02633 540134 | lamdong@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 12, quý IV và năm 2025 tỉnh Lâm Đồng
  •   07/01/2026 08:32

Năm 2025, kinh tế thế giới được các tổ chức quốc tế lớn như IMF, EU và Fitch Ratings nhận định có triển vọng khả quan hơn với mức dự báo tăng trưởng được điều chỉnh tăng nhẹ so với các kỳ đánh giá trước, dao động trong khoảng từ 2,5% đến 3,2%, trong khi OECD giữ nguyên dự báo ở mức 3,2%; thương mại hàng hóa toàn cầu dự kiến tăng trưởng ổn định ở mức 2,4% theo dự báo của WTO và lạm phát toàn cầu tiếp tục xu hướng giảm trên diện rộng xuống mức 4,2%. Trong bối cảnh đó, khu vực Đông Nam Á chứng kiến sự phân hóa về tốc độ phục hồi, song Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá là quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực, với các mức dự báo cụ thể: ADB lạc quan nhất ở mức 7,4%, tiếp đến là WB 6,6%, IMF 6,5% và OECD 6,2%. Động lực tăng trưởng chủ yếu của Việt Nam trong năm 2025 được xác định dựa trên đà phục hồi mạnh mẽ của kim ngạch xuất khẩu và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; kết hợp với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) duy trì đà tăng trưởng tích cực, mặc dù nền kinh tế vẫn đối mặt với thách thức từ rủi ro thiên tai và những bất định trong chính sách thương mại toàn cầu. Hòa cùng xu thế chung của cả nước, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng năm 2025 tiếp tục phục hồi và phát triển theo hướng ổn định, tích cực trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức từ kinh tế thế giới và trong nước. Hoạt động sản xuất, kinh doanh trên hầu hết các lĩnh vực duy trì đà tăng trưởng; thị trường hàng hóa, dịch vụ ổn định; đầu tư xã hội và du lịch tiếp tục được thúc đẩy; an sinh xã hội được bảo đảm. Sự đóng góp đồng đều của cả ba khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực dịch vụ, đã tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng chung của nền kinh tế địa phương trong năm. I. Tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025, tăng 6,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,10%, đóng góp 1,68 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,54%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm (riêng công nghiệp, tăng 4,80%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ tăng 8,28%, đóng góp 3,33 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm. Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 so với cùng kỳ (%) Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,1% (cùng kỳ tăng 5,02%), đóng góp 1,68 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; trong đó nông nghiệp tăng 5,22% (cùng kỳ tăng 5,13%), đóng góp 1,5 điểm phần trăm; thủy sản tăng 4,47% (cùng kỳ tăng 3,97%), đóng góp 0,16 điểm phần trăm; lâm nghiệp tăng 3,22%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,54%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm; trong đó xây dựng tăng 7,35%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm; công nghiệp tăng 4,8%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ đạt mức tăng 8,28% cao nhất trong 3 năm gần đây (năm 2023: 8,06%; năm 2024: 6,97%), đóng góp 3,33 điểm phần trăm, với nhiều ngành tăng trưởng mạnh như: bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 10,55%, đóng góp 0,79 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 15,07%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,79%, đóng góp 0,66 điểm phần trăm; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 11,38%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 10,52%, đóng góp 0,16 điểm phần trăm. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các chính sách xúc tiến, kích cầu, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ, sau khi bộ máy và địa giới hành chính được sắp xếp, vận hành ổn định. Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế của tỉnh chiếm 38,59%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,87%; khu vực dịch vụ chiếm 35,83%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm, chiếm 4,71% (cơ cấu tương ứng của năm 2024 là 38,06%; 21,52%; 35,59%; 4,83%). Nhìn chung, nền kinh tế của tỉnh ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao do từ năm 2024 trở lại đây mặt hàng nông sản chủ lực đang ở mức giá rất cao lên người dân mạnh dạn đầu tư, chăm sóc hơn; song khu vực dịch vụ đang dần có sự chuyển biến tích cực hơn.Cơ cấu kinh tế trong GRDP (ĐVT: %) Về quy mô GRDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 105,24 triệu đồng/người, tăng 12,7% (tăng 11,86 triệu đồng/người), tương đương 4.047,6 USD/người. Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 186,02 triệu đồng/lao động, tăng 13 triệu đồng/người so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng năng suất lao động luôn được cải thiện rõ rệt và ổn định qua từng năm (từ mức 109,1 năm 2020 lên 186,0 năm 2025). II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Năm 2025, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng của thiên tai, mưa lớn và lũ quét xảy ra trong hai tháng cuối năm, gây thiệt hại về cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trong năm vẫn duy trì và phát triển ổn định. Diện tích các loại cây trồng hàng năm tăng nhẹ so với năm trước. Chăn nuôi phát triển theo hướng thích ứng thị trường, người chăn nuôi chủ động chuyển sang nuôi gia cầm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và nâng cao hiệu quả kinh tế. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, nhất là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát hiệu quả, giúp người dân yên tâm đầu tư. Sản lượng khai thác thuỷ sản biển ổn định. Công tác phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và Chương trình OCOP được chú trọng; nhiều doanh nghiệp, chủ thể sản xuất được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông sản chủ lực, sản phẩm OCOP tại các hội nghị, triển lãm trong cả nước, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu nông nghiệp của tỉnh. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Diện tích gieo trồng cây hàng năm sơ bộ năm 2025 ước đạt 425.790,4 ha, tăng 1,43% so với năm trước và tăng ở hầu hết các loại cây trồng (chỉ có cây ngô diện tích gieo trồng giảm 5,2% và cây đậu tương diện tích gieo trồng giảm 1,6% so với năm trước). Trong đó: Diện tích cây lương thực có hạt sơ bộ đạt 223.293,7ha, giảm 0,43%; sản lượng lương thực ước đạt 1.392.779,1 tấn, giảm 0,9% so với năm trước (cây lúa diện tích sơ bộ đạt 167.429,8 ha, tăng 1,28%; sản lượng ước đạt 1.006.108 tấn, giảm 0,78%. Cây ngô diện tích sơ bộ đạt 55.863,9 ha, giảm 5,2%; sản lượng ước đạt 386.671,1 tấn, giảm 1,21%). Cụ thể: - Vụ Đông xuân diện tích gieo trồng đạt 105.612 ha, tăng 1,5% so với vụ Đông Xuân năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 61.323,3 ha, tăng 2% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 55.314 ha, tăng 2,54%; sản lượng đạt 365.836,8 tấn, tăng 2,94%; năng suất đạt 66,1 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 26.727,6 ha, bằng so với cùng vụ năm trước; sản lượng đạt 872.364,2 tấn; tăng 1,1%; năng suất đạt 326,4 tạ/ha, tăng 3,5 tạ/ha. - Vụ Hè thu diện tích gieo trồng đạt 144.100,5 ha, tăng 0,04% so với vụ hè thu năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 79.012,4 ha, giảm 0,34% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 48.232 ha, tăng 0,23%; sản lượng đạt 262.651,1 tấn, giảm 8,67%; năng suất đạt 54,5 tạ/ha, giảm 5,3 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 32.767,3 ha, tăng 0,66%; sản lượng đạt 989.956,1 tấn; giảm 0,86%; năng suất đạt 302,1 tạ/ha, giảm 4,6 tạ/ha. - Vụ Mùa diện tích gieo trồng đạt 176.077,9 ha, tăng 1,4% so với vụ mùa năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 85.544,9 ha, tăng 0,83% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 63.883,8 ha, tăng 0,99%; sản lượng đạt 377.620,1 tấn, tăng 1,76%; năng suất đạt 59,1 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 31.167 ha, tăng 2,9%; sản lượng đạt 961.051,6 tấn; tăng 3,5%; năng suất đạt 308,4 tạ/ha.Diện tích gieo trồng cây hàng năm qua các năm 1.2. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh duy trì phát triển ổn định, tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nền nông nghiệp của tỉnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. Tổng diện tích trồng cây lâu năm sơ bộ đạt 622.873,0 ha, tăng 1,24% so với năm trước (cây ăn quả các loại diện tích đạt 107.152,3 ha, tăng 1,83%). Cụ thể một số cây trồng chính như sau: - Cây chè: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 9.329,3 ha, giảm 5,48%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 8.938,3 ha, giảm 1,39%; sản lượng ước đạt 116.699,1 tấn, giảm 0,49%; năng suất ước đạt 130,6 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với năm trước. Diện tích chè giảm do nhiều hộ chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, bơ, chanh dây,...; - Cây cà phê: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 328.650 ha, tăng 1,03%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 312.859,2 ha, tăng 1,71%; sản lượng ước đạt 1.028.393 tấn, tăng 5,57%; năng suất ước đạt 32,9 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với năm trước; - Cây cao su: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 75.381 ha, tăng 2,6%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 63.718,6 ha, tăng 3,05%; sản lượng ước đạt 112.026 tấn, tăng 3,95%; năng suất ước đạt 17,6 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha so với năm trước. Cao su chủ yếu tập trung ở khu vực Bình Thuận và Đắk Nông; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện; - Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 37.193 ha, tăng 0,02%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 34.613,8 ha, tăng 3,61%; sản lượng ước đạt 89.865 tấn, tăng 7,28%; năng suất ước đạt 26 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với năm trước. Trong năm, giá hồ tiêu duy trì ở mức cao và ổn định, người dân mở rộng diện tích cũng như tăng cường thâm canh để nâng cao năng suất vườn cây; - Cây điều: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 50.215 ha, tăng 1.49%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 47.857,9 ha, tăng 0,64%; sản lượng ước đạt 39.970 tấn, tăng 2,31%; năng suất ước đạt 8,4 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so với năm trước; - Cây dâu tằm: Trong thời gian gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định (180.000 đ - 200.000 đ/kg) nên người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. Diện tích hiện có sơ bộ đạt 11.320,4 ha, tăng 4,93%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 11.048,6 ha, tăng 6,99%; sản lượng ước đạt 289.405 tấn, tăng 5,6%; năng suất ước đạt 261,9 tạ/ha, giảm 3,5 tạ/ha so với năm trước; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 44.283,5 ha, tăng 4,34%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 23.070,2 ha, tăng 11,54%; sản lượng ước đạt 290.266 tấn, tăng 11,34%; năng suất ước đạt 125,8 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha so với năm trước. Trong thời gian tới, diện tích sầu riêng tiếp tục có xu hướng tăng do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác; - Cây thanh long: Trong năm 2025, giá bán thanh long tương đối ổn định, dù vẫn xuất hiện những biến động ngắn hạn theo mùa vụ (một số thời điểm, giá tăng cao nhờ nhu cầu xuất khẩu khả quan, nhất là các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á), mức giá thuận lợi này đã khuyến khích nhiều hộ tập trung chong đèn trái vụ. Diện tích hiện có sơ bộ đạt 26.126 ha, tăng 0,56%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 26.108,7 ha, tăng 1,06%; sản lượng ước đạt 577.731 tấn, tăng 2,92%; năng suất ước đạt 221,3 tạ/ha, tăng 4 tạ/ha so với năm trước. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Toàn tỉnh hiện có 966 công trình thủy lợi, trong đó: có 536 hồ chứa; 255 đập dâng; 13 cống dâng; 51 trạm bơm; 91 đập tạm; 20 kênh tiêu cùng với khoảng 3.632 km kênh mương (đã kiên cố hóa được khoảng 1.940 km, đạt 53,4%) và hệ thống đê biển, kè biển, kè sông. Trong năm 2025, diện tích canh tác được tưới đạt trên 73,45% diện tích cần tưới, trong đó: diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt khoảng 150.128 ha; diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt khoảng 97.202 ha. 1.4. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng Trong tháng 12/2025, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 433 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại 980 ha; chuột gây hại 310 ha; rầy nâu gây hại 171 ha (so với tháng trước, sâu đục thân gây hại tăng 39 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại tăng 465 ha; chuột gây hại tăng 60 ha; rầy nâu gây hại tăng 20 ha); - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.252,8 ha (tăng 16,8 ha so với tháng trước) tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, phường Đông Gia Nghĩa, phường Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.366 ha (tăng 36 ha so với tháng trước) tại các xã Bảo Lâm 1,2,3,4,5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác; bọ xít muỗi gây hại 2.047,2 ha cà phê chè (tăng 26,8 ha so với tháng trước) tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; Bệnh chết khô ngọn gây hại 30 ha tại Bảo Lâm 1; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.205,4 ha (tăng 319,1 ha so với tháng trước); bệnh thán thư gây hại 2.876 ha (tăng ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1,2,3,4, Tánh Linh, Suối Kiết, Tân Minh, Nam Thành; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 316 ha (tăng 02 ha so với tháng trước) tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 4.069 ha (tăng 920 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 916 ha (tăng 06 ha so với tháng trước) tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Tân Thành, Tiến Thành, Tân Lập, Tân Hải, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Liên Hương. Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất. 1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao đến nay đạt 107.217 ha, với 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa) và có 08 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận. - Quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói: + Mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói xuất khẩu: Trong năm 2025, toàn tỉnh đã được cấp 952 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích 39.182 ha và 341 cơ sở đóng gói với tổng diện tích 533.659 m2; số hồ sơ gửi và đang chờ phê duyệt có 75 hồ sơ đề nghị cấp mã vùng trồng với quy mô 659,43 ha và 69 hồ sơ đề nghị cấp mã cơ sở đóng gói với tổng diện tích nhà xưởng 144.527,85 m2. + Vùng sản xuất hạt giống rau xuất khẩu sang thị trường EU: Có 12 mã số vùng trồng với sản lượng trên 7.000 kg hạt giống ớt, cà chua/vụ. Bên cạnh đó, có 05 mã vùng trồng cây giống, ngọn giống của Công ty TNHH Đà Lạt Hasfarm đăng ký xuất khẩu quy mô gần 300.000 ngọn giống, cây giống/vụ. + Mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt: Trong năm 2025, toàn tỉnh đã được cấp 271 mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt với tổng diện tích 2.641,58 ha. 1.6. Chương trình OCOP Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 926 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP đã được chứng nhận, trong đó có: 75 sản phẩm 4 sao và 844 sản phẩm 3 sao; trong năm có 07 sản phẩm OCOP tham gia đánh giá phân hạng cấp quốc gia 5 sao với 529 chủ thể tham gia. Kết quả dự kiến có 07 sản phẩm đề xuất đánh giá, phân hạng cấp Quốc gia đạt 5 sao (gồm 02 sản phẩm đánh giá, phân hạng lại và 04 sản phẩm nâng hạng lên 5 sao); 05 sản phẩm đạt hạng 4 sao (01 sản phẩm đánh giá, phân hạng lại và 04 sản phẩm nâng hạng từ 3 sao lên 4 sao); 09 sản phẩm đạt hạng 3 sao. 2. Chăn nuôi Trong năm 2025, ngành chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển thuận lợi; mặc dù giá thức ăn, con giống gia súc ở mức cao, dịch bệnh tiêu chảy trên đàn bò sữa và bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại một số nơi trên địa bàn tỉnh nhưng nhờ công tác kiểm dịch và quản lý tốt tại các trang trại (đặc biệt là trại chăn nuôi gia công) nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với năm trước.Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm(ĐVT: 1.000 con) - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27,3 nghìn con trâu, tăng 1,21% so với cùng thời điểm năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 406 tấn, tăng 1,95% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 1.628,3 tấn, tăng 1,83%. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 318,7 nghìn con bò, tăng 1,67% so với cùng thời điểm năm trước (trong đó đàn bò sữa 28,9 nghìn con, tăng 1,51%). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 4.399,5 tấn, tăng 2,37% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 17.506,3 tấn, tăng 2,12%. Sản lượng sữa bò quý IV/2025 ước đạt 23.950 tấn, giảm 0,8% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 95.031,7 tấn, tăng 0,8%. - Đàn lợn: Trong năm 2025 có thêm sự đóng góp của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thái Việt Corporation với quy mô hơn 35.000 con lợn và Công ty Thái Thịnh Tây Nguyên với quy mô hơn 8.000 con lợn nên tổng đàn cũng như sản lượng thịt hơn tăng cao so với năm trước. Tổng đàn lợn hiện có 1.532,3 nghìn con, tăng 4,06% so với cùng thời điểm năm trước (lợn không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.227,8 nghìn con, tăng 7,48%); sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 85.789,2 tấn, tăng 10,26% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 240.000,6 tấn, tăng 6,59%. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.395,6 nghìn con, tăng 8,05% so với cùng thời điểm năm trước (trong đó gà các loại 16.029,8 nghìn con, chiếm 71,58% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,13%); sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 25.094,5 tấn, tăng 10,95% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 77.340,8 tấn, tăng 10,75%; sản lượng trứng quý IV/2025 ước đạt 312,3 triệu quả, tăng 2,6%, sản lượng trứng cả năm ước đạt 1.249,1 triệu quả, tăng 4,41%. Tổng đàn gia cầm và sản lượt thịt hơn tăng cao so với năm trước nhờ sự đóng góp của Công ty cổ phần MeBi Farm với quy mô trên 202 nghìn con gà đẻ trứng đã góp phần đáng kể vào việc nâng tổng đàn. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, bệnh DTLCP phát sinh tại 13 hộ tại 09 thôn của 04 xã với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 575 con/28.942 kg. Lũy kế, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 2.480 con/131.692,2 kg. Đến nay, có 21/25 xã đã qua 21 ngày không phát sinh lợn mắc bệnh, 04/25 xã dịch bệnh chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong năm 2025, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có nhiều chuyển biến tích cực; công tác trồng rừng, khôi phục và bảo vệ rừng thực hiện hiệu quả; diện tích rừng trồng mới và số cây xanh phân tán đều vượt kế hoạch; số vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp giảm so với cùng kỳ năm 2024. Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh đã vào mùa khô, không phát sinh thêm diện tích rừng trồng mới tập trung, giảm 1.705,7 ha so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 diện tích rừng trồng mới ước đạt 532 ha, giảm 54,22%; lũy kế năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 5.030 ha, giảm 22,61% so với năm trước; trồng cây xanh phân tán ước đạt 17,42 triệu cây. Trong tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 50.605,2 m3, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 ước đạt 85.697 m3, giảm 4,43%; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 368.390 m3, giảm 3,88%. Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 13.530 ste, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 ước đạt 42.326 ste, tăng 0,54%; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 270.472 ste, tăng 6,95%. Trong năm 2025, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 390 vụ (179 vụ đã xác định được đối tượng vi phạm), trong đó có 173 vụ phá rừng trái pháp luật (80 vụ xác định được đối tượng vi phạm) với diện tích rừng thiệt hại 29,99 ha. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ vi phạm giảm 365 vụ (số vụ phá rừng giảm 133 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại do phá rừng giảm 24,6 ha. 4. Thuỷ sản Trong năm 2025, sản lượng nuôi trồng giảm và khai thác đều tăng so với năm trước; hoạt động sản xuất giống, nhất là tôm giống được duy trì tốt nhờ kiểm soát chất lượng giống và hệ thống xét nghiệm chặt chẽ; đẩy mạnh công tác chống khai thác IUU. - Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 5.702,5 tấn, tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 513,5 tấn, tăng 2,68%); quý IV/2025 ước đạt 5.420 tấn, giảm 0,33% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.500 tấn, tăng 11,11%); lũy kế năm 2025 ước đạt 28.727 tấn, giảm 5,55% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 5.100 tấn, tăng 3,13%). - Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 20.865,3 tấn, tăng 8,74% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 19.901,1 tấn, tăng 6,18%); quý IV/2025 ước đạt 69.730 tấn, tăng 4,43% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế năm 2025, sản lượng khai thác đạt 252.530 tấn, tăng 4,89% (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 251.920 tấn, tăng 5,39%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Trong năm 2025 hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Công tác quản lý chất lượng giống thuỷ sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,08 tỷ post, giảm 2,92% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế năm 2025 ước đạt 24,63 tỷ post, tăng 6,32% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản qua các năm III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp năm 2025, duy trì đà phục hồi và tăng trưởng ổn định, cơ cấu ngành chuyển biến theo hướng tích cực, tiêu thụ sản phẩm cải thiện, tồn kho được kiểm soát, các khu công nghiệp tiếp tục thu hút đầu tư, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển công nghiệp trong thời gian tới. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 2,14% so với tháng trước và tăng 12,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 9,32% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 18,20%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,64%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,02%. Dự ước quý IV/2025 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 11,63% so với quý trước và tăng 10,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,09%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 13,61%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,05%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,71%. Tính chung cả năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,46%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,01%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,9%. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) qua các năm 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 401.399 m3, giảm 1,17% so với tháng trước và tăng 18,69% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 973.399 m3, tăng 6,29% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 4.199.087 m3, tăng 10,21% so với cùng kỳ. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.167 tấn, tăng 10,44% so với tháng trước và tăng 13,52% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 8.967 tấn, tăng 16,81% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 37.063 tấn, tăng 17,52% so với cùng kỳ. Một số công ty đã đưa được sản phẩm vào siêu thị Mega mark và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua Malaisya, Indonexia. - Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.622 tấn, tăng 4,46% so với tháng trước và tăng 37,59% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 5.984 tấn, tăng 0,16% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 22.584 tấn, tăng 0,03% so với cùng kỳ. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 862 nghìn đôi, tăng 35,20% so với tháng trước và tăng 66,83% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 2.052 nghìn đôi, tăng 45,09% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 6.548 nghìn đôi, tăng gấp 1,78 lần so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng vào các tháng cuối năm và năng lực tăng thêm ở Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 9.172 tấn tăng 32,45% so với tháng trước và tăng 23,87% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 29.412 tấn, tăng 35,02% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 127.695 tấn, tăng 22,71% so với cùng kỳ, nguyên nhân do năm 2025 nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông đi vào sản xuất. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 176,8 nghìn tấn, tăng 1,48% so với tháng trước và tăng 44,80% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 374,857 nghìn tấn, tăng 11,74% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 1.584,396 nghìn tấn, tăng 4,39% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 4.552 triệu kwh, tăng 4,23% so với tháng trước và tăng 15,01% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 9.015 triệu kwh tăng 7,51% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 36.652 triệu kwh, tăng 2,04% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 459 triệu kwh, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 3,31% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 1.370 triệu kwh tăng 1,35% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 5.483 triệu kwh, giảm 0,19% so với cùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 5,61% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,68%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,09%; trong khi ngành khai khoáng giảm 0,83% và ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6%. Tính chung cả năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,69% so với năm trước, chủ yếu nhờ mức tăng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,27% và ngành sản xuất, phân phối điện tăng 2,72%; ngành khai khoáng giảm mạnh 16,06%. Theo loại hình doanh nghiệp, so với cùng kỳ năm trước chỉ số sử dụng lao động trong tháng của doanh nghiệp nhà nước tăng 0,26%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 7,70% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5,32%. Mức tăng cao của chỉ số sử dụng lao động trong tháng và xu hướng cao hơn bình quân năm 2025 cho thấy tín hiệu tích cực của thị trường lao động, phản ánh nhu cầu tuyển dụng tăng nhằm phục vụ sản xuất, kinh doanh cuối năm và triển vọng phát triển của các ngành công nghiệp trong thời gian tới. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 2,26% so với tháng trước và giảm 5,94% so với cùng kỳ; lũy kế năm 2025 chỉ số tiêu thụ tăng 7,68% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ năm 2025 tăng như: sản xuất thực phẩm tăng 2,46%; dệt tăng 5,87%; sản xuất trang phục tăng 22,65%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 72,35%; chế biến gỗ tăng 15,60%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 18,75%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 23,72%... Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: sản xuất đồ uống giảm 8,16%;... Nhìn chung chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm 2025 tăng so với cùng kỳ là một tín hiệu tốt trong nền kinh tế nói chung và sản xuất công nghiệp nói riêng đang chịu ảnh hưởng của những biến động khó lường từ tình hình kinh tế thế giới. 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 1,80% so với tháng trước và tăng 7,84% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,60%; ngành dệt tăng 3,12%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 194,97%;… Ngược lại những ngành giảm như: sản xuất đồ uống giảm 92,95%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 14,05%. 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Theo kết quả khảo sát các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, trong quý IV/2025 so với quý III/2025, có 30,82% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn, 39,73% doanh nghiệp cho rằng ổn định và 29,45% doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn. Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh gồm: 53,70% doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 48,15% doanh nghiệp đánh giá tính cạnh tranh của hàng trong nước cao; 31,48% doanh nghiệp cho biết không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 25,93% doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính; 24,07% doanh nghiệp phản ánh thiếu nguyên, nhiên vật liệu và 24,07% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp. Ngoài ra, 16,67% doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao; 14,81% doanh nghiệp đánh giá tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; và 22,22% doanh nghiệp cho rằng chính sách pháp luật của Nhà nước cùng một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Dự báo quý I/2026 so với quý IV/2025, có 75,34% doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và thuận lợi hơn, trong đó 28,08% doanh nghiệp dự báo tốt hơn và 47,26% doanh nghiệp cho rằng ổn định; 24,66% doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Chỉ số cân bằng của chỉ tiêu tình hình sản xuất kinh doanh đạt +3,42%, cho thấy môi trường kinh doanh có xu hướng cải thiện; doanh nghiệp kỳ vọng nền kinh tế tiếp tục ổn định, khó khăn của thị trường trong nước và quốc tế dần được tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh trong thời gian tới.Tỷ lệ các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý IV/2025 (%) 1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Các KCN trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 06 dự án đầu tư (01 dự án FDI và 05 dự án đầu tư trong nước) với diện tích khoảng 22,23 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 452 tỷ đồng và 35 triệu USD. Lũy kế đến nay có 228 dự án (51 dự án FDI và 177 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 43.326,61 tỷ đồng và 466,44 triệu USD và diện tích đất đăng ký 712,68 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,24%. Cụ thể: - KCN Lộc Sơn thu hút được 55 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 46 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 3.120,43 tỷ đồng và 48,63 triệu USD, diện tích đất đã cho thuê lại 115,77ha/132,62 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 87,29%. - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 2.384,12 tỷ đồng và 77,10 triệu USD, diện tích đất cho thuê lại 55,95 ha/74,58 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 74,8 triệu USD và 857,94 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 51,44 ha/51,44 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với tổng vốn đầu tư đăng ký 11,85 triệu USD và 548,08 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,09 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 21 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 13 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.676,9 tỷ đồng và 56,18 triệu USD, diện tích đất cho thuê 59,25 ha/90,78 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 65,27%. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 17 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 772,41 tỷ đồng và 185,58 triệu USD, diện tích đất cho thuê 87,99 ha/276,93 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 31,77%. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 13.544,93 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 58,35 ha/202,32 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức thu hút được 01 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 100 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 1,5 ha/210,84 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 47 dự án đầu tư (gồm 04 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 43 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký đầu tư 1.948,8 tỷ đồng và 12,3 triệu USD; diện tích thuê lại 130 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,42 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Hoạt động ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá, giá trị sản xuất tăng so với năm trước; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giữ vai trò chủ lực, trong khi xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng và nhà ở là động lực tăng trưởng chính. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng nhìn chung ổn định và có triển vọng tích cực, tạo nền tảng thuận lợi cho ngành xây dựng tiếp tục phát triển. Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý IV/2025 theo giá hiện hành ước đạt 19.531 tỷ đồng, tăng 8,45% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025, giá trị sản xuất xây dựng ước đạt 62.658,8 tỷ đồng, tăng 9,67% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất với 34.983,9 tỷ đồng (55,83%), tăng 13,65%; loại hình kinh tế khác đạt 26.869,8 tỷ đồng (42,88%), tăng 9,15%. Ngược lại, doanh nghiệp nhà nước chỉ đạt 102,1 tỷ đồng (0,16%), giảm 79,43%, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 702,8 tỷ đồng (1,12%), giảm 43,11% so với cùng kỳ. Theo loại công trình, quý IV/2025, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành của công trình nhà ở ước đạt 7.991,42 tỷ đồng, tăng 1,38% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 4.148 tỷ đồng, tăng 23,96%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 5.375,9 tỷ đồng, tăng mạnh 79,51%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.016,4 tỷ đồng, tăng 7,76%. Lũy kế năm 2025, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành của công trình nhà ở ước đạt 26.715,8 tỷ đồng, tăng 11,57% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 11.977,9 tỷ đồng, tăng 0,68%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 16.883,6 tỷ đồng, tăng 13,29%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 7.081,5 tỷ đồng, tăng 10,83% so với cùng kỳ.Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trìnhqua các năm (theo giá so sánh 2010) - (ĐVT: Tỷ đồng) Kết quả khảo sát xu hướng hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy 73,5% doanh nghiệp xây dựng nhận định tình hình sản xuất trong quý IV/2025 ổn định hoặc thuận lợi hơn quý III/2025, trong đó giá trị xây dựng dân dụng tăng 13,24% so với quý III/2025, phản ánh nhiều tín hiệu tích cực của lĩnh vực xây dựng. Bên cạnh đó, 72% doanh nghiệp xây dựng dự báo tình hình sản xuất trong quý I/2026 sẽ ổn định hoặc thuận lợi hơn quý IV/2025. Dự kiến trong năm 2026, ngành xây dựng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ tổng vốn đầu tư công ở mức cao, tập trung vào giao thông, kết nối vùng, cùng với việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công và tăng tốc triển khai các dự án hạ tầng, đô thị và du lịch, tạo động lực thúc đẩy thị trường vật liệu xây dựng và xây dựng dân dụng phát triển. 3. Đầu tư phát triển Tình hình hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng so với cùng kỳ; môi trường đầu tư cải thiện với số doanh nghiệp thành lập mới và quay lại hoạt động tăng mạnh. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân và triển khai một số dự án, công trình trọng điểm còn chậm do vướng mắc về mặt bằng, thủ tục và năng lực nhà thầu, đòi hỏi tiếp tục tập trung tháo gỡ để tạo động lực tăng trưởng thời gian tới. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn quý IV/2025 ước đạt 35.403,9 tỷ đồng, tăng 11,51% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 111.398,2 tỷ đồng, tăng 8,48% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn nhà nước đạt 24.830,5 tỷ đồng (chiếm 22,29%), tăng 4,14%; vốn ngoài nhà nước đạt 82.649,3 tỷ đồng (chiếm 74,19%), tăng 10,01%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 3.918,4 tỷ đồng (chiếm 3,52%), tăng 5,41%. Đáng chú ý, dự án Nhà máy chế biến khoai lang cắt lát đông lạnh tại KCN Tâm Thắng của Công ty TNHH Sejin F&S Vina (Hàn Quốc) với tổng vốn đầu tư hơn 155 tỷ đồng được khởi công đầu năm 2025, dự kiến đi vào hoạt động đầu năm 2026.Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn qua các năm(ĐVT: Tỷ đồng) Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng ước đạt 1.768,2 tỷ đồng, tăng 5,79% so với tháng trước và giảm 1,35% so với tháng cùng kỳ năm trước do cuối năm điều chỉnh giảm kế hoạch vốn. Lũy kế cả năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 14.411,5 tỷ đồng, tăng 5,41% so với cùng kỳ năm trước, đạt 90,74% so với kế hoạch. Trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 14.371,2 tỷ đồng, tăng 5,52% so với cùng kỳ năm trước, đạt 90,82% so với kế hoạch; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 40,3 tỷ đồng, giảm 23,88% so với cùng kỳ năm trước, đạt 69,53% so với kế hoạch. Trong năm 2025 (tính đến 22/12/2025), toàn tỉnh có 48 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký 19.384,4 tỷ đồng. Lũy kế đến thời điểm hiện nay, tỉnh Lâm Đồng có 2.927 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn khoảng 2.009.973,8 tỷ đồng, trong đó có 236 dự án FDI với tổng vốn 224.284 tỷ đồng. Trong tháng (tính đến 18/12/2025), có 422 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 4,98% so với tháng trước và tăng 119,79% so với cùng kỳ; 96 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 123,26%; 56 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 28,21%; 73 doanh nghiệp giải thể, giảm 19,78% so với tháng trước. Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh có 4.183 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 78,61%; 822 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 22,14%; 1.713 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 12,4%; 833 doanh nghiệp giải thể, tăng 76,48% so với cùng kỳ. Tổng vốn đăng ký đạt 22.959 tỷ đồng, tăng 18,76%; số lao động đăng ký 16.558 người, tăng 19,12%. Bình quân mỗi tháng có trên 400 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, trong khi gần 70 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. * Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm Trong năm 2025, việc triển khai các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là tiến độ giải ngân vốn chậm so với kế hoạch do vướng mắc về quy hoạch khoáng sản, cấp phép vật liệu xây dựng, năng lực một số nhà thầu và công tác giải phóng mặt bằng; tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện. - Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành có tổng chiều dài 124,13 km, quy mô 4 làn xe, chia thành 5 dự án thành phần; trong đó các dự án thành phần do tỉnh Đắk Nông (cũ) phụ trách gồm dự án đường gom, cầu vượt với vốn bố trí 32,5 tỷ đồng, giải ngân 17,3 tỷ đồng, đạt 22,13%, và dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được bố trí 217,5 tỷ đồng. - Dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc đã hoàn thành công tác cắm cọc, bàn giao mặt bằng tại các địa phương có tuyến đi qua, dự kiến giải ngân khoảng 1.200 tỷ đồng đến ngày 31/01/2026. - Dự án cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương (giai đoạn 1) đã khởi công hơn 5 tháng nhưng chưa thể triển khai thi công do vướng mặt bằng; đến đầu tháng 12/2025, công tác giải phóng mặt bằng đạt 98,36% với 2.404/2.440 hồ sơ được kiểm đếm, song vẫn còn một số khó khăn liên quan đến giá bồi thường và hồ sơ đất đai. - Dự án đường Đạo Nghĩa - Quảng Khê giai đoạn 2 có tổng mức đầu tư 830 tỷ đồng, chiều dài 25,8 km hiện chưa có mặt bằng sạch, tiến độ chậm, tỉnh đã xem xét điều chuyển một phần vốn sang các dự án có khả năng triển khai nhanh hơn. - Dự án Nâng cấp Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Nông (cũ) có tổng mức đầu tư 753 tỷ đồng, kế hoạch vốn năm 2025 là 270,4 tỷ đồng; đến nay các hạng mục chính đạt 95–98% khối lượng và dự kiến hoàn thành, đưa vào sử dụng cuối tháng 12/2025. - Dự án Quảng trường trung tâm thành phố Gia Nghĩa (cũ) với tổng mức đầu tư hơn 400 tỷ đồng đang được đẩy nhanh tiến độ, tập trung hoàn thiện các hạng mục mặt sân, hạ tầng kỹ thuật và cảnh quan. - Dự án cải thiện môi trường đô thị Gia Nghĩa được phê duyệt tại Quyết định số 405/QĐ-UBND ngày 21/3/2025 với tổng mức đầu tư 1.499,21 tỷ đồng (vốn vay ADB 1.001,94 tỷ đồng, vốn đối ứng 497,28 tỷ đồng) và đã chính thức khởi công trong năm 2025. - Các dự án cải tạo, nâng cấp Tỉnh lộ 1, 2, 3 tiếp tục triển khai, trong đó Tỉnh lộ 1 hoàn thành khoảng 30% khối lượng, Tỉnh lộ 2 đã thông xe kỹ thuật trước Tết Nguyên đán 2026, Tỉnh lộ 3 dự kiến đưa vào sử dụng trong quý I/2026 nhưng còn bị ảnh hưởng bởi chồng lấn quy hoạch bô-xít. - Dự án Cảng hàng không Phan Thiết (hạng mục hàng không dân dụng theo hình thức BOT) và Khu đô thị sân bay Phan Thiết có tổng mức đầu tư dự kiến 3.797 tỷ đồng, công suất thiết kế 2 triệu hành khách/năm đến năm 2030. - Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh đang hoàn thiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư, đồng thời triển khai xây dựng 8 khu tái định cư với tổng diện tích 27,7 ha, tổng vốn khoảng 429 tỷ đồng; đã niêm yết phương án bồi thường 100/111 trường hợp và phê duyệt 14/111 trường hợp. - Dự án đường và quỹ đất từ Lê Duẩn lên đường bộ cao tốc đã cơ bản hoàn thành công tác cắm cọc, đang hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi, với diện tích thu hồi khoảng 242 ha. - Dự án đường trục ven biển ĐT.719B đoạn Phan Thiết - Kê Gà đã đưa vào khai thác 17,8 km, phần còn lại 3,88 km tiếp tục vướng mặt bằng khu vực mỏ titan; đoạn Hòn Lan - Tân Hải đang duy trì thi công song tiến độ vẫn chịu ảnh hưởng bởi mặt bằng. - Dự án cầu Văn Thánh tiếp tục chậm tiến độ do vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. - Dự án nâng cấp Quốc lộ 28B có tổng chiều dài 68 km, tổng mức đầu tư hơn 1.400 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành tháng 3/2026; dự án sửa chữa Quốc lộ 27, 27C, 55 đoạn Km106-Km116 có kinh phí 52,8 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành cuối năm 2025. - Các dự án thủy lợi như hồ Ka Zam (495,5 tỷ đồng), hồ Ta Hoét (981,6 tỷ đồng) và hồ Ka Pét tiếp tục gặp khó khăn về giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư. - Dự án cải thiện cơ sở hạ tầng phát triển nông nghiệp từ nguồn vốn ODA của Nhật Bản có tổng mức đầu tư 1.159,44 tỷ đồng đang triển khai công tác bồi thường và lựa chọn nhà thầu. - Dự án đường Cam Ly - Phước Thành đạt khoảng 73,11% giá trị hợp đồng; dự án xây dựng thay thế 5 cầu yếu đã hoàn thành 3 cầu; dự án hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây - Đạ Sị đang thực hiện đo đạc, kiểm đếm phục vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Trong năm 2025 hoạt động thương mại, dịch vụ ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đời sống, sinh hoạt của nhân dân; lưu thông hàng hóa thông suốt, tình hình thị trường và giá cả hàng hóa trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định, không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá quá mức; xúc tiến thương mại trong và ngoài nước tiếp tục được quan tâm; du lịch tiếp tục phát triển ổn định, thúc đẩy tăng trưởng các ngành kinh tế tại địa phương; vận tải kho bãi diễn ra khá nhộn nhịp, tăng khá so với cùng kỳ năm trước. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Tình hình thị trường bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng trưởng ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân, nhất là trong dịp cuối tuần, lễ, tết. Các trung tâm siêu thị, chợ, các cơ sở kinh doanh tăng cường phục vụ người dân và du khách, không để xảy ra gián đoạn kinh doanh, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa; giá cả thị trường hàng hóa luôn ổn định, không tăng đột biến. Hoạt động du lịch, nhà hàng, cơ sở ăn uống, cơ sở lưu trú và các dịch vụ khác luôn mở cửa phục vụ cho người dân và du khách. Trong tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 25.203,5 tỷ đồng, tăng 5,49% so với tháng trước và tăng 24,41% so với cùng kỳ; trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 16.879,2 tỷ đồng, tăng 4,57% so với tháng trước và tăng 22,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 5.688,1 tỷ đồng, tăng 8,89% so với tháng trước và tăng 33,38% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.636,2 tỷ đồng, tăng 4,34% so với tháng trước và tăng 16,68% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 73.109 tỷ đồng, tăng 7,87% so với quý trước và tăng 23,29% so với cùng kỳ; trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 49.131,4 tỷ đồng, tăng 9,47% so với quý trước và tăng 22,36% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 16.296,6 tỷ đồng, tăng 10,9% so với quý trước và tăng 30,34% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 7.678 tỷ đồng, giảm 6,29% so với quý trước và tăng 15,62% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông quý IV/2025 ước đạt 117,4 tỷ đồng, tăng 3,06% so với quý trước và tăng 4,25% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 263,6 tỷ đồng, tăng 4,19% so với quý trước và tăng 10,29% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 261.381,8 tỷ đồng, tăng 16,28% so với cùng kỳ năm trước; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 175.214,4 tỷ đồng, tăng 16,25%; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 57.254,8 tỷ đồng, tăng 19,06%; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 28.912,6 tỷ đồng và tăng 11,31%. Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông đạt 449,2 tỷ đồng, tăng 3,81% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 969,5 tỷ đồng, tăng 7,46%. Nhìn chung, thị trường bán lẻ và dịch vụ năm 2025 tăng trưởng ổn định, nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và du lịch, đặc biệt trong các dịp lễ, tết.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ qua các năm (ĐVT: tỷ đồng) Riêng tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 16.879,2 tỷ đồng, tăng 4,57% so với tháng trước và tăng 22,89% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 49.134,4 tỷ đồng, tăng 9,47% so với quý trước và tăng 22,36% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 175.214,4 tỷ đồng, tăng 16,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: lương thực, thực phẩm ước đạt 81.422,4 tỷ đồng, tăng 21,22% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 17.714,2 tỷ đồng, tăng 16,29% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 16.399,1 tỷ đồng, tăng 6,94% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 23.000,3 tỷ đồng, tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Tình hình lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra thuận lợi, các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cơ sở kinh doanh bán lẻ hoạt động bình thường, cung ứng lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng về chủng loại, phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, không có tình trạng găm hàng, sốt giá; không có hiện tượng mất an toàn thực phẩm. Các cửa hàng xăng dầu trên địa bàn tỉnh cung ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân. Kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường từ ngày 15/11-14/12/2025: Tổng số vụ kiểm tra: 70 vụ; tổng số vụ vi phạm: 69 vụ; tổng số vụ xử lý: 75 vụ (06 vụ kỳ trước chuyển sang); số vụ đang xử lý: 01 vụ (từ kỳ trước chuyển sang); tổng số tiền xử phạt: 442,75 triệu đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy: 317,85 triệu đồng. Kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/12/2025: Tổng số vụ kiểm tra: 752 vụ; tổng số vụ vi phạm và xử lý hành chính: 678 vụ (01 vụ thanh tra kỳ trước chuyển sang); tổng số vụ chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra: 02 vụ; số vụ đang xử lý: 01 vụ; tổng số tiền xử phạt: 5.282,86 triệu đồng; trị giá hàng hóa vi phạm: 3.430,37 triệu đồng. 2. Giá cả 2.1. Giá tiêu dùng (CPI) Giá lương thực, thực phẩm, giá gas, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 5,86% so với cùng kỳ năm trước, CPI bình quân 12 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,56%.Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 12 so với cùng kỳ qua các năm (ĐVT: %) So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 07 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,26%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,67%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,54%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,33%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,27%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,05%; Giáo dục tăng 0,05%. Có 01 nhóm hàng giá ổn định: Thuốc và dịch vụ y tế 100%. Có 03 nhóm hàng giảm giá: Đồ uống và thuốc lá giảm 0,06%; Thông tin và truyền thông giảm 0,12%; Giao thông giảm 1,03%. * Nguyên nhân làm tăng, giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng CPI: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,26% so với tháng trước, do ảnh hưởng ngập lụt, nguồn cung các mặt hàng như gạo, rau tươi, thịt lợn, thịt gia cầm tăng nên giá lương thực, thực phẩm tăng so với tháng trước. Đồng thời tháng 12 đang là mùa cưới hỏi, mùa Noel, Tết Dương lịch sắp đến, nhu cầu tiêu dùng thị trường tăng cao. Giá gas tháng 12/2025 tăng 2,18% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh tăng 8.500 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới. Giá gas thế giới bình quân tháng 12/2025 công bố ở mức 490 USD/tấn, tăng 22,5 USD/tấn so với tháng 11/2025. Chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,63% do giá xi măng, cát, đá, gạch xây, gạch bê tông, tấm lợp, sơn tường… tăng theo giá nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất và nhu cầu sửa chữa, xây dựng cuối năm tăng cao. - Nguyên nhân làm giảm CPI: Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 04, 11, 18 và 25 tháng 12/2025, tính bình quân chung tháng 12/2025 chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu giảm 2,37% so với tháng trước. Giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,12% so tháng trước, do các cửa hàng điện máy xanh, cửa hàng thế giới di động đang có chương trình khuyến mãi nhân dịp cuối năm các mặt hàng điện thoại, phụ kiện điện thoại… * Các yếu tố làm tăng, giảm CPI năm 2025 so bình quân cùng kỳ - Các yếu tố làm tăng CPI bình quân năm 2025: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 13,82% làm CPI chung tăng 0,85 điểm phần trăm, áp dụng giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế; Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,34% làm CPI chung tăng 0,80 điểm phần trăm, do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 8,38% do nhu cầu sử dụng điện tăng đồng thời ngày 09/5/2025 EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân; Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,62% làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó các mặt hàng trang sức bằng vàng tăng 29,41% do ảnh hưởng giá vàng trong trước tăng theo giá vàng thế giới; giá bảo hiểm y tế tăng 14,02% do tăng theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng từ 1.800.000 đồng lên 2.340.000 đồng, theo đó bảo hiểm y tế cho cán bộ công chức và người lao động cũng được tăng theo; Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,01% tác động làm CPI chung tăng 1,41 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 4,51%, tác động làm CPI chung tăng 1,02 điểm phần trăm, tăng mạnh chủ yếu giá thịt lợn tăng 10,35%. Nguyên nhân do nguồn cung ít, nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp Lễ, Tết; Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,92%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,75%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,38%. Nguyên nhân do tăng cao trong dịp Lễ Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán thị trường tiêu dùng; Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 2,39%, làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Các yếu tố làm giảm CPI bình quân năm 2025: Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, bình quân năm 2025 giảm 2,36% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 1,58% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,15 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 7,86%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất - Giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản: Quý IV/2025, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,46% so với quý trước và tăng 7,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá sản phẩm nông nghiệp tăng mạnh, chủ yếu do giá cây lâu năm và một số nông sản chủ lực tiếp tục duy trì ở mức cao nhờ nhu cầu thị trường ổn định và chi phí đầu vào tăng. Giá sản phẩm chăn nuôi có xu hướng tăng chậm hơn do nguồn cung dồi dào, trong khi giá lâm nghiệp và thủy sản biến động nhẹ, chịu tác động của điều kiện thời tiết và chi phí khai thác. Tính chung năm 2025, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 16,11% so với năm trước; trong đó nông nghiệp tăng 17,25%, chăn nuôi tăng 8,87%, lâm nghiệp tăng 3,07% và thủy sản tăng 4,25%. Mức tăng này phản ánh rõ tác động của biến động thời tiết, chi phí vật tư nông nghiệp tăng và nhu cầu tiêu thụ, xuất khẩu nông sản cải thiện. - Giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất: Quý IV/2025, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước, tập trung chủ yếu ở nhóm sản phẩm khai khoáng, điện, khí đốt và hơi nước. Giá một số loại vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất công nghiệp và xây dựng duy trì ở mức cao do chi phí năng lượng, vận chuyển và nhập khẩu tăng. Bình quân năm 2025, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu tăng 2,83% so với năm trước; trong 7 nhóm sản phẩm chính, các nhóm hàng đều tăng giá so với cùng kỳ năm trước, gồm: nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,22%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 10,26%; nguyên vật liệu khác tăng 0,11%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,77%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,53%; sản phẩm xây dựng tăng 3,31%; dịch vụ chuyên môn khoa học và công nghệ tăng 3,75%. Nhìn chung, giá nguyên, nhiên vật liệu trong quý IV và cả năm 2025 có xu hướng tăng, phản ánh chi phí đầu vào gia tăng do tác động của giá năng lượng và nguyên liệu cơ bản; tuy nhiên mức tăng bình quân năm vẫn được kiểm soát, cho thấy công tác điều hành giá hiệu quả và phù hợp với đà phục hồi, mở rộng sản xuất của các ngành kinh tế. - Giá sản xuất công nghiệp: Quý IV/2025, giá sản xuất công nghiệp tiếp tục chịu tác động từ biến động tăng của giá nguyên, nhiên vật liệu, đặc biệt là điện, nhiên liệu và khoáng sản, làm chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên. Tuy nhiên, mức tăng giá được kiểm soát nhờ năng lực điều tiết sản xuất và thị trường tiêu thụ tương đối ổn định. Tính chung năm 2025, giá sản xuất công nghiệp biến động phù hợp với xu hướng tăng của giá đầu vào, phản ánh áp lực chi phí đối với hoạt động sản xuất công nghiệp, đồng thời đặt ra yêu cầu doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản trị, tiết giảm chi phí và thích ứng với biến động giá trong thời gian tới. 3. Hoạt động du lịch Hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng tích cực, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội. Riêng tháng 12/2025, nhiều sự kiện văn hóa, du lịch quy mô lớn được tổ chức như Lễ hội Cồng chiêng Đông Nam Á 2025 với chủ đề “Âm vang Di sản - Gắn kết tương lai”, Lễ hội Trà quốc tế - World Tea Fest 2025, Trình diễn thời trang thổ cẩm, Lễ hội Di sản Cà phê toàn cầu 2025 (gồm không gian trưng bày “Cà phê và Di sản Việt Nam”, không gian ẩm thực - thưởng thức cà phê, triển lãm lịch sử cà phê, trải nghiệm pha chế, đêm nhạc “Coffee Music Night”) và Chương trình Countdown chào đón năm mới 2026, đã thu hút đông đảo người dân và du khách. Hoạt động lữ hành và các dịch vụ hỗ trợ được tăng cường, đáp ứng tốt nhu cầu tham quan, trải nghiệm. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch và liên kết vùng tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hình ảnh điểm đến; nhiều khu, điểm du lịch như NovaWorld Phan Thiết, Phú Quý, Thung lũng Tình yêu, Hồ Xuân Hương, thác Prenn, Cù Lao Câu ngày càng khẳng định sức hút, tạo động lực cho tăng trưởng du lịch bền vững trong năm 2025. Trong tháng, lượt khách du lịch ước đạt 1.852,1 nghìn lượt khách, tăng 10,22% so với tháng trước và tăng 23,86% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khách trong ngày đạt 66,2 nghìn lượt, tăng 5,86% so với tháng trước và tăng 8,58% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 3.453,7 nghìn ngày, tăng 10,88% so với tháng trước và tăng 33,48% so với cùng kỳ; lượt khách quốc tế đạt 130 nghìn lượt, tăng 15,59% so với tháng trước và tăng 58,03% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ đạt 349,3 nghìn ngày khách, tăng 16,81% so với tháng trước và tăng 69,93% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025, lượt khách du lịch ước đạt 5.424 nghìn lượt, tăng 9,1% so với quý trước và tăng 17,64% so với cùng kỳ (trong đó khách trong ngày đạt 204,9 nghìn lượt, tăng 11,03% so với quý trước và tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 9.658,4 nghìn ngày, tăng 7,36% so với quý trước và tăng 18,27% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách quốc tế đạt 330,9 nghìn lượt, tăng 27,05% so với quý trước và tăng 41,66% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ đạt 929,5 nghìn ngày khách, tăng 13,46% so với quý trước và tăng 59,24% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, lượt khách du lịch tiếp tục là điểm sáng của khu vực dịch vụ, với 20.733,1 nghìn lượt khách, tăng 17,91% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 809,9 nghìn lượt, tăng 9,99%); ngày khách phục vụ ước đạt 38.145,6 nghìn ngày khách, tăng 22,65%; lượt khách quốc tế ước đạt 1.287 nghìn lượt khách, tăng 39,78%; ngày khách phục vụ ước đạt 4.018,8 nghìn ngày khách, tăng 61,74%. Thị trường khách quốc tế đến tỉnh chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Mỹ, Đài Loan, Đức, Anh, Malaixia.... Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 1.117,3 tỷ đồng, tăng 11,3% so với tháng trước và tăng 45,56% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.466,2 tỷ đồng, tăng 8,39% so với tháng trước và tăng 29,09% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 104,6 tỷ đồng, tăng 5,25% so với tháng trước và tăng 2,8 lần so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 3.181,2 tỷ đồng, tăng 13,48% so với quý trước và tăng 37,91% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 12.891,7 tỷ đồng, tăng 9,02% so với quý trước và tăng 27,73% so với quý cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 223,7 tỷ đồng, tăng 3,3 lần so với quý trước và tăng 2,16 lần so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 11.007,3 tỷ đồng, tăng 21,48% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 45.599,1 tỷ đồng, tăng 17,93% so cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 648,3 tỷ đồng, tăng 78,47% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.094,1 tỷ đồng, tăng 10,88% so với tháng trước và tăng 21,61% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 ước đạt 14.307,6 tỷ đồng, tăng 8,05% so với quý trước và tăng 23,45% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 ước đạt 56.610,6 tỷ đồng, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách và ngày khách phục vụ qua các năm 4. Hoạt động dịch vụ khác Trong năm, tình hình hoạt động các ngành dịch vụ khác duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh nhu cầu xã hội phục hồi và mở rộng, đặc biệt ở các lĩnh vực bất động sản, giáo dục - đào tạo, y tế và dịch vụ vui chơi, giải trí; tuy có biến động giảm theo quý do yếu tố mùa vụ nhưng xu hướng chung cả năm vẫn tích cực. Trong tháng, tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.636,2 tỷ đồng, tăng 4,34% so với tháng trước và tăng 16,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 315 tỷ đồng, tăng 1,89% so với tháng trước và tăng 12,94% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 116,7 tỷ đồng, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 87,3 tỷ đồng, tăng 3,81% so với tháng trước và tăng 12,93% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 156,6 tỷ đồng, tăng 3,67% so với tháng trước và tăng 28,97% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.412,7 tỷ đồng, tăng 5% so với tháng trước và tăng 18,17% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 547,8 tỷ đồng, tăng 4,41% so với tháng trước và tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025, tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 7.678 tỷ đồng, giảm 6,29% so với quý trước và tăng 15,62% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 921 tỷ đồng, tăng 5,79% so với quý trước và tăng 12,84% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 337,2 tỷ đồng, giảm 10,11% so với quý trước và tăng 8,49% so với quý cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 258 tỷ đồng, tăng 1,04% so với quý trước và tăng 14,33% so với quý cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 458,6 tỷ đồng, giảm 4,49% so với quý trước và tăng 29,21% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 4.110,7 tỷ đồng, giảm 9,73% so với quý trước và tăng 16,76% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.592,4 tỷ đồng, giảm 3,99% so với quý trước và tăng 12,9% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 28.912,6 tỷ đồng, tăng 11,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 3.262,6 tỷ đồng, tăng 14,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 1.290,3 tỷ đồng, tăng 13,83% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 929,5 tỷ đồng, tăng 28,99% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 1.567,1 tỷ đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 15.810 tỷ đồng, tăng 9,75% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 6.053 tỷ đồng, tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Tình hình hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá và ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hóa và phát triển sản xuất, kinh doanh. Vận tải hành khách và hàng hóa đều tăng cả về khối lượng vận chuyển và luân chuyển; doanh thu vận tải, kho bãi tăng khá, đặc biệt là dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải. Hoạt động thông quan hàng hóa qua Cảng quốc tế Vĩnh Tân diễn ra ổn định, chủ yếu là xuất khẩu các mặt hàng vật liệu và sản phẩm công nghiệp, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa và tăng trưởng kinh tế địa phương. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.088,2 nghìn HK, tăng 5,32% so với tháng trước và tăng 17,38% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 577.285,4 nghìn HK.Km, tăng 5,36% so với tháng trước và tăng 12,44% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 lượt khách vận chuyển ước đạt 11.872,1 nghìn HK, tăng 15,56% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.675.560,5 nghìn HK.Km, tăng 11,45% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 46.326,2 nghìn HK, tăng 12,11% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 6.727.883,2 nghìn HK.Km, tăng 12,66% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng 2025 ước đạt 2.112,9 nghìn tấn, tăng 3,50% so với tháng trước và tăng 12,12% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 307.978,1 nghìn tấn.Km, tăng 3,78% so với tháng trước và tăng 16,36% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 khối lượng vận chuyển ước đạt 6.247,4 nghìn tấn, tăng 11,41% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 902.500,5 nghìn tấn.Km, tăng 12,91% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 22.984,9 nghìn tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 3.367.443 nghìn tấn.Km, tăng 8,23% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.306,6 tỷ đồng, tăng 4,97% so với tháng trước và tăng 18,98% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 ước đạt 3.785,6 tỷ đồng, tăng 16,50% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 ước đạt 14.416,3 tỷ đồng, tăng 15,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 6.132,1 tỷ đồng, tăng 19,31% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 6.105,1 tỷ đồng, tăng 6,81%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 2.116,5 tỷ đồng, tăng 34,11%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 62,5 tỷ đồng, tăng 15,52%. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Năm 2025 ước đạt 2.466,1 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.277,2 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 188,9 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi qua các năm (ĐVT: Tỷ đồng) V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng1. Thu ngân sách nhà nước Ước thu ngân sách nhà nước trong tháng đạt 2.928 tỷ đồng, giảm 30,66% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 ước đạt 31.319 tỷ đồng (bằng110,86% kế hoạch, tăng 9,59% so cùng kỳ). Trong đó: thu nội địa ước đạt 29.680 tỷ đồng (bằng 111,53% kế hoạch, tăng 16,38% so cùng kỳ); thu xuất nhập khẩu ước đạt 1.639 tỷ đồng, (bằng 100,00% kế hoạch, giảm 46,69% so cùng kỳ). Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa như: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.924 tỷ đồng (bằng 156,25% kế hoạch năm và tăng 71,80% so với cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.515 tỷ đồng (bằng 123,29% kế hoạch năm và tăng 10,50%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 7.035 tỷ đồng (bằng 110,91% kế hoạch năm và tăng 4,83%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 3.052 tỷ đồng (bằng 118,19% kế hoạch năm và tăng 17,95%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 4.789 tỷ đồng (bằng 94,77% kế hoạch năm và tăng 24,76%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.660 tỷ đồng (bằng 103,74% kế hoạch năm và tăng 7,88%).Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn qua các năm 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh năm 2025 ước đạt 47.984 tỷ đồng (bằng 100% kế hoạch, tăng 17,85% so với cùng kỳ). Trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 13.748 tỷ đồng, tăng 17,26% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 33.342 tỷ đồng, tăng 15,73% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động tín dụng - Công tác huy động vốn: đến 30/11/2025, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 225.531 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 29.641 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 15,13%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 223.098 tỷ đồng (chiếm 99% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.433 tỷ đồng, (chiếm 1% tổng huy động vốn). Ước đến 31/12/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 227.500 tỷ đồng, tăng 15,96 so với đầu năm, tương ứng tăng 36.316 tỷ đồng. - Hoạt động tín dụng: đến 30/11/2025, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 367.468 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 28.005 tỷ đồng, tăng 8,25%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 365.197 tỷ đồng (chiếm 99% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.271 tỷ đồng (chiếm 1% tổng dư nợ tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 263.023 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 104.445 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/12/2025, dư nợ cho vay đạt 373.000 tỷ đồng, tăng 9,89% so với đầu năm, tăng 33.577 tỷ đồng. - Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,18% - 0,49%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 3,63% - 4,62%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 5,19% - 5,88%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 6,01% - 6,75%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,93% - 9,28%/năm, trung dài hạn 8,57% - 9,88%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,92% - 4,13%/năm. - Dư nợ cho vay: đến 30/11/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 188.989 tỷ đồng, chiếm 51,42% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.196 tỷ đồng, chiếm 8,76% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm nghiệp đạt 146.283 tỷ đồng, chiếm 39,82% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu đạt 7.898 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2,16% trong tổng dư nợ trên địa bàn. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng tổ chức tuyên truyền kỷ niệm 20 năm ngày Di sản Văn hóa Việt Nam (23/11/2005 - 23/11/2025); tuyên truyền Liên hoan các câu lạc bộ Cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I; tổ chức triển lãm tranh cổ động tấm lớn tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và tuyên truyền các ngày lễ, các hoạt động chính trị của địa phương và đất nước. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức Lễ hội cồng chiêng Đông Nam Á với chủ đề “Âm vang Di sản - Gắn kết tương lai” gồm chuỗi các hoạt động: Liên hoan các CLB cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2025; Đêm hội “Hòa âm cồng chiêng Đông Nam Á năm 2025”; Chương trình Trình diễn thời trang thổ cẩm; Lễ hội Di sản cà phê toàn cầu năm 2025. Tổ chức trưng bày “Bó hoa lớn nhất Việt Nam” với hơn 100 loại hoa khác nhau; tổ chức Lễ hội Trà quốc tế năm 2025. Trong tháng đã thực hiện 126 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở, trường học và 14 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị: Khai mạc, bế mạc Giải đua Xe đạp các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2025 tại Nova World Phan Thiết; biểu diễn khai mạc, bế mạc Liên hoan các câu lạc bộ cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, tại phường Đông Gia Nghĩa và biểu diễn chương trình “Chào năm mới 2026” tại 03 khu vực Trung tâm, Đông và Tây Lâm Đồng; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né, Bình Thuận cũ). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng đã đón 12.581 lượt khách (Nhà trưng bày chính: 1.877 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 1.116 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 191 lượt; Cơ sở 1 (Đông Lâm Đồng) đón 9.047 lượt; Cơ sở 2 (Tây Lâm Đồng) đón 350 lượt khách tham quan. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 90 đoàn với 3.755 lượt người, trong đó có 21 khách nước ngoài. Phục vụ 09 lễ viếng, 01 lễ kết nạp Đảng. Tổ chức thực hiện 01 chương trình phát thanh “Về nguồn - Hành trình tri ân người thầy vĩ đại của dân tộc” và 01 phóng sự “Trường Dục Thanh - Điểm đến về nguồn”. Tham gia Triển lãm chuyên đề “Nơi này Bác đã đi qua -Trường Dục Thanh Phan Thiết” tại Di tích Quốc gia Đặc biệt mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, tỉnh Đồng Tháp. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 06 đoàn khách với 967 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 170 thẻ bạn đọc (63 thẻ thiếu nhi); phục vụ 237.871 lượt bạn đọc; luân chuyển 48.218 lượt tài liệu; bổ sung 324 bản sách từ nguồn biếu, tặng; xử lý kỹ thuật 600 bản sách; số hóa 75.700 trang/7 tài liệu sách tham khảo, 20 Địa chí Lâm Đồng. Trưng bày 500 bản sách nhân các ngày kỷ niệm. Cập nhật 184 tin bài lên trang website; chia sẻ bài lên mạng xã hội 289 lượt/33 bài; sưu tầm 110 tin bài về Lâm Đồng; giới thiệu 205 bản sách; phát hành 1 tập “Thông tin tư liệu Lâm Đồng - khu vực Đông Lâm Đồng” tháng 11 năm 2025 gồm 110 tin bài và tổ chức các hoạt động: Tuần lễ sáng tạo “Vẽ bìa sách yêu thích”; “Đọc sách cùng bé”. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Trong tháng tổ chức Giải Aerobic vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Võ thuật Cổ truyền Vô địch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Cờ vua học sinh tỉnh Lâm Đồng năm 2025 và Giải đua Xe đạp vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2025 - Vòng quanh Hồ Xuân Hương. - Thể thao thành tích cao: Cử đoàn vận động viên tham gia các giải thể thao quốc gia, quốc tế; kết quả đạt 13 huy chương (02 HCV, 03 HCB, 08 HCĐ), trong đó có 03 huy chương quốc tế (01 HCB, 02 HCĐ). Tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm ngày 14/12/2025: Đạt 757 huy chương (191 HCV, 206 HCB, 360 HCĐ); trong đó đạt 47 huy chương quốc tế (14 HCV, 19 HCB, 14 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Trong tháng tập trung tăng cường đảm bảo an toàn trường học, chủ động ứng phó, thống kê và khắc phục thiệt hại do mưa lũ, hỗ trợ học sinh, nhà giáo và cơ sở giáo dục bị ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh; đồng thời tiếp tục đảm bảo ổn định nề nếp dạy học, chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.603 trường học và cơ sở giáo dục (giảm 02 trường so với năm học trước do sáp nhập 02 trường tiểu học và 02 trường mầm non ở xã Krông Nô) với 818.588 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 526 trường với 151.943 trẻ; cấp tiểu học có 564 trường với 321.257 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 240.603 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 104.785 học sinh. Trong năm học 2025-2026, nhu cầu giáo viên cho các cấp học là 42.892 giáo viên; tuy nhiên, số giáo viên hiện có 37.459 giáo viên, còn thiếu 5.433 giáo viên, trong đó: Cấp Tiểu học thiếu 1.463 giáo viên, THCS thiếu 1.453 giáo viên, THPT thiếu 495 giáo viên, chủ yếu ở các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Ngoại ngữ. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 826 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 522 ca so với tháng trước và giảm 8.141 ca so với cùng kỳ năm trước; không có trường hợp tử vong. Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh có 7.534 ca mắc, 03 ca tử vong. Trong tháng có 90 ổ dịch được phát hiện xử lý, lũy kế năm 2025 đã xử lý 1.127 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế năm 2025, toàn tỉnh có 07 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 256 ca mắc, giảm 138 ca so với tháng trước và tăng 186 ca so với cùng kỳ năm trước; lũy kế năm 2025 toàn tỉnh ước có 2.794 ca mắc. Trong tháng phát hiện 04 ổ dịch mới (xã Đạ Huoai: 2; xã Hào Bắc: 01; xã Gia Hiệp: 01), lũy kế năm 2025 đã phát hiện 21 ổ dịch bệnh tay chân miệng. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 14 ca mắc, tăng 04 ca so với tháng trước, giảm 596 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh ước có 4.075 ca mắc, không có tử vong. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, tiêm chủng đầy đủ cho 3.783 trẻ dưới 1 tuổi; lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 47.170 trẻ. Tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 4.991 trẻ, lũy kế 12 tháng ước tiêm cho 44.692 trẻ. Tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.540 trẻ, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 45.627 trẻ. Tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.343 trẻ, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 46.957 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 2 cho 3.544 trẻ, lũy kế 46.381 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 4.094 trẻ, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 42.708 trẻ. Tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai cho 3.690 người, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 43.085 người. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Toàn tỉnh còn quản lý 463 bệnh nhân, không còn bệnh nhân đang điều trị; số bệnh nhân đang giám sát là 20 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 451 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Bệnh nhân lao các thể trong tháng 11/2025 là 6 bệnh nhân/100.000 dân, lũy kế 11 tháng năm 2025 là 63 người/100.000 dân. Bệnh nhân Lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 bệnh nhân/100.000 dân, lũy kế 11 tháng là 36 bệnh nhân/100.000 dân. Bệnh nhân Lao kháng thuốc trong tháng 11/2025 là 03 bệnh nhân, lũy kế 11 tháng năm 2025 là 57 bệnh nhân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 12 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 04 bệnh nhân tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.729 bệnh nhân mắc HIV, chuyển AIDS 1.777 bệnh nhân và có 883 bệnh nhân tử vong do AIDS. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 523.944 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 41.677 người, số ngày điều trị nội trú là 236.932 ngày, xét nghiệm cho 752.221 tiêu bản, chẩn đoán 128.897 hình ảnh, phẫu thuật 4.744 trường hợp. Lũy kế năm 2025 đã tổ chức khám bệnh cho 5.747.286 lượt người; 463.480 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 3.060.269 ngày; số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,69 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 88%; đã xét nghiệm cho 8.994.624 tiêu bản; chẩn đoán 1.607.295 hình ảnh và phẫu thuật cho 60.017 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 68 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 1.230 cơ sở, kết quả có 01 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 4,0 triệu đồng. Lũy kế năm 2025, tỉnh đã thành lập 830 đoàn kiểm tra tại 17.105 cơ sở, kết quả có 146 cơ sở vi phạm bị xử phạt với tổng số tiền 905,27 triệu đồng. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại phường Phan Thiết, làm 96 người nhập viện (do ăn bánh mì thịt nguội). Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 05 vụ ngộ độc thực phẩm làm 205 người mắc, có 01 trường hợp tử vong do ăn cá nóc. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương như: Lễ hội Cồng chiêng Đông Nam Á năm 2025; Chương trình Chào năm mới 2026 tại 3 khu vực; Lễ hội Trà quốc tế năm 2025. Tiếp tục đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số; thường xuyên rà soát thông tin trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng (từ ngày 15/11-15/12, qua rà soát trên hệ thống phần mềm giám sát thông tin mạng xã hội có 39.941 tin, bài viết; trong đó có 35.961 tin, bài có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; tin, bài tích cực tỷ lệ 75,2%; tin, bài tiêu cực tỷ lệ khoảng 24,8%; qua đánh giá, không có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Triển khai tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách mới, các hoạt động, sự kiện quan trọng của tỉnh. Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh tỉnh Lâm Đồng được tăng cường với nhiều hình thức, tận dụng hiệu quả các nền tảng truyền thông đa phương tiện; phản ánh kịp thời, toàn diện các hoạt động đối nội, đối ngoại; các vấn đề, sự kiện nổi bật của tỉnh, trong nước và quốc tế. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 13 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh; cấp đổi 01 Giấy phép hoạt động in; cấp 01 Giấy xác nhận đăng ký thông tin hoạt động cơ sở in. 5. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Trong năm 2025, hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ, đạt nhiều kết quả tích cực. Toàn tỉnh quản lý, triển khai 87 nhiệm vụ khoa học - công nghệ các cấp (9 nhiệm vụ cấp quốc gia, 47 nhiệm vụ cấp tỉnh, 13 nhiệm vụ cấp cơ sở và 18 nhiệm vụ mở mới), tổ chức nghiệm thu 24 nhiệm vụ; tổng hợp 110 đề xuất nhiệm vụ khoa học - công nghệ giai đoạn tiếp theo. Công tác hỗ trợ doanh nghiệp được đẩy mạnh, đến cuối năm có 14 doanh nghiệp khoa học - công nghệ; khảo sát, đánh giá trình độ công nghệ cho 54 doanh nghiệp; hỗ trợ sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Hệ sinh thái khởi nghiệp tiếp tục phát triển với việc tổ chức Techfest Lâm Đồng 2025, thu hút trên 280 đại biểu, hơn 100 gian hàng, kết nối cung - cầu công nghệ cho 8 tổ chức, doanh nghiệp; Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) xếp hạng 19/34 tỉnh, thành phố. Công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng được tăng cường, kiểm tra 191 cơ sở sản xuất, kinh doanh; kiểm nghiệm khoảng 10 nghìn mẫu sản phẩm, 49.160 phương tiện đo; tỷ lệ mẫu đạt chất lượng 61/63. Hạ tầng bưu chính, viễn thông và chuyển đổi số tiếp tục được đầu tư, mở rộng: toàn tỉnh có hơn 4 triệu thuê bao di động, trong đó 87,7% là thuê bao thông minh; 4,4 triệu thuê bao Internet; 99% hộ gia đình sử dụng cáp quang; 11.500 trạm BTS, trong đó có 832 trạm 5G; doanh thu bưu chính năm 2025 ước đạt 750 tỷ đồng. Công tác chuyển đổi số được đẩy mạnh với việc triển khai hệ thống dùng chung, chữ ký số (11.453 chứng thư), nền tảng tích hợp dữ liệu LGSP kết nối 22 hệ thống và hơn 400 nghì lượt giao dịch dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 6. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 6.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định. Kinh tế vùng DTTS của tỉnh đa dạng và đạt được nhiều thành tựu nổi bật; nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ lực phát triển theo hướng nông nghiệp công nghệ cao; phát triển trồng rừng, khai thác và chế biến lâm sản mang lại hiệu quả tích cực; khu vực ven biển hình thành các vùng sản xuất chuyên canh kết hợp chăn nuôi gia súc và phát triển du lịch sinh thái biển; nhiều xã đồng bào DTTS đã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đời sống người dân vùng đồng bào DTTS ngày càng cải thiện. Trong năm, các lễ hội truyền thống của đồng bào như lễ hội Katê của người Chăm, lễ mừng lúa mới của người Cơ Ho, lễ cúng bến nước của người M’nông, lễ hội của người Chu Ru, Mạ được duy trì và phục dựng. Nghề gốm Chăm đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. Phong trào văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao phát triển sâu rộng, trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai đồng bộ gắn với xây dựng nông thôn mới. