tỉnh đang quản lý 451 bệnh nhân phong; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 12 người (5 trả về cộng đồng hết giám sát, không tàn tật, 7 tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, khám phát hiện 15 bệnh nhân lao mới, trong đó có 04 bệnh nhân lao phổi AFB (+). - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 62 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 05 trường hợp chuyển AIDS và 03 trường họp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.791 người mắc HIV, chuyển AIDS 1.782 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 478.260 lượt bệnh nhân; số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.009 lượt người; tổng số ngày điều trị nội trú là 220.342 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 80%. Đã thực hiện xét nghiệm cho 570.067 tiêu bản; chẩn đoán 139.717 hình ảnh và phẫu thuật 5.137 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 16 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 419 cơ sở, kết quả có 01 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 8 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương. Trong tháng đã ban hành Giấy phép xuất bản đặc san Dalat Info của Trung tâm Xúc tiến, Đầu tư Thương mại và Du lịch tỉnh Lâm Đồng. Cung cấp, theo dõi và tổng hợp thông tin báo chí, dư luận xã hội về tỉnh Lâm Đồng; thực hiện điểm báo, báo cáo định kỳ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh tỉnh Lâm Đồng được tăng cường với nhiều hình thức, tận dụng hiệu quả các nền tảng truyền thông đa phương tiện; phản ánh kịp thời, toàn diện các hoạt động đối nội, đối ngoại và các vấn đề, sự kiện nổi bật của tỉnh, trong nước và quốc tế. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 10 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc -  Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được cải thiện, các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo được triển khai đồng bộ, hiệu quả; hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; nhiều lễ hội truyền thống như Katê của người Chăm, Lễ mừng lúa mới của người K’ho, Lễ cúng bến nước của người M’nông, lễ hội của người Churu, Mạ... được duy trì, phục dựng và tổ chức trang trọng; các trò chơi dân gian, phong tục tập quán tốt đẹp được khơi dậy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng; toàn tỉnh có trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao phục vụ sinh hoạt cộng đồng. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình và internet; các chương trình bằng tiếng dân tộc được phát sóng, qua đó giúp đồng bào dễ dàng tiếp cận các thông tin, chủ trương, chính sách của Nhà nước. - Mạng lưới trường lớp vùng đồng bào DTTS ngày càng hoàn thiện. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú duy trì sĩ số học sinh ổn định. Các chính sách miễn, giảm học phí; hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở nội trú, bán trú… được thực hiện theo đúng chế độ quy định. Việc dạy tiếng Chăm, Ê đê, M’nông, K’ho trong nhà trường tiếp tục được triển khai, qua đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. - Y tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân. Tiếp tục thực hiện chủ trương nâng cao tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ, hướng tới mục tiêu giúp đồng bào DTTS tiếp cận dịch vụ y tế hiện đại và chăm sóc sức khỏe toàn diện; công tác đào tạo nhân lực y tế là người DTTS được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng công tác y tế vùng đồng bào DTTS. - Tiếp tục thực hiện cung ứng các mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống vùng đồng bào DTTS, nhất là nhu cầu sản xuất lúa nước vụ Đông xuân tại các địa phương; tập trung thu mua hết sản lượng bắp lai thương phẩm và mủ cao su; triển khai cho hộ dân đăng ký nhu cầu nhận hỗ trợ đầu tư phát triển sản xuất bắp lai, lúa nước năm 2026; đồng thời thông báo tạm ngưng khai thác mủ cao su và vận động đồng bào chăm sóc, phòng chống cháy cao su trong mùa khô năm 2026. 5.2. Chính sách tôn giáo Tình hình hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh tổ chức Đại giới đàn Chơn Thành tại Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Thiện, xã Tân Lập cho 1.282 giới tử; đăng ký bổ nhiệm Trụ trì 02 cơ sở Phật giáo chùa An Sơn, phường Xuân Hương và chùa Vạn Thọ, xã Tà Hine; Thiền viện Linh Ẩn, xã Nam Ban Lâm Hà tổ chức Lễ cầu quốc thái dân an diễn ra từ ngày 16-19/01/2026 với khoảng 1.000 tăng ni; trong đó, có 04 tu sỹ người Nepal, Ấn Độ tham dự. Đồng bào Công giáo trên địa bàn tỉnh tổ chức Lễ Giáng sinh diễn ra an lành, hạnh phúc; Cộng đoàn Don Bosco Đà Lạt tổ chức Hội chợ mừng năm mới 2026 cho hơn 1.700 em thiếu nhi tham dự với chủ đề của hội chợ: “Sống xanh mỗi ngày”; Giám mục Giáo phận Đà Lạt chủ trì Thánh lễ tạ ơn, Khánh thành Quần thể mục vụ Giáo xứ Ka La, xã Bảo Thuận với khoảng 3.000 linh mục, tu sĩ, giáo dân địa phương tham dự. Các chi hội, điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung thuộc Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tổ chức Lễ Giáng sinh năm 2025 với chủ đề “Chúa vào đời”… Hoạt động các tổ chức tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã rà soát, phê duyệt danh sách quà tặng của Chủ tịch nước đối với người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 của các xã, phường và đặc khu; ngoài ra đã giải quyết 315 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 31/12/2025, toàn tỉnh có 308.119 người tham gia BHXH, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 259.739 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước; 48.380 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước); có 235.941 người tham gia BHTN, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 3.122.547 người, tăng 3,22% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 93,0% dân số năm 2025. Trong năm 2025, đã giải quyết mới 145.357 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.433 người (Trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 4.571 người; trợ cấp 1 lần cho 30.430 người; chế độ ốm đau cho 68.163 người; chế độ thai sản cho 14.871 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 4.284 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 20.605 người và hỗ trợ học nghề cho 2.433 người).  7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/12/2025 - 15/01/2026) Trong tháng xảy ra 62 vụ tai nạn giao thông, giảm 12 vụ so với tháng trước (tháng 12/2025) và giảm 22 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 34 người, giảm 01 người so với tháng trước và tương đương so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 45 người, giảm 12 người so với tháng trước và giảm 24 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Từ ngày 27/12/2025 đến 18/01/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ sạt lở, sụt lún bờ biển, bờ sông tại xã Tân Thành; hiện nay chưa thống kê giá trị thiệt hại. - Cháy, nổ: Từ ngày 15/12/2025 đến 15/01/2026 trên địa bàn tỉnh xảy ra 08 vụ cháy, nổ; không có thiệt hại về người; so với tháng trước giảm 03 vụ và tăng 07 vụ so với cùng kỳ năm trước. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ vi phạm môi trường, đã xử phạt 210 triệu đồng; so với tháng trước tăng 01 vụ và giảm 05 vụ so với cùng kỳ năm trước. * Đánh giá chung Trong tháng Một, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng duy trì xu hướng ổn định và khởi sắc, tạo nền tảng thuận lợi cho việc triển khai các nhiệm vụ phát triển ngay từ đầu năm. Hoạt động nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục phát triển ổn định nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi và giá nông sản cơ bản ổn định; diện tích gieo trồng vụ Đông xuân tăng 1,42%, tổng đàn vật nuôi duy trì đà tăng, sản lượng khai thác thủy sản tăng 2,15%. Hoạt động đầu tư phát triển được triển khai sớm và có tín hiệu tích cực, trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh tăng 5,58% so với cùng kỳ; đặc biệt, vốn từ xổ số kiến thiết tăng mạnh 78,79%, góp phần thúc đẩy đầu tư công và hoàn thiện hạ tầng kinh tế - xã hội. Sản xuất công nghiệp duy trì mức tăng trưởng khá; thương mại, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động trong thời điểm cận Tết Nguyên đán, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và đi lại của người dân. Hoạt động vận tải thông suốt, bảo đảm lưu thông hàng hóa và hành khách. Thu ngân sách và hoạt động tín dụng cơ bản ổn định, kịp thời hỗ trợ sản xuất, kinh doanh. Hoạt động doanh nghiệp ghi nhận sự phục hồi về số lượng doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn những khó khăn liên quan đến vốn và tính bền vững. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm, an sinh xã hội được bảo đảm; quốc phòng - an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững. TKT Lâm Đồng [1] Số liệu được cập nhật đến ngày 18/01/2026 của Sở Tài chính.