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet, nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin của đồng bào. Chính sách giáo dục triển khai có hiệu quả. Hệ thống trường lớp vùng DTTS không ngừng được mở rộng, đa dạng về loại hình và từng bước nâng cao chất lượng. Toàn tỉnh đã xây dựng hệ thống giáo dục dân tộc chuyên biệt với các trường phổ thông dân tộc nội trú và nhiều trường phổ thông dân tộc bán trú tại các địa bàn khó khăn. Mạng lưới trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở được phân bổ tương đối hợp lý, bảo đảm hầu hết trẻ em DTTS đều được đến trường. Chính sách ưu tiên đối với học sinh, sinh viên DTTS được thực hiện có hiệu quả, học sinh được miễn giảm học phí, cấp học bổng, hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở bán trú và nội trú, vì vậy tỷ lệ bỏ học đã giảm rõ rệt, đặc biệt ở các cấp tiểu học và trung học cơ sở. Mô hình thí điểm việc dạy tiếng dân tộc trong nhà trường như tiếng Chăm, tiếng Ê Đê, tiếng M’nông, tiếng Cơ Ho được triển khai, qua đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc. Nhìn chung, chất lượng giáo dục vùng DTTS của tỉnh có nhiều tiến bộ, hệ thống trường lớp được mở rộng, tỷ lệ học sinh đến lớp tăng, chất lượng giáo dục nâng lên, qua đó góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Hệ thống y tế cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân; hiện nay 100% xã đã có trạm y tế, trong đó phần lớn đạt chuẩn quốc gia về y tế; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt khoảng 93-94%, trong đó phần lớn là đồng bào DTTS nhờ chính sách hỗ trợ của Nhà nước; công tác đào tạo nhân lực y tế là người DTTS được chú trọng nhằm đáp ứng và nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe người dân. 6.2. Chính sách tôn giáo Trên địa bàn tỉnh có 24 tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận đang hoạt động, gồm: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam, 10 hệ phái Tin Lành; 05 tổ chức Cao Đài; Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm Việt Nam; Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư đạo; Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo; Cộng đồng Tôn giáo Baha’i Việt Nam, Hồi giáo Bàni, Bàlamôn giáo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam và 33 tổ chức Tin Lành chưa được nhà nước cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Tổng số có khoảng 1.571.000 tín đồ, 3.531 chức sắc, 6.700 chức việc; 1.289 cơ sở tôn giáo hợp pháp; 04 cơ sở đào tạo tôn giáo; 721 tổ chức tôn giáo trực thuộc và 619 điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung. Trong năm 2025, tình hình hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh ổn định và tuân thủ pháp luật, đảm bảo theo đúng hiến chương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích và phương châm hành đạo. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh tổ chức lễ Phật đản, An cư kiết hạ và lễ Vu lan năm 2025; giải quyết các nhu cầu tôn giáo đảm bảo đúng quy định của pháp luật như: Chấp thuận thành lập 138 tổ chức tôn giáo trực thuộc; các tổ chức tôn giáo mời 21 đoàn người nước ngoài vào hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh; chấp thuận việc các tổ chức tôn giáo bổ nhiệm 266 chức việc; mở 34 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo; xác nhận thông báo phong phẩm 137 chức sắc; xác nhận tiếp nhận thông báo kết quả bổ nhiệm 114 trường hợp; xác nhận thuyên chuyển chức sắc 156 trường hợp; tiếp nhận thông báo cách chức, bãi nhiệm 09 trường hợp; xác nhận danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung 25 trường hợp... Nhìn chung, hoạt động các tổ chức tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định; các chính sách về tôn giáo được triển khai bình đẵng, có hiệu quả nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đồng thời duy trì ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn tỉnh. 6.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 364 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công, trong đó: Tiếp nhận 14 hồ sơ chuyển đến, 11 hồ sơ chuyển đi; lập thủ tục chuyển Hội đồng GĐYK 10 hồ sơ; trả lời 7 đơn thư; ban hành 51 Quyết định hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ; 170 Quyết định trợ cấp mai táng phí đối với thân nhân của người có công với cách mạng từ trần; đề nghị cấp lại bằng Tổ quốc ghi công cho 61 liệt sĩ; giải quyết 13 hồ sơ đính chính thông tin người có công; thực hiện báo tin mộ cho 02 thân nhân liệt sĩ… Công tác chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt đối với người có công với cách mạng và thân nhân được thực hiện đầy đủ, đã chi trả qua tài khoản 13.109/19.288 đối tượng với tổng số tiền 42.880.948.982 đồng. 7. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến ngày 30/11/2025, toàn tỉnh có 286.197 người tham gia BHXH, tăng 0,73% so với tháng trước và tăng 3,28% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 242.976 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 1,85% so với cùng kỳ năm trước; 43.221 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 12,07% so với cùng kỳ năm trước); có 219.939 người tham gia BHTN, tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.907.080 người, tăng 0,47% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ dân số tham gia BHYT chung toàn tỉnh đạt 93,02%. Trong tháng, đã giải quyết mới 8.547 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.806 người; lũy kế đến ngày 30/11/2025, đã giải quyết mới 109.276 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 21.265 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng là 4.270 người; trợ cấp 1 lần là 28.611 người; chế độ ốm đau là 59.414 người; chế độ thai sản là 13.143 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe là 3.838 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng là 19.148 người; hỗ trợ học nghề là 2.117 người). Tiếp nhận, giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177 và 178 là 82 người (lũy kế: 2.143 người). 8. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/11/2025-15/12/2025) Trong tháng xảy ra 74 vụ tai nạn giao thông, tăng 17 vụ so với tháng trước và giảm 43 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 35 người, tăng 12 người so với tháng trước và giảm 10 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 57 người, tăng 14 người so với tháng trước và giảm 34 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/12/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 873 vụ tai nạn giao thông, giảm 360 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 426 người, giảm 37 người; số người bị thương là 675 người, giảm 349 người so với cùng kỳ năm trước. 9. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Từ ngày 27/11/2025 đến 18/12/2025 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã xảy ra 02 vụ lũ quét. Thiên tai đã làm 02 người chết và 02 người bị thương; 8.359 căn nhà bị ngập; 1.795 ha lúa, 2.303 ha hoa màu bị thiệt hại và 1.113 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng; 582 con gia súc và 23.412 con gia cầm chết, cuốn trôi,.... Ước tổng thiệt hại 281.171 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 18/12/2025, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng xảy ra 38 vụ thiên tai do mưa lớn kèm dông, lốc, sét, gió giật mạnh, lũ quét làm 17 người chết, 21 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 1.840,6 tỷ đồng. Đến nay tỉnh đã hoàn thành hỗ trợ khắc phục thiệt hại về nhà và sản xuất, qua đó giúp người dân dần ổn định cuộc sống; bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng giao thông thiết yếu, các tuyến đường huyết mạch trên địa bàn tỉnh (Quốc lộ 28, Quốc lộ 20, Đường tỉnh 725…) đã kịp thời sửa chữa, khôi phục, hiện nay đã cơ bản đáp ứng nhu cầu vận chuyển và đi lại của người dân. - Cháy, nổ: Trong tháng xảy ra 11 vụ cháy, nổ, không có thiệt hại về người. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/12/2025 xảy ra 61 vụ cháy, nổ làm chết 01 người và 02 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 18 vụ, số người chết giảm 4 người và số người bị thương giảm 03 người. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra, giảm 01 vụ so với tháng trước và giảm 03 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 19/12/2025 xảy ra 20 vụ vi phạm, giảm 38 vụ so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 3,663 tỷ đồng. * Đánh giá chung Nhìn chung, năm 2025 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn; tăng trưởng toàn cầu phục hồi chậm, lạm phát dù đã hạ nhiệt nhưng vẫn duy trì ở mức cao tại một số nền kinh tế lớn; giá năng lượng, nguyên vật liệu và chi phí vận chuyển biến động khó lường; căng thẳng địa chính trị, xung đột khu vực và rủi ro về chuỗi cung ứng tiếp tục tác động đến hoạt động sản xuất, thương mại và đầu tư. Trong nước, cùng với những khó khăn chung của nền kinh tế, tỉnh triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm đầu tiên sau sáp nhập tỉnh, phát sinh nhiều vấn đề trong giai đoạn đầu như sắp xếp tổ chức bộ máy, điều chỉnh quy hoạch, phân bổ nguồn lực và thống nhất cơ chế quản lý, điều hành, ảnh hưởng nhất định đến tiến độ triển khai một số chương trình, dự án và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, tình hình thời tiết, thiên tai diễn biến phức tạp, mưa lớn kéo dài, lũ lụt cục bộ, sạt lở đất tại một số khu vực đã gây thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp, hạ tầng giao thông và đời sống người dân, làm gia tăng chi phí khắc phục, phục hồi sản xuất, ảnh hưởng đến tăng trưởng chung của nền kinh tế địa phương trong một số thời điểm. Trong bối cảnh đó, với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự phối hợp đồng bộ của các sở, ngành, địa phương và sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, người dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã từng bước ổn định và phục hồi rõ nét trong các quý cuối năm, đạt được nhiều kết quả tích cực. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tăng 6,42%, phản ánh xu hướng phục hồi và tăng trưởng khá trong điều kiện còn nhiều khó khăn sau sáp nhập. Quy mô nền kinh tế tiếp tục mở rộng, GRDP bình quân đầu người ước đạt 105,24 triệu đồng/người, tăng 12,7% so với năm trước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó khu vực dịch vụ tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu. Hoạt động sản xuất cây trồng duy trì ổn định, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 1,43%; nhiều cây trồng chủ lực tăng khá về sản lượng như cà phê, hồ tiêu và sầu riêng. Chăn nuôi phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm. Nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục mở rộng với diện tích 107.217 ha, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất, tạo nền tảng vững chắc cho ổn định kinh tế nông thôn. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 tăng 16,28% so với cùng kỳ, phản ánh sự phục hồi mạnh của thị trường trong nước, hoạt động thương mại, du lịch và dịch vụ tiêu dùng sau giai đoạn ổn định tổ chức bộ máy. Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi nhưng còn chịu tác động của biến động giá nguyên, nhiên vật liệu và tiến độ đầu tư, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 4,79%. Hoạt động đầu tư tiếp tục được duy trì, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tăng 8,48% so với năm trước, góp phần phát triển kết cấu hạ tầng và thúc đẩy tăng trưởng, dù chưa đạt mục tiêu kế hoạch do ảnh hưởng của quá trình rà soát, điều chỉnh danh mục dự án và thủ tục đầu tư sau sáp nhập. Công tác quản lý giá và điều hành thị trường được triển khai đồng bộ, hiệu quả; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2025 tăng 3,56%, nằm trong phạm vi kiểm soát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và đời sống dân cư. Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả tích cực, tổng thu nội địa tăng 16,38% so với năm trước. Song song với phát triển kinh tế, lĩnh vực an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, bảo đảm đầy đủ và kịp thời, nhất là trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và địa giới hành chính. Các chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo được thực hiện đầy đủ; công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghề, chăm lo đời sống người lao động được chú trọng. Các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa – xã hội tiếp tục ổn định, góp phần củng cố niềm tin của người dân và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025 tỉnh Lâm Đồng
  •   02/12/2025 15:39

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng bởi thiên tai mưa lũ đã ảnh hưởng trực tiếp đến 5.710 ha lúa mùa vụ và 8.567 ha hoa màu. Tuy nhiên 11 tháng năm 2025, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì và phát triển ổn định. Diện tích các loại cây trồng hàng năm tăng nhẹ so với cùng kỳ. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia cầm và đàn lợn đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, nhất là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát hiệu quả, giúp người dân yên tâm đầu tư. Sản lượng khai thác thủy sản biển ổn định. Công tác phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và Chương trình OCOP được chú trọng; nhiều doanh nghiệp, chủ thể sản xuất được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông sản chủ lực, sản phẩm OCOP tại các hội nghị, triển lãm trong cả nước, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu nông nghiệp của tỉnh. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Vụ mùa năm 2025 diện tích xuống giống đúng vụ, công tác xã hội hóa giống lúa đẩy mạnh, tăng tỷ lệ sử dụng giống lúa xác nhận; tăng cường công tác dự báo, theo dõi, quản lý chặt chẽ tình hình và xử lý kịp thời sâu bệnh trên cây trồng. Trong vụ tình hình thời tiết tương đối thuận lợi, tuy nhiên vẫn còn tình trạng ngập cục bộ do mưa lớn xảy ra ở một số địa phương như xã Hàm Kiệm, xã Hàm Chính, xã Hàm Thuận Nam, xã Hàm Thuận, xã Bắc Bình đã ảnh hưởng đến diện tích gieo trồng lúa, rau màu. Tổng diện tích gieo trồng Vụ mùa ước đạt 170.353,3 ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: + Cây lương thực có hạt: Diện tích gieo trồng ước đạt 85.544,9 ha, tăng 0,83% so với cùng kỳ năm trước. Ước sản lượng lương thực vụ mùa đạt 512.423,3 tấn, năng suất đạt 59,9 tạ/ha; so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,21% về sản lượng và tăng 0,22 tạ/ha về năng suất (trong đó: cây lúa diện tích ước đạt 64.132,2 ha, tăng 1,38%; sản lượng ước đạt 377.620,1 tấn, tăng 1,8%, năng suất ước đạt 58,88 tạ/ha. Cây bắp diện tích ước đạt 21.412,7 ha, giảm 0,71%; sản lượng ước đạt 134.803,2 tấn, giảm 0,3%; năng suất ước đạt 62,95 tạ/ha, tăng 0,25 tạ/ha); + Cây chất bột: Diện tích ước đạt 31.248,2 ha. Trong đó diện tích cây mỳ ước đạt 29.780,3 ha, tăng 0,62%; sản lượng ước đạt 602.098,4 tấn, tăng 0,7%; năng suất ước đạt 202,18 tạ/ha, tăng 0,12 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. + Cây công nghiệp ngắn ngày: Diện tích gieo trồng ước đạt 5.903,5 ha, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: Cây mía diện tích ước đạt 1.018,5 ha, tăng 0,14%; sản lượng ước đạt 46.887,8 tấn, tăng 0,2%; năng suất ước đạt 460,36 tạ/ha, tăng 0,13 tạ/ha. Cây đậu phộng diện tích ước đạt 4.044,6 ha, tăng 3,2%; sản lượng ước đạt 8.584,9 tấn, tăng 5,5%; năng suất ước đạt 21,23 tạ/ha, tăng 0,47 tạ/ha. Cây mè diện tích ước đạt 292,2 ha, tăng 1,0%; sản lượng ước đạt 182,9 tấn, tăng 1,3%; năng suất ước đạt 6,26 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha). + Rau, đậu, hoa: Diện tích gieo trồng ước đạt 39.427,7 ha, tăng 2,82% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: rau các loại diện tích ước đạt 31.167 ha, tăng 2,9%; sản lượng ước đạt 961.051,6 tấn, tăng 3,5%; năng suất ước đạt 308,36 tạ/ha, tăng 1,81 tạ/ha. Đậu các loại diện tích ước đạt 5.127,7 ha, tăng 1,5%; sản lượng ước đạt 6.653,4 tấn, tăng 1,6%; năng suất ước đạt 12,98 tạ/ha, tăng 0,01 tạ/ha).Diện tích gieo trồng cây hàng năm qua các năm 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm. Tổng diện tích các loại cây lâu năm trên địa bàn tỉnh ước đạt 636.646 ha, tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể diện tích một số loại cây lâu năm như sau: Cây cà phê diện tích ước đạt 328.650 ha, tăng 1,03%; Cây chè diện tích ước đạt 9.003,9 ha, giảm 5,29%; Cây điều diện tích ước đạt 50.215 ha, tăng 1,49%; Cây tiêu diện tích ước đạt 37.193 ha, tăng 0,02%; Cây dâu tằm diện tích ước đạt 11.320,4 ha, tăng 4,93%; Cây sầu riêng diện tích ước đạt 44.283,5 ha, tăng 4,34%; Cây bơ diện tích ước đạt 8.959,6 ha, giảm 2,54%; Cây thanh long diện tích ước đạt 26.126 ha, tăng 0,56%; Cây ca cao diện tích ước đạt 430,7 ha, tăng 1,56%; Cây cao su diện tích ước đạt 75.381 ha, tăng 2,6%; Cây mắc ca diện tích ước đạt 11.317 ha, tăng 2,55%; (12). Cây chanh leo diện tích ước đạt 1.810,4 ha, tăng 3,11%. 1.3. Tình hình dịch bệnh Trong tháng 11/2025, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 676 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại 964 ha; chuột gây hại 376 ha; rầy nâu gây hại 304 ha (so với tháng trước, sâu đục thân gây hại tăng 562 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại tăng 492 ha; chuột gây hại tăng 126 ha; rầy nâu gây hại tăng 280 ha); - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.393,4 ha (giảm 74,9 ha so với tháng trước) tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, phường Đông Gia Nghĩa, phường Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.309,3 ha (giảm 802,2 ha so với tháng trước) tại các xã Bảo Lâm 1,2,3,4,5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác; bọ xít muỗi gây hại 1.973,6 ha cà phê chè (tăng 288,6 ha so với tháng trước) tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; Bệnh chết khô ngọn gây hại 30 ha tại Bảo Lâm 1; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.210,4 ha (tăng 178,4 ha so với tháng trước); bệnh thán thư gây hại 2.740 ha (giảm 96 ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1,2,3,4, Tánh Linh, Suối Kiết, Tân Minh, Nam Thành; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 308 ha (giảm 02 ha so với tháng trước) tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 4.003 ha (giảm 47 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 910 ha (giảm 269 ha so với tháng trước) tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Tân Thành, Tiến Thành, Tân Lập, Tân Hải, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Liên Hương. Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất. 2. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi; mặc dù giá thức ăn, con giống gia súc vẫn ở mức cao, dịch bệnh tiêu chảy trên đàn bò sữa và bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại một số nơi trên địa bàn tỉnh nhưng nhờ công tác kiểm dịch và quản lý tốt tại các trang trại (đặc biệt là trại chăn nuôi gia công) nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với cùng kỳ. So với cùng kỳ năm trước, toàn tỉnh có 27,2 nghìn con trâu, tăng 0,74%; có 318,5 nghìn con bò, tăng 1,63% (trong đó đàn bò sữa 28,6 nghìn con, tăng 0,70%); có 1.490,5 nghìn con lợn, tăng 9,1% (lợn không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.240,7 nghìn con, tăng 9,54%); có 22.390,5 nghìn con gia cầm, tăng 8,25% (trong đó gà các loại 16.025 nghìn con, chiếm 71,57% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,96%); đàn lợn và đàn gà tăng do trong năm 2025 có thêm đóng góp của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thái Việt Corporation với quy mô hơn 35.000 con lợn, Công ty Thái Thịnh Tây Nguyên với quy mô hơn 8.000 con lợn và Công ty cổ phần MeBi Farm với quy mô hiện có trên 202 nghìn con gà đẻ trứng đã góp phần đáng kể vào việc nâng tổng đàn. Sản lượng thịt hơi các loại ước 11 tháng năm 2025 đạt 311.090,8 tấn, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước.Số lượng đàn gia súc, gia cầm 11 tháng qua các năm(ĐVT: 1.000 con) * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng phát sinh 18 hộ tại 12 thôn của 10 xã với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 350 con/25.015 kg. Lũy kế, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 1.905 con/102.750 kg. Đến nay, có 18/24 xã đã qua 21 ngày không phát sinh lợn mắc bệnh, 06/24 xã dịch bệnh chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, đã trồng rừng tập trung (trồng mới) ước đạt 395 ha, tăng 3,95% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 5.030 ha, tăng 4,93% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây xanh ước đạt gần 17,8 triệu cây, đạt 102,7% kế hoạch năm. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 26.382 m3, tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 340.682,3 m3, tăng 2,04% so với cùng kỳ năm trước. - Trong tháng, phát sinh 45 vụ vi phạm lâm luật, giảm 31 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, tổng số vụ vi phạm là 339 vụ, giảm 373 vụ so với cùng kỳ. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 3.126,2 tấn, tăng 4,51% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 500,1 tấn, tăng 3,09%). Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 25.600,6 tấn, tăng 2,45% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 4.586,5 tấn, tăng 3,19%). - Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 20.805,3 tấn, tăng 8,41% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 20.743,3 tấn, tăng 8,43%). Lũy kế 11 tháng năm 2025, sản lượng khai thác đạt 232.411,1 tấn, tăng 4,89% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 231.114,7 tấn, tăng 4,91%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong 11 tháng năm 2025 hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Công tác quản lý chất lượng giống thủy sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,16 tỷ post, tăng 2,69% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 22,55 tỷ post, tăng 7,27% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản 11 tháng qua các năm II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2025 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng so với cùng kỳ. Đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung là ngành khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo, nhờ sự phục hồi của thị trường xuất khẩu và năng lực sản xuất tăng thêm từ các dự án mới. Một số sản phẩm chủ lực như giày da, phân bón, vật liệu xây dựng có mức tăng khá, nhóm ngành đồ uống do chi phí đầu vào và thị trường tiêu thụ gặp khó khăn. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tăng, phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất dịp cuối năm. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 10,71% so với tháng trước và tăng 13,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 51,67% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,64%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 15,22%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,18%. Tính chung 11 tháng năm 2025, ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,27% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 17,45%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,38%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,78%. Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng so với cùng kỳ qua các năm 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Sản lượng trong tháng ước đạt 408.947 m³, giảm 5,15% so với tháng trước và tăng 40,82% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 3.380 nghìn m³, tăng 16,80% so với cùng kỳ. Nhằm khắc phục tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng như năm trước, đặc biệt là vào các tháng cuối năm, các doanh nghiệp khai thác đá đã chủ động tăng sản lượng ngay từ đầu năm để đáp ứng nhu cầu xây dựng tăng cao. - Sản phẩm thủy sản chế biến, bảo quản: Trong tháng, sản lượng ước đạt 2.107 tấn, tăng 13,82% so với tháng trước và tăng 10% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 19.439 tấn, tăng 1,48% so với cùng kỳ. Mặc dù thời tiết không thuận lợi cho hoạt động khai thác thủy sản, nhưng nhờ có kế hoạch sản xuất dài hạn, các doanh nghiệp chế biến thủy sản vẫn duy trì được sản lượng ổn định và chưa bị ảnh hưởng đáng kể. - Sản phẩm rau, quả chế biến, bảo quản: Sản lượng trong tháng ước đạt 2.986 tấn, tăng 1,87% so với tháng trước và tăng 21,47% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 34.014 tấn, tăng 17,98% so với cùng kỳ. Nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng cùng với sự phục hồi đơn hàng xuất khẩu đã thúc đẩy sản lượng; đồng thời lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu và công nghệ chế biến tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của ngành. - Sản phẩm đồ uống: Sản lượng trong tháng ước đạt 30.712 nghìn lít, tăng 8,66% so với tháng trước nhưng giảm 1,61% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 300.719 nghìn lít, giảm 7,98% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên vật liệu đầu vào (Malt, gạo, đường) tăng cao, nhu cầu tiêu thụ bia giảm và thị trường cạnh tranh gay gắt cả trong nước và quốc tế. - Sản phẩm giày, dép: Sản lượng trong tháng ước đạt 658 nghìn đôi, tăng 19,01% so với tháng trước và tăng 44,07% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 5.707 nghìn đôi, tăng mạnh 80,71% so với cùng kỳ, chủ yếu do doanh nghiệp tiếp tục nhận thêm đơn hàng và tăng năng lực sản xuất tại Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam. - Sản phẩm phân bón: Sản lượng tháng 11 ước đạt 5.826 tấn, bằng 43,75% so với tháng trước nhưng tăng 25,09% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 117.424 tấn, tăng 18,10% so với cùng kỳ. Sản lượng tăng do Nhà máy Hóa chất Đức Giang - Đắk Nông chính thức đi vào hoạt động từ quý II/2025. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng, sản lượng ước đạt 121,5 nghìn tấn, tăng 0,70% so với tháng trước và tăng 1,42% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 1.354,7 nghìn tấn, tăng 2,37% so với cùng kỳ. - Điện sản xuất: Sản lượng trong tháng ước đạt 3.273 triệu kWh, tăng 19,76% so với tháng trước và tăng 15,51% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 31.006 triệu kwh, tăng 0,93% so với cùng kỳ. - Điện thương phẩm: Sản lượng trong tháng ước đạt 468 triệu kwh, tăng 3,66% so với tháng trước và tăng 3,59% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 5.045 triệu kwh, giảm nhẹ 0,31% so với cùng kỳ. Sản lượng giảm do thực hiện tuyên truyền tiết kiệm điện, giảm điện chiếu sáng công cộng ở một số địa điểm và do nhiều hộ dân, cơ sở sản xuất - kinh doanh sử dụng một phần điện từ hệ thống năng lượng mặt trời mái nhà. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trong tháng tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 5,31% so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 0,57%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,24%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,97%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,02%. Tính chung 11 tháng năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,55%. Trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 17,29%; ngành chế biến, chế tạo tăng 5,21%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,26%. Xét theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,87%, doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 6,95%, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5,39% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động tăng so với cùng kỳ và cao hơn mức bình quân 11 tháng năm 2025, cho thấy nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp có xu hướng cải thiện, đặc biệt nhằm phục vụ yêu cầu sản xuất vào thời điểm cuối năm. Hoạt động sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì đà tăng, dự báo thị trường lao động ngành này sẽ phát triển tích cực trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp Tính đến tháng 11/2025, các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh đã thu hút 06 dự án đầu tư (01 dự án FDI và 05 dự án trong nước) với tổng diện tích khoảng 22,23 ha, tổng vốn đăng ký 452 tỷ đồng và 35 triệu USD. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 228 dự án còn hiệu lực (51 dự án FDI và 177 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 43.326,6 tỷ đồng và 466,4 triệu USD, diện tích đất đăng ký 712,7 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,24%. - KCN Lộc Sơn: Thu hút 56 dự án (09 FDI và 47 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 87,29%. Giá trị giải ngân đối với hạng mục nâng cấp Nhà máy xử lý nước thải tập trung và hệ thống thu gom nước thải đạt 63/1.000 triệu đồng, bằng 6,32% kế hoạch năm 2025. - KCN Phú Hội: Thu hút 32 dự án (11 FDI và 21 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 75,02%. Giải ngân trong tháng đạt 7,13/17,207 tỷ đồng (41,44% kế hoạch năm 2025). Lũy kế đến nay đã giải ngân 62,81/72,8 tỷ đồng, đạt 86,28% khối lượng được phê duyệt. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Thu hút 39 dự án (10 FDI và 29 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 100%. Trong tháng, chủ đầu tư thực hiện trồng cây xanh, duy tu hạ tầng và bảo trì trạm xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 0,43/2,7 tỷ đồng (15,93%). Lũy kế thực hiện đạt 76,24/48,28 tỷ đồng, tương đương 157,81% tổng vốn dự án. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Thu hút 12 dự án (02 FDI và 10 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I: Thu hút 22 dự án (08 FDI và 14 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 65,27%. Trong tháng, chủ đầu tư trồng cây xanh và thi công hoàn thiện các tuyến đường D2, N1, N2, N3. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 18,13/54,11 tỷ đồng (33,51%). Lũy kế thực hiện đạt 289,26/273,42 tỷ đồng, tương đương 105,79% tổng vốn dự án. - KCN Hàm Kiệm II: Thu hút 17 dự án (07 FDI và 10 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 31,77%. Trong tháng, chủ đầu tư tiếp tục san lấp mặt bằng, trồng cây xanh và thi công các tuyến đường D1, D3, D5, N1, N3, N4. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 39,8/100 tỷ đồng (39,8%). Lũy kế thực hiện đạt 376,18/491,82 tỷ đồng, tương đương 76,49% tổng vốn dự án. - KCN Sông Bình: Thu hút 03 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 13.544,93 tỷ đồng; diện tích cho thuê 58,35/202,32 ha, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. Trong tháng, chủ đầu tư tiếp tục trồng cây xanh và thi công đường D1, D3, N4, N6. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 2,22/4,34 tỷ đồng (51,15%), giảm 25,77% so với cùng kỳ. Lũy kế thực hiện đạt 320,91/781,05 tỷ đồng (41,09%). - KCN Tân Đức: Thu hút 01 dự án trong nước với vốn đăng ký 100 tỷ đồng; diện tích cho thuê 1,5/210,84 ha, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. Trong tháng, chủ đầu tư tiếp tục san lấp mặt bằng; thi công các tuyến đường D3a, D3b, N1a, N1b, N2, N3, D2; trồng cây xanh; thi công Nhà máy cấp nước và Nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 273,56/562,07 tỷ đồng (48,67%). Lũy kế thực hiện đạt 900,27/1.200 tỷ đồng (75,02%). - KCN Tâm Thắng: Thu hút 47 dự án (04 FDI và 43 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ: Thu hút 01 dự án với quy mô 129,42 ha, tổng vốn đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lấp đầy 87,44%. 2. Đầu tư phát triển Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tiếp tục được đẩy mạnh, tập trung vào các công trình hạ tầng trọng điểm. Trong tháng, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực hiện có quy mô lớn nhất từ đầu năm đến nay, tăng 15,68%. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.854,6 tỷ đồng, tăng 15,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.847,7 tỷ đồng (chiếm 99,63% tổng vốn ngân sách nhà nước), tăng 15,93% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 6,8 tỷ đồng (chiếm 0,37%), giảm 26,46% so với cùng kỳ. Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh bao gồm: vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 578,5 tỷ đồng, giảm 11,12% so với cùng kỳ; vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 643 tỷ đồng, tăng 31,47%; vốn nước ngoài (ODA) đạt 41,1 tỷ đồng, tăng 67%; vốn xổ số kiến thiết đạt 580,1 tỷ đồng, tăng 38,43%; vốn khác đạt 5 tỷ đồng, giảm 50,98% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 12.820,5 tỷ đồng, bằng 80,72% kế hoạch năm và tăng 7,92% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 12.786,7 tỷ đồng, tăng 8,02%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 33,8 tỷ đồng, giảm 18,97% so với cùng kỳ.Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nướcdo địa phương quản lý 11 tháng qua các năm Trong 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 45 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 15.434,9 tỷ đồng. Lũy kế đến ngày 20/11/2025, trên địa bàn tỉnh có 2.924 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 2.006.024 tỷ đồng (trong đó có 236 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 224.284 tỷ đồng). Tính từ đầu năm đến ngày 18/11/2025, toàn tỉnh có 3.761 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 74,93% so với cùng kỳ; 1.657 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,8%; 760 doanh nghiệp giải thể, tăng 77,16%; 726 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 15,24% so cùng kỳ. Tổng số vốn trong 11 tháng đầu năm 2025 các doanh nghiệp đã đăng ký 19.446 tỷ đồng, tăng 11,03% so với cùng kỳ. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Tình hình thương mại trên địa bàn tỉnh trong 11 tháng năm 2025 duy trì mức tăng trưởng tương đối ổn định. Nguồn cung hàng hóa bảo đảm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá cả nhìn chung không biến động lớn, thị trường giữ được trạng thái ổn định. Hoạt động du lịch tiếp tục sôi động với nhiều giải thể thao và lễ hội diễn ra trên địa bàn, thu hút đông đảo du khách, vận động viên trong nước và quốc tế. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định, chủ động mở rộng và nâng cao chất lượng phục vụ du khách. Các nhà hàng, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tăng cường phục vụ người dân và du khách, thực hiện đúng quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm, niêm yết giá và bán đúng giá. Hoạt động vận tải đường bộ ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa trên thị trường. Vận tải đường thủy diễn ra thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại và du lịch của người dân, đặc biệt là phục vụ tốt nhu cầu di chuyển đến và đi từ đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Thị trường thương mại, dịch vụ những tháng cuối năm tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp Tết Nguyên đán. Các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ đã chủ động chuẩn bị nguồn hàng, triển khai đồng bộ các chương trình khuyến mại, kích cầu, góp phần gia tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ. Bên cạnh đó, các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu được đẩy mạnh đã hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, tác động tích cực đến lưu thông hàng hóa và hoạt động của chuỗi cung ứng trên địa bàn. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 24.731,1 tỷ đồng, tăng 3,08% so với tháng trước và tăng 26,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 16.621,5 tỷ đồng, tăng 3,15% so với tháng trước và tăng 24,17% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 5.517 tỷ đồng, tăng 2,89% so với tháng trước và tăng 37,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.592,6 tỷ đồng, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 20,33% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 236.994,8 tỷ đồng, tăng 16,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ ước đạt 158.815,3 tỷ đồng, tăng 15,98% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 51.837 tỷ đồng, tăng 19,41% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 26.342,5 tỷ đồng, tăng 10,90% so với cùng kỳ năm trước.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ 11 tháng qua các năm (ĐVT: tỷ đồng) 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng không ghi nhận hiện tượng găm hàng hay tăng giá bất hợp lý. Hoạt động mua bán, giao thương diễn ra sôi động tại các chợ đầu mối, chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện ích, trung tâm thương mại và trên các sàn thương mại điện tử, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, ổn định thị trường và phát triển tiêu dùng nội địa. Giá các mặt hàng thiết yếu được duy trì ở mức hợp lý và tương đối ổn định. Đối với mặt hàng xăng dầu, các cơ sở kinh doanh chấp hành tốt các quy định pháp luật; không xuất hiện điểm nóng về vi phạm đo lường, chất lượng, găm hàng hay hạn chế bán ra; nguồn cung đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng, không xảy ra khan hiếm cục bộ tại các cửa hàng bán lẻ. Từ ngày 15/10 đến 14/11/2025 đã kiểm tra 265 vụ, phát hiện 229 vụ vi phạm, xử lý 224 vụ, với tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính 1.834 triệu đồng, trị giá hàng hóa áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả 667,4 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Giá lương thực, thực phẩm tiếp tục tăng do ảnh hưởng bởi ngập lụt; giá nhiên liệu tăng do điều chỉnh giá xăng dầu trong nước là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,89% so với tháng trước, tăng 5,56% so với cùng kỳ năm trước và tăng 5,40% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,35%. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 09 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,92%; Giao thông tăng 1,23%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,29%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,20%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,14%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,07%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,01%; Giáo dục tăng 0,01%. Có 02 nhóm hàng giảm giá: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,04%; Thông tin và truyền thông giảm 0,23%.Tốc độ tăng/giảm CPI 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước (%) * Nguyên nhân làm tăng, giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng CPI: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,92% so với tháng trước, do ảnh hưởng ngập lụt, nguồn cung các mặt hàng gạo; rau tươi, thịt lợn, thịt gia cầm giảm nên giá lương thực, thực phẩm tăng cao so với tháng trước. Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 06, 13 và 20 trong tháng, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu tăng 2,62% so với tháng trước. - Nguyên nhân làm giảm CPI: Giá gas trong tháng giảm 1,64% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh giảm 6.500 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới. Giá gas thế giới bình quân trong tháng công bố ở mức 467,5 USD/tấn, giảm 17,5 USD/tấn so với tháng trước. Giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,23% so tháng trước, do các cửa hàng điện máy xanh, cửa hàng thế giới di động đang có chương trình khuyến mãi các mặt hàng điện thoại, phụ kiện điện thoại. * Các yếu tố làm tăng, giảm CPI 11 tháng năm 2025 so bình quân cùng kỳ - Các yếu tố làm tăng CPI bình quân 11 tháng năm 2025 + Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 14,02% làm CPI chung tăng 0,86 điểm phần trăm, áp dụng giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế; + Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,32% làm CPI chung tăng 0,80 điểm phần trăm, do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 8,55% do nhu cầu sử dụng điện tăng đồng thời ngày 11/10/2024 và ngày 09/5/2025 EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân; + Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,71% làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó các mặt hàng trang sức bằng vàng tăng 27,70% do ảnh hưởng giá vàng trong trước tăng theo giá vàng thế giới; giá bảo hiểm y tế tăng 15,38% do tăng theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng từ 1.800.000 đồng lên 2.340.000 đồng, theo đó bảo hiểm y tế cho cán bộ công chức và người lao động cũng được tăng theo; + Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,57% tác động làm CPI chung tăng 1,25 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 4,01%, tác động làm CPI chung tăng 0,91 điểm phần trăm, tăng mạnh chủ yếu giá thịt lợn tăng 9,90%. Nguyên nhân do nguồn cung ít, nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp Lễ, Tết; + Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,84%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,66%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,28%. Nguyên nhân do tăng cao trong dịp Lễ Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán thị trường tiêu dùng; + Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 1,96%, làm CPI chung tăng 0,13 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Các yếu tố làm giảm CPI bình quân 11 tháng năm 2025 + Giá các mặt hàng gạo giảm 0,34%. Nguyên nhân, do nguồn cung tại địa phương cũng như nguồn cung trong nước dồi dào, tình hình xuất khẩu gạo các thị trường Philippines, Indonesia cũng giảm so cùng kỳ, do đó giá so bình quân cùng kỳ năm trước có phần giảm nhẹ; + Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 1,71% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,17 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 8,26%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. 3. Hoạt động du lịch Ngành du lịch tiếp tục đà phục hồi và phát triển nhờ công tác tổ chức thành công nhiều sự kiện kích cầu đa dạng. Trong tháng, tỉnh đã thu hút lượng lớn du khách thông qua các hoạt động nổi bật như: Giải Golf đồng đội quốc tế; giải bắn súng hơi Laser rutival; lễ hội Dinh Thầy Thím; Lễ hội Trà Quốc tế - World Tea Fest 2025; “Trà ngoại giao” với sự tham dự của 60 đại sứ các nước; hội chợ, triển lãm trà quốc tế; hội nghị cấp cao về chiến lược phát triển ngành trà; lễ hội đường phố, đại nhạc hội và trình diễn áo dài của 80 thí sinh Miss Cosmo thế giới; các buổi biểu diễn Lễ hội Hoa Dã Quỳ & Âm Nhạc Mùa Đông; triển lãm “Hương Núi - Sắc Rừng”.... thu hút đông đảo người dân và khách du lịch. Đồng thời, việc tận dụng tốt lợi thế mùa cao điểm khách quốc tế nghỉ đông đã giúp gia tăng lượng khách nước ngoài đến địa phương. Các đơn vị kinh doanh lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch hoạt động ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của du khách. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.819,1 nghìn lượt, tăng 3,96% so tháng trước và tăng 28,91% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 76,6 nghìn lượt, tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 14,34% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.210 nghìn ngày khách, tăng 4,52% so với tháng trước và tăng 33,69% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 lượt khách ước đạt 18.830,2 nghìn lượt, tăng 19,66% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 681,6 nghìn lượt, tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 33.795,6 nghìn ngày khách, tăng 22,32% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 105 nghìn lượt khách, tăng 18,26% so với tháng trước và tăng 34,26% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 246,8 nghìn ngày khách, tăng 20,23% so với tháng trước và tăng 26,27% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 lượt khách quốc tế ước đạt 1.110 nghìn lượt khách, tăng 32,38% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 2.895,9 nghìn ngày khách, tăng 27,06% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường khách quốc tế đến tỉnh chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga, Mỹ, Đài Loan, Đức, Anh, Malaixia.... Lượt khách và ngày khách phục vụ 11 tháng qua các năm Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 1.084,9 tỷ đồng, tăng 3,84% so với tháng trước và tăng 48,35% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.411,6 tỷ đồng, tăng 2,66% so với tháng trước và tăng 36,38% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 20,4 tỷ đồng, tăng 3,38% so với tháng trước và giảm 41,61% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 9.955,9 tỷ đồng, tăng 21,51% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 41.416,4 tỷ đồng, tăng 18,69% so cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 464,7 tỷ đồng, tăng 42,59% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.132,7 tỷ đồng, tăng 2,76% so với tháng trước và tăng 33,57% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 51.557,9 tỷ đồng, tăng 24,46% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.592,6 tỷ đồng, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 20,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 305,9 tỷ đồng, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 12,87% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 111,8 tỷ đồng, tăng 3,03% so với tháng trước và tăng 7,75% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 88,5 tỷ đồng, tăng 2,15% so với tháng trước và tăng 18,46% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 152,8 tỷ đồng, tăng 1,28% so với tháng trước và tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.406,2 tỷ đồng, tăng 3,97% so với tháng trước và tăng 24,89% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 527,4 tỷ đồng, tăng 1,42% so với tháng trước và tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng 2025 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 26.342,5 tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.944,3 tỷ đồng, tăng 14,11% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 1.173,3 tỷ đồng, tăng 14,35% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 846,7 tỷ đồng, tăng 31,61% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 1.412,1 tỷ đồng, tăng 17,68% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 14.458,1 tỷ đồng, tăng 9,14% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 5.508 tỷ đồng, tăng 8,93% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng hoạt động vận tải diễn ra ổn định, các ngày nghỉ cuối tuần nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa phục vụ người dân tăng. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.288,4 tỷ đồng tăng 4,39% so với tháng trước và tăng 20,75% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 13.153,2 tỷ đồng, tăng 15,51% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.995,4 nghìn HK, tăng 2,39% so với tháng trước và tăng 18,37% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 571.662,5 nghìn HK.Km, tăng 3,87% so với tháng trước và tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 42.351,9 nghìn HK, tăng 11,88% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 6.174.365,7 nghìn HK.Km, tăng 13,01% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng 2025 ước đạt 2.251,6 nghìn tấn, tăng 7,58% so với tháng trước và tăng 21,88% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 317.244,9 nghìn tấn.Km, tăng 6,54% so với tháng trước và tăng 20,83% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 21.082,1 nghìn tấn, tăng 6,70% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 3.079.933,0 nghìn tấn.Km, tăng 8,31% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.288,4 tỷ đồng, tăng 4,39% so với tháng trước và tăng 20,75% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 13.153,2 tỷ đồng, tăng 15,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 5.614,1 tỷ đồng, tăng 19,54% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 5.567,8 tỷ đồng, tăng 6,57%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.913,9 tỷ đồng, tăng 35,14%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 57,4 tỷ đồng, tăng 14,6%. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 2.262,7 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.106,6 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 156,1 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi 11 tháng các năm (ĐVT: Tỷ đồng) IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.291 tỷ đồng, tăng 6,27% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 2.136 tỷ đồng, tăng 6,00%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 155 tỷ đồng, tăng 10,19%. Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 28.254 tỷ đồng, bằng 100,01% kế hoạch năm và tăng 16,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 26.820 tỷ đồng, bằng 100,79% kế hoạch năm và tăng 17,65% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.434 tỷ đồng, bằng 87,48% kế hoạch năm và giảm 7,97% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa 11 tháng năm 2025: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.609 tỷ đồng (bằng 143,73% kế hoạch năm và tăng 72,81% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.317 tỷ đồng (bằng 107,18% kế hoạch năm và tăng 21,19%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 6.282 tỷ đồng (bằng 99,04% kế hoạch năm và tăng 7,94%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 2.763 tỷ đồng (bằng 196,65% kế hoạch năm và tăng 17,21%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 4.209 tỷ đồng (bằng 83,29% kế hoạch năm và tăng 23,87%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.400 tỷ đồng (bằng 97,95% kế hoạch năm và tăng 6,91%).Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 11 tháng các năm 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 6.705 tỷ đồng, lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 38.941 tỷ đồng, bằng 81,16% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 12.027 tỷ đồng, bằng 110,22% kế hoạch năm; chi thường xuyên ước đạt 26.473 tỷ đồng, bằng 92,21% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: Đến 31/10/2025, huy động vốn của các Tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 222.937 tỷ đồng, tăng 13,8% so với đầu năm, tương ứng tăng 27.047 tỷ đồng. Trong đó: huy động bằng đồng Việt Nam đạt 220.552 tỷ đồng (chiếm 99% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.385 tỷ đồng, (chiếm 1% tổng huy động vốn). Ước đến 30/11/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 224.000 tỷ đồng, tăng 14,4% so với đầu năm, tương ứng tăng 28.110 tỷ đồng. Hoạt động tín dụng: Đến 31/10/2025, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 363.307 tỷ đồng, tăng 7,0% so với đầu năm, tương ứng tăng 23.844 tỷ đồng. Trong đó: dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 361.201 tỷ đồng (chiếm 99% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.106 tỷ đồng (chiếm 1% tổng dư nợ tổng dư nợ); dư nợ cho vay ngắn hạn là 260.637 tỷ đồng; dư nợ cho vay trung dài hạn là 102.670 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 30/11/2025, dư nợ cho vay đạt 368.000 tỷ đồng, tăng 8,4% so với đầu năm, tương ứng tăng 28.537 tỷ đồng. Tình hình thực hiện lãi suất: Lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,23% - 0,47%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 3,19% - 4,43%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 4,72% - 5,56%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 5,6% - 6,05%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,5% - 8,7%/năm, trung dài hạn 8,3% - 9,73%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,87% - 4,06%/năm. Dư nợ cho vay: Đến 31/10/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch, dịch vụ, thương mại đạt 186.817 tỷ đồng, chiếm 51,42% tổng dư nợ; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.008 tỷ đồng, chiếm 8,81% tổng dư nợ; ngành nông, lâm nghiệp đạt 144.479 tỷ đồng, chiếm 39,77% tổng dư nợ. Nợ xấu đạt 7.300 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2% trong tổng dư nợ trên địa bàn. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1 Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng tổ chức tuyên truyền Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030; tổ chức các hoạt động truyền thông hưởng ứng Ngày Thế giới xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái (25/11); Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2025; tuyên truyền các ngày lễ, các hoạt động chính trị của địa phương và đất nước. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức Liên hoan các câu lạc bộ Cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, năm 2025; chương trình biểu diện phục vụ khai mạc Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, năm 2025; chương trình “Giao lưu kết nối và hợp tác phát triển du lịch giữa Lâm Đồng và đối tác Malaysia năm 2025”; biểu diễn chương trình âm nhạc đường phố phục vụ nhân dân và du khách; biểu diễn các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né, Bình Thuận cũ). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng đã đón 12.459 lượt khách (Nhà trưng bày trung tâm Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng đón 3.380 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt đón 727 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên đón 212 lượt; Cơ sở 1 (Đông Lâm Đồng) đón 7.951 lượt; Cơ sở 2 (Tây Lâm Đồng) đón 189 lượt khách tham quan. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận tỉnh Lâm Đồng: Tổ chức phục vụ 119 đoàn với 6.019 lượt người, trong đó có 79 khách nước ngoài. Phục vụ 15 lễ viếng, 01 kết nạp Đảng, 01 lễ trao huy hiệu Đảng, 02 buổi sinh hoạt chuyên đề. Trưng bày triển lãm ảnh chuyên đề “Những tấm gương bình dị mà cao quý” tại Khu di tích Dục Thanh nhân kỷ niệm 20 năm Ngày Di sản văn hóa Việt Nam (23/11/2005 - 23/11/2025), gắn với kỷ niệm 56 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2025). + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 950 lượt khách (10 đoàn) đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Sưu tầm 01 hiện vật phục vụ trưng bày bổ sung tại Nhà tưởng niệm - Trưng bày Khu di tích. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 104 thẻ bạn đọc (28 thẻ thiếu nhi); phục vụ 258.092 lượt bạn đọc; luân chuyển 25.736 lượt tài liệu; bổ sung 260 bản sách từ nguồn biếu, tặng; xử lý kỹ thuật 2.456 bản sách; số hóa 7.888 trang/28 tài liệu; cập nhật 74 tin bài lên trang website; trưng bày 110 tài liệu. Trưng bày, giới thiệu sách chào mừng kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (18/11/1930-18/11/2025) và kỷ niệm 43 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982- 20/11/2025). 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Trong tháng tổ chức Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2025; Giải Taekwondo vô địch tỉnh Lâm Đồng; Giải Futsal vô địch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Đua xe đạp vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025 - Cúp NovaWorld Phan Thiết; Cuộc thi Fitness Supermodel Vietnam 2025 - Siêu mẫu Thể hình Việt Nam 2025 mùa thứ 8; Giải Bóng chuyền Giải Bóng chuyền 6x6 nam Vô địch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Võ thuật Cổ truyền Vô địch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Cờ vua học sinh tỉnh Lâm Đồng năm 2025. - Thể thao thành tích cao: Đăng cai tổ chức giải quần vợt đồng đội nữ quốc tế Billie Jean King Cup nhóm III khu vực Châu Á-Châu Đại dương tại Việt Nam năm 2025 tại NovaWorld Phan Thiết. Cử đoàn vận động viên tham gia 08 giải thể thao quốc gia, 02 giải thể thao quốc tế; kết quả đạt 48 huy chương (09 HCV, 11 HCB, 28 HCĐ), trong đó có 02 huy chương quốc tế (01 HCB, 01 HCĐ). Tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm ngày 14/11/2025: Đạt 744 huy chương (189 HCV, 203 HCB, 352 HCĐ); trong đó đạt 44 huy chương quốc tế (14 HCV, 18 HCB, 12 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Hoạt động giáo dục ổn định và đi vào nề nếp. Trong tháng tập trung rà soát, củng cố điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị và đội ngũ nhà giáo để phục vụ công tác dạy, học; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và giảng dạy, tăng cường huy động xã hội hóa giáo dục, phát triển trường ngoài công lập nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.605 trường học (cơ sở giáo dục) với 808.873 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 527 trường với 117.925 trẻ; cấp tiểu học có 565 trường với 322.382 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 243.173 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 120.809 học sinh. Trong năm học 2025-2026, nhu cầu giáo viên cho các cấp học là 42.892 giáo viên; tuy nhiên, số giáo viên hiện có 37.459 giáo viên, còn thiếu 5.433 giáo viên, trong đó: Cấp Tiểu học thiếu 1.463 giáo viên, THCS thiếu 1.453 giáo viên, THPT thiếu 495 giáo viên, chủ yếu ở các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Ngoại ngữ. Ngành chức năng đã đề xuất UBND tỉnh bổ sung biên chế, đồng thời tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, ứng dụng công nghệ và kỹ năng quản lý cho đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp  (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế - Phòng chống sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm khác: Trong tháng phát hiện 1.282 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 27 ca so với tháng trước; có 01 ca tử vong. Lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 6.625 ca mắc, 03 ca tử vong. Trong tháng có 153 ổ dịch được phát hiện xử lý, lũy kế 11 tháng năm đã xử lý 1.052 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng có 01 ca mắc; lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 07 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 379 ca mắc, giảm 69 ca so với tháng trước; lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 2.493 ca mắc. Trong tháng phát hiện 03 ổ dịch mới (Cát Tiên 3: 01, Bảo Lâm 5: 01, Đắk Mil: 01), lũy kế 11 tháng năm 2025 đã phát hiện 17 ổ dịch bệnh tay chân miệng. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 10 ca mắc, tăng 01 ca so với tháng trước, giảm 303 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 3.967 ca mắc, không có tử vong. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, tiêm chủng đầy đủ cho 5.533 trẻ dưới 1 tuổi, lũy kế 11 tháng năm 2025 đã tiêm cho 41.001 trẻ. Tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.765 trẻ, lũy kế 11 tháng đã tiêm cho 34.527 trẻ. Tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.740 trẻ, lũy kế 11 tháng đã tiêm cho 40.122 trẻ. Tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.940 trẻ, lũy kế 11 tháng đã tiêm cho 41.093 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 2 cho 3.823 trẻ, lũy kế 40.245 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 2.618 trẻ, lũy kế 11 tháng năm 2025 đã tiêm cho 35.972 trẻ. - Công tác phòng chống Phong: Trong tháng không phát hiện bệnh phong mới, duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Toàn tỉnh hiện quản lý 464 bệnh nhân phong, đang giám sát 20 bệnh nhân, chăm sóc tàn tật 452 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Trong tháng, khám phát hiện 12 bệnh nhân lao mới, trong đó có 04 bệnh nhân lao phổi AFB (+). - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 11 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 03 bệnh nhân chuyển AIDS, có 03 bệnh nhân tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.717 bệnh nhân mắc HIV, chuyển AIDS 1.770 bệnh nhân và có 879 bệnh nhân tử vong do AIDS. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 861.285 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 49.771 người, số ngày điều trị nội trú là 286.007 ngày, xét nghiệm cho 815.388 tiêu bản, chẩn đoán 147.226 hình ảnh, phẫu thuật 5.280 trường hợp. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đã tổ chức khám bệnh cho 5.228.747 lượt người; 430.823 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 2.510.682 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,74 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 101%; đã xét nghiệm cho 7.881.612 tiêu bản; chẩn đoán 1.480.401 hình ảnh và phẫu thuật cho 53.498 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 78 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 770 cơ sở, kết quả có 20 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 166,6 triệu đồng. Lũy kế 11 tháng năm 2025, tỉnh đã thành lập 764 đoàn kiểm tra tại 15.875 cơ sở, kết quả có 138 cơ sở vi phạm bị xử phạt với tổng số tiền 892,2 triệu đồng.     Trong tháng không xảy ra ngộ độc thực phẩm. Lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 04 vụ ngộ độc thực phẩm làm 109 người mắc, có 01 trường hợp tử vong do ăn cá nóc. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương như: Liên hoan các câu lạc bộ Cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, năm 2025; Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và tuyên truyền đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 vào cuộc sống. Trong tháng tiếp tục đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số; thường xuyên rà soát thông tin trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng (từ ngày 15/10-15/11, qua rà soát trên hệ thống phần mềm giám sát thông tin mạng xã hội có 30.354 tin, bài viết có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; tin, bài tích cực tỷ lệ 75,2%; tin, bài tiêu cực tỷ lệ 24,8%); qua đánh giá, không có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Triển khai tốt công tác tuyên truyền về các ngày lễ, ngày kỷ niệm, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và địa phương. Tuyên truyền đối ngoại, quảng bá, giới thiệu về hình ảnh, chính sách, môi trường đầu tư, truyền thống lịch sử, văn hóa, tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế, những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội. Thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại trên địa bàn tỉnh đã phản ánh toàn diện các hoạt động đối nội, đối ngoại; các vấn đề, sự kiện trong tỉnh, trong nước và trên thế giới. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 06 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh, 01 giấy xác nhận đăng ký hoạt động in. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định. Hệ thống trường học trong vùng đồng bào DTTS cơ bản đảm bảo về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các lớp học duy trì sĩ số học sinh; công tác y tế tiếp tục được triển khai có hiệu quả, hoạt động khám chữa bệnh, chương trình tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện tốt, không có dịch bệnh nguy hiểm phát sinh. Trong tháng, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi; việc giải ngân vốn cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS được quan tâm; các chính sách hỗ trợ cho học sinh, sinh viên, hỗ trợ lãi suất vay vốn cho đồng bào DTTS tại chỗ và chính sách khoán bảo vệ rừng tiếp tục được triển khai hiệu quả. Đến nay, đã thực hiện đầu tư ứng trước bắp lai, lúa nước cho 703 hộ/1.278,5 ha với giá trị đầu tư trên 9,1 tỷ đồng; trong đó: bắp lai 547 hộ/1.162,4 ha/8,4 tỷ đồng và lúa nước 156 lượt hộ/116,1 ha/619 triệu đồng. Chủ động tìm kiếm thị trường và ký hợp đồng thu mua, tiêu thụ bắp lai thương phẩm với các doanh nghiệp thu mua nông sản trong và ngoài tỉnh; lũy kế đến nay đã tổ chức thu mua trên 2.500 tấn bắp lai thương phẩm trị giá trên 10 tỷ đồng. Tổ chức thu mua mủ cao su, chi trả tiền mua mủ hàng ngày kết hợp thu hồi nợ đầu tư; lũy kế đến nay đã thu mua được trên 12,5 tấn mủ cao su trị giá trên 190 triệu đồng. Trong tháng, tình hình mưa lũ diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống người dân vùng đồng bào DTTS. Mưa lũ đã làm 198,4 ha bắp lai thuộc chương trình hỗ trợ thực hiện chính sách đầu tư phát triển sản xuất của 158 hộ bị hư hỏng hoàn toàn, ước thiệt hại khoảng 2,5 tỷ đồng. Ngoài ra, mưa lũ đã làm thiệt hại lớn đối với ngành nông nghiệp và tài sản khác, vì vậy cuộc sống của một bộ phận đồng bào DTTS trên địa bàn tinh đang gặp nhiều khó khăn sau thiên tai. 5.2. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 358 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công, trong đó: Tiếp nhận 23 hồ sơ chuyển đến, 10 hồ sơ chuyển đi; lập thủ tục chuyển Hội đồng Giám định y khoa 10 hồ sơ; trả lời 20 đơn thư; ban hành 39 Quyết định hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ; 189 Quyết định trợ cấp mai táng phí đối với thân nhân của người có công với cách mạng từ trần; đề nghị cấp lại bằng Tổ quốc ghi công cho 16 liệt sĩ; 03 Quyết định giải quyết trợ cấp ưu đãi giáo dục; giải quyết 04 hồ sơ đính chính thông tin người có công… Công tác chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt đối với người có công với cách mạng và thân nhân được thực hiện đầy đủ, đã chi trả qua tài khoản 12.685/19.508 đối tượng với tổng số tiền 42,5 tỷ đồng/tháng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 30/10/2025, toàn tỉnh có 284.112 người người tham gia BHXH, tăng 1,33% so với tháng trước và 1,90% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 240.680 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 0,59% so với cùng kỳ năm trước; 43.432 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 9,77% so với cùng kỳ năm trước); có 219.030 người tham gia BHTN, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.893.040 người, tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 86,20% dân số. Trong tháng, đã giải quyết mới 10.191 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.157 người; lũy kế đến 30/10/2025, đã giải quyết mới 100.729 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 19.459 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 3.990 người; trợ cấp 1 lần cho 26.686 người; chế độ ốm đau cho 54.458 người; chế độ thai sản cho 11.998 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 3.597 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 17.777 người; hỗ trợ học nghề cho 1.682 người). Tiếp nhận, giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177 và 178 là 161 người (lũy kế: 2.061 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/10-13/11/2025) Trong tháng xảy ra 57 vụ tai nạn giao thông, giảm 18 vụ so với tháng trước và giảm 38 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 23 người, giảm 16 người so với tháng trước và giảm 19 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 43 người, giảm 6 người so với tháng trước và giảm 20 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 799 vụ tai nạn giao thông, giảm 317 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 391 người, giảm 27 người; số người bị thương là 618 người, giảm 315 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (Từ ngày 28/10-23/11/2025) trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 đợt mưa lớn kèm dông lốc, gây ngập lụt, sạt lở. Thiên tai đã làm 05 người chết và 01 người bị thương; 3.819 căn nhà bị ngập, hư hỏng; khoảng 7.608 ha cây trồng các loại bị thiệt hại, ảnh hưởng; 10.186 con gia súc, gia cầm bị chết cuốn trôi; 254 điểm sạt lở; các địa phương tổ chức di dời 1.424 hộ ra khỏi khu vực nguy hiểm; ngoài ra, mưa lớn kéo dài đã gây lũ lụt và sạt lở nhiều tuyến đường (toàn bộ taluy âm đoạn Km 226+600-Km 226+800 trên đèo Mimosa sụt lún nghiêm trọng, toàn bộ mặt đường bị đứt gãy, chiều rộng khoảng 50m, sâu khoảng 30m, chiều dài vệt trượt khoảng 100m; tại Km 224+600 đến Km 224+700 trên đèo Prenn xảy ra sạt lở làm gần ½ nền đường bị sụt lún, sạt lở, rơi xuống phía ta-luy âm) khiến hai tuyến giao thông huyết mạch vào trung tâm Đà Lạt bị chia cắt; ước tổng giá trị thiệt hại trong tháng 11 khoảng 1.152 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 36 đợt thiên tai; làm chết 15 người; bị thương 19 người; hư hỏng 10.161 căn nhà; thiệt hại 20.202 ha cây trồng; chìm 29 tàu cá; hư hỏng nhiều tài sản và công trình dân sinh khác; ước tổng giá trị thiệt hại trên 1.347 tỷ đồng. Đến nay, tỉnh đã tiếp nhận 600 tỷ đồng kinh phí hỗ trợ; trong đó: 500 tỷ đồng do Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ (theo Quyết định số 2549/QĐ-TTg ngày 21/11/2025 và Quyết định số 2572/QĐ-TTg ngày 23/11/2025), 20 tỷ đồng của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 50 tỷ đồng của tỉnh Quảng Ninh, 30 tỷ đồng từ các nguồn hỗ trợ khác; hỗ trợ 1.000 tấn gạo để kịp thời ổn định đời sống người dân tại Quyết định số 3929/QĐ-BCT ngày 23/11/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. - Cháy, nổ: Trong tháng xảy ra 06 vụ cháy, nổ; không có thiệt hại về người. Lũy kế 11 tháng năm 2025 xảy ra 50 vụ cháy, nổ (giảm 6 vụ so cùng kỳ năm trước); làm 01 người chết và bị thương 02 người. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ vi phạm môi trường, không tăng/giảm so với tháng trước và giảm 2 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 xảy ra 20 vụ, giảm 35 vụ so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 3,663 tỷ đồng. * Đánh giá chung Nhìn chung, tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2025 của tỉnh tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định: Sản xuất nông nghiệp duy trì ổn định, sản lượng các sản phẩm chủ lực tăng so với cùng kỳ; giá cà phê trong vụ thu hoạch giữ mức cao, hỗ trợ tăng thu nhập cho nông hộ. Dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát, chăn nuôi gia cầm quy mô lớn tiếp tục mở rộng, đóng góp tích cực vào giá trị ngành. Công tác quản lý vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm được thực hiện thường xuyên. Tỉnh triển khai hiệu quả các giải pháp chống khai thác IUU và không xảy ra vi phạm vùng biển nước ngoài. Số vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp giảm mạnh so với năm trước, phản ánh chuyển biến tích cực trong quản lý, bảo vệ rừng. Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, cấp mã số vùng trồng và phát triển OCOP tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao giá trị sản xuất toàn ngành. Công nghiệp - đầu tư phát triển tiếp tục ổn định, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 4,27%, nhiều doanh nghiệp mở rộng sản xuất dù còn gặp khó khăn về chi phí đầu vào và thị trường tiêu thụ. Khu vực doanh nghiệp tiếp tục phát triển với 3.761 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 74,93%. Hoạt động thương mại - dịch vụ sôi động, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 16,11%. Du lịch phục hồi mạnh với 18,8 triệu lượt khách, tăng 19,66%; khách quốc tế tăng 32,38%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 24,46% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa và hành khách đều tăng; thị trường giá cả nhìn chung ổn định, nguồn cung hàng hóa dồi dào, công tác quản lý thị trường được tăng cường góp phần giữ vững ổn định kinh tế cuối năm. Hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi động với nhiều sự kiện quy mô quốc gia và quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Công tác an sinh xã hội, chính sách đối với người có công và đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai đầy đủ, kịp thời; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 86,2% dân số. Ngành Giáo dục duy trì ổn định quy mô trường lớp; công tác y tế dự phòng và tiêm chủng mở rộng được thực hiện nề nếp. Đặc biệt, tình hình trật tự an toàn giao thông có chuyển biến tích cực, tai nạn giao thông giảm sâu cả 3 tiêu chí (số vụ, số người chết và bị thương) so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế của tỉnh vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, khó lường đã gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản và cơ sở hạ tầng (ước tính giá trị thiệt hại lũy kế trên 1.347 tỷ đồng), ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh. Hoạt động của doanh nghiệp còn gặp nhiều áp lực, số lượng doanh nghiệp giải thể tăng cao (tăng 77,16%). Một số ngành công nghiệp như sản xuất đồ uống, điện thương phẩm sụt giảm do chi phí đầu vào tăng và nhu cầu thị trường biến động, điện sản xuất tăng thấp. Tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết còn diễn biến phức tạp, số ca mắc tích lũy ở mức cao. Ngoài ra, tình trạng thiếu hụt giáo viên cục bộ ở các cấp học vẫn chưa được giải quyết triệt để, gây áp lực cho công tác giáo dục đào tạo.TKT Lâm Đồng

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025 tỉnh Lâm Đồng
  •   03/11/2025 17:24

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 10 và 10 tháng năm 2025 tiếp tục duy trì và phát triển ổn định. Diện tích các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tiếp tục tăng so với cùng kỳ. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia cầm và đàn lợn đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, nhất là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát hiệu quả, giúp người dân yên tâm đầu tư. Sản lượng khai thác thủy sản biển ổn định. Công tác phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và Chương trình OCOP được chú trọng; nhiều doanh nghiệp, chủ thể sản xuất được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông sản chủ lực, sản phẩm OCCOP tại các hội nghị, triển lãm trong cả nước, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu nông nghiệp của tỉnh. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tiến độ Vụ mùa: Tính đến thời điểm báo cáo diện tích gieo trồng Vụ mùa ước đạt 163.550,2 ha, tăng 1,67% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó: + Cây lương thực có hạt: Diện tích gieo trồng ước đạt 83.452,9 ha, tăng 1,01% so với cùng kỳ năm trước (diện tích cây lúa ước đạt 63.530,2 ha, tăng 1,66%; diện tích cây bắp ước đạt 19.912,7 ha, giảm 0,99%); + Cây có hạt chứa dầu: Diện tích gieo trồng ước đạt 4.376,8 ha, tăng 1,26% so với cùng kỳ năm trước (diện tích cây đậu phộng ước đạt 3.594,6 ha, tăng 1,44%); + Rau, đậu, hoa: Diện tích gieo trồng ước đạt 38.952,5 ha, tăng 1,98% so với cùng kỳ năm trước (rau các loại ước đạt 30.617,4 ha, tăng 3,34%; Đậu các loại đạt 4.357,6 ha, giảm 8,6%; Hoa các loại ước đạt 3.977,5 ha, tăng 4,64%). 1.2. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh duy trì và phát triển ổn định, trong đó các cây trồng chủ lực tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. Hiện người dân đang tích cực chăm sóc cho cây cà phê, cây ăn quả và các cây trồng lâu năm khác, cụ thể một số cây chính sau: - Cây cà phê: Giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân mở rộng thêm diện tích trồng mới; diện tích ước đạt 328.650 ha, tăng 1,03% so với cùng kỳ năm trước; hiện cây cà phê đang trong giai đoạn nuôi trái, người dân đang tập trung chăm sóc; - Cây cao su: Diện tích ước đạt 74.439 ha, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong thời gian tới, diện tích trồng mới cao su có khả năng tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do nông dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư. Dù vậy, cùng với xu hướng phục hồi của thị trường thế giới, cao su vẫn được xem là loại cây có tiềm năng phát triển ổn định, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây công nghiệp lâu năm của tỉnh; - Cây chè: Người dân đã chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, bơ, chanh dây,... Diện tích chè hiện có ước đạt 9.411 ha, giảm 4,14% so với cùng kỳ năm trước; - Cây dâu tằm: Diện tích ước đạt 10.615 ha, tăng 0,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong thời gian gần đây, việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định nên người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích; - Cây thanh long: Diện tích ước đạt 26.489,1 ha, tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu nhờ mở rộng diện tích trồng mới và duy trì tốt diện tích hiện có tại các vùng sản xuất ổn định; - Cây sầu riêng: Diện tích ước đạt 43.859,8 ha, tăng 3,34% so với cùng kỳ năm trước. Dự báo trong thời gian tới, diện tích sầu riêng tiếp tục có xu hướng tăng do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh. 1.3. Tình hình dịch bệnh Trong tháng 10/2025, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Ốc bươu vàng gây hại 724 ha (tăng 653 ha so với tháng trước); bệnh đạo ôn lá gây hại 472 ha (giảm 492,8 ha so với tháng trước); chuột gây hại 250 ha (tăng 130 ha so với tháng trước) tại các xã Đạ Tẻh, Langbiang, Đức Trọng, Tân Hội, Ninh Gia, Tà Hine, Tà Năng, Tà Đùng, Quảng Sơn, phường Đông Gia Nghĩa, Bắc Gia Nghĩa, Hàm Thuận Bắc Hàm Thuận, Hồng Sơn, Bắc Bình, Hải Ninh, Hồng Thái, Liên Hương, Tuy Phong; - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.468,3 ha (tăng 25,3 ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, phường Bắc Gia Nghĩa, Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 2.111,5 ha (giảm 751,2 ha so với tháng trước) tại các xã Bảo Lâm 1, 2, 3, 4, 5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác; bọ xít muỗi gây hại 1.685 ha cà phê chè (giảm 288,6 ha so với tháng trước) tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; bệnh chết khô ngọn gây hại 30 ha tại Bảo Lâm 1; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.032 ha (ít biến động so với tháng trước); bệnh thán thư gây hại 2.836 ha (tăng 14 ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1,2,3,4, Tánh Linh, Suối Kiết; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 310 ha (tăng 4 ha so với tháng trước) tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 4.050 ha (tăng 938 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 1.179 ha (tăng 357 ha so với tháng trước) tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Tân Lập, Tuyên Quang, Tân Hải và phường Bình Thuận, Tiến Thành. Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất. 2. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi; giá thức ăn, con giống gia súc vẫn ở mức cao, giá bán các sản phẩm trâu, bò giảm, dịch bệnh tiêu chảy trên đàn bò sữa nên tổng đàn trâu, bò có khuynh hướng giảm; chăn nuôi heo tại các trang trại được kiểm dịch tốt nên vẫn tiếp tục phát triển về quy mô đàn; do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi, hộ chăn nuôi nhỏ lẻ có xu hướng chuyển sang nuôi gia cầm nên quy mô đàn gia cầm tăng mạnh so với cùng kỳ. So với cùng kỳ năm trước, toàn tỉnh có 26,6 nghìn con trâu, giảm 0,33%; có 312 nghìn con bò, tăng 0,12% (trong đó đàn bò sữa 29,5 nghìn con, giảm 0,34% do dịch tiêu chảy đã làm nhiều con chết và giá thu mua sữa giảm, nhiều hộ dân đang thanh lý đàn bò sữa); có 1.398,9 nghìn con lợn, tăng 5,1% (lợn không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.356,4 nghìn con, tăng 4,78%); có 22.111,5 nghìn con gia cầm, tăng 10,01%, trong đó gà các loại 15.561,6 nghìn con, chiếm 70,38% trong tổng đàn gia cầm, tăng 11,89% (đàn gà tăng mạnh do Công ty cổ phần MeBi Farm, quy mô hiện có trên 202 nghìn con gà đẻ trứng đã góp phần đáng kể vào việc nâng tổng đàn và sản lượng trứng tăng). Sản lượng thịt hơi các loại ước 10 tháng năm 2025 đạt 286.903 tấn, tăng 7,52% so với cùng kỳ năm trước. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Trong tháng, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) phát sinh tại 10 hộ tại 10 thôn của 08 xã với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 358 con/22.063 kg. Lũy kế, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 1.555 con/77.735 kg. Đến nay, có 16/23 xã đã qua 21 ngày không phát sinh lợn mắc bệnh, 07/23 xã dịch bệnh chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...): không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Tổ chức kiểm tra tình hình dịch bệnh DTLCP tại các địa phương có dịch nêu trên, đồng thời phân bổ kịp thời cho các địa phương 3.245 liều vắc xin phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi và 90 lít hóa chất khử trùng, tiêu độc. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, đã trồng rừng tập trung (trồng mới) ước đạt 137 ha, giảm 10,92% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 4.635 ha, tăng 5,01% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây xanh ước đạt 6.383.000 cây, đạt 36,6% kế hoạch năm. - Sản lượng gỗ khai thác tháng Mười ước đạt 31.607,3 m3, giảm 0,88% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 314.300,3 m3, tăng 2,13% so với cùng kỳ năm trước. - Trong tháng, phát sinh 23 vụ vi phạm lâm luật. Lũy kế 10 tháng năm 2025, tổng số vụ vi phạm là 352 vụ (139 vụ đã xác định được đối tượng vi phạm, chiếm 39,5%), trong đó phá rừng 136 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 25,03 ha. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm giảm 282 vụ (phá rừng giảm 102 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại giảm 20,52 ha. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 3.375,4 tấn, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 492 tấn, tăng 4,24%). Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 22.474,4 tấn, tăng 2,63% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 4.086,4 tấn, tăng 3,2%). - Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 23.034 tấn, tăng 3,47% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 22.846 tấn, tăng 2,9%). Lũy kế 10 tháng năm 2025, sản lượng khai thác đạt 211.605,8 tấn, tăng 4,56% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 210.371,4 tấn, tăng 4,58%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong 10 tháng đầu năm 2025 hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Công tác quản lý chất lượng giống thủy sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Tình hình sản xuất, kinh doanh tôm giống trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay ổn định; sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,2 tỷ post, tăng 4,74% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 20,4 tỷ post, tăng 7,77% so với cùng kỳ năm trước. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Trong tháng, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục giữ được đà tăng trưởng khá, làm cho toàn ngành công nghiệp 10 tháng năm 2025 tăng 3,91% so với cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo; ngành công nghiệp khai khoáng tăng trưởng cao đã đóng góp lớn vào tăng trưởng chung của khu vực công nghiệp; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải duy trì mức tăng trưởng ổn định. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 11,51% so với tháng trước và tăng 14,09% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20,55% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,78%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 16,06%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,39%. Tính chung 10 tháng năm 2025, ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 3,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 11,58%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,34%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,23%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,11%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: sản lượng sản xuất trong tháng ước đạt 362.146 m3, giảm 2,22% so với tháng trước và tăng 16,43% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng sản xuất ước đạt 3.322.523 m3, tăng 12,11% so với cùng kỳ. Nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng (đá, cát, đất san lấp) phục vụ nhu cầu xây dựng trong thời gian tới (đặc biệt là các công trình trọng điểm sản lượng khai thác đá xây dựng có xu hướng tăng cao trong những tháng cuối năm). - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: trong tháng sản lượng ước đạt 2.689 tấn, tăng 1,82% so với tháng trước và tăng 10,74% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 30.785 tấn, tăng 16,74% so với cùng kỳ. Trong 10 tháng năm 2025 một số công ty tiếp tục đẩy mạnh sản xuất đáp ứng nhu cầu hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng và đáp ứng các đơn hàng tăng mới xuất khẩu qua Malaisya, Indonexia.  - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: sản lượng các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản trong tháng ước đạt 1.802 tấn, tăng 1,20% so với tháng trước và tăng 5,5% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 17.283 tấn, tăng 4,35% so với cùng kỳ. - Sản phẩm đồ uống: ước trong tháng sản lượng đạt 30.456 nghìn lít, tăng 1,46% so với tháng trước và tăng 1,61% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 272.197 nghìn lít, giảm 7,91% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm bia cùng với chi phí nguyên vật liệu tăng cao (Malt, gạo, đường), và sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường. - Sản phẩm giày, dép: ước trong tháng sản lượng đạt 771 nghìn đôi, tăng 42,56% so với tháng trước và tăng 74,93 so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 5.267 nghìn đôi, tăng gấp 1,95 lần so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng và năng lực tăng thêm ở Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam. - Sản phẩm phân bón: ước trong tháng sản lượng sản xuất đạt 13.259 tấn tăng 0,36% so với tháng trước và tăng 23,67% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 111.543 tấn, tăng 17,70% so với cùng kỳ. Trong năm 2025, trên địa bàn Nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông đi vào sản xuất. - Sản phẩm Ôxit nhôm: trong tháng ước đạt 127,12 nghìn tấn, tăng 2,83% so với tháng trước và tăng 11% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 1.239,67 nghìn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: ước trong tháng sản lượng đạt 3.092 triệu kwh, tăng 21,81% so với tháng trước và tăng 17,44% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 28.072 triệu kwh, tăng 0,73% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: trong tháng ước sản lượng đạt 463 triệu kwh, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 1,89% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 4.588 triệu kwh, giảm 0,43% so với cùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 2,55% so với tháng trước và tăng 5,31% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 15,49%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,06%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,12%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,1%. Tính chung 10 tháng năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,52%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 19,67%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,32%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,26%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,73%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 0,64% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 8,06%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,23%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng so với cùng kỳ năm 2024 và xu hướng cao hơn bình quân 10 tháng đầu năm 2025 là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho thời gian hoạt động sản xuất cuối năm; dự báo thị trường lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp Hiện nay trong các khu công nghiệp có 166 doanh nghiệp/dự án đang hoạt động, kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh thực hiện trong 9 tháng năm 2025 như sau: doanh thu ước đạt 24.878,9 tỷ đồng; xuất khẩu 523,9 triệu USD; nộp ngân sách nhà nước 929,7 tỷ đồng. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp duy trì ổn định, các sản phẩm chủ yếu gồm: may mặc, da giày, gỗ, giấy, nông lâm hải sản, hạt điều, cơ khí, thực phẩm, vật liệu xây dựng, khoáng sản...; bên cạnh vẫn còn một số doanh nghiệp gặp khó khăn, dừng hoạt động nhưng chưa có kế hoạch khôi phục hoạt động trở lại. Trong 9 tháng năm 2025 tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh thu hút được 13 dự án đầu tư (01 dự án FDI) với diện tích khoảng 27,7 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 958,2 tỷ đồng và 35 triệu USD; lũy kế đến nay toàn tỉnh hiện có 15 khu công nghiệp, 229 dự án (51 dự án FDI và 178 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 43.411,6 tỷ đồng và 466,4 triệu USD và diện tích đất đăng ký 713,25 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,99%. Cụ thể: - KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 3.180,4 tỷ đồng và 48,6 triệu USD, diện tích đất đã cho thuê lại 117 ha/132,6 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 88,19%. - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 2.384,1 tỷ đồng và 77,1 triệu USD, diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 74,8 triệu USD và 857,9 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 11 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 09 dự án đầu tư có vốn trong nước), với tổng vốn đầu tư đăng ký 11,9 triệu USD và 543,1 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 23 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 22 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 14 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.706,9 tỷ đồng và 56,2 triệu USD, diện tích đất cho thuê 60,1 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,16%. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 17 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 772,4 tỷ đồng và 185,6 triệu USD, diện tích đất cho thuê 88 ha/276,9 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 31,77%. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 13.544,9 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 58,4 ha/202,3 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức thu hút được 01 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 100 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 1,5 ha/210,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 47 dự án đầu tư (gồm 04 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 43 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký đầu tư 1.948,8 tỷ đồng và 12,3 triệu USD; diện tích thuê lại 130 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,4 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. 2. Đầu tư phát triển Tính chung 10 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện ước đạt 10.903,6 tỷ đồng, bằng 68,65% kế hoạch năm là sự nỗ lực lớn; tuy nhiên, 03 tháng cuối năm để vốn đầu tư thực hiện hoàn thành theo đúng kế hoạch vẫn là thách thức. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.536,6 tỷ đồng, tăng 5,81% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này chủ yếu nhờ địa phương đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, giải ngân vốn đầu tư công đạt kết quả tích cực. Trong đó, vốn cấp tỉnh đạt 1.531,7 tỷ đồng, chiếm 99,68% tổng vốn, tăng 5,94%; vốn cấp xã đạt 4,8 tỷ đồng, chiếm 0,32%, giảm 23,49% do quá trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy cấp xã. Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh bao gồm: vốn cân đối ngân sách tỉnh ước 608,8 tỳ đồng, tăng 10,78% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước 459,8 tỷ đồng, giảm 6,89%; vốn nước ngoài (ODA) ước 31,2 tỷ đồng tăng 48,23%; vốn xổ số kiến thiết 427,3 tỷ đồng, tăng 13,1%. Lũy kế 10 tháng năm 2025, tổng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 10.903,6 tỷ đồng, đạt 68,65% kế hoạch năm và tăng 6,1% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn cấp tỉnh ước đạt 10.877,1 tỷ đồng, tăng 6,18%; vốn cấp xã đạt 26,4 tỷ đồng, giảm 18,38%. Trong 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 42 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 14.340,7 tỷ đồng. Lũy kế đến ngày 14/10/2025, trên địa bàn tỉnh có 2.939 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 2.022 nghìn tỷ đồng (trong đó có 235 dự án FDI, tổng vốn đầu tư là 224,3 nghìn tỷ đồng). Tính từ đầu năm đến ngày 14/10/2025, toàn tỉnh có 3.317 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 73,03% so với cùng kỳ; 1.572 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,77%; 658 doanh nghiệp giải thể, tăng 79,29%; 950 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 19,95% so cùng kỳ. Tổng số vốn trong 10 tháng đầu năm 2025 các doanh nghiệp đã đăng ký 17.194 tỷ đồng, tăng 21,29% vốn đăng ký so với cùng kỳ. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Hoạt động thương mại, dịch vụ 10 tháng năm 2025 ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của nhân dân, nhất là trong dịp lễ, Tết. Tình hình lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra thuận lợi, các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cơ sở kinh doanh bán lẻ hoạt động bình thường, cung ứng lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng về chủng loại, phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, không có tình trạng găm hàng, sốt giá; không có hiện tượng mất an toàn thực phẩm. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, trên địa bàn tỉnh tổ chức nhiều sự kiện thu hút nhiều du khách đến du lịch và nghỉ dưỡng. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa; vận tải đường thủy diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng tích cực. Nguồn cung hàng hóa dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, giá cả các mặt hàng thiết yếu được giữ ổn định, không có biến động bất thường. Những yếu tố thuận lợi này đã thúc đẩy tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng so với cùng kỳ. Song song đó, các hoạt động xúc tiến thương mại được đẩy mạnh nhằm đa dạng hóa hình thức khuyến mại và mở rộng thị trường tiêu thụ. Tỉnh đã tổ chức đoàn tham gia Hội chợ mùa Thu 2025 (26/10-04/11) tại Hà Nội và chủ trì chương trình kết nối giao thương giữa Siêu thị Tứ Sơn với các doanh nghiệp Lâm Đồng (20/10). Đồng thời, thông tin về các chương trình xúc tiến thương mại tiềm năng đã được phổ biến rộng rãi tới doanh nghiệp, tiêu biểu như: Hội chợ Công Thương vùng Đồng bằng Sông Hồng-Hải Phòng 2025, Hội chợ sản phẩm OCOP, Hội chợ Thương mại Việt Nam tại Campuchia 2025, và Tuần lễ nông sản Việt Nam tại Sơn Đông (Trung Quốc). Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 24.113,4 tỷ đồng, tăng 3,16% so với tháng trước và tăng 26,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 16.259,7 tỷ đồng, tăng 2,95% so với tháng trước và tăng 25,2% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 5.418,7 tỷ đồng, tăng 3,57% so với tháng trước và tăng 41,68% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.435 tỷ đồng, tăng 3,68% so với tháng trước và tăng 8,28% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 212.386 tỷ đồng, tăng 15,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ ước đạt 142.339,6 tỷ đồng, tăng 15,21% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 46.376,8 tỷ đồng, tăng 17,67% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 23.669,6 tỷ đồng, tăng 9,59% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng 10, tình hình thị trường trên địa bàn tỉnh ổn định, không có nhiều biến động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đa dạng, phong phú, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn cũng như khách du lịch đến tham quan. Trên địa bàn không có hiện tượng găm hàng, tăng giá quá mức để thu lợi bất chính. Hoạt động mua bán, giao thương diễn ra sôi động tại các chợ đầu mối, chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện ích, trung tâm thương mại và trên các sàn thương mại điện tử góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, ổn định thị trường và phát triển tiêu dùng nội địa. Giá cả các mặt hàng thiết yếu được giữ ở mức hợp lý, tương đối ổn định. Riêng đối với mặt hàng xăng dầu nhìn chung các cơ sở kinh doanh đều chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không xuất hiện các điểm nóng vi phạm về đo lường, chất lượng, găm hàng chờ tăng giá, giảm lượng xăng dầu bán ra mà không có lý do chính đáng; nguồn cung xăng dầu đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn, không có hiện tượng khan hiếm. Trong tháng 8/2025 không thực hiện kiểm tra. Từ ngày 15/9-14/10/2025, đã tiến hành kiểm tra 85 vụ, phát hiện 84 vụ vi phạm, xử lý 74 vụ, đang xử lý 10 vụ, tổng số tiền xử phạt 271,5 triệu đồng, trị giá hàng hóa áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả gần 29,4 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Giá lương thực, thực phẩm tiếp tục tăng do ảnh hưởng bởi mưa bão; giá nhà ở thuê tăng do nhu cầu thuê nhiều đây là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,66% so với tháng trước, tăng 4,89% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,46% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân 10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,13%. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 10 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,36%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,01%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,80%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,65%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,66%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,48%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,23%; Giáo dục tăng 0,18%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,17%; Bưu chính viễn thông tăng 0,03%. Có 01 nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 0,93%. * Nguyên nhân làm tăng, giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng CPI: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,36% so với tháng trước, do ảnh hưởng thời tiết mưa bão, nguồn cung giảm nên làm cho giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng so với tháng trước. Giá nhà ở thuê tăng 1,53% do nhu cầu thuê nhà vào dịp đầu năm học mới tăng và đồng thời do nâng cấp nhà ở thuê nên giá dịch vụ tăng. - Nguyên nhân làm giảm CPI: Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 02, 09, 16 và 23 tháng 10/2025, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu giảm 2,38% so với tháng trước. Giá gas trong tháng giảm 1,82% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh giảm 7.800 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới. Giá gas thế giới bình quân trong tháng công bố ở mức 485 USD/tấn, giảm 20 USD/tấn so với tháng 9/2025. * Các yếu tố làm tăng, giảm CPI 10 tháng năm 2025 so bình quân cùng kỳ - Các yếu tố làm tăng CPI bình quân 10 tháng năm 2025 + Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 14,26% làm CPI chung tăng 0,88 điểm phần trăm do áp dụng giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế; + Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,26% làm CPI chung tăng 0,79 điểm phần trăm, do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 8,57% do nhu cầu sử dụng điện tăng đồng thời ngày 11/10/2024 và ngày 09/5/2025 EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân; + Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,87% làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó các mặt hàng trang sức bằng vàng tăng 26,2% do ảnh hưởng giá vàng trong trước tăng theo giá vàng thế giới; giá bảo hiểm y tế tăng 17,05% do tăng theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng từ 1.800.000 đồng lên 2.340.000 đồng, theo đó bảo hiểm y tế cho cán bộ công chức và người lao động cũng được tăng theo; + Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,18% tác động làm CPI chung tăng 1,12 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 3,6%, tác động làm CPI chung tăng 0,81 điểm phần trăm, tăng mạnh chủ yếu giá thịt lợn tăng 9,47%. Nguyên nhân do nguồn cung ít, nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp Lễ, Tết; + Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,71%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,59%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,19%. Nguyên nhân do tăng cao trong dịp Lễ Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán thị trường tiêu dùng; + Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 1,46%, làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Các yếu tố làm giảm CPI bình quân 10 tháng năm 2025 + Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 0,11% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, trong đó giảm chủ yếu mặt hàng gạo giảm 0,90%. Nguyên nhân, do nguồn cung tại địa phương cũng như nguồn cung trong nước dồi dào, tình hình xuất khẩu gạo các thị trường Philippines, Indonesia cũng giảm so cùng kỳ, do đó giá so cùng kỳ năm trước có phần giảm, mức giảm dao động từ 500 đồng/kg – 900 đồng/kg tùy loại; + Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,04% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,2 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 9,18%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. 3. Hoạt động du lịch Hoạt động du lịch trong tháng tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng trên địa bàn tỉnh diễn ra một số sự kiện, hoạt động tiêu biểu như: Lễ hội Katê, Bế mạc tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng, Lễ hội khinh khí cầu và nghệ thuật Lâm Đồng, giải quần vợt Vô địch Quốc gia - Cúp Novaworld.... đã thu hút đông đảo người dân và khách du lịch. Hoạt động lữ hành và các dịch vụ hỗ trợ tiếp tục tăng cường phục vụ cho người dân và du khách. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.892,2 nghìn lượt, tăng 1,18% so tháng trước và tăng 40,03% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 76,6 nghìn lượt, tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 14,34% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.313,2 nghìn ngày khách, tăng 1,47% so với tháng trước và tăng 44,44% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 lượt khách ước đạt 17.156,5 nghìn lượt, tăng 19,77% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 681,6 nghìn lượt, tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 30.827,9 nghìn ngày khách, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước.  Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 82,1 nghìn lượt khách, tăng 4,72% so với tháng trước và tăng 12,24% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 180,5 nghìn ngày khách, tăng 8,6% so với tháng trước và tăng 10,92% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 lượt khách quốc tế ước đạt 998,3 nghìn lượt khách, tăng 31,31% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 2.624,4 nghìn ngày khách, tăng 25,95% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường khách quốc tế đến tỉnh chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Mỹ, Đài Loan, Đức, Anh.... Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 1.051,4 tỷ đồng, tăng 5,05% so với tháng trước và tăng 48,5% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.350,2 tỷ đồng, tăng 3,22% so với tháng trước và tăng 40,98% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 17,1 tỷ đồng, tăng 2,82% so với tháng trước và giảm 44,71% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 8.877,5 tỷ đồng, tăng 18,97% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 37.057,6 tỷ đồng, tăng 17,05% so cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 441,7 tỷ đồng, tăng 51,81% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.131,2 tỷ đồng tăng 4,85% so với tháng trước và tăng 44,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 45.472,6 tỷ đồng, tăng 20,99% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.435 tỷ đồng, tăng 3,68% so với tháng trước và tăng 8,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 298,5 tỷ đồng, tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 12,14% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt gần 110 tỷ đồng, tăng 2,44% so với tháng trước và tăng 10,37% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 91,2 tỷ đồng, tăng 3,43% so với tháng trước và tăng 23,91% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 152,8 tỷ đồng, giảm 2,03% so với tháng trước và tăng 32,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.262,3 tỷ đồng, tăng 4,62% so với tháng trước và tăng 3,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 520,2 tỷ đồng, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 10,17% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng 2025 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 23.669,6 tỷ đồng, tăng 9,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.640,1 tỷ đồng, tăng 14,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 1.063 tỷ đồng, tăng 15,26% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 762,8 tỷ đồng, tăng 34,44% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 1.261,3 tỷ đồng, tăng 16,56% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 12.961,6 tỷ đồng, tăng 6,93% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 4.980,8 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng hoạt động vận tải kho bãi trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và có xu hướng tăng so với tháng trước. Bên cạnh đó, do thời tiết thuận lợi và nhiều lễ hội, sự kiện du lịch diễn ra trong tháng, lượng hành khách và hàng hóa vận chuyển tăng, kéo theo doanh thu vận tải và dịch vụ kho bãi đều có cải thiện. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng 10/2025 ước đạt 1.300,5 tỷ đồng tăng 5,92% so với tháng trước và tăng 19,94% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 11.931,1 tỷ đồng, tăng 15,61% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.074,5 nghìn hành khách (HK), tăng 4,46% so với tháng trước và tăng 19,31% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 577.943,2 nghìn HK.Km, tăng 5,88% so với tháng trước và tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 38.749,7 nghìn HK, tăng 12,38% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 5.630.266 nghìn HK.Km, tăng 13,33% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.042,7 nghìn tấn, tăng 7,1% so với tháng trước và tăng 8,92% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 312.750,3 nghìn tấn.Km, tăng 5,86% so với tháng trước và tăng 14,94% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 18.820,2 nghìn tấn, tăng 5,07% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.777.692,8 nghìn tấn.Km, tăng 7,62% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.300,5 tỷ đồng, tăng 5,92% so với tháng trước và tăng 19,94% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 11.931,1 tỷ đồng, tăng 15,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 5.108,1 tỷ đồng, tăng 19,82% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 5.029,8 tỷ đồng, tăng 6,05%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.741 tỷ đồng, tăng 37,31%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 52,2 tỷ đồng, tăng 13,4%. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 1.822 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.722,1 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 99,9 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.767 tỷ đồng, tăng 16,09% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 2.655 tỷ đồng, tăng 16,74%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 112 tỷ đồng, tăng 2,55%. Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 25.801,2 tỷ đồng, bằng 91,33% kế hoạch năm và tăng 16,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 24.547,5 tỷ đồng, bằng 92,25% kế hoạch năm và tăng 18,12% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.253,7 tỷ đồng, bằng 76,49% kế hoạch năm và giảm 11,53% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa 10 tháng năm 2025: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.287 tỷ đồng (bằng 130,89% kế hoạch năm và tăng 75,52% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.168 tỷ đồng (bằng 95,09% kế hoạch năm và tăng 15,29%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 5.254 tỷ đồng (bằng 82,83% kế hoạch năm và giảm 0,75%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 2.494 tỷ đồng (bằng 96,58% kế hoạch năm và tăng 16,24%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 3.851 tỷ đồng (bằng 76,22% kế hoạch năm và tăng 26,02%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.113 tỷ đồng (bằng 91,55% kế hoạch năm và tăng 6,57%). 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.764 tỷ đồng, lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 35.000 tỷ đồng, bằng 72,94% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 11.327 tỷ đồng, bằng 103,80% kế hoạch năm %; chi thường xuyên 23.570 tỷ đồng, bằng 82,10% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Các ngân hàng và tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện các chính sách tín dụng để phục vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ các chính sách tín dụng cho phát triển doanh nghiệp. Cụ thể như sau: Công tác huy động vốn: đến ngày 30/9/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 221.722 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 25.832 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 13,2%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 219.382 tỷ đồng (chiếm 99% tổng huy động vốn), bằng ngoại tệ đạt 2.340 tỷ đồng, (chiếm 1% tổng huy động vốn). Ước tính đến ngày 31/10/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 224.000 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 28.110 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 14,3%. Hoạt động tín dụng: đến ngày 30/9/2025, dư nợ cho vay đạt 358.872 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 19.409 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 5,7%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 356.848 tỷ đồng (chiếm 99% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.024 tỷ đồng (chiếm 1% tổng dư nợ tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 257.112 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 101.760 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/10/2025, dư nợ cho vay đạt 362.500 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 23.037 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 6,8%. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,3% - 0,65%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 2,46% - 4,66%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 3,27% - 5,24%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 4,46% - 5,61%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng lãi suất cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,42% - 8,59%/năm, trung dài hạn 3,69% - 9,87%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,79% - 4,05%/năm. Dư nợ cho vay: đến 30/9/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 184.344 tỷ đồng, chiếm 51,3% tổng dư nợ, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 31.652 tỷ đồng, chiếm 8,8% tổng dư nợ, ngành nông nghiệp đạt 142.876 tỷ đồng, chiếm 39,9% tổng dư nợ. Nợ xấu đạt 7.763 tỷ đồng, chiếm 2,2% trong tổng dư nợ trên địa bàn. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1 Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện làm mới biểu tượng trang trí, pano tấm lớn, pano dọc, pano phướn, tranh cổ động, standee, băng rôn, thảm hoa tươi,... phục vụ tuyên truyền Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Lâm Đồng lần thứ I (2025 - 2030); Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, nhiệm kỳ 2025-2030 và tuyên truyền chào mừng thành công Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 gắn với Hội nghị xúc tiến đầu tư vào tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Lễ Bế mạc Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng năm 2025;... - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức biểu diễn chương trình nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đặc biệt là các chương trình phục vụ: Khai mạc Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Lâm Đồng lần thứ I; Hội nghị tổng kết 05 năm thực hiện Dự án 6 “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số”; bế mạc “Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng” năm 2025; Đại hội và chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I nhiệm kỳ 2025 - 2030; Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Lâm Đồng năm 2025. Bên cạnh đó đã tổ chức chương trình phục vụ gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm OCOP, sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao và món ngon Lâm Đồng năm 2025; biểu diễn chương trình âm nhạc đường phố hưởng ứng chuỗi hoạt động “Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng” năm 2025; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Phường Mũi Né, Bình Thuận cũ). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng đã đón 11.134 lượt khách đến tham quan (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng tiếp đón 1.586 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt tiếp đón 497 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên tiếp đón 281 lượt; Cơ sở 1 (Đông Lâm Đồng) tiếp đón 8.437 lượt; Cơ sở 2 (Tây Lâm Đồng) tiếp đón 333 lượt. Thực hiện nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, hình ảnh về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội phục vụ triển lãm tại Đại hội thi đua yêu nước và Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025- 20230; thực hiện biên tập nội dung, thiết kế maket và dàn dựng triển lãm hơn 550 hình ảnh, tư liệu phục vụ Đại hội bộ tỉnh Lâm Đồng. + Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 181 đoàn với 4.675 lượt người, trong đó có 148 khách nước ngoài. Phục vụ 13 lễ viếng, 01 kết nạp Đảng, 01 sinh hoạt chuyên đề. Phối hợp với Báo và Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng thực hiện 02 phóng sự: “Triển lãm giới thiệu Trường Dục Thanh với Nhân dân Điện Biên”, “Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận, tỉnh Lâm Đồng đón hơn 110.000 lượt khách” và 01 ký sự “Sông Cà Ty - Vươn ra biển lớn”; báo Tin tức và Dân tộc - Thông tấn xã Việt Nam thực hiện phóng sự “Trưng bày 60 bức ảnh về Nơi Bác dừng chân - Trường Dục Thanh Phan Thiết”. Tham gia Triển lãm ảnh chuyên đề “Nơi Bác dừng chân Trường Dục Thanh Phan Thiết” và tọa đàm, trao đổi chuyên môn về “Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến dịch Điện Biên Phủ” tại Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 1.040 lượt khách (12 đoàn) đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Thường xuyên tổ chức sưu tầm tài liệu, hiện vật, các mẩu chuyện kể của cán bộ, chiến sĩ Cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận cũ trong kháng chiến chống Mỹ phục vụ trưng bày bổ sung tại Nhà tưởng niệm. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 159 thẻ bạn đọc (33 thẻ thiếu nhi); phục vụ 129.394 lượt bạn đọc; luân chuyển 52.203 lượt tài liệu; bổ sung 550 bản sách từ nguồn biếu, tặng; xử lý kỹ thuật 1.459 bản sách; số hóa 10.984 trang/40 tài liệu. Phát hành 01 tập Thông tin tư liệu Lâm Đồng tháng 9/2025 với 100 tin, bài. Trưng bày, xếp sách nghệ thuật hưởng ứng Tuần lễ học tập suốt đời năm 2025 tại phường Đông Gia Nghĩa và Bắc Gia Nghĩa với 1.500 bản sách; trưng bày, giới thiệu 768 bản sách về các chuyên đề; đăng tải 67 tin bài tuyên truyền nhân các ngày kỷ niệm, phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức các Giải thể thao: Cầu lông Vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Bóng đá 11 người Vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Bóng bàn Vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025 và Giải Bóng chuyền hơi nữ Vô địch các Câu lạc bộ tỉnh năm 2025. - Thể thao thành tích cao: Đăng cai tổ chức giải Quần vợt Vô địch quốc gia năm 2025; giải Điền kinh người khuyết tật quốc gia 2025. Cử đoàn vận động viên tham gia 10 giải thể thao quốc gia và 01 giải thể thao quốc tế; kết quả đạt 76 huy chương (21 HCV, 28 HCB, 27 HCĐ). Tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm báo cáo đạt 696 huy chương (180 HCV, 192 HCB, 324 HCĐ); trong đó đạt 44 huy chương quốc tế (14 HCV, 18 HCB, 12 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Hoạt động giáo dục ổn định và đi vào nền nếp. Trong tháng tập trung rà soát, củng cố điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị và đội ngũ nhà giáo để phục vụ công tác dạy, học. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.605 trường học (cơ sở giáo dục) với 808.873 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 527 trường với 117.925 trẻ; cấp tiểu học có 565 trường với 322.382 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 243.173 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 120.809 học sinh. Hiện nay nhiều trường vẫn còn thiếu phòng học, phòng chức năng, trang thiết bị dạy học, đặc biệt tại các khu vực nông thôn và vùng đồng bào dân tộc. Năm học 2025-2026, nhu cầu giáo viên cho các cấp học là 42.892 giáo viên (cấp sở: 7.068, cấp xã 35.824), tuy nhiên số giáo viên hiện có 37.459 giáo viên, còn thiếu 5.433 giáo viên (trong đó: Cấp tiểu học thiếu 1.463 giáo viên, cấp trung học cơ sở thiếu 1.453 giáo viên, cấp trung học phổ thông thiếu 495 giáo viên), chủ yếu ở các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Ngoại ngữ. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế - Phòng chống sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm khác: Trong tháng phát hiện 1.255 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 268 ca so với tháng trước và giảm 514 ca so với cùng kỳ năm trước; không có trường hợp tử vong. Lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 5.343 ca mắc, có 02 ca tử vong. Trong tháng có 160 ổ dịch được phát hiện xử lý; lũy kế 10 tháng đã phát hiện xử lý 899 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng có 02 ca mắc; lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 06 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 310 ca mắc, tăng 106 ca so với tháng trước; lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 2.114 ca mắc, tăng 558 ca so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng phát hiện 07 ổ dịch mới (Đạ Huoai: 4, Đà Lạt: 2, Di Linh: 01), lũy kế 10 tháng năm 2025 đã phát hiện 14 ổ dịch bệnh tay chân miệng.  - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 09 ca mắc, giảm 20 ca so với tháng trước; lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 3.957 ca mắc, tăng 3.678 ca so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng phát hiện 07 ổ dịch mới (Đạ Huoai: 4, Đà Lạt: 2, Di Linh: 01), lũy kế 10 tháng năm 2025 đã phát hiện 14 ổ dịch bệnh tay chân miệng. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, tiêm chủng đầy đủ cho 4.262 trẻ dưới 1 tuổi, lũy kế 10 tháng năm 2025 đã tiêm cho 35.468 trẻ. Tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 4.066 trẻ, lũy kế 10 tháng năm 2025 đã tiêm cho 36.162 trẻ. Tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.643 trẻ, lũy kế 10 tháng đã tiêm cho 36.382 trẻ. Tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 4.063 trẻ, lũy kế 10 tháng đã tiêm cho 37.153 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 2 cho 4.473 trẻ, lũy kế 36.422 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 4.473 trẻ, lũy kế 10 tháng năm 2025 đã tiêm cho 33.354 trẻ. Tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai cho 3.987 người; lũy kế 10 tháng đã tiêm cho 32.495 người. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Toàn tỉnh còn quản lý 466 bệnh nhân, không còn bệnh nhân đang điều trị; đang giám sát 20 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 454 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Trong tháng, khám phát hiện 17 bệnh nhân lao mới, trong đó có 03 bệnh nhân lao phổi AFB (+). - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 20 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 01 bệnh nhân chuyển AIDS, có 02 bệnh nhân tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.538 bệnh nhân mắc HIV, chuyển AIDS 1.768 bệnh nhân và có 876 bệnh nhân tử vong do AIDS. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 467.737 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.494 người, số ngày điều trị nội trú là 219.682 ngày, xét nghiệm cho 879.745 tiêu bản, chẩn đoán 129.451 hình ảnh, phẫu thuật 4.839 trường hợp. Lũy kế 10 tháng năm 2025 đã tổ chức khám bệnh cho 4.678.914 lượt người; 746.812 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 2.124.568 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,86 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 83,9%; đã xét nghiệm cho 7.149.753 tiêu bản; chẩn đoán 1.237.606 hình ảnh và phẫu thuật cho 47.411 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 82 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 994 cơ sở, kết quả có 986 cơ sở đạt yêu cầu, 08 cơ sở vi phạm bị phạt (số tiền phạt là 38 triệu đồng). Lũy kế 10 tháng năm 2025, tỉnh đã thành lập 764 đoàn kiểm tra tại 14.719 cơ sở, kết quả có 12.915 cơ sở đạt và 108 cơ sở vi phạm bị xử lý (tổng số tiền xử phạt là 630,63 triệu đồng). Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (tại xã Phan Rí Cửa) làm 11 mắc, 06 người nhập viện, không có tử vong; nguyên nhân do ăn cá nóc. Lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 04 vụ ngộ độc thực phẩm làm 109 người mắc, có 01 trường hợp tử vong do ăn cá nóc. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương, đặc biệt là Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030; Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Lâm Đồng lần thứ I; Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Tổ chức Họp báo Hội nghị Xúc tiến đầu tư vào tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Họp báo thông tin kết quả Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Trong tháng tiếp tục đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số; thường xuyên rà soát thông tin trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng (Từ ngày 15/9-15/10, qua rà soát trên hệ thống phần mềm giám sát thông tin mạng xã hội có 25.514 tin, bài viết; trong đó có 18.886 tin, bài viết có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; tin, bài tích cực chiếm tỷ lệ khoảng 80%, tiêu cực chiếm tỷ lệ khoảng 20%). Các cơ quan báo chí đã bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, tập trung tuyên truyền phản ánh các hoạt động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng,... Qua rà soát, không có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Triển khai tốt công tác tuyên truyền về các ngày lễ, ngày kỷ niệm, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và địa phương. Chuyển đổi mã định danh thiết bị truyền thanh vào Hệ thống thông tin nguồn cấp tỉnh kết nối với hệ thống thông tin nguồn Trung ương. Khởi tạo và cấp tài khoản hệ thống thông tin nguồn cấp tỉnh cho 124 xã, phường, đặc khu trong tỉnh. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 06 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh, 01 giấy xác nhận đăng ký hoạt động in. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ổn định. Hệ thống trường học trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số cơ bản đảm bảo về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các lớp học duy trì sĩ số học sinh, công tác hỗ trợ học sinh nghèo, cấp phát học bổng, bảo hiểm y tế được triển khai đầy đủ; công tác y tế tiếp tục được triển khai có hiệu quả, hoạt động khám chữa bệnh, chương trình tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện tốt, không có dịch bệnh nguy hiểm phát sinh; công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lễ hội truyền thống được quan tâm thực hiện, các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được bảo tồn, phát huy. Trong tháng, tình hình sản xuất và đời sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Đồng bào các dân tộc khẩn trương thu hoạch vụ mùa; gieo trồng, xuống giống, chăm sóc các loại cây trồng và hoa màu. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng được kiểm soát, ngành chức năng đã triển khai nhiều biện pháp phòng trừ nên không gây thiệt hại nhiều đến sản xuất. Tình hình tiêu thụ nông sản nhìn chung ổn định; công tác hỗ trợ sản xuất, chuyển giao khoa học kỹ thuật được duy trì,... Đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện, công tác giảm nghèo tiếp tục được quan tâm. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số có thu nhập thấp, thiếu việc làm ổn định. 5.2. Chính sách tôn giáo Tình hình hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh đăng ký bổ nhiệm Sư cô Thích Nữ Liên Tâm làm Trụ trì Tịnh xá Ngọc Thạnh, xã Hiệp Thạnh; đăng ký điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung có tên “Đạo tràng Bảo Pháp” tại xã Đạ Huoai; đăng ký tổ chức khóa tu cho tăng, ni hệ phái Khất sỹ tại Tịnh xá Trúc Lâm, xã Hàm Tân; Chùa Linh Bảo, phường Lang Biang tổ chức lễ khánh thành và an vị Phật, tham dự lễ có khoảng 300 tăng ni, phật tử trong và ngoài tỉnh, trong đó có 06 tu sỹ người nước ngoài. Tổ chức Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu (FABC) tại Trung tâm thánh Mẫu Tà Pao, xã Đồng Kho; Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức Đại hội lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2028, tham dự Đại hội có 37 đại biểu, Đại hội đã bầu Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam nhiệm kỳ 2025 -2028 gồm 04 thành viên và 21 Ủy ban, Tiểu ban trực thuộc. Hội thánh Cao Đài Tòa thánh Tây Ninh tổ chức Đại lễ Hội yến Diêu Trì cung và kỷ niệm 100 năm thành lập. Hoạt động các tổ chức tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã Tổ chức tổ chức đưa đón đoàn người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ thực hiện điều dưỡng tập trung tại Trung tâm Điều dưỡng và Chăm sóc người có công Khánh Hòa. Giải quyết 244 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công; tiếp nhận 15 hồ sơ chuyển đến, 15 hồ sơ chuyển đi; lập thủ tục chuyển Hội đồng giám định y khoa 4 hồ sơ; trả lời 13 đơn thư; ban hành 46 Quyết định hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ; 129 Quyết định trợ cấp mai táng phí đối với thân nhân của người có công với cách mạng từ trần; 14 Quyết định chấm dứt chế độ: đề nghị cấp lại bằng Tổ quốc ghi công cho 03 liệt sĩ; 3 Quyết định giải quyết trợ cấp ưu đãi giáo dục; giải quyết 8 hồ sơ đính chính thông tin người có công; thực hiện báo tin mộ cho 3 thân nhân liệt sĩ. Triển khai công tác thưc hiện chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt đối với người có công với cách mạng và thân nhân: Chi trả qua tài khoản 11.958/19.420 đối tượng, với tổng số tiền: 40.446,35 triệu đồng/tháng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 30/9/2025, toàn tỉnh có 280.374 người người tham gia BHXH, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 236.649 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 0,73%; 43.725 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 17,33%); có 215.828 người tham gia BHTN, tăng 1,46% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.909.525 người, tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 86,69% dân số. Trong tháng, đã giải quyết mới 9.988 người hưởng chế độ BHXH và chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.982 người; lũy kế đến 30/9/2025, đã giải quyết mới 90.538 người hưởng chế độ BHXH và chi trả cho 17.302 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng là 3.614 người; trợ cấp 1 lần là 24.533 người; chế độ ốm đau là 48.387 người; chế độ thai sản là 10.725 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe là 3.279 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng là 15.959 người; số người được hỗ trợ học nghề là 1.343 người). Giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177 và 178 là 355 người (lũy kế: 1.900 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/9-14/10/2025) Trong tháng xảy ra 75 vụ tai nạn giao thông, giảm 25 vụ so với tháng trước và giảm 19 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 39 người, giảm 10 người so với tháng trước và tăng 09 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương 49 người, giảm 27 người so với tháng trước và giảm 39 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng (15/12/2024 đến ngày 14/10/2025), toàn tỉnh xảy ra 742 vụ tai nạn giao thông, giảm 274 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 368 người, giảm 4 người; số người bị thương 575 người, giảm 295 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng xảy ra 01 vụ thiên tai (mưa lớn kèm gió giật mạnh) làm 01 người bị thương và 01 người chết. Thiên tai làm hư hại 13 căn nhà; ngập úng hư hại 281 ha lúa và 121 ha hoa màu; cuốn trôi 03 con heo và 202 con gia cầm; ước thiệt hại khoảng 3,3 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2025 xảy ra 25 vụ thiên tai, ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 74 tỷ đồng. - Cháy, nổ: Trong tháng xảy ra 06 vụ cháy, không có thiệt hại về người, chưa thống kê được giá trị thiệt hại về tài sản. - Tình hình cứu nạn cứu hộ: Trong tháng xảy ra 09 vụ sự cố tai nạn, đã cứu được 21 người, tìm được là 05 thi thể nạn nhân. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 xảy ra 19 vụ, giảm 25 vụ so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 3,6 tỷ đồng. * Đánh giá chung Nhìn chung, tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2025 của tỉnh tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định; cả ba khu vực kinh tế đều tăng trưởng: Sản xuất nông nghiệp duy trì phát triển, diện tích gieo trồng Vụ Mùa tăng 1,67%. Các cây công nghiệp, cây ăn quả chủ lực tăng diện tích (sầu riêng tăng 3,34%, cà phê tăng1,03%). Chăn nuôi phát triển tích cực, đàn gia cầm tăng 10,01%, đàn lợn tăng 5,1%. Dịch tả lợn Châu Phi cơ bản được kiểm soát. Rừng trồng mới tăng 5,01%, số vụ vi phạm lâm luật giảm mạnh 282 vụ; sản lượng thủy sản tăng 4,56% đều cho thấy kết quả tích cực. Sản xuất công nghiệp giữ đà tăng trưởng khá. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 3,91%, chủ yếu nhờ sự đóng góp của ngành khai khoáng tăng 11,58% và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,34%. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng cao (giày, dép gấp 1,95 lần; phân bón tăng 17,70% ). Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp biến động mạnh. Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 73,03%, doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 19,95%. Có 42 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 14.340,7 tỷ đồng. Khu vực dịch vụ là điểm sáng rõ nét nhất. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng 15,08% so với cùng kỳ. Hoạt động du lịch phục hồi mạnh thu hút 17,2 triệu lượt khách, tăng 19,77%, trong đó khách quốc tế đạt gần 1 triệu lượt, tăng 31,31%. Vận tải tăng trưởng tốt ở cả hành khách (tăng 12,38%) và hàng hóa (tăng 5,07%). Tài chính - Tín dụng ổn định. Thu ngân sách nhà nước bằng 91,33% kế hoạch năm và tăng 16,22% so với cùng kỳ. Dư nợ cho vay ước đến 31/10 tăng 6,8% so với đầu năm. Lạm phát được kiểm soát, CPI bình quân 10 tháng tăng 3,13%. Lĩnh vực xã hội đạt nhiều kết quả tích cực. Các hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức sôi nổi. An sinh xã hội và chính sách cho người có công được thực hiện đầy đủ. Trật tự an toàn giao thông, 10 tháng tai nạn giao thông giảm sâu trên cả 3 tiêu chí: số vụ (giảm 274 vụ), số người chết (giảm 4 người) và số người bị thương (giảm 295 người). Trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Nổi rõ là tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm; tình hình đăng ký doanh nghiệp tuy tăng mạnh về số lượng thành lập mới nhưng số doanh nghiệp giải thể cũng tăng rất cao (tăng 79,29%). Lĩnh vực xã hội tồn tại nhiều vấn đề cấp bách: ngành y tế đối mặt với sự bùng phát của dịch sởi (tăng 3.678 ca) và tay chân miệng (tăng 558 ca); ngành giáo dục thiếu hụt 5.433 giáo viên. Thiên tai còn diễn biến phức tạp. Thống kê tỉnh Lâm Đồng ---

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2025 tỉnh Lâm Đồng
  •   05/10/2025 22:06

Kinh tế thế giới 9 tháng đầu năm 2025 ghi nhận tín hiệu lạc quan ngắn hạn khi các tổ chức quốc tế nâng nhẹ dự báo tăng trưởng cả năm lên mức 2,4% - 3,2%([1]) , chủ yếu nhờ hoạt động xuất khẩu “chạy trước” để tránh thuế quan mới của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, đây chỉ là động lực tạm thời và tăng trưởng toàn cầu được dự báo sẽ chậm lại đáng kể vào cuối năm khi căng thẳng thương mại gia tăng và các rủi ro vĩ mô trở nên rõ nét hơn. Trong bối cảnh đó, kinh tế Việt Nam tiếp tục là một điểm sáng nổi bật. Giữa lúc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) hạ dự báo chung cho toàn khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là quốc gia duy nhất được điều chỉnh tăng trưởng, dẫn đầu khu vực với các dự báo cho năm 2025 đạt từ 6,5% đến 6,7%([2]). Dù vậy, nền kinh tế vẫn đối mặt với thách thức từ môi trường toàn cầu bất định, đặc biệt là tác động từ chính sách thương mại của các đối tác lớn. Hoạt động trong bối cảnh chung đó, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng không chỉ chịu tác động từ những biến động khó lường của kinh tế thế giới và trong nước như cạnh tranh chiến lược, xung đột địa chính trị, biến động thị trường tài chính, áp lực lạm phát và tỷ giá mà còn đối mặt với một thách thức nội tại đặc thù. Đó là việc phải đồng thời triển khai sắp xếp đơn vị hành chính theo mô hình 2 cấp và bảo đảm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đứng trước những thách thức đan xen, với sự chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, cùng sự đồng thuận xã hội và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, Lâm Đồng đã biến khó khăn thành động lực. Các nhiệm vụ chính trị trọng tâm được triển khai đồng bộ, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, quốc phòng - an ninh được giữ vững. Những kết quả quan trọng đạt được trong 9 tháng đầu năm đã trở thành động lực then chốt, củng cố nền tảng vững chắc để tỉnh quyết tâm hoàn thành thắng lợi toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ cho cả năm 2025. I. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý III/2025 ước tăng 7,15% so với cùng quý năm trước. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,64%, đóng góp 1,68 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,54%, đóng góp 1,53%; khu vực dịch vụ tăng 8,52%, đóng góp 3,56%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,55%, đóng góp 0,38 điểm phần trăm; cho thấy xu hướng kinh tế của tỉnh tốt dần lên, quý sau cao hơn quý trước. Tăng trưởng tích cực của quý III đã góp phần GRDP 9 tháng năm 2025 tăng 6,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,26%, đóng góp 1,37 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 4,98%, đóng góp 1,22 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,01%, đóng góp 3,52 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 5,62%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm. Cơ cấu kinh tế trong GRDP 9 tháng năm 2025: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 27,77%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 24,97%; khu vực dịch vụ chiếm 41,84%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,41%. II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 9 tháng năm 2025 duy trì ổn định và phát triển; các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao như cà phê, tiêu, sầu riêng,... diện tích đều tăng so với cùng kỳ năm trước, đặc biệt diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao tiếp tục tăng. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi mặc dù có xảy ra nhưng cơ bản được kiểm soát tốt. Hoạt động chăn nuôi phát triển theo hướng chăn nuôi gia cầm nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho thị trường và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Sản lượng thuỷ sản từ đầu năm đến nay ổn định, ngư trường khai thác tương đối thuận lợi. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm - Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm 9 tháng năm 2025 ước đạt 294.283 ha, tăng 1,52% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích cây lương thực ước đạt 157.001 ha, tăng 0,88%; sản lượng lương thực ước đạt 925.130 tấn, tăng 0,93%. + Vụ đông xuân diện tích gieo trồng đạt 105.612 ha, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cây lương thực đạt 61.323,3 ha, tăng 2% (cây lúa đạt 55.314 ha, tăng 2,5%; năng suất đạt 66,1 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha; sản lượng 365.836,8 tấn, tăng 2,9%); rau các loại đạt 26.727,6, bằng so với cùng kỳ năm trước, năng suất đạt 326,4 tạ/ha, tăng 3,5 tạ/ha, sản lượng đạt 872.364,2 tấn, tăng 1,1%. + Vụ hè thu diện tích gieo trồng đạt 144.149,9 ha, tăng 0,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cây lương thực ước đạt 78.928 ha, giảm 0,45% (cây lúa đạt 48.152 ha, tăng 0,07%; năng suất đạt 60,2 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha, sản lượng đạt 289.909,4 tấn, tăng 0,8%); rau các loại đạt 32.531,6 ha, giảm 0,07% so với cùng kỳ năm trước, năng suất đạt 309,7 tạ/ha, tăng 3 tạ/ha, sản lượng đạt 1.007.513,9 tấn, tăng 0,9%.Diện tích gieo trồng cây hàng năm qua các năm 1.2. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh duy trì và phát triển ổn định, trong đó các cây trồng chủ lực tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. Dự ước 9 tháng năm 2025, diện tích trồng cây lâu năm đạt 637.671 ha, tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Hiện nay đang vào mùa mưa, nông dân tiếp tục tập trung thu hoạch và chăm sóc diện tích cây lâu năm hiện có, cụ thể một số cây chính sau: - Cây cà phê: Hiện đang trong giai đoạn nuôi trái, diện tích ước đạt 327.629 ha, tăng 0,95% so với cùng kỳ năm trước; hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc và mở rộng thêm diện tích trồng mới; - Cây điều: Một số vườn điều già cỗi cho năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao khiến người dân có xu hướng chuyển sang cây trồng khác, ước diện tích đạt 49.235,2 ha, giảm 3,31% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2025 ước đạt 35.820 tấn, giảm 7,66%; - Cây cao su: Diện tích ước đạt 74.439 ha, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước, diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác ngày càng được cải thiện. Trong thời gian tới, diện tích trồng mới cao su có khả năng tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do nông dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư. Dù vậy, cùng với xu hướng phục hồi của thị trường thế giới, cao su vẫn được xem là loại cây có tiềm năng phát triển ổn định, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây công nghiệp lâu năm của tỉnh. Sản lượng 9 tháng năm 2025 ước đạt 77.160 tấn, tăng 6,88% so với cùng kỳ năm trước; - Cây tiêu: Diện tích ước đạt 37.193 ha, tăng 0,63% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2025 ước đạt 85.190 tấn, tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước; - Cây chè: Người dân đã chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, bơ, chanh dây,... Diện tích chè hiện có ước đạt 9.411 ha, giảm 4,14% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2025 ước đạt 105.180 tấn, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước; - Cây dâu tằm: Trong thời gian gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định (180.000 đ - 200.000 đ/kg) nên người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. Diện tích ước đạt 10.615 ha, tăng 3,42% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng 9 tháng năm 2025 ước đạt 243.112 tấn, tăng 2,95% so với cùng kỳ năm trước; - Cây thanh long: Diện tích ước đạt 26.489,1 ha, tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong 9 tháng đầu năm 2025, giá bán thanh long tương đối ổn định, dù vẫn xuất hiện những biến động ngắn hạn theo mùa vụ (một số thời điểm, giá tăng cao nhờ nhu cầu xuất khẩu khả quan, nhất là các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á), mức giá thuận lợi này đã khuyến khích nhiều hộ tập trung chong đèn trái vụ; sản lượng 9 tháng năm 2025 ước đạt 449.640 tấn, tăng 2,28% so với cùng kỳ năm trước; - Cây sầu riêng: Diện tích ước đạt 42.622 ha, tăng 1,75% so với cùng kỳ năm trước. Dự báo trong thời gian tới, diện tích sầu riêng tiếp tục có xu hướng tăng do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác. Sản lượng thu hoạch 9 tháng năm 2025 ước đạt 230.620 tấn, tăng 1,28% so với cùng kỳ năm trước.  1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Toàn tỉnh hiện có 966 công trình thủy lợi, trong đó: có 536 hồ chứa; 255 đập dâng; 13 cống dâng; 51 trạm bơm; 91 đập tạm; 20 kênh tiêu cùng với khoảng 3.632 km kênh mương (đã kiên cố hóa được khoảng 1.940 km, đạt 53,4%) và hệ thống đê biển, kè biển, kè sông. Dự kiến đến hết năm 2025, diện tích canh tác được tưới đạt trên 73,45% diện tích cần tưới, trong đó: diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt khoảng 150.128 ha; diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt khoảng 97.202 ha. Đến thời điểm hiện tại, tổng dung tích tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh khoảng 859 triệu m³. 1.4. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng: Trong tháng, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Ốc bưu vàng gây hại 964 ha tại các xã Hàm Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hải Ninh, Bắc Bình, Hồng Thái, Lương Sơn, Sông Lũy, Liên Hương, Vĩnh Hảo, Phan Rí Cửa, Đơn Dương, Ka Đô; bệnh đạo ôn lá gây hại 512 ha (giảm 111,6 ha so với tháng trước) tại các xã Nam Thành, Đức Linh, Bắc Bình, Hồng Thái, Lương Sơn, Tuy Phong, Phan Rí Cửa, phường Lang Biang- Đà Lạt, Đức Trọng, Tà Hine, Hiệp Thạnh; - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.436 ha tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, Bắc Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại chủ yếu tại các xã Bảo Lâm 1,2,3,4,5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác với diện tích nhiễm 2.863 ha; bọ xít muỗi gây hại 1.974 ha cà phê chè tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; bệnh chết khô ngọn gây hại 30 ha tại các xã Bảo Lâm 1,4; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.011 ha; bệnh thán thư gây hại 2.711 ha tại các xã Cát Tiên 2, Đạ Tẻh 2, 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 3, Đam Rông 3,4, Suối Kiết, Tánh Linh; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 303 ha tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 3.330 ha tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Tân Lập, Tuyên Quang, Tân Hải, Bình Thuận.1.2. Cây lâu nă Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất. 1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Đến nay, toàn tỉnh có 107.217 ha diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, với 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa) và có 08 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận. - Quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói: + Mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói xuất khẩu: Trong tháng, không phát sinh mã mới được cấp; lũy kế đến nay, toàn tỉnh đã được cấp 954 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích 45.098,79 ha (gồm các loại cây như sầu riêng, thanh long, bưởi, dừa, xoài, chanh leo) và 339 cơ sở đóng gói (Các loại nông sản như trái sầu riêng, thanh long, xoài, dừa,...) với tổng diện tích nhà xưởng 532.259 m2. + Vùng sản xuất hạt giống rau xuất khẩu sang thị trường EU: Có 12 mã số vùng trồng với sản lượng trên 7.000 kg hạt giống ớt, cà chua/vụ. Bên cạnh đó, có 05 mã vùng trồng cây giống, ngọn giống của Công ty TNHH Đà Lạt Hasfarm đăng ký xuất khẩu quy mô gần 300.000 ngọn giống, cây giống/vụ. + Mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt: Không phát sinh mã mới được cấp; lũy kế đến nay, toàn tỉnh đã được cấp 271 mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt với tổng diện tích 2.641,58 ha. 1.6. Chương trình OCOP Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đang có 914 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP đã được chứng nhận, trong đó có: 75 sản phẩm 4 sao (trong đó 07 sản phẩm hạng 4 sao đang trình nâng lên hạng 5 sao); 839 sản phẩm 3 sao; có 522 chủ thể tham gia Chương trình (Chủ thể là hợp tác xã 107; chủ thể là doanh nghiệp 191; chủ thể là cơ sở kinh doanh, hộ cá thể, trang trại 208; chủ thể là tổ hợp tác: 20). Toàn tỉnh có 416 chuỗi liên kết với 45.615 hộ liên kết, trong đó: Liên kết trong trồng trọt 83.885 ha, sản lượng 792.744 tấn; liên kết trong chăn nuôi 2.262.327 con, sản lượng 233.362 tấn. 2. Chăn nuôi Chăn nuôi 9 tháng năm 2025 tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi; giá thức ăn, con giống gia súc vẫn ở mức cao, giá bán các sản phẩm trâu, bò giảm nên tổng đàn trâu, bò có khuynh hướng giảm; dịch tả lợn châu Phi có xảy ra trên địa bàn nhưng cơ bản được kiểm soát kịp thời, chăn nuôi lợn phát triển ổn định (đặc biệt là các trại chăn nuôi gia công); quy mô đàn gia cầm tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước do đóng góp của Công ty cổ phần MeBi Farm đóng tại địa bàn xã Hàm Tân (bắt đầu hoạt động từ ngày 01/4/2025 với quy mô nuôi 160 nghìn con), quy mô hiện có 202 nghìn con gà đẻ trứng đã góp phần đáng kể vào việc nâng tổng đàn, làm tăng sản lượng trứng và góp phần chuyển dịch từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, chuyên môn hóa cao.  So với cùng kỳ năm trước, toàn tỉnh có 26,5 nghìn con trâu, giảm 2,21%; có 311,2 nghìn con bò, giảm 0,1%; có 1.342,2 nghìn con lợn, tăng 5,55%; có 21.702 nghìn con gia cầm, tăng 11,31% (trong đó gà các loại 15.166 nghìn con, chiếm 69,88% trong tổng đàn gia cầm, tăng 12,3%). Sản lượng thịt hơi các loại ước 9 tháng năm 2025 đạt 223.956 tấn, tăng 7,46% so với cùng kỳ năm trước.Gia súc, gia cầm 9 tháng qua các năm * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, bệnh DTLCP phát sinh 09 hộ tại 9 thôn của 06 xã với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 310 con/14.973,7 kg. Lũy kế, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 1.197 con/55.672,2 kg. Đến nay, có 15/18 xã đã qua 21 ngày không phát sinh lợn mắc bệnh, 03/18 xã dịch bệnh chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Tổ chức kiểm tra tình hình dịch bệnh DTLCP tại các địa phương có dịch nêu trên, đồng thời phân bổ kịp thời cho các địa phương 239.418 liều vắc xin phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi và hóa chất khử trùng, tiêu độc. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, ngành chức năng đã chỉ đạo các địa phương, đơn vị tiếp tục tập trung thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp; khôi phục và phát triển rừng. Trồng rừng tập trung (trồng mới) ước đạt 1.180 ha, tăng 13,46% so với cùng kỳ năm trước; quý III/2025 diện tích trồng mới ước đạt 2.245 ha, tăng 3,5%. Lũy kế 9 tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 4.498 ha, tăng 5,59% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây xanh ước đạt 6.086.387 cây/17.420.000 cây, đạt 35% kế hoạch năm. - Trong tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 32.593 m3, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, quý III/2025 ước đạt 97.242 m3, tăng 1,2%. Lũy kế 9 tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 282.693 m3, tăng 2,48% so với cùng kỳ năm trước. - Trong tháng, không phát sinh số vụ vi phạm. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm giảm 36 vụ (trong đó phá rừng giảm 07 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại tăng 0,56 ha. Lũy kế 9 tháng năm 2025, tổng số vụ vi phạm là 329 vụ (130 vụ đã xác định được đối tượng vi phạm, chiếm 39,5%), trong đó: phá rừng 126 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 24,98 ha. So với 9 tháng năm 2024, số vụ vi phạm giảm 255 vụ (phá rừng giảm 85 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại giảm 20,29 ha. 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh thời gian qua gặp khó khăn chủ yếu ở các xã Trà Tân, Hoài Đức do tình hình nuôi thủy sản không mang lại hiệu quả, giá cá thương phẩm giảm trong khi các chi phí đi kèm tăng, rất nhiều hộ nuôi san lấp cải tạo diện tích để trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả. Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.406 tấn, giảm 6,56% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 488 tấn, tăng 4,27%). Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 19.099 tấn, tăng 2,05% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 3.594 tấn, tăng 3,04%). Nuôi lồng bè trên biển toàn tỉnh hiện có 06 khu vực nuôi biển ven bờ, ven đảo với 116/169 cơ sở nuôi/2.242 lồng với thể tích 37.287 m3, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước; tình hình nuôi trong tháng ổn định, tập trung ở đặc khu Phú Quý, xã Vĩnh Hảo, Liên Hương, Phan Rí Cửa, Hòa Thắng và phường Mũi Né. Đối tượng nuôi chủ yếu là cá bớp, cá mú, cá chim, cá bè quỵt, cá bè đưng và các loại tôm hùm. - Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản chủ yếu là từ thủy sản biển, trong tháng tàu thuyền khai thác vùng khơi tích cực bám biển đánh bắt thủy sản. Nguồn lợi thủy sản đã xuất hiện trở lại vụ cá nam nên đa số các nghề khai thác đạt hiệu quả cao. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng biển ven bờ và vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đặc khu Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 22.552 tấn, tăng 4,33% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 22.368 tấn, tăng 4,36%). Lũy kế 9 tháng năm 2025, sản lượng khai thác đạt 186.744 tấn, tăng 3,69% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 186.278 tấn, tăng 4,03%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Công tác quản lý chất lượng giống thuỷ sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Tình hình sản xuất, kinh doanh tôm giống trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay thuận lợi do thị trường tiêu thụ tôm giống tăng khá, nhiều cơ sở tái đầu tư sản xuất. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước 2,06 tỷ con, giảm 0,49% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 18,09 tỷ con, tăng 7,56% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản 9 tháng qua các năm III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Trong 9 tháng năm 2025, mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức từ tình hình thế giới, ngành công nghiệp vẫn duy trì được đà tăng trưởng. Sự phục hồi của các ngành chủ lực cùng với việc một số dự án mới đi vào hoạt động đã góp phần quan trọng vào kết quả này. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực chính, thúc đẩy sự phát triển của toàn ngành. Các ngành khai khoáng, cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải sản xuất cũng duy trì hoạt động ổn định, góp phần thúc đẩy tăng trưởng chung cho toàn ngành công nghiệp. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 7,7% so với tháng trước và tăng 15,16% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,15% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 13,32%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 17,3%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,24%. Dự ước quý III/2025 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp giảm 7,01% so với quý trước và tăng 8,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,64%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,82%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 8,91%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,97%. Tính chung 9 tháng năm 2025, ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 8,09%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,81%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,80%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,75%. Chỉ số sản xuất công nghiệp 9 tháng so với cùng kỳ qua các năm (ĐVT: %) 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 317.003 m3, giảm 15,45% so với tháng trước và tăng 7,06% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 1.066.253 m3, tăng 9,75% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 2.908.838 m3, tăng 9,98% so với cùng kỳ. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 2.542 tấn, giảm 11,55% so với tháng trước và tăng 0,84% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 8.600 tấn, tăng 4,18% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 28.081 tấn, tăng 16,80% so với cùng kỳ. Một số công ty đã đưa được sản phẩm vào siêu thị Mega mark và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua Malaisya, Indonexia. - Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.298 tấn, tăng 24,02% so với tháng trước và tăng 14,44% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 5.623 tấn, giảm 2,33% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 16.088 tấn, tăng 3,90% so với cùng kỳ. - Sản phẩm đồ uống: Trong tháng ước sản lượng đạt 17.164 nghìn lít, giảm 9,20% so với tháng trước và giảm 8,16% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 33.734 nghìn lít, giảm 6,01% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 96.586 nghìn lít, giảm 19,77% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ, chi phí nguyên vật liệu tăng cao (Malt, gạo, đường), và sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 509 nghìn đôi, tăng 1,69% so với tháng trước và tăng 58,46 so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 1.740 nghìn đôi, giảm 6,01% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 4.454 nghìn đôi, tăng gấp 1,97 lần so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng và năng lực tăng thêm ở Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 13.130 tấn giảm 9,75% so với tháng trước và tăng 14,27% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 44.154 tấn tăng 8,20% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 98.218 tấn, tăng 20,42% so với cùng kỳ, nguyên nhân nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông đi vào sản xuất. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 130,4 nghìn tấn, tăng 28% so với tháng trước và tăng 5,57% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 346.076 tấn giảm 0,92% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 1.124,06 nghìn tấn, tăng 2,84% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 2.797 triệu kwh, tăng 11,75% so với tháng trước và tăng 23,44% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 8.041 triệu kwh tăng 11,37% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 25.082 triệu kwh, tăng 1,30% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 440 triệu kwh, giảm 4,76% so với tháng trước và tăng 1,84% so với cùng kỳ. Quý III/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 1.370 triệu kwh tăng 5,59% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025 sản lượng đạt 4.114 triệu kwh, giảm 0,94% so với cùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động toàn ngành công nghiệp tháng Chín tăng 2,91% so với tháng trước và tăng 5,45% so với cùng kỳ. Trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 20,92%; ngành chế biến, chế tạo tăng 7,62%; sản xuất và phân phối điện tăng 4,87%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,75%. Lũy kế 9 tháng năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,57%; riêng ngành khai khoáng giảm 20,01%, ngành chế biến, chế tạo tăng 5,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 2,19%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,36%. Xét theo loại hình doanh nghiệp: khối doanh nghiệp nhà nước giảm 2,67% so với cùng kỳ, khối ngoài quốc doanh tăng 5,43%, khối có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5,38%. Nhìn chung, chỉ số sử dụng lao động tăng cao so với cùng kỳ và cao hơn bình quân 9 tháng năm 2025, phản ánh xu hướng phục hồi và mở rộng sản xuất; các doanh nghiệp đang đẩy mạnh tuyển dụng phục vụ nhu cầu sản xuất cuối năm, dự báo thị trường lao động công nghiệp sẽ tiếp tục phát triển tích cực trong thời gian tới. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Chín ước giảm 5,06% so với tháng trước nhưng tăng 10,17% so với cùng kỳ; tính chung 9 tháng năm 2025, chỉ số tiêu thụ tăng 10,71% so với cùng kỳ. Một số ngành có mức tiêu thụ tăng khá như: sản xuất đồ uống tăng 20,83%; dệt tăng 31,49%; sản xuất trang phục tăng 7,16%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng gấp 1,91 lần; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 28,97%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 4,68%... Ngược lại, một số ngành ghi nhận mức giảm như: sản xuất thực phẩm giảm nhẹ 0,05%; sản xuất máy móc, thiết bị giảm 10,42%. Nhìn chung, chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong 9 tháng đầu năm duy trì tăng trưởng khá so với cùng kỳ, là tín hiệu tích cực trong bối cảnh kinh tế trong nước và thế giới còn nhiều biến động bất lợi. 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng Chín ước tăng 4,81% so với tháng trước nhưng giảm 23,19% so với cùng kỳ. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm mạnh so với cùng kỳ như: sản xuất, chế biến thực phẩm giảm 28,23%; sản xuất đồ uống giảm 71,79%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 22,03%. Ngược lại, một số ngành ghi nhận mức tăng như: ngành dệt tăng 4,77%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 36,65%... 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2025: Khảo sát các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo cho thấy có 28,08% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh quý III tốt hơn quý trước; 45,21% nhận định ổn định và 26,71% đánh giá khó khăn. Các yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong quý III được ghi nhận như: 62,96% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường trong nước thấp; 25,93% gặp khó khăn về tài chính; 25,93% đánh giá nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 20,37% thiếu nguyên, nhiên vật liệu; 48,15% cho rằng cạnh tranh của hàng hóa trong nước cao; 11,11% nhận định cạnh tranh hàng nhập khẩu cao; 18,15% phản ánh lãi suất vay vốn cao; 31,48% cho biết khó tuyển dụng lao động theo yêu cầu; và 25,92% cho rằng nguyên nhân đến từ chính sách pháp luật và một số yếu tố khác. Dự báo quý IV/2025: Có 74,66% doanh nghiệp dự kiến tình hình sản xuất kinh doanh quý IV sẽ ổn định và tốt hơn quý III (trong đó 36,3% nhận định tốt hơn và 38,36% đánh giá ổn định); 25,34% dự báo khó khăn hơn. Chỉ số cân bằng đạt +10,96%, cho thấy tâm lý lạc quan của doanh nghiệp về môi trường kinh doanh, dự báo nhu cầu thị trường dần phục hồi, giúp gia tăng cơ hội đầu tư và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong thời gian tới.Tỷ lệ các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý III/2025 (%) 1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp Hiện có có 229 dự án (51 dự án FDI và 178 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 43.411,6 tỷ đồng và 466,44 triệu USD và diện tích đất đăng ký 713,25 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,99%. Trong đó có có 166 doanh nghiệp /dự án đang hoạt động, kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh thực hiện trong 9 tháng năm 2025 ước thực hiện doanh thu 24.878,89 tỷ đồng, kim ngạch xuất khẩu đạt 523,91 triệu USD và nộp ngân sách nhà nước 929,7 tỷ đồng. Hoạt động sản xuất, kinh doanh nhìn chung duy trì ổn định, tập trung vào các ngành chủ lực như: may mặc, da giày, gỗ, giấy, nông lâm hải sản, hạt điều, cơ khí, thực phẩm, vật liệu xây dựng, khoáng sản… Tuy nhiên, vẫn còn một số doanh nghiệp gặp khó khăn, tạm dừng hoạt động và chưa có kế hoạch khôi phục. Tình hình thu hút đầu tư: Trong 9 tháng năm 2025, các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh thu hút được 13 dự án đầu tư mới (trong đó có 01 dự án FDI) với tổng diện tích khoảng 27,73 ha, vốn đăng ký đầu tư 958,23 tỷ đồng và 35 triệu USD. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 15 khu công nghiệp, 229 dự án còn hiệu lực (51 dự án FDI và 178 dự án trong nước) với tổng vốn đăng ký 43.411,6 tỷ đồng và 466,44 triệu USD, diện tích đất đăng ký 713,25 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,99%. Cụ thể: - KCN Lộc Sơn: 56 dự án (09 dự án FDI, 47 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 3.180,43 tỷ đồng và 48,63 triệu USD; diện tích đất đã cho thuê 116,96/132,62 ha, tỷ lệ lấp đầy 88,19%. - KCN Phú Hội: 32 dự án (11 dự án FDI, 21 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 2.384,12 tỷ đồng và 77,10 triệu USD; diện tích đất cho thuê 55,95/74,58 ha, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: 39 dự án (10 dự án FDI, 29 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 857,94 tỷ đồng và 74,8 triệu USD; diện tích đất cho thuê đạt 51,44/51,44 ha, tỷ lệ lấp đầy 100%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2: 11 dự án (02 dự án FDI, 09 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 543,08 tỷ đồng và 11,85 triệu USD; diện tích cho thuê 23,01/28,09 ha, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I: 22 dự án (08 dự án FDI, 14 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 1.706,9 tỷ đồng và 56,18 triệu USD; diện tích cho thuê 60,06/90,78 ha, tỷ lệ lấp đầy 66,16%. - KCN Hàm Kiệm II: 17 dự án (07 dự án FDI, 10 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 772,41 tỷ đồng và 185,58 triệu USD; diện tích cho thuê 87,99/276,93 ha, tỷ lệ lấp đầy 31,77%. - KCN Sông Bình: 03 dự án (trong nước), tổng vốn đăng ký 13.544,93 tỷ đồng; diện tích cho thuê 58,35/202,32 ha, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức: 01 dự án (trong nước), tổng vốn đăng ký 100 tỷ đồng; diện tích cho thuê 1,5/210,84 ha, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. - KCN Tâm Thắng: 47 dự án (04 dự án FDI, 43 dự án trong nước), tổng vốn đăng ký 1.948,8 tỷ đồng và 12,3 triệu USD; diện tích thuê lại 130/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ: 01 dự án, quy mô 129,42 ha, tổng vốn đăng ký 18.423 tỷ đồng; tỷ lệ lấp đầy đạt 87,44%. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Trong quý III và 9 tháng năm 2025, tình hình hoạt động xây dựng duy trì được đà tăng trưởng khá, trong đó giá trị sản xuất theo giá hiện hành của doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng cáo nhất (56,55%); tiếp tục đóng vai trò động lực chính và là điểm sáng góp phần thúc đẩy tăng trưởng cho khu vực công nghiệp - xây dựng. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước, quý III/2025 công trình nhà ở đạt 7.117,2 tỷ đồng, tăng 12,87% so với cùng kỳ năm trước; công trình nhà không để ở đạt 3.388,2 tỷ đồng, tăng 10,15%; công trình kỹ thuật dân dụng 4.548,7 tỷ đồng, tăng 7,56%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.078,4 tỷ đồng, tăng 2,47%. Ước 9 tháng năm 2025, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành loại công trình nhà ở đạt 18.112,9 tỷ đồng, tăng 15,26% so cùng kỳ năm trước; công trình nhà không để ở đạt 8.710,6 tỷ đồng, tăng 6,14%; công trình kỹ thuật dân dụng 11.618,7 tỷ đồng, tăng 16,08%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 5.520,7 tỷ đồng, tăng 2,47% so với cùng kỳ năm trước. Giá trị sản xuất theo giá so sánh 2010, ước quý III/2025 đạt 9.302,2 tỷ đồng, tăng 6,28% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, công trình nhà ở đạt 3.792,2 tỷ đồng, tăng 7,06%; công trình nhà không để ở đạt 1.817,1 tỷ đồng, tăng 5,2%; Công trình kỹ thuật dân dụng 2.474,8 tỷ đồng, tăng 2,87%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 1.217,9 tỷ đồng, tăng 13,09%. Ước 9 tháng năm 2025, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá so sánh ước đạt 24.232,6 tỷ đồng, tăng 8,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, công trình nhà ở đạt 9.899,8 tỷ đồng, tăng 12,23%; công trình nhà không để ở đạt 4.948,7 tỷ đồng, tăng 7,39%; công trình kỹ thuật dân dụng 6.393,5 tỷ đồng, tăng 12,31%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.990,7 tỷ đồng, giảm 7,27% so với cùng kỳ năm trước.Giá trị sản xuất 9 tháng các năm theo giá so sánh chia theo loại công trình (ĐVT: tỷ đồng) 3. Đầu tư phát triển Tỉnh đã chỉ đạo quyết liệt thực hiện đồng bộ các giải pháp đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; đồng thời giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai, đặc biệt là các công trình trọng điểm, nhằm đảm bảo tiến độ và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công. 3.1. Tình hình thực hiện vốn đầu tư thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.436,70 tỷ đồng, tăng nhẹ 0,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn cấp tỉnh chiếm tỷ trọng lớn (99,76%), đạt 1.433,22 tỷ đồng, tăng 0,56%, tuy nhiên vẫn gặp khó khăn do một số dự án lớn vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng. Vốn cấp xã đạt 3,48 tỷ đồng, chiếm 0,24%, giảm mạnh 35,94% do đang trong giai đoạn sắp xếp lại tổ chức bộ máy. Xét theo cơ cấu vốn cấp tỉnh: Vốn cân đối ngân sách tỉnh đạt 572,87 tỷ đồng, tăng 8,22%; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 431,81 tỷ đồng, giảm 6,66%; vốn nước ngoài đạt 25,70 tỷ đồng, giảm sâu 42,89% do chưa có điều chỉnh, bổ sung kịp thời; vốn xổ số kiến thiết đạt 398,97 tỷ đồng, tăng 5,62% và vốn khác đạt 3,87 tỷ đồng, giảm 63,33%. Lũy kế 9 tháng năm 2025, tổng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 9.364,5 tỷ đồng, bằng 58,96% kế hoạch năm và tăng 6,13% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn cấp tỉnh ước đạt 9.343,65 tỷ đồng, tăng 6,2%, nhờ các dự án được triển khai đúng tiến độ; vốn cấp xã đạt 20,84 tỷ đồng, giảm 20,07%. 3.2. Tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn Quý III/2025, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 30.581,07 tỷ đồng, tăng 11,49% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn nhà nước đạt 6.513,79 tỷ đồng (21,30%), tăng 5,81%; vốn ngoài nhà nước 22.856,46 tỷ đồng (74,74%), tăng 12,62% với nhiều dự án lớn như KCN Tân Đức (1.200 tỷ đồng), Nhà máy nghiền Zircon Sông Bình (1.024 tỷ đồng), Mebi Farm (1.760 tỷ đồng) và Hli Ecohub Nam Hà (1.744,7 tỷ đồng). Vốn dân cư đạt 10.105,53 tỷ đồng (tăng 8,30%), vốn FDI đạt 1.210,82 tỷ đồng (tăng 23,90%). Theo khoản mục đầu tư, vốn xây dựng cơ bản chiếm tỷ trọng cao nhất (23.145,59 tỷ đồng, tăng 7,59%), tiếp đến là vốn sửa chữa, nâng cấp tài sản cố định (4.435,13 tỷ đồng, tăng 36,45%), cùng các khoản mục mua sắm tài sản cố định, bổ sung vốn lưu động đều tăng trưởng. Lũy kế 9 tháng, vốn đầu tư toàn xã hội đạt 76.788,42 tỷ đồng, tăng 8,25%. Vốn nhà nước đạt 15.334,81 tỷ đồng (giảm nhẹ 0,45%) nhưng vẫn bảo đảm các dự án hạ tầng trọng điểm như nâng cấp Quốc lộ 28B (1.435 tỷ đồng, hoàn thành 2026). Vốn ngoài nhà nước đạt 58.471 tỷ đồng (tăng 10,60%) tiếp tục giữ vai trò chủ lực, huy động hiệu quả nguồn xã hội hóa. Vốn FDI đạt 2.982,60 tỷ đồng (tăng 12,48%), nổi bật với dự án Nhà máy công nghiệp Neotek Việt Nam (2.200 tỷ đồng) và Nhà máy văn phòng phẩm Shiny Circle Limited (300 tỷ đồng). Kết quả trên cho thấy dòng vốn đầu tư tiếp tục mở rộng, cơ cấu chuyển dịch tích cực, đóng góp quan trọng cho phát triển hạ tầng, công nghiệp chế biến chế tạo và tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn 9 tháng qua các năm Trong 9 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 37 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 13.706,85 tỷ đồng, diện tích đất sử dụng khoảng 673,71 ha. Lũy kế đến ngày 23/9/2025, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng (sau sắp xếp) có 2.934 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 2.008.314 tỷ đồng (trong đó có 235 dự án FDI, tổng vốn đầu tư là 224.282 tỷ đồng). Về phát triển doanh nghiệp: Tính từ đầu năm đến ngày 23/9/2025, toàn tỉnh có 2.963 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 71,77% với cùng kỳ năm trước; 1.493 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 2,7%; 544 doanh nghiệp giải thể, tăng 30%; 888 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 22,65% so cùng kỳ năm trước. Tổng số vốn trong 9 tháng năm 2025 đã đăng ký 15.248 tỷ đồng, tăng 19,27% so với cùng kỳ năm trước. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; xuất nhập khẩu; giao thông vận tải Trong 9 tháng năm 2025, hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, sức mua của người dân tăng so với cùng kỳ, nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả tương đối ổn định, không xảy ra tình trạng khan hiếm hay tăng giá đột biến. Du lịch tiếp tục khởi sắc, nhiều sự kiện văn hóa, thể thao, lễ hội được tổ chức đã thu hút lượng lớn du khách, góp phần thúc đẩy tăng trưởng dịch vụ. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định, chất lượng phục vụ được nâng lên; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống tăng cường đáp ứng nhu cầu người dân và khách du lịch. Hoạt động vận tải đường bộ đảm bảo kịp thời nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa; vận tải đường thủy thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại của du khách và người dân đặc khu Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Dự ước trong tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 22.795,5 tỷ đồng, tăng 3,34% so với tháng trước và tăng 18,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 15.071,1 tỷ đồng, tăng 2,78% so với tháng trước và tăng 15,64% so với cùng kỳ (trong đó lương thực, thực phẩm đạt 7.172,3 tỷ đồng, tăng 21,73%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình đạt 1.544,7 tỷ đồng, tăng 20,19%; gỗ và vật liệu xây dựng đạt 1.426,1 tỷ đồng, tăng 3,59%; xăng dầu đạt 1.987,1 tỷ đồng, tăng 11,07%); doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 5.206,7 tỷ đồng, tăng 3,49% so với tháng trước và tăng 33,78% so với cùng kỳ; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 2.517,6 tỷ đồng, tăng 6,46% so với tháng trước và tăng 11,35% so với cùng kỳ. Tính chung quý III/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 66.812,5 tỷ đồng, tăng 17,12% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong cơ cấu này, tổng mức bán lẻ hàng hóa chiếm tỷ trọng chủ yếu với 44.150,5 tỷ đồng, tăng 16,25% (nhóm lương thực, thực phẩm tăng 23,48%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 16,2%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 3,25%; xăng dầu tăng 5,33%); doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 15.219,7 tỷ đồng, tăng 22,43%; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 7.442,3 tỷ đồng, tăng 12,15% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 188.242,3 tỷ đồng, tăng 13,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 125.357 tỷ đồng, tăng 13,38%; doanh thu lưu trú, ăn uống, lữ hành đạt 41.483,1 tỷ đồng, tăng 16,57%; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 21.402,1 tỷ đồng, tăng 10,69% so với cùng kỳ năm trước.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ 9 tháng qua các năm (ĐVT: tỷ đồng) 1.2. Công tác quản lý thị trường Tình trạng tàng trữ hàng cấm, hàng không rõ nguồn gốc, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm và gian lận trong thương mại điện tử vẫn diễn ra nhỏ lẻ với thủ đoạn tinh vi, khó phát hiện. Một số doanh nghiệp còn nhập sản phẩm từ nước ngoài nhưng giả mác xuất xứ Việt Nam để qua mắt cơ quan chức năng và lừa dối người tiêu dùng. Các mặt hàng vi phạm chủ yếu gồm giày dép, quần áo, mỹ phẩm, thực phẩm tươi sống - đông lạnh, phụ tùng xe máy, đặc sản địa phương. Các vi phạm chủ yếu mang tính chất nhỏ lẻ, chưa phát hiện vụ việc quy mô lớn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến thị trường. Từ 15/12/2024 đến 19/8/2025, đã kiểm tra 334 vụ, phát hiện và xử lý 308 vụ vi phạm, thu nộp ngân sách 2,55 tỷ đồng, trị giá hàng hóa vi phạm 1,31 tỷ đồng. 2. Giá cả 2.1. Giá tiêu dùng (CPI) Trong tháng, CPI tăng 0,95% so với tháng trước, tăng 4,14% so với cùng kỳ năm trước và tăng 3,72% so với tháng 12 năm trước; bình quân 9 tháng CPI tăng 2,92%. Trong 11 nhóm hàng, có 09 nhóm tăng giá, nổi bật là giáo dục tăng 6,71% do điều chỉnh học phí, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,92%, giao thông tăng 0,52%, nhà ở - điện - nước tăng 0,50%. Giá xăng dầu tăng bình quân 2,09%, giá gas tăng 0,16%. Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,05%, giá rau giảm 0,18% (bắp cải giảm 3,22%, măng tươi giảm 2,25%) nhờ nguồn cung dồi dào. Bình quân quý III/2025, CPI tăng 3,28% so cùng kỳ năm trước. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 11,40%, nhóm nhà ở - điện nước - VLXD tăng 5,95%, giáo dục tăng 3,48%, hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,25%. Ngược lại, nhóm giao thông giảm 1,04% chủ yếu do giá nhiên liệu giảm 5,99%, giá gas giảm 3,41%. Tốc độ tăng/giảm CPI 9 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước Bình quân 9 tháng năm 2025, CPI tăng 2,92% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 14,56% (tác động CPI tăng 0,90 điểm %), nhóm nhà ở - điện nước tăng 5,07% (tác động CPI tăng 0,76 điểm %), giá điện sinh hoạt tăng 8,17% sau hai đợt điều chỉnh giá của EVN, giá gas tăng 0,55%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,86% (thực phẩm tăng 3,31%, thịt lợn tăng 9,15%), nhóm vàng tăng 24,70%, bảo hiểm y tế tăng 19,11%, may mặc tăng 1,09%, đồ uống và thuốc lá tăng 2,54%. Ở chiều giảm, nhóm lương thực giảm 0,67% (gạo giảm 1,59%), nhóm giao thông giảm 2,29% do nhiên liệu giảm 9,97%. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý III/2025 giảm 5,93% so với quý trước. Trong ba nhóm chính, nhóm nông nghiệp và dịch vụ liên quan giảm 6,40%; nhóm thủy sản khai thác - nuôi trồng giảm 0,38%; nhóm lâm nghiệp và dịch vụ liên quan tăng 0,71%. So với quý cùng kỳ tăng 4,60%, cả ba nhóm sản phẩm đều ghi nhận mức tăng: nông nghiệp tăng 4,65%, lâm nghiệp tăng 3,61%, thủy sản tăng 3,93%. Bình quân 9 tháng năm 2025, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm nông nghiệp tăng 20,49%, lâm nghiệp tăng 2,80% và thủy sản tăng 3,98%. Chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý III/2025 tăng 3,88% so với cùng kỳ năm trước, với mức tăng ở tất cả 7 nhóm sản phẩm: Nhóm nông, lâm, thủy sản tăng 5,24%; sản phẩm khai khoáng tăng 11,58%; nguyên vật liệu tăng 1,22%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,42%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,83%; sản phẩm xây dựng tăng 3,09%; dịch vụ chuyên môn khoa học - công nghệ tăng 3,08%. Tính chung 9 tháng năm 2025, chỉ số này tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý III/2025 giảm 2,01% so với quý trước nhưng vẫn tăng 4,57% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng tăng 12,55%, trong đó: nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 2,7% (nhờ giá cát, đá, sỏi, đất sét tăng do nhu cầu xây dựng cao và nguồn cung hạn chế); nhóm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,92% khi hầu hết sản phẩm đều tăng giá; nhóm điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng mạnh 33,92% (chủ yếu do sản lượng điện thực tế từ thủy điện Hàm Thuận - Đa Mi và công ty VR Bảo Lộc cao hơn hợp đồng giao); nhóm nước tự nhiên khai thác, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,13% (do điều chỉnh giá dịch vụ thu gom và xử lý rác thải). 3. Hoạt động du lịch Hoạt động du lịch trong 9 tháng năm 2025 diễn ra sôi nổi thu hút lượng khách tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Các kỳ nghỉ tết, lễ nhiều ngày, tại địa phương diễn ra các hoạt động văn hóa, thể thao (Tết Novaworld, khai mạc phố ẩm thực đêm, Lễ hội đua thuyền thúng, giải chạy vượt đồi cát Mũi Né, giải leo núi Tà Cú, giải vượt đồi cát Bình Thạnh, giải Lướt ván buồm quốc tế Mũi Né mở rộng, chuỗi sự kiện “Chào hè - Summer Fest 2025” với nhiều hoạt động thú vị, hấp dẫn như: Bắn pháo hoa nghệ thuật, Lễ hội té nước, Show thời trang Summer Fashion Fest, Lễ hội bia, Cuộc thi Nhóm nhảy hiện đại - Cúp Quốc tế Hoa Sen Home - Đà Lạt 2025 tại Quảng trường Lâm Viên, chương trình đi bộ cộng đồng “Cùng Việt Nam tiến bước” tại khu vực hồ Xuân Hương và ”Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch năm 2025” với chủ đề “Lâm Đồng - Hội tụ tinh hoa, Kết nối cảm xúc”, nhằm quảng bá thương hiệu du lịch, kích cầu sản phẩm du lịch mới tại các địa phương như Đà Lạt, Gia Nghĩa, Phan Thiết và Mũi Né với hàng loạt hoạt động phong phú như: khảo sát sản phẩm du lịch; trưng bày, giới thiệu sản phẩm OCOP và nông sản đặc trưng; tổ chức Tháng văn hóa đường phố Mũi Né; không gian âm nhạc - văn hóa dân tộc; chương trình kích cầu du lịch; cùng các hoạt động hưởng ứng của các xã, phường, đặc khu....) thu hút đông đảo khách du lịch đến tỉnh. Đặc biệt, chuỗi sự kiện quy mô kỷ niệm 50 năm giải phóng quê hương Bình Thuận và Ngày Giải phóng miền Nam, chương trình nghệ thuật “Non sông thống nhất” (Festival khinh khí cầu, bắn pháo hoa nghệ thuật tầm cao, chương trình biểu diễn nghệ thuật tổng hợp,…) đã tạo sức hút lớn. Bên cạnh đó công tác xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch được đẩy mạnh, cũng như những yếu tố thuận lợi về giao thông, thời tiết,…đã làm cho lượt khách đến tỉnh tăng khá. Lượt khách du lịch trong tháng ước đạt 1.849,5 ngàn lượt khách, tăng 1,08% so tháng trước và tăng 36,3% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách phục vụ trong ngày ước đạt gần 75,7 ngàn lượt khách, tăng 3,13% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.219,7 ngàn ngày khách, tăng 0,57% so với tháng trước và tăng 36,89% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 lượt khách ước đạt 5.606,3 lượt khách, tăng 23,57% so với quý cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách phục vụ trong ngày ước đạt 230,5 ngàn lượt khách, tăng 14,74% so với quý cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 9.861,5 ngàn ngày khách, tăng 25,34% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025 lượng khách du lịch ước đạt 15.255,1 ngàn lượt khách, tăng 17,58% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách phục vụ trong ngày ước đạt 605,2 ngàn lượt khách, tăng 10,7% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 27.490,5 ngàn ngày khách, tăng 20,21% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 77,2 ngàn lượt khách, tăng 7,06% so với tháng trước và tăng 9,42% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 162,4 ngàn ngày khách, tăng 10,34% so với tháng trước và tăng 11,33% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 lượt khách quốc tế ước đạt 219,5 ngàn lượt khách, tăng 2,15% so với quý cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 449,9 ngàn ngày khách, tăng 5,2% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 915 ngàn lượt khách, tăng 33,16% so với cùng kỳ năm trước, ngày khách phục vụ ước đạt 2.440,1 ngàn ngày khách, tăng 31,59% so với cùng kỳ năm trước. Từ đầu năm 2025 đến nay, lượng khách quốc tế đến Lâm Đồng tăng mạnh, chiếm tỷ trọng lớn: Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga, Malaixia, Mỹ, Đức…. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 978,9 tỷ đồng, tăng 0,42% so với tháng trước và tăng 37,23% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.211,3 tỷ đồng, tăng 4,24% so với tháng trước và tăng 33,85% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động lữ hành hỗ trợ du lịch ước đạt 16,5 tỷ đồng, tăng 0,61% so với tháng trước và giảm 49,13% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 2.961,2 tỷ đồng, tăng 24,15% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 12.192,4 tỷ đồng, tăng 22,66% so với quý cùng kỳ năm trước; hoạt động lữ hành hỗ trợ du lịch ước đạt 66 tỷ đồng, giảm 37,66% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 7.984,2 tỷ đồng, tăng 18,21% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt gần 33.074,5 tỷ đồng, tăng 15,75% so với cùng kỳ năm trước; hoạt động lữ hành hỗ trợ du lịch ước đạt 424,7 tỷ đồng, tăng 63,24% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 4.793,7 tỷ đồng tăng 0,74% so với tháng trước và tăng 37,1% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 ước đạt 14.674,8 tỷ đồng, tăng 24,35% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 40.272 tỷ đồng, tăng 18,36% so với cùng kỳ năm trước.Lượt khách và ngày khách phục vụ 9 tháng qua các năm  4. Hoạt động dịch vụ khác Trong tháng, doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.517,6 tỷ đồng, tăng 6,46% so với tháng trước và tăng 11,35% so với cùng kỳ. Trong đó, dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 304,7 tỷ đồng, tăng 2,72% so với tháng trước và tăng 21,36% so với cùng kỳ; hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 109,8 tỷ đồng, tăng 2,27% và tăng 11,35%; giáo dục và đào tạo đạt 84,6 tỷ đồng, tăng 1,5% và tăng 21,41%; y tế và trợ giúp xã hội đạt 131,6 tỷ đồng, tăng 4,73% so với tháng trước nhưng giảm nhẹ 0,05% so với cùng kỳ; nghệ thuật, vui chơi, giải trí đạt 1.345,8 tỷ đồng, tăng 9,35% và tăng 8,28%; dịch vụ khác đạt 541,2 tỷ đồng, tăng 3,84% và tăng 15,85%. Tính chung quý III/2025, doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 7.442,3 tỷ đồng, tăng 12,15% so với cùng kỳ. Riêng dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 882,1 tỷ đồng, tăng 19,97%; hành chính và hỗ trợ đạt 323 tỷ đồng, tăng 13,83%; giáo dục và đào tạo đạt 231,1 tỷ đồng, tăng 29,17%; y tế và trợ giúp xã hội đạt 386,5 tỷ đồng, tăng 11,52%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí đạt 4.051,5 tỷ đồng, tăng 9,45%; dịch vụ khác đạt 1.568,1 tỷ đồng, tăng 12,85%. Lũy kế 9 tháng năm 2025, doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 21.402,1 tỷ đồng, tăng 10,69% so với cùng kỳ. Trong đó, kinh doanh bất động sản đạt 2.353,1 tỷ đồng, tăng 15,18%; hành chính và hỗ trợ đạt 954,3 tỷ đồng, tăng 16%; giáo dục và đào tạo đạt 669 tỷ đồng, tăng 35,17%; y tế và trợ giúp xã hội đạt 1.086,1 tỷ đồng, tăng 12,37%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí đạt 11.834,2 tỷ đồng, tăng 8,72%; dịch vụ khác đạt 4.505,4 tỷ đồng, tăng 9,23%. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải kho bãi 9 tháng năm 2025 diễn ra khá nhộn nhịp. Đặc biệt những dịp nghỉ Lễ, Tết dài ngày trong năm và các ngày nghỉ cuối tuần nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa phục vụ người dân tăng cao.  - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.275,9 nghìn hành khách (HK), tăng 3,44% so với tháng trước và tăng 23,51% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 601.670,2 nghìn HK.Km, tăng 3,29% so với tháng trước và tăng 20,94% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 lượt khách vận chuyển ước đạt 12.444,4 nghìn HK, tăng 18,99% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.758.477,3 nghìn HK.Km, tăng 16,41% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 35.050,6 nghìn HK, tăng 12,89% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 5.116.290,5 nghìn HK.Km, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.039,4 nghìn tấn, tăng 6,73% so với tháng trước và tăng 9,15% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 308.152,1 nghìn tấn.Km, tăng 4,76% so với tháng trước và tăng 14,59% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 khối lượng vận chuyển ước đạt 5.927,9 nghìn tấn, tăng 6,65% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 882.078,4 nghìn tấn.Km, tăng 9,50% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 16.909,5 nghìn tấn, tăng 5,45% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.477.649,1 nghìn tấn.Km, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.292,7 tỷ đồng, tăng 4,38% so với tháng trước và tăng 21,38% so với cùng kỳ năm trước. Quý III/2025 ước đạt 3.742,0 tỷ đồng, tăng 16,76% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 10.695,6 tỷ đồng, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 4.610,6 tỷ đồng, tăng 20,32% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 4.492 tỷ đồng, tăng 5,78%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.545,8 tỷ đồng, tăng 38,56%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 47,1 tỷ đồng, tăng 13,39%.- Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 1.538,4 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.449,9 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 88,5 nghìn tấn (túi xi măng, máy móc, muối xá). Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi 9 tháng các năm V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn trong tháng ước đạt 2.264,5 tỷ đồng, tăng 30,61% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 2.136 tỷ đồng, tăng 32,6%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 128,4 tỷ đồng, tăng 4,49%. Lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 23.073,9 tỷ đồng, bằng 81,7% kế hoạch năm và tăng 16,44% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 21.822,4 tỷ đồng, bằng 82,0% kế hoạch năm và tăng 17,91% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.142,1 tỷ đồng, bằng 69,7% kế hoạch năm và giảm 12,69% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa 9 tháng năm 2025: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.069,9 tỷ đồng (bằng 122,25% kế hoạch năm và tăng 88,07% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.077,2 tỷ đồng (bằng 87,66% kế hoạch năm và tăng 24,18%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 4.747,2 tỷ đồng (bằng 74,84% kế hoạch năm và tăng 3,43%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 2.300,9 tỷ đồng (bằng 89,11% kế hoạch năm và tăng 19,15%); các khoản thu về nhà, đất 3.4442,1 tỷ đồng (bằng 69,01% kế hoạch năm và tăng 24,63%); thu phí và lệ phí 1.638 tỷ đồng (bằng 90,25% kế hoạch năm và tăng 22,67%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 3.707,3 tỷ đồng (bằng 82,53% kế hoạch năm và tăng 2,25%).Tổng thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn 9 tháng các năm (ĐVT: tỷ đồng) 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn trong tháng ước đạt 2.662 tỷ đồng, lũy kế 9 tháng năm 2025 ước đạt 32.940 tỷ đồng, bằng 68,65% kế hoạch năm và tăng 23,58% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi đầu tư phát triển 11.512 tỷ đồng, tăng 15,23%; chi thường xuyên 21.252 tỷ đồng, bằng 74,02% kế hoạch năm và tăng 27,58%. Một số lĩnh vực chi chủ yếu trong chi thường xuyên từ ngân sách địa phương 9 tháng đầu năm 2025: chi giáo dục, đào tạo và dạy nghề ước đạt 9.103 tỷ đồng, tăng 38,21% so với cùng kỳ năm trước; chi quản lý hành chính, đảng, đoàn thể ước đạt 4.434 tỷ đồng, tăng 35,94%; chi hoạt động sự nghiệp kinh tế ước đạt 1.701 tỷ đồng, tăng 18,33%; chi đảm bảo xã hội ước đạt 1.022 tỷ đồng, tăng 12,64%; chi sự nghiệp y tế, dân số và kế hoạch gia đình ước đạt 1.846 tỷ đồng, tăng 11,31%; chi sự nghiệp bảo vệ môi trường ước đạt 286 tỷ đồng, tăng 14,20%. 3. Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng trên địa bàn tỉnh trong tháng ổn định, an toàn, thông suốt. Uớc đến ngày 30/9/2025, huy động vốn đạt 222.000 tỷ đồng, tăng 17,74% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó: huy động vốn bằng đồng VN là 219.829 tỷ đồng, tăng 17,69% (chiếm 99,02%); huy động vốn bằng ngoại tệ 2.171 tỷ đồng, tăng 22,97% (chiếm 0,98%). Ước đến ngày 30/9/2025, dư nợ tín dung đạt 361.000 tỷ đồng, tăng 11,08% so với cùng kỳ năm 2024, trong đó: dư nợ bằng đồng VN 359.039 tỷ đồng, tăng 11,10% (chiếm 99,46%); dư nợ bằng ngoại tệ 1.962 tỷ đồng, tăng 7,99% (chiếm 0,54%). Dư nợ ngắn hạn là 259.500 tỷ đồng, tăng 10,88%, dư nợ trung và dài hạn 101.500 tỷ đồng, tăng 11,62%. Tính đến ngày 31/7/2025, nợ xấu trên địa bàn 7.451 tỷ đồng, chiếm 2,1% trong tổng dư nợ trên địa bàn. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 1,45% - 3,82%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 2,46% - 4,66%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 3,27% - 5,24%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 4,05% - 5,66%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng ưu tiên cho vay các đối tượng ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, ngắn hạn ở mức 4,74% - 9,95%/năm, trung dài hạn 4,33% - 10,13%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,82%/năm. Chi Tính đến ngày 31/7/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 182.000 tỷ đồng, chiếm 52%; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 31.500 tỷ đồng, chiếm 9%; ngành nông nghiệp đạt 136.500 tỷ đồng, chiếm 39%. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1 Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Tổ chức tuyên truyền phục vụ kỷ niệm 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025) và các ngày lễ, kỷ niệm, sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và địa phương. Trong tháng đã thực hiện 670,6m2 pano, 90m2 tranh cổ động tấm lớn, 16m2 banner, 320m2 cờ phướn khung sắt, 19,2m2 standy, 60m2 cổng chào, 80 lá cờ phướn; trưng bày, giới thiệu 150 hình ảnh về đất và người Lâm Đồng cùng công cuộc phát triển của tỉnh tại chương trình Dạ hội Điện ảnh chủ đề “Sắc màu Việt Nam”; triển lãm 130 hình ảnh tư liệu với chủ đề “Hồ Chí Minh - Chân dung một con người” tại Khu Di tích Dục Thanh - Bảo tàng Hồ Chí Minh - Bình Thuận. Tập trung chuẩn bị công tác tuyên truyền cổ động trực quan Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030; Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 và Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Ngoài ra tham gia triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tại thành phố Hà Nội thu hút hơn 5 triệu lượt khách đến tham quan. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức biểu diễn các chương trình nghệ thuật chào mừng các ngày lễ lớn và phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương; đặc biệt là chương trình nghệ thuật kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với chủ đề “Tự hào Tổ quốc tôi” tại phường Xuân Hương - Đà Lạt và các chương trình văn nghệ phục vụ các nghiệm vụ chính trị; tổ chức biểu diễn âm nhạc đường phố phục vụ nhân dân, du khách vào Thứ 7, Chủ nhật hàng tuần tại phường Xuân Hương - Đà Lạt và phường Phan Thiết; duy trì biểu diễn văn nghệ thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show-Mũi Né; ngoài ra đã thực hiện 40 buổi chiếu phim phục vụ nhân dân tại các địa phương trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng (từ ngày 11/8-10/9/2025): Đã đón 25.687 lượt khách (Nhà trưng bày trung tâm Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng đón 1.488 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt đón 1.664 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên đón 398 lượt; Nhà trưng bày Bảo tàng - cơ sở 1 đón 413 lượt; Nhà trưng bày Trung tâm văn hóa Chăm và di tích Tháp Pô Sah Inư đón 21.208 lượt và cơ sở 2 Đắk Nông đón 516 lượt). Thực hiện trưng bày triển lãm chuyên đề “Âm vang Ngày Độc Lập” kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9; tổ chức Lễ công bố Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc công nhận bảo vật quốc gia đối với Tượng Avalokitesvara Bắc Bình và tổ chức trưng bày, triển lãm hiện vật, hình ảnh, giới thiệu sách tiêu biểu của tỉnh Lâm Đồng năm 2025. + Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 345 đoàn với 8.679 lượt người, trong đó có 67 khách nước ngoài. Phục vụ 24 lễ viếng, 01 kết nạp Đảng. Trưng bày triển lãm 130 hình ảnh tư liệu với chủ đề “Hồ Chí Minh - Chân dung một con người” tại Khu Di tích Dục Thanh phục vụ nhân dân và du khách; tổ chức thực hiện 02 phóng sự triển lãm ảnh “Hồ Chí Minh - chân dung một con người” và “Bảo tàng Hồ Chí Minh, di tích Dục Thanh - điểm đến của trái tim”. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận: Tiếp đón 1.795 lượt khách (15 đoàn) đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Tổ chức hoạt động “Nghĩa tình vùng cao” thăm hỏi và tặng quà một số gia đình chính sách, người có công với cách mạng trên địa bàn xã Đông Giang nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 172 thẻ bạn đọc (71 thẻ thiếu nhi); phục vụ 73.371 lượt bạn đọc; luân chuyển 11.180 lượt tài liệu; bổ sung 168 cuốn sách; xử lý kỹ thuật 961 bản sách; nhập dữ liệu 361 biểu ghi; số hóa 17.784 trang tài liệu. Phát hành 01 tập Thông tin tư liệu Lâm Đồng tháng 8/2025 với 100 tin, bài; xuất bản 02 tập thông tin chuyên đề và giới thiệu 14 bản sách mới. Trưng bày theo chuyên đề 05 đợt/798 tài liệu và trưng bày, giới thiệu sách và văn hóa các dân tộc tỉnh Lâm Đồng với chủ đề “Sách - ánh sáng tri thức và nhân loại”; đồng thời tổ chức các hoạt động chào mừng 80 năm ngày Cách mạng Tháng Tám và ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức các giải Bóng đá 7 người tìm kiếm tài năng Lâm Đồng - Tranh Cúp BVTV Liên Nông lần thứ I năm 2025; Giải chạy gây quỹ trồng rừng “Rim For green - 2025”; Giải Vô địch carom trẻ Quốc gia 2025 và Giải vô địch Carom Cúp Quốc gia VBSF - Aplus 2025. - Thể thao thành tích cao: Tiếp tục củng cố lực lượng vận động viên (VĐV), nâng cao chất lượng công tác đào tạo, huấn luyện và cử VĐV tham gia các giải thể thao quốc gia, quốc tế theo kế hoạch. Cử đoàn VĐV tham gia 12 giải, đạt 169 huy chương (61 HCV, 44 HCB, 64 HCĐ). Tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm ngày 15/9: Đạt 610 huy chương (153 HCV, 163 HCB, 294 HCĐ), trong đó 44 huy chương quốc tế (13 HCV, 18 HCB, 13 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Hoạt động giáo dục ổn định và đi vào nền nếp. Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 1.605 trường học (cơ sở giáo dục) với 808.873 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 527 trường với 117.925 trẻ; cấp tiểu học có 565 trường với 322.382 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 243.173 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 120.809 học sinh. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế - Phòng chống sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm khác: Trong tháng phát hiện 1.495 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 649 ca so với tháng trước; có 01 ca tử vong. Lũy kế 9 tháng, toàn tỉnh có 4.018 ca mắc, 02 ca tử vong. Trong tháng có 249 ổ dịch được phát hiện xử lý, lũy kế 9 tháng đã xử lý 729 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng có 01 ca mắc; lũy kế 9 tháng, toàn tỉnh có 03 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 202 ca mắc, giảm 17 ca so với tháng trước; lũy kế 9 tháng, toàn tỉnh có 1.729 ca mắc. Trong tháng phát hiện 03 ổ dịch mới (Lâm Hà: 02, Đà Lạt: 01), lũy kế 9 tháng đã phát hiện 10 ổ dịch bệnh tay chân miệng. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, tiêm chủng đầy đủ cho 3.885 trẻ dưới 1 tuổi, lũy kế 9 tháng đã tiêm cho 31.394 trẻ. Tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 5.367 trẻ, lũy kế 9 tháng đã tiêm cho 32.096 trẻ. Tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.146 trẻ, lũy kế 9 tháng đã tiêm cho 32.861 trẻ. Tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 2.799 trẻ, lũy kế 9 tháng đã tiêm cho 31.777 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 2 cho 3.661 trẻ, lũy kế 31.343 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 4.059 trẻ, lũy kế 9 tháng đã tiêm cho 28.428 trẻ. - Công tác phòng chống Phong: Trong tháng không phát hiện bệnh phong mới, duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Toàn tỉnh hiện quản lý 136 bệnh nhân phong, đang điều trị 01 bệnh nhân và đang giám sát 04 bệnh nhân, chăm sóc tàn tật 135 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Trong tháng, khám phát hiện 68 bệnh nhân lao mới, trong đó có 51 bệnh nhân lao phổi AFB (+); toàn tỉnh quản lý điều trị 612 bệnh nhân lao. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 4 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 01 trường hợp chuyển AIDS, không có tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.518 người mắc HIV, chuyển AIDS 1.767 người và có 874 người tử vong do AIDS. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 486.315 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 39.884 người, số ngày điều trị nội trú 241.539 ngày, xét nghiệm cho 790.807 tiêu bản, chẩn đoán 135.434 hình ảnh, phẫu thuật 5.442 trường hợp. Lũy kế 9 tháng đã tổ chức khám bệnh cho 4.090.014 lượt người; 343.558 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.961.516 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,05 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 87,06%; đã xét nghiệm cho 6.416.000 tiêu bản; chẩn đoán 1.139.663 hình ảnh và phẫu thuật cho 42.582 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 24 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 784 cơ sở, kết quả có 710 cơ sở đạt yêu cầu, 11 cơ sở vi phạm bị xử lý (phạt cảnh cáo 02 cơ sở và 09 cơ sở bị phạt với tổng số tiền 26,75 triệu đồng). Lũy kế 9 tháng, toàn tỉnh đã thành lập 682 đoàn kiểm tra tại 13.725 cơ sở, kết quả có 12.915 cơ sở đạt và 97 cơ sở vi phạm bị xử lý (phạt cảnh cáo 02 cơ sở và 95 cơ sở bị phạt với tổng số tiền 562,13 triệu đồng). Trong tháng không xảy ra ngộ độc thực phẩm; lũy kế 9 tháng, toàn tỉnh xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 98 người mắc, có 01 trường hợp tử vong do ăn cá nóc. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông chuẩn bị cho các sự kiện lớn của tỉnh: Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và Hội nghị Xúc tiến đầu tư tỉnh Lâm Đồng năm 2025. Đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số; thường xuyên rà soát thông tin trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng (Trong tháng 9 (từ ngày 15/8-15/9), có 16.726 tin, bài viết; trong đó có 9.791 tin, bài viết có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; tin, bài tích cực 12.546/16.726 (tỷ lệ 75%); tiêu cực 4.183/16.726 tin, bài (tỷ lệ 25%)). Các cơ quan báo chí đã tập trung tuyên truyền, phản ánh các hoạt động của các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh... Quan rà soát, không có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Hoạt động thông tin đối ngoại được triển khai theo kế hoạch. Triển khai tốt công tác tuyên truyền về các ngày lễ, ngày kỷ niệm, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và địa phương. Các cơ quan báo chí, truyền thông thường xuyên tăng thời lượng, dung lượng, lồng ghép các chuyên mục, chương trình thời sự tuyên truyền các sự kiện kỷ niệm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và “Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng năm 2025. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản ấn phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 02 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh và 01 giấy phép tổ chức triển lãm/hội chợ xuất bản phẩm. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số và tôn giáo 5.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ổn định. Mạng lưới giáo dục, y tế tiếp tục được đầu tư, cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập và chăm sóc sức khoẻ người dân; công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lễ hội truyền thống được quan tâm thực hiện, các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được bảo tồn, phát huy; một số hoạt động văn hóa truyền thống của đồng bào được triển khai kết hợp với phát triển du lịch tại địa phương. Trong tháng, tình hình sản xuất và đời sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Kinh tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được tập trung đầu tư và đạt được một số kết quả nhất định. Đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh thu hoạch vụ mùa; gieo trồng, xuống giống, chăm sóc các loại cây trồng và hoa màu; một số loại cây trồng, con giống mới có năng suất, chất lượng cao được đồng bào đưa vào nuôi, trồng trên diện rộng; chăn nuôi gia súc, gia cầm được duy trì ổn định; các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, tiêm phòng được tăng cường, dịch bệnh trên cây trồng được kiểm soát; các chương trình, chính sách, dự án trong vùng đồng bào dân tộc được triển khai toàn diện trên các lĩnh vực. 5.2. Chính sách tôn giáo Các hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và tuân thủ pháp luật, đảm bảo theo đúng hiến chương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích và phương châm hành đạo của các tôn giáo. Đã đăng ký thành lập 38 tổ chức tôn giáo trực thuộc (Công giáo: 07, Tin Lành: 04, Phật giáo: 27 Ban quản trị); chấp thuận bổ nhiệm 26 chức việc (Công giáo: 08, Phật giáo: 16, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam: 01, Tin Lành: 01); xác nhận thông báo phong phẩm 34 chức sắc (Công giáo: 30, Giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam: 01, Tin Lành: 03); xác nhận tiếp nhận thông báo kết quả bổ nhiệm 22 trường hợp Phật giáo; thuyên chuyển 19 chức sắc (Phật giáo: 03, Công giáo: 15, Tin Lành: 01); tiếp nhận thông báo cách chức, bãi nhiệm 01 trường hợp Phật giáo; tiếp nhận thông báo danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung 04 trường hợp (Phật giáo: 03, Công giáo 01); tổ chức các cuộc lễ (Vu lan, Bồi linh, lễ kỷ niệm thành lập giáo xứ…); mời người nước ngoài vào hoạt động tôn giáo; giao đất tôn giáo; một số tôn giáo tổ chức đoàn tham dự Đại hội cấp trên…. Nhìn chung, các chính sách về tôn giáo được triển khai bình đẵng, có hiệu quả nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời duy trì ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn tỉnh. 6. Công tác xóa nhà tạm, nhà dột nát Tính đến ngày 31/8/2025, đã hoàn thành Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát trên địa bàn tỉnh. Toàn tỉnh đã hoàn thành 5.691 căn nhà, trong đó hoàn thành 3.862/3.862 căn theo Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát do Thủ tướng Chính phủ phát động. 7. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 31/8/2025, toàn tỉnh có 276.223 người tham gia BHXH, tăng 0,65% so với tháng trước và tăng 3,37% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 232.579 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 0,03% so với cùng kỳ năm trước; 43.644 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 25,75% so với cùng kỳ năm trước); có 212.452 người tham gia BHTN, tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.912.742 người, tăng 1,17% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 87,08% dân số. Trong tháng, đã giải quyết mới 8.633 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.391 người; lũy kế đến ngày 31/8/2025, đã giải quyết mới 80.550 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 15.320 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng là 3.041 người; trợ cấp 1 lần là 22.177 người; chế độ ốm đau là 42.925 người; chế độ thai sản là 9.447 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe là 2.960 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng là 14.295 người; số người được hỗ trợ học nghề là 1.025 người). Tiếp nhận, giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177 và 178 là 272 người (lũy kế: 1.545 người). 8. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/8-14/9/2025) Trên địa bàn tỉnh xảy ra 100 vụ tai nạn giao thông, tăng 40 vụ so với tháng trước và tăng 4 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 49 người, tăng 20 người so với tháng trước và tăng 04 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương 76 người, tăng 30 người so với tháng trước và tăng 17 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 9 tháng, toàn tỉnh xảy ra 667 vụ tai nạn giao thông, giảm 259 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 329 người, giảm 15 người; số người bị thương 526 người, giảm 254 người so với cùng kỳ năm trước. Tổng số phương tiện hiện đang quản lý 222.702 xe ô tô; 2.990.801 xe môtô. Trên đường bộ, ngành chức năng đã phát hiện, xử lý 15.299 trường hợp vi phạm luật giao thông; tổng số tiền xử phạt trên 14,3 tỷ đồng; tước 156 giấy phép lái xe; tạm giữ 1.357 xe mô tô, 23 xe ô tô. Trên đường thủy, phát hiện lập biên bản 10 trường hợp vi phạm, xử phạt 13,6 triệu đồng. 9. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng xảy ra 05 vụ thiên tai (mưa lớn kèm gió lốc giật mạnh) làm 01 người bị thương và 02 người chết. Thiên tai làm hư hại 105 căn nhà; ngập úng hư hại 1.260 ha cây trồng và hoa màu (trong đó: 939 ha lúa, 321 ha hoa màu); 14 cầu dân sinh bị đứt gãy hoàn toàn, 01 cống tiêu nước và 01 cống thoát nước bị bị gãy sụp; mưa lũ đã gây ra 44 vụ sạt lở đất gây hư hỏng một số hạ tầng, đường giao thông và công trình dân sinh khác; nhiều tuyến đường bị ngập lụt, gây cản trở giao thông trong khu vực; ước tính giá trị thiệt hại khoảng 30,68 tỷ đồng. Lũy kế 9 tháng xảy ra 24 vụ thiên tai (mưa lớn kèm dông, lốc, mưa đá và gió giật mạnh), ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 70,875 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng xảy ra 03 vụ cháy nổ, không có thiệt hại về người, chưa thống kê được giá trị thiệt hại về tài sản. - Tình hình cứu nạn cứu hộ: Trong tháng xảy ra 07 vụ sự cố tai nạn, cứu được 14 người, tìm được là 03 thi thể nạn nhân. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra. Lũy kế 9 tháng xảy ra 18 vụ, giảm 24 vụ so cùng kỳ năm trước; đã xử phạt là 3,28 tỷ đồng (cùng kỳ năm trước xảy ra 42 vụ vi phạm, xử phạt 1,73 tỷ đồng). * Đánh giá chung: Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng trong 9 tháng đầu năm 2025 vẫn duy trì được sự ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực trên hầu hết các lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tăng 6,42% so với cùng kỳ năm trước, với xu hướng tăng trưởng tốt dần lên qua các quý, đặc biệt quý III tăng trưởng mạnh ở mức 7,15%. Động lực tăng trưởng chính đến từ khu vực dịch vụ với mức tăng 8,01%, đóng góp tới 3,52 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung. Lĩnh vực nông nghiệp tiếp tục vai trò là trụ đỡ của nền kinh tế khi sản xuất duy trì ổn định, sản lượng lương thực tăng 0,93%, và diện tích nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được mở rộng. Ngành công nghiệp cho thấy sự phục hồi tích cực với chỉ số sản xuất (IIP) tăng 4,34%, đóng góp bởi ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,81%. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động, trở thành điểm sáng nổi bật nhất. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,75%, ngành du lịch tăng mạnh thu hút gần 15,3 triệu lượt khách (tăng 17,58%), đặc biệt là lượng khách quốc tế tăng 33,16%. Môi trường đầu tư ghi nhận tín hiệu lạc quan khi tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 8,25%, cùng với số doanh nghiệp thành lập mới tăng cao 71,77%. Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả khả quan, tăng 16,44% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, nền kinh tế của tỉnh vẫn đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Số doanh nghiệp giải thể tăng 30% và tạm ngừng kinh doanh tăng 2,7%. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt kế hoạch, trong khi một số dự án hạ tầng trọng điểm còn triển khai chậm, ảnh hưởng đến động lực tăng trưởng chung. Trong sản xuất công nghiệp, một số sản phẩm chủ lực gặp khó khăn do chi phí nguyên vật liệu tăng cao và cạnh tranh gay gắt, dẫn đến sản lượng sụt giảm; thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu giảm 12,69%, phản ánh khó khăn từ thị trường bên ngoài. Ngoài ra, các yếu tố rủi ro khác vẫn hiện hữu như tình hình thiên tai diễn biến phức tạp gây thiệt hại về kinh tế; tình hình tai nạn giao thông tuy có giảm trong 9 tháng nhưng lại có dấu hiệu phức tạp trở lại trong tháng gần nhất.Thống kê tỉnh Lâm Đồng ([1]) OECD, IMF, UN và FR dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2025 lần lượt đạt 3,2%, 3,0%, 2,5% và 2,4%. ([2]) ADB dự báo kinh tế Việt nam tăng 6,7%, WB ở mức 6,6% và IMF 6,5%.

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 8 VÀ 8 THÁNG NĂM 2025 TỈNH LÂM ĐỒNG
  •   03/09/2025 20:39

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tại các địa phương trong tháng ổn định; tập trung chủ yếu gieo trồng, chăm sóc, bón phân cây trồng vụ hè thu; một số địa phương thu hoạch các loại cây hàng năm (ngô, rau, hoa); tiếp tục trồng mới, tái canh cải tạo, tưới tiêu chăm sóc cây lâu năm; công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi được triển khai kịp thời. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp tập trung chủ yếu trồng cây lâm nghiệp phân tán theo Đề án 1836 và trồng 50 triệu cây xanh; chăm sóc rừng trồng; tận thu khai thác gỗ và lâm sản theo kế hoạch. Một số địa phương nuôi trồng thủy sản gặp khó khăn do giá một số sản phẩm nuôi trồng giảm, sản lượng khai thác thủy sản biển ổn định. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm: Thời tiết mưa đều khắp các địa phương trong tỉnh, tạo độ ẩm cần thiết cho đất và thuận lợi cho công tác gieo trồng, cũng như tình hình sinh trưởng phát triển của cây trồng. Tổng diện tích gieo trồng ước 8 tháng năm 2025 đạt 267.481,4 ha; tăng 1,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngô gieo trồng đạt 38.999,3 ha, tăng 0,99%; rau các loại gieo trồng đạt 62.104,4 ha, tăng 1,42%; đậu các loại gieo trồng đạt 12.354,1 ha, tăng 3,14%; hoa các loại gieo trồng đạt 8.126,9 ha, tăng 3,89%. - Tiến độ sản xuất vụ hè thu: Tính đến ngày 20/8/2025, toàn tỉnh đã tiến hành gieo trồng vụ hè thu đạt 146.913,3 ha, tăng 1,99% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lúa gieo cấy đạt 48.291,2 ha, tăng 0,36%; ngô đạt 31.789,0 ha, tăng 2,01%; khoai lang đạt 3.808,4 ha, tăng 0,76%; đậu các loại đạt 8.341,7 ha, tăng 6,55%; rau các loại đạt 33.296,7 ha, tăng 2,28%; hoa các loại gieo trồng đạt 3.865,5 ha, tăng 4,86% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh duy trì và phát triển ổn định, trong đó các cây trồng chủ lực tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. Hiện nay đang vào mùa mưa, nông dân tiếp tục tập trung thu hoạch và chăm sóc diện tích cây lâu năm hiện có, cụ thể một số cây chính sau: - Cây cà phê đang giai đoạn kết trái vì vậy việc chăm sóc, tỉa cành được chú trọng, ước diện tích đạt 327.629,0 ha, tăng 0,95% so với cùng kỳ năm trước; - Cây chè người dân tiến hành làm cỏ, chặt tỉa cành già cỗi, bón phân, tưới nước để cây sinh trưởng phát triển tốt cho nhiều búp, ước diện tích đạt 9.411,2 ha, giảm 4,13% so với cùng kỳ năm trước; - Cây điều nhiều vườn già cỗi, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao khiến người dân có xu hướng chuyển sang cây trồng khác, ước diện tích đạt 49.235,2 ha, giảm 7,59% so với cùng kỳ năm trước; - Cây tiêu mặc dù giá tiêu trên thị trường có tín hiệu tăng, nhưng chi phí chăm sóc cao, sâu bệnh diễn biến phức tạp nên diện tích tăng không đáng kể, ước diện tích đạt 37.193,2 ha, tăng 0,63% so với cùng kỳ năm trước; - Cây sầu riêng tiếp tục phát triển mạnh về diện tích và sản lượng, ước diện tích đạt 42.532,0 ha, tăng 1,53% so với cùng kỳ năm trước; - Cây thanh long nhiều hộ đã chủ động đầu tư xử lý ra hoa trái vụ nhằm nâng cao giá trị kinh tế, diện tích 25.979,7 ha, giảm 2,78% so với cùng kỳ năm trước; - Cây cao su duy trì ổn định, diện tích 74.438,5 ha, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Toàn tỉnh hiện có 966 công trình thủy lợi; trong đó, có 536 hồ chứa; 255 đập dâng, 13 cống dâng; 51 trạm bơm; 91 đập tạm; 20 kênh tiêu cùng với khoảng 3.632 km kênh mương (đã kiên cố hóa được khoảng 1.940km, đạt 53%) và hệ thống đê biển, kè biển, kè sông. Dự kiến đến hết năm 2025, diện tích canh tác được tưới đạt trên 73,45% diện tích cần tưới, trong đó: diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt khoảng 150.128 ha; diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt khoảng 97.202 ha. Công tác đảm bảo an toàn hồ đập: Xây dựng bản đồ ngập lụt đối với 19 hồ chứa nước vừa và lớn trên địa bàn tỉnh. Tổ chức thẩm định báo cáo kinh tế kỹ thuật đối với 27 công trình; nghiệm thu đưa vào sử dụng 03 công trình thủy lợi. 1.4. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng: Trong tháng 8/2025, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Ốc bươu vàng gây hại 573,3 ha, tăng 222,9 ha so với cùng kỳ năm trước; bệnh đạo ôn lá gây hại 896 ha, giảm 15 ha; chuột gây hại 170 ha, giảm 95 ha tại các xã Nghị Đức, La Gi, Đồng Kho, Tánh Linh, Nam Thành, Bắc Ruộng, Đức Linh, Hàm Thạnh, Hoài Đức, Đơn Dương, Quảng Lập, Hiệp Thạnh, Đức Trọng, Hàm Thuận, Liên Hương,...; - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.212 ha, giảm 391,2 ha so với cùng kỳ năm trước tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Bắc Gia Nghĩa, Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 2.676 ha, tăng 1.456 ha so với cùng kỳ năm trước chủ yếu tại các xã Bảo Lâm 1, 2, 3, 4, 5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác; bọ xít muỗi gây hại 1.974 ha, tăng 332,8 ha; tại các xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; bệnh chết khô ngọn gây hại 103 ha tại xã Bảo Lâm 1, 2, 3, 4, 5; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 2.680 ha, giảm 503 ha so với cùng kỳ năm trước và bệnh thán thư gây hại 2.702 ha, giảm 494 ha tại các xã Cát Tiên 2; Đạ Tẻh 2, 3; Đạ Huoai; Đạ Huoai 3; Đam Rông 3, 4; Suối Kiết; Tân Minh; Hàm Tân; Tánh Linh; Nghị Đức; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 3.112 ha, tăng 381 ha so với cùng kỳ năm trước, ốc sên gây hại 822 ha, giảm 23 ha tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Tân Lập, Hàm Tân, Tuyên Quang, Tân Hải, Bình Thuận. Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất. 1.5.  Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Đến nay, toàn tỉnh có 107.217 ha diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, với 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa) và có 08 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận. - Quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói: + Mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói xuất khẩu: Trong tháng, không phát sinh mã mới được cấp; lũy kế đến nay, toàn tỉnh đã được cấp 954 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích 45.098,79 ha (gồm các loại cây như sầu riêng, thanh long, bưởi, dừa, xoài, chanh leo) và 339 cơ sở đóng gói (Các loại nông sản như trái sầu riêng, thanh long, xoài, dừa,...) với tổng diện tích nhà xưởng 532.259 m2. + Vùng sản xuất hạt giống rau xuất khẩu sang thị trường EU: Có 12 mã số vùng trồng với sản lượng trên 7.000 kg hạt giống ớt, cà chua/vụ. Bên cạnh đó, có 05 mã vùng trồng cây giống, ngọn giống của Công ty TNHH Đà Lạt Hasfarm đăng ký xuất khẩu quy mô gần 300.000 ngọn giống, cây giống/vụ. + Mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt: Không phát sinh mã mới được cấp; lũy kế đến nay, toàn tỉnh đã được cấp 271 mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt với tổng diện tích 2.641,58 ha. 1.6. Chương trình OCOP Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đang có 914 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP đã được chứng nhận, trong đó có: 75 sản phẩm 4 sao (trong đó 07 sản phẩm hạng 4 sao đang trình nâng lên hạng 5 sao); 839 sản phẩm 3 sao. Toàn tỉnh có 416 chuỗi liên kết với 45.615 hộ liên kết, trong đó: Liên kết trong trồng trọt 83.885 ha, sản lượng 792.744 tấn; liên kết trong chăn nuôi 2.262.327 con, sản lượng 233.362 tấn. 2. Chăn nuôi Trong tháng, tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn; tuy nhiên giá thức ăn, con giống gia súc vẫn ở mức cao, giá bán các sản phẩm trâu, bò biến động giảm, dịch bệnh tiêu chảy trên đàn bò sữa, dịch tả lợn Châu phi đã xảy ra trên địa bàn tỉnh. Chăn nuôi gia cầm phát triển mạnh, đáp đáp ứng đủ nhu cầu thực phẩm cho thị trường; chăn nuôi heo tại các trang trại do kiểm dịch tốt nên vẫn tiếp tục phát triển về quy mô đàn. - Tổng đàn trâu toàn tỉnh ước đạt 26,4 nghìn con, giảm 2,91% so với cùng kỳ năm trước; đàn bò ước đạt 310,8 nghìn con, giảm 0,05%; đàn lợn ước đạt 1.335,8 nghìn con, tăng 5,50%; tổng đàn gia cầm ước đạt 21.537,1 nghìn con, tăng 11,23%, trong đó gà các loại 14.988,2 nghìn con, chiếm 69,59% tổng đàn gia cầm, tăng 12,09%. Sản lượng thịt hơi các loại ước 8 tháng năm 2025 đạt 202.689,9 tấn, tăng 6,60% so với cùng kỳ năm trước. - Toàn tỉnh hiện có 647 trang trại chăn nuôi quy mô lớn (trong đó: 388 trang trại chăn nuôi lợn, 110 trang trại chăn nuôi gia cầm, 149 trang trại chăn nuôi bò) và trên 1 nghìn trang trại chăn nuôi quy mô vừa và nhỏ. Các mô hình liên kết với các doanh nghiệp đã góp phần tạo đầu ra ổn định, nâng cao hiệu quả kinh tế và phát triển chăn nuôi bền vững. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Bệnh dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) tiếp tục diễn biến phức tạp, phát sinh tại nhiều địa phương trên địa bàn tỉnh; ngành chức năng đã chỉ đạo đơn vị chuyên môn tập trung phối hợp với các địa phương xảy ra dịch khoanh vùng, xử lý dịch bệnh. Trong tháng, phát sinh bệnh DTLCP tại 22 hộ/17 thôn/12 xã; tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 575 con/22.099,5 kg (xã Nhân Cơ có 05 hộ/145 con/6.068 kg; xã Tà Hine có 01 hộ/09 con/249 kg; xã Đạ Tẻh 2 có 01 hộ/33 con/1.179 kg; xã Tuy Đức có 01 hộ/01 con/65 kg; xã Đắk Sắk có 06 hộ/72 con/4.156 kg; xã Đức An có 01 hộ/36 con/707 kg; xã Trường Xuân có 02 hộ/10 con/503 kg; xã Nam Đà có 01 hộ/04 con/350 kg; xã Bảo Lâm 1 có 01 hộ/199 con/5.720 kg; xã Nam Nung có 01 hộ/10 con/715 kg; xã Đạ Huoai có 01 hộ/31 con/460 kg; xã Tà Năng có 01 hộ/25 con/ 1.927,5 kg). Lũy kế 8 tháng năm 2025 (tính đến ngày 14/8/2025) tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết bị tiêu hủy 887 con/40.698,5 kg (tại 31 hộ/ 25 thôn/15 xã). - Cơ quan chức năng tổ chức kiểm tra tình hình dịch bệnh DTLCP tại các địa phương có dịch, đồng thời phân bổ kịp thời cho các địa phương 197.624 liều vắc xin phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi và 11.426 lít hóa chất khử trùng, tiêu độc. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm, ...) không xảy ra. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, ngành chức năng đã chỉ đạo tập trung thực hiện công tác quản lý bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp; khôi phục và phát triển rừng. Đã trồng rừng tập trung (trồng mới) ước đạt 1.100 ha, tăng 0,46% so với cùng kỳ năm trước, lũy kế 8 tháng năm 2025 trồng được 3.318,4 ha, tăng 3,05% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số vụ vi phạm được phát hiện trong tháng là 14 vụ (12 vụ đã xác định đối tượng vi phạm). Lũy kế 8 tháng năm 2025 tổng số vụ vi phạm là 309 vụ (113 vụ đã xác định được đối tượng vi phạm, chiếm 36,6%), trong đó phá rừng 117 vụ; diện tích rừng bị thiệt hại 21,88 ha. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Trên địa bàn tỉnh thời gian qua gặp khó khăn chủ yếu ở các xã Trà Tân, Hoài Đức do không mang lại hiệu quả, giá cá thương phẩm giảm trong khi các chi phí đi kèm tăng, rất nhiều hộ nuôi san lấp cải tạo diện tích để trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả. Trong tháng sản lượng nuôi trồng ước đạt 1.993 tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2025 đạt 16.692,6 tấn, tăng 3,42% so với cùng kỳ năm trước. Nuôi lồng bè trên biển toàn tỉnh hiện có 06 khu vực nuôi biển ven bờ, ven đảo với 116/169 cơ sở nuôi/2.242 lồng với thể tích 37.287 m3, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, nuôi trồng tập trung ở đặc khu Phú Quý; xã Vĩnh Hảo, Liên Hương, Phan Rí Cửa, Hòa Thắng và phường Mũi Né. Đối tượng nuôi chủ yếu cá bớp, cá mú, cá chim, cá bè quỵt, cá bè đưng và các loại tôm hùm. - Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản chủ yếu là từ thủy sản biển, trong tháng tàu thuyền khai thác vùng khơi tích cực bám biển đánh bắt thủy sản. Nguồn lợi thủy sản đã xuất hiện trở lại vụ cá nam nên đa số các nghề khai thác đạt hiệu quả cao. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng biển ven bờ và vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đặc khu Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 23.368 tấn, tăng 3,47% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 23.260 tấn, tăng 3,51%. Lũy kế 8 tháng năm 2025, sản lượng khai thác đạt 164.191,5 tấn, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu là sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 163.329,1 tấn, tăng 3,62%. - Sản xuất giống thủy sản: Công tác quản lý chất lượng giống thủy sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Tình hình sản xuất, kinh doanh tôm giống trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay thuận lợi do thị trường tiêu thụ tôm giống tăng khá, nhiều cơ sở tái đầu tư sản xuất. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước 2,04 tỷ con, tăng 9,68% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng năm 2025 ước đạt 16,04 tỷ con, tăng 8,68% so với cùng kỳ năm trước. - Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản: Trên biển, lực lượng kiểm ngư tổ chức cao điểm tuần tra, kiểm soát bảo vệ nguồn lợi thủy sản; tại cảng cá lực lượng chức năng phối hợp với lực lượng của các đơn vị liên tổ chức kiểm tra, kiểm soát nghề cá tại các cảng cá, phục vụ phòng, chống khai thác IUU. Trong tháng không có tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài. Từ ngày 11/7 - 10/8/2025 không có trường hợp nào xử lý về vi phạm; lũy kế 8 tháng năm 2025, đã ban hành 27 Quyết định với tổng số tiền xử phạt 349,3 triệu đồng (giảm 60,3% số vụ, giảm 73,6% số tiền so cùng kỳ năm trước). II. Công nghiệp; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Tám tháng năm 2025, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh vẫn tiếp tục phát triển và duy trì được đà tăng trưởng nhờ vào sự phục hồi của một số ngành chủ lực và sự đóng góp của các dự án mới đi vào hoạt động. Trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có tốc độ tăng trưởng cao, đã đóng góp lớn vào tăng trưởng chung của khu vực công nghiệp; ngành sản xuất và phân phối điện duy trì mức tăng trưởng ổn định nhờ duy trì công suất của các nhà máy phát điện; ngành công nghiệp khai khoáng; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải sản xuất tương đối ổn định, tuy nhiên chiếm tỷ trọng nhỏ trong toàn ngành. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 2,40% so với tháng trước và tăng 9,64% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2025, ước IIP tăng 4,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 8,85%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,65%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,53%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,09%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 376.748 m3, giảm 5,49% so với tháng trước và tăng 6,77% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2025 sản lượng đạt 2.591.835 m3, tăng 10,35% so với cùng kỳ. - Sản phẩm thủy sản được chế biến bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 1.942 tấn, tăng 9,11% so với tháng trước và giảm 1,72% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2025 sản lượng đạt 13.791 tấn, tăng 2,33% so với cùng kỳ. - Sản phẩm rau, quả chế biến: Trong tháng sản lượng ước đạt 2.958 tấn, giảm 1,63% so với tháng trước và tăng 4,75% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2025 sản lượng đạt 25.539 tấn, tăng 18,67% so với cùng kỳ. Đặc biệt, một số doanh nghiệp đã được đưa vào siêu thị lớn như Mega Market và xuất khẩu sang Malaysia, Indonesia. - Sản phẩm đồ uống các loại: Trong tháng sản lượng sản xuất đồ uống các loại ước đạt 8.298 nghìn lít, tăng 9,82% so với tháng trước và giảm 39,0% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2025 sản lượng đạt 79.422 nghìn lít, giảm 21,90% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu thị trường tiêu thụ thấp, sản lượng bia sản xuất điều chuyển sang chi nhánh khác thuộc Tổng công ty và ảnh hưởng của Nghị định 100/2019/NĐ-CP. - Sản phẩm giày, dép: Ước trong tháng sản lượng đạt 491 nghìn đôi, giảm 4,33% so với tháng trước và tăng gấp 2,1 lần so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2025 sản lượng đạt 3.945 nghìn đôi, tăng gấp 2,03 lần so với cùng kỳ. Sản lượng sản xuất tăng mạnh là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng và năng lực tăng thêm ở Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng phân bón sản xuất ước đạt 15.070 tấn, tăng 1,42% so với tháng trước và tăng 18,18% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2025 đạt 85.088 tấn, tăng 21,43% so với cùng kỳ. Sản phẩm có sự tăng trưởng cao do nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông mới đi vào sản xuất sản phẩm. - Sản phẩm alumin: Trong tháng ước đạt 106,6 nghìn tấn, giảm 12,77% so với tháng trước và tăng 2,78% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2025 sản lượng đạt 993,66 nghìn tấn, tăng 2,49% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Ước trong tháng sản lượng đạt 2.764 triệu kwh, giảm 0,15% so với tháng trước và tăng 10,01% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2025 sản lượng đạt 22.662 triệu kwh, tăng 0,66% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 450,21 triệu kwh, giảm 0,63% so với tháng trước và tăng 0,25% so với cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2025 sản lượng đạt 3.674,43 triệu kwh, giảm 1,27% so với cùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,62% so với tháng trước và tăng 4,89% so với cùng kỳ năm trước; đóng góp trong mức tăng chỉ số lao động chủ yếu do một số doanh nghiệp mới thành lập và một số doanh nghiệp tăng số lượng lao động sản xuất sản phẩm nhằm đáp ứng hoàn thành các đơn hàng mới phát sinh trong tháng. Tính chung 8 tháng năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp Trong tháng các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh chưa thu hút thêm dự án đầu tư. Lũy kế 8 tháng năm 2025 thu hút được 06 dự án đầu tư (01 dự án FDI và 05 dự án đầu tư trong nước) với diện tích 22,23 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 452 tỷ đồng và 35 triệu USD. Lũy kế đến nay, các KCN trên địa bàn tỉnh đã thu hút 228 dự án đầu tư (177 dự án trong nước và 51 dự án nước ngoài), với tổng vốn đăng ký đạt 43.326,61 tỷ đồng và 466,44 triệu USD. Diện tích đất đã cho thuê đạt 712,68 ha, tỷ lệ lấp đầy 49,24%. Cụ thể: - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 là khu hoạt động hiệu quả nhất khi đã lấp đầy 100% diện tích (51,4 ha), thu hút 39 dự án, trong đó có 10 dự án nước ngoài, với tổng vốn đăng ký 857,9 tỷ đồng và 74,8 triệu USD. KCN Phan Thiết giai đoạn 2 đạt tỷ lệ lấp đầy 81,92% với 12 dự án (2 FDI), tổng vốn đăng ký 548,1 tỷ đồng và 11,9 triệu USD. - KCN Hàm Kiệm I đạt tỷ lệ lấp đầy 65,27% với diện tích đã cho thuê là 59,3 ha, thu hút 21 dự án (8 FDI), tổng vốn đầu tư 1.676,9 tỷ đồng và 56,2 triệu USD. KCN Hàm Kiệm II có diện tích cho thuê lớn hơn (88,0 ha) nhưng tỷ lệ lấp đầy 31,77%, với 17 dự án (7 FDI), tổng vốn đăng ký 772,4 tỷ đồng và 185,6 triệu USD. - KCN Sông Bình mới thu hút 03 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký đạt tới 13.544,9 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn toàn tỉnh, dù tỷ lệ lấp đầy còn khá thấp (28,84% trên 58,4 ha). - KCN Tân Đức thu hút được 01 dự án trong nước, với tổng vốn đầu tư 100 tỷ đồng, diện tích cho thuê 1,5 ha, tương ứng 0,71% tỷ lệ lấp đầy. - KCN Lộc Sơn đã lấp đầy 87,29% diện tích (115,8 ha/132,6 ha), thu hút 55 dự án (9 FDI), tổng vốn 3.120,4 tỷ đồng và 48,6 triệu USD. - KCN Phú Hội thu hút 32 dự án (11 FDI), với tổng vốn 2.384,1 tỷ đồng và 77,1 triệu USD, diện tích đất cho thuê 56,0 ha/74,6 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Tâm Thắng với tỷ lệ lấp đầy 97,01% trên 130 ha, thu hút 47 dự án (4 FDI) với tổng vốn 1.948,8 tỷ đồng và 12,3 triệu USD. - KCN Nhân Cơ hiện chỉ có 01 dự án quy mô lớn là Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông, với vốn đầu tư lên tới 18.423 tỷ đồng, diện tích sử dụng 129,4 ha, tỷ lệ lấp đầy 87,44%. - Hiện tại, một số KCN đang trong quá trình thi công hạ tầng và chưa thu hút được dự án đầu tư, gồm: KCN Tuy Phong, Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2 (tại Bình Thuận cũ) và KCN Phú Bình (tại Lâm Đồng cũ). 2. Đầu tư phát triển Trong những tháng cuối năm tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan chức năng cùng với các doanh nghiệp tập trung tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, nhất là công tác giải phóng mặt bằng của các dự án mới, đồng thời đẩy nhanh tiến độ thi công các dự án, công trình lớn, trọng điểm được chuyển tiếp từ những năm trước. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng ước đạt 1.341,5 tỷ đồng, tăng 5,82% so với tháng trước và tăng 1,72% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.338,2 tỷ đồng (chiếm 99,75% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn), tăng 5,80% và tăng 1,83%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 3,3 tỷ đồng (chiếm 0,25% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn), tăng 16,08% và giảm 28,76%. Tính chung 8 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 7.893,1 tỷ đồng, đạt 49,70% so với kế hoạch, tăng 6,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 7.875,6 tỷ đồng, tăng 6,82%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 17,5 tỷ đồng, giảm 15,17%. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh đã đồng loạt tổ chức Lễ khởi công các dự án, công trình quy mô lớn như: Dự án Trung tâm Huấn luyện Thể thao Quốc gia - Khu B3; Khu nhà ở xã hội cho công nhân Khu công nghiệp Hàm Kiệm II; Khu tái định cư tại xã Hàm Kiệm phục vụ công tác giải phóng mặt bằng dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam qua địa bàn tỉnh. Về phát triển doanh nghiệp: Trong tháng có 655 doanh nghiệp thành lập mới, với số vốn đăng ký 3.138,4 tỷ đồng, tăng 145% về số doanh nghiệp và 152% về vốn đăng ký; 76 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 3,8%; 95 doanh nghiệp giải thể, tăng 63,8%; 51 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 30,7% so cùng kỳ. Lũy kế 8 tháng năm 2025, có 2.648 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 67,7% so với cùng kỳ; vốn đăng ký 13.572 tỷ đồng, tăng 14,3% so với cùng kỳ; 1.437 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 15,7%; 459 doanh nghiệp giải thể, tăng 49,5%; 581 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 17,4% so cùng kỳ. III. Thương mại; giá cả; du lịch; xuất nhập khẩu; giao thông vận tải Tình hình thương mại của tỉnh trong tháng hoạt động ổn định. Hàng hóa dồi dào đáp ứng nhu cầu người dân, khách du lịch. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, vẫn đang mùa du lịch hè thu hút nhiều du khách đến tham quan và nghỉ dưỡng. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa; vận tải đường thủy diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Trong tháng, hoạt động thương mại - dịch vụ trên địa bàn diễn ra sôi động, thị trường tiêu thụ tiếp tục mở rộng với nhiều hình thức khuyến mại, nguồn cung hàng hóa dồi dào, phong phú, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của người dân và khách du lịch, đặc biệt trong giai đoạn cao điểm du lịch. Các cơ sở kinh doanh duy trì hoạt động ổn định, vừa phục vụ nhu cầu tại chỗ vừa đáp ứng khách du lịch, tập trung chủ yếu vào nhóm hàng thiết yếu như thực phẩm tươi sống, thủy hải sản, đồng thời nhu cầu sách vở, quần áo, cặp ba lô cũng tăng mạnh khi bước vào năm học mới. Hoạt động mua bán, giao thương nhộn nhịp tại chợ, siêu thị, trung tâm thương mại và trên các sàn thương mại điện tử, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, kích cầu tiêu dùng nội địa; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành đều tăng so với cùng kỳ, giá cả nhìn chung ổn định và hợp lý. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 22.385,1 tỷ đồng, tăng 2,38% so với tháng trước và tăng 18,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 14.899,2 tỷ đồng, tăng 3,26% so với tháng trước và tăng 19,45% so với cùng kỳ năm trước (lương thực, thực phẩm ước đạt 6.983,4 tỷ đồng, tăng 2,9% so với tháng trước và tăng 25,22% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.489,8 tỷ đồng, tăng 4,03% so với tháng trước và tăng 14,89% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.471,5 tỷ đồng, tăng 4,91% so với tháng trước và tăng 12,02% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 1.951 tỷ đồng, tăng 4,03% so với tháng trước và tăng 7,69% so với cùng kỳ năm trước); doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 5.023,4 tỷ đồng, tăng 0,83% so với tháng trước và tăng 19,21% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.462,5 tỷ đồng, tăng 0,36% so với tháng trước và tăng 8,20% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 165.666,8 tỷ đồng, tăng 13,23% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 110.522,2 tỷ đồng, tăng 13,32% (lương thực, thực phẩm 50.754,6 tỷ đồng tăng 16,59%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 11.294,1 tỷ đồng tăng 13,61%; gỗ và vật liệy xây dựng 10.791,6 tỷ đồng tăng 11,48%; xăng, dầu các loại 14.718,7 tỷ đồng tăng 1,19%); doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 36.268,7 tỷ đồng, tăng 14,43%; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 18.875,9 tỷ đồng, tăng 10,53%. 1.2. Công tác quản lý thị trường Tình trạng tàng trữ hàng cấm, hàng không rõ nguồn gốc, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và vi phạm trong hoạt động thương mại điện tử vẫn còn diễn ra với quy mô nhỏ lẻ và thủ đoạn tinh vi rất khó phát hiện. Các mặt hàng vi phạm chủ yếu như: giày dép, quần áo thời trang, mỹ phẩm, thực phẩm tươi sống, thực phẩm đông lạnh, phụ tùng xe máy, đặc sản địa phương...; các hành vi vi phạm chưa phát hiện các vụ việc có quy mô lớn, nghiêm trọng ảnh hưởng đến thị trường và quyền lợi người tiêu dùng. Trong tháng không thực hiện kiểm tra; lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/8/2025 đã kiểm tra 334 vụ, phát hiện và xử lý 308 vụ vi phạm, tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính và buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp thu nộp ngân sách nhà nước là 2,55 tỷ đồng, trị giá hàng hóa vi phạm là 1,31 tỷ đồng. 2. Giá tiêu dùng Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở, giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống, giá hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2025 tăng 0,08% so với tháng trước, tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,76% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân 8 tháng đầu năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,77%. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 10 nhóm hàng tăng giá: May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,22%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,16%; Hàng hóa và dịch vụ khác 0,14%; Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,15%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,10%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,09%; Giáo dục tăng 0,08%; Bưu chính viễn thông tăng 0,05%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Có 01 nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 0,31%. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2025 tăng 2,77% so với bình quân cùng kỳ năm 2024. * Nguyên nhân làm tăng, giảm CPI trong tháng - Các nguyên nhân làm tăng CPI: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,15% so với tháng trước, do nhu cầu tiêu dùng trong mùa du lịch và giá nguyên liệu chế biến hàng hóa ở mức cao tác động giá bán tăng so tháng trước; giá may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,22% so tháng trước, do nhu cầu mua sắm chuẩn bị bước vào năm học mới tăng; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,64% so tháng trước, do nhu cầu xây dựng tăng cùng với chi phí đầu vào tăng nên giá một số mặt hàng vật liệu xây dựng như: sắt, thép, xi măng, cát và giá nhân công xây dựng tăng theo. - Các nguyên nhân làm giảm CPI: Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 07, 14 và 21 tháng 8/2025, tính bình quân chung tháng 8/2025 chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu giảm 0,58% so với tháng trước; giá gas tháng 8/2025 giảm 4,23% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh giảm 18.000 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới; giá gas thế giới bình quân tháng 8/2025 công bố ở mức 505 USD/tấn, giảm 55 USD/tấn so với tháng 7/2025; giá thịt lợn giảm 2,47% so tháng trước, do dịch tả lợn Châu Phi đang có diễn biến phức tạp, tâm lý e ngại người dân hạn chế tiêu dùng tác động làm cho giá thịt lợn giảm. * Các yếu tố làm tăng, giảm CPI bình quân 8 tháng năm 2025 so bình quân cùng kỳ - Các yếu tố làm tăng CPI bình quân 8 tháng năm 2025: + Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,71% tác động làm CPI chung tăng 0,95 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 3,26%, tác động làm CPI chung tăng 0,74 điểm phần trăm, tăng mạnh chủ yếu giá thịt lợn tăng 9,06%. Nguyên nhân do nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp Lễ, Tết. + Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,47%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,07%; các thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,46%. Nguyên nhân do tăng cao trong dịp Lễ Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán thị trường tiêu dùng. + Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,95% làm CPI chung tăng 0,74 điểm phần trăm, do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 7,80% do nhu cầu sử dụng điện tăng đồng thời ngày 11/10/2024 và ngày 09/5/2025 EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân; giá gas tăng 1,37% do Nhà nước điều chỉnh giá gas trong nước tăng theo giá thế giới. + Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 14,97% làm CPI chung tăng 0,92 điểm phần trăm, áp dụng giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế. + Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,43% làm CPI chung tăng 0,19 điểm phần trăm, trong đó các mặt hàng trang sức bằng vàng tăng 23,28% do ảnh hưởng giá vàng trong trước tăng theo giá vàng thế giới; giá bảo hiểm y tế tăng 21,74% do tăng theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng từ 1.800.000 đồng lên 2.340.000 đồng, theo đó bảo hiểm y tế cho cán bộ công chức và người lao động cũng được tăng theo. - Các yếu tố làm giảm CPI bình quân 8 tháng năm 2025: + Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 1,13% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,06 điểm phần trăm, trong đó giảm chủ yếu mặt hàng gạo giảm 2,17%. Nguyên nhân, do nguồn cung tại địa phương cũng như nguồn cung trong nước dồi dào, tình hình xuất khẩu gạo cũng giảm so cùng kỳ, do đó giá so cùng kỳ năm trước có phần giảm, mức giảm dao động từ 500 - 1.000 đồng/kg tùy loại. + Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,77% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,27 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 11,22%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh có mưa rải rác ở một số nơi, khiến hoạt động du lịch tăng nhẹ so với tháng trước nhưng vẫn duy trì mức tăng khá so với cùng kỳ năm trước; các loại hình dịch vụ du lịch tiếp tục phát triển đa dạng. Tại NovaWorld Phan Thiết (phường Tiến Thành, tỉnh Lâm Đồng) diễn ra sự kiện “Sports Festival 2025” do Hiệp hội Thể thao Công an nhân dân Việt Nam phối hợp với NovaGroup tổ chức, bao gồm nhiều chương trình nghệ thuật, hoạt động thể thao và Lễ hội bia mùa hè “Dzô! Fest 2025”, thu hút sự quan tâm của đông đảo người dân và du khách. Cùng thời gian, tại Khu du lịch TTC Thung lũng Tình yêu (phường Lâm Viên, Đà Lạt, Lâm Đồng) diễn ra Hội thi Đầu bếp Tài năng Việt Nam lần I - 2025 với chủ đề “Hương vị Cao nguyên & Biển”. Song song đó, các hoạt động lữ hành, vui chơi giải trí, dịch vụ hỗ trợ và các loại hình dịch vụ khác diễn ra ổn định, tiếp tục được tăng cường nhằm đáp ứng tốt nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của khách du lịch và người dân. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.964,4 nghìn lượt, tăng 1,93% so tháng trước và tăng 29,39% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 3.525 nghìn ngày khách, tăng 2,46% so với tháng trước và tăng 33,5% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2025 lượt khách ước đạt 13.529,2 nghìn lượt, tăng 16,32% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 24.533,1 nghìn ngày khách, tăng 19,64% so với cùng kỳ năm trước.  Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 74,2 nghìn lượt khách, tăng 5,7% so với tháng trước và tăng 1,46% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 148,4 nghìn ngày khách, tăng 5,7% so với tháng trước và tăng 2,23% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2025 lượt khách quốc tế ước đạt 840 nghìn lượt khách, tăng 33,2% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 2.239 nghìn ngày khách, tăng 31,83% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 1.011,5 tỷ đồng, tăng 0,4% so với tháng trước và tăng 26,51% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 3.979,3 tỷ đồng, tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 17,77% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 32,6 tỷ đồng, giảm 1,61% so với tháng trước và giảm 8,28% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 7.041,9 tỷ đồng, tăng 16,57% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 28.802,7 tỷ đồng, tăng 13,28% so cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 424,1 tỷ đồng, tăng 86,38% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.220,7 tỷ đồng tăng 1,92% so với tháng trước và tăng 32,98% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2025 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 135.940,4 tỷ đồng, tăng 17,72% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Trong tháng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.462,5 tỷ đồng, tăng 0,36% so với tháng trước và tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 286,5 tỷ đồng, tăng 2,02 % so với tháng trước và tăng 19,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 108,1 tỷ đồng, tăng 1,36% so với tháng trước và tăng 13,34% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 64,4 tỷ đồng, tăng 5,27% so với tháng trước và tăng 0,2% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội đạt 128 tỷ đồng, tăng 2,07% so với tháng trước và tăng 18,49% so với cùng kỳ năm trước;doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.360,9 tỷ đồng, giảm 1,06% so với tháng trước và tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 514,5 tỷ đồng, tăng 2,08% so với tháng trước và tăng 11,12% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng 2025 doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 18.875,9 tỷ đồng, tăng 10,53% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.038,4 tỷ đồng, tăng 13,75% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 846 tỷ đồng, tăng 16,67% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 563,4 tỷ đồng, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 953,1 tỷ đồng, tăng 14,37% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 10.519,1 tỷ đồng, tăng 9,05% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.955,9 tỷ đồng, tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng, hoạt động vận tải có xu hướng tăng trưởng tích cực, chủ yếu nhờ kỳ du lịch hè kéo dài làm gia tăng nhu cầu đi lại của hành khách. Việc sáp nhập tỉnh đã mở rộng không gian kinh tế - xã hội và nâng cao hiệu quả khai thác cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi giúp lưu lượng vận chuyển hàng hóa và hành khách tăng đáng kể. Doanh thu từ giao thông vận tải và kho bãi trong tháng đạt 1.246,8 tỷ đồng, tăng 2,97% so với tháng trước và tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 8 tháng đầu năm đạt 9.411,3 tỷ đồng, tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước.  - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.150 nghìn hành khách (HK), tăng 2,86% so với tháng trước và tăng 17,85% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 590.726,1 nghìn HK.Km, tăng 2,86% so với tháng trước và tăng 15,96% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 30.790,9 nghìn HK, tăng 11,61% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 4.522.826,5 nghìn HK.Km, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.046,4 nghìn tấn, tăng 3,47% so với tháng trước và tăng 1,12% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 288.079,2 nghìn tấn.Km, tăng 2,96% so với tháng trước và tăng 7,47% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 15.178,3 nghìn tấn, tăng 4,75% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.163.435,1 nghìn tấn.Km, tăng 6,05% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.246,9 tỷ đồng, tăng 2,97% so với tháng trước và tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2025 ước đạt 9.411,3 tỷ đồng, tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 4.080 tỷ đồng, tăng 19,87% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.938,6 tỷ đồng, tăng 5,04%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.350,8 tỷ đồng, tăng 37,74%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 41,8 tỷ đồng, tăng 13,09%. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 8 tháng năm 2025 ước đạt 1.205,1 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.122,8 nghìn tấn (muối xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 82,3 nghìn tấn (túi xi măng, máy móc, muối xá). IV. Thu ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu - chi ngân sách Trong tháng, tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước đạt 1.596 tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2025 đạt 20.449,8 tỷ đồng, bằng 76,39% so với dự toán năm và tăng 21,03% so với cùng kỳ năm trước. Thu nội địa đạt 19.484,6 tỷ đồng, bằng 77,18% so với dự toán năm và tăng 15,31% so vối cùng kỳ (trong đó: thu thuế, phí, lệ phí 12.120,5 tỷ đồng bằng 78,29% so với dự toán và tăng 20,6% so với cùng kỳ; thu từ đất, nhà 3.113,4 tỷ đồng đạt 71,43% so với dự toán năm và tăng 20,13% so với cùng kỳ); thu từ xổ số 3.354 tỷ đồng đạt 77,82% dự toán năm và giảm 1,16% so với cùng kỳ; thu thuế xuất nhập khẩu 965,2 tỷ đồng, đạt 63,29% so với dự toán toán năm... Riêng khối cơ sở kết quả thu 8 tháng năm 2025 ước tổng thu nội địa đạt 7.704,7 tỷ đồng đạt 69,49% dự toán năm và tăng 8,36% so với cùng kỳ. Trong đó: Cơ sở 1[1]  đạt 1.198,8 tỷ đồng (đạt 47,19% dự toán và giảm 3,7% so với cùng kỳ năm trước); cơ sở 2[2] đạt 1.184,8 tỷ đồng (đạt 69,92% dự toán và tăng 20,6%); cơ sở 3[3] đạt 897,6 tỷ đồng (đạt 78% dự toán và tăng 27,5%); cơ sở 4[4] đạt 385,4 tỷ đồng (đạt 86,68% dự toán và tăng 27,34%); cơ sở 5[5]  đạt 131 tỷ đồng (đạt 56% dự toán và giảm 8,43%); cơ sở 6[6] đạt 1.758,9 tỷ đồng (đạt 80,98% dự toán và tăng 3,39%); cơ sở 7[7] đạt 45,4 tỷ đồng (đạt 174,74% dự toán và tăng 57,3%); cơ sở 8[8] đạt 332,8 tỷ đồng (đạt 42,13% dự toán và giảm 31,47%); cơ sở 9[9] đạt 726,4 tỷ đồng (đạt 106,67% dự toán và tăng 6,09%); cơ sở 10[10] đạt 290,3 tỷ đồng đạt 53,96% dự toán và giảm 6,4%; cơ sở 11[11] đạt 229,5 tỷ đồng (đạt 96,01% dự toán và tăng 44,42%); cơ sở 12[12] đạt 314,4 tỷ đồng (đạt 102,40% dự toán và tăng 56,04%); cơ sở 13[13] đạt 209,4 tỷ đồng (đạt 82,45% dự toán và tăng 29,13%). Chi ngân sách nhà nước trong tháng ước đạt 2.766 tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2025 chi ngân sách 27.661 tỷ đồng, đạt 61,32% so với dự toán năm; trong đó: Chi thường xuyên đạt 17.454,7 tỷ đồng, bằng 63,21% so dự toán năm; chi đầu tư phát triển đạt 3.141,9 tỷ đồng, bằng 32,01% so với dự toán năm. 2. Hoạt động tín dụng Hoạt động tín dụng trên địa bàn tỉnh trong tháng ổn định, an toàn, thông suốt. Lãi suất huy động VNĐ đối với tiền gửi kỳ hạn dưới 01 tháng hiện phổ biến ở mức 1,45% - 3,82%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 2,46% - 4,66%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 3,27% - 5,24%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 4,05% - 5,66%/năm. Lãi suất cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, ngắn hạn ở mức 4,74% - 9,95%/năm, trung dài hạn 4,33% - 10,13%/năm; lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,82%/năm. Hiện nay toàn tỉnh có 52 đại lý đổi ngoại tệ của 47 tổ chức kinh tế, 01 đại lý chi trả ngoại tệ đáp ứng nhu cầu đổi tiền của du khách. Có 154 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất, kinh doanh vàng trang sức mỹ nghệ (TSMN) với tổng khối lượng sản xuất vàng TSMN là 53,8 kg, giá trị gần 133 tỷ đồng. Có 69 địa điểm kinh doanh vàng miếng của 19 đơn vị (15 TCTD, 4 TCKT). Lũy kế từ đầu năm đến nay, doanh số mua vào 169,2 lượng với trên 19 tỷ đồng, doanh số bán là 132 lượng với trên 15 tỷ đồng. Có 34 doanh nghiệp còn dư nợ vay trung, dài hạn nước ngoài, với dư nợ 779 triệu USD. Tổng huy động vốn đạt 218.000 tỷ đồng, tăng 1,2% so với đầu tháng, tăng 11% so đầu năm. Dư nợ cho vay đạt 353.000 tỷ đồng, tăng 0,86% so với đầu tháng, tăng 4,1% so với đầu năm. Ước đến 31/8/2025, dư nợ cho vay nông nghiệp nông thôn trên địa bàn đạt 232.500 tỷ đồng, tăng 3,3% (khoảng 7.500 tỷ đồng) so với đầu năm; dư nợ cho vay xuất khẩu đạt khoảng 1.500 tỷ đồng, tăng 3,9% (khoảng 57 tỷ đồng) so với đầu năm; dư nợ cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt khoảng 40.500 tỷ đồng, giảm 2,7% (khoảng 1.155 tỷ đồng) so với đầu năm. Chương trình hỗ trợ ngư dân vay vốn phát triển thủy sản theo Nghị định số 67/2014/NĐ-CP của Chính phủ (chỉ phát sinh tại tỉnh Bình Thuận trước sáp nhập): Tổng số tiền cho vay từ đầu chương trình là 1.075,5 tỷ/120 tàu. Doanh số thu nợ từ đầu chương trình là 214,4 tỷ đồng. Dư nợ (nội bảng) là 44,1 tỷ đồng/18 tàu (trong đó, cho vay đóng mới tàu dịch vụ hậu cần khai thác hải sản xa bờ là 8,6 tỷ đồng, cho vay đóng mới tàu khai thác hải sản xa bờ là 35,5 tỷ đồng, cho vay nâng cấp tàu còn 0 tỷ đồng). Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ là 18 tỷ đồng/16 tàu, nợ ngoại bảng là 809,5 tỷ đồng/88 tàu, số tàu đã trả hết nợ là 14 tàu. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1 Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Tổ chức tuyên truyền phục vụ kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945 - 2/9/2025); Ngày truyền thống Công an nhân dân Việt Nam (19/8/1945 - 19/8/2025) và 20 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2025). - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức Chương trình Dạ hội Điện ảnh chủ đề “Sắc màu Việt Nam”, Tuần phim Việt Nam, chương trình “Giao lưu các câu lạc bộ” nhân kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám và Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; chương trình âm nhạc đường phố phục vụ nhân dân, du khách tại phường Xuân Hương - Đà Lạt; biểu diễn văn nghệ tại sân khấu Làng chài Fishermen show phường Mũi Né. Bên cạnh đó, đã xây dựng, tập luyện các chương trình nghệ thuật phục vụ chào mừng Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phục vụ chương trình đi bộ cùng “Việt Nam tiến bước”; phục vụ khai mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ UBND tỉnh Lâm Đồng lần thứ I nhiệm kỳ 2025 - 2030. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng (từ ngày 11/7 - 10/8/2025): Đã đón 42.677 lượt khách đến tham quan (3.835 lượt tại Nhà trưng bày chính Bảo tàng Lâm Đồng; 1.143 lượt tại Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt; 891 lượt tại Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên; 36.598 lượt tại cơ sở 1- phường Phan Thiết và 210 lượt tại cơ sở 2 Đắc Nông). Tổ chức trưng bày chuyên đề “Âm vang Ngày Độc Lập” kỷ niệm 80 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; khảo sát, nghiên cứu thu thập tư liệu, hình ảnh trong Lễ tẩy trần tại Tháp Pô Dam (xã Liên Hương); hoàn chỉnh chuyên đề khảo sát, thu thập tư liệu chuyên đề “Người Chăm ở xã Sơn Mỹ, tỉnh Lâm Đồng”. Tổ chức thực hiện đề tài “Ứng dụng công nghệ 3D trong bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa tại Khu Di tích Quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên”; thực hiện khai quật di chỉ khảo cổ học tại xã Bắc Bình và sưu tầm 40 hình ảnh về thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Lâm Đồng. + Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 169 đoàn với 16.226 lượt người khách; phục vụ 12 lễ viếng, tuyên dương, sinh hoạt chuyên đề. Phục vụ chu đáo đoàn đại biểu, lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh Lâm Đồng đến dâng hương viếng Bác nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh Liệt sỹ (27/7/1947 - 27/7/2025). Tổ chức triển lãm về “Hồ Chí Minh - Chân dung một con người” nhân kỷ niệm 80 năm ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón, phục vụ 20 đoàn với 2.730 lượt khách đến tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm.  - Hoạt động Thư viện: Thư viện tỉnh đã cấp 162 thẻ bạn đọc (99 thẻ người lớn, 63 thẻ thiếu nhi); phục vụ 382.104 lượt bạn đọc; luân chuyển 11.714 lượt tài liệu; bổ sung 764 tài liệu; xử lý 1.447 tài liệu; tổng số tài liệu của thư viện hiện có là 852.226 bản; số hóa 28.671 trang tài liệu; phục chế 45 bản tài liệu phục vụ bạn đọc. Trưng bày 753 tài liệu kỷ niệm trong tháng; viết bài giới thiệu sách đăng Fanpage 15 cuốn sách; phát hành tập Thông tin tư liệu Lâm Đồng tháng 7/2025 với 100 tin, bài; đăng tải 13 tin, bài tuyên truyền; cập nhật thông tin website 154 tin; giới thiệu 14 bản sách mới. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tiếp tục duy trì và mở rộng các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, đáp ứng nhu cầu vận động, nâng cao sức khỏe, lối sống lành mạnh cho người dân. Trong tháng đã hỗ trợ Hội thao Khối thi đua số 1 tỉnh Lâm Đồng; Hội thao ngành Công an tỉnh kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Công an Nhân dân (19/8/1945-19/8/2025) và 20 năm Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005-19/8/2025). - Thể thao thành tích cao: Tiếp tục củng cố lực lượng vận động viên, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, huấn luyện và cử vận động viên tham gia các giải thể thao quốc gia, quốc tế theo kế hoạch. Cử đoàn vận động viên tham gia 06 giải, kết quả đạt 34 huy chương (04 HCV, 15 HCB và 15 HCĐ); tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm ngày 14/8/2025: Đạt 441 huy chương (92 HCV, 119 HCB, 230 HCĐ), trong đó có 28 huy chương quốc tế (07 HCV, 13 HCB, 8 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Trong tháng, tỉnh tập trung tổ chức kiểm tra, rà soát các trường, lớp, chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, trang thiết bị dạy học, xây dựng môi trường học tập an toàn, thân thiện, xanh, sạch, đẹp. Các cơ sở giáo dục đã thực hiện tốt việc vệ sinh khuôn viên trường học; treo cờ, khẩu hiệu, băng rôn để tuyên truyền việc tổ chức Lễ Khai giảng năm học 2025 - 2026 diễn ra vào ngày 05/9/2025. Hiện nay, toàn tỉnh có 527 trường mầm non, 564 trường tiểu học, 365 trường THCS, 121 trường THPT, 26 trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên; tổng số cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên là 49.951 người. Năm học mới 2025 - 2026, toàn tỉnh có 167.448 trẻ em theo học các trường mầm non; 326.714 học sinh cấp tiểu học; 232.221 học sinh cấp THCS; 114.607 học sinh cấp THPT và 4.210 học viên giáo dục thường xuyên. Nhìn chung đến nay, công tác chuẩn bị cho năm học mới được chuẩn bị nghiêm túc, chu đáo, an toàn và đúng theo kế hoạch. 3. Y tế - Phòng chống sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm khác: Trong tháng phát hiện 846 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 490 ca so với tháng trước; có 01 ca tử vong, tăng 01 ca so với tháng trước. Các khu vực có số ca mắc cao: Cư Jút (235 ca), Hàm Thuận Nam (94 ca), Đạ Huoai (87 ca); trong tháng toàn tỉnh có 132 ổ dịch được phát hiện xử lý. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 06/8/2025, toàn tỉnh có 2.723 ca mắc sốt xuất huyết. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã thực hiện tiêm viêm gan B < 24h cho 3.786/49.072 trẻ, lũy kế từ đầu năm đến nay đã tiêm cho 24.537 trẻ, đạt tỷ lệ 50%; tiêm chủng đầy đủ cho 4.069/49.072 trẻ, lũy kế 27.479 trẻ, đạt tỷ lệ 56%; ước 8 tháng , tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới 1 tuổi đạt tỷ lệ 62,4%; tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai cho 3.506/46.705 người, lũy kế 8 tháng có 24.143 người, đạt tỷ lệ 51,7%; tiêm MR cho 3.769/49.249 trẻ, lũy kế 29.035 trẻ, đạt tỷ lệ 59,0%; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.024/49.249 trẻ, lũy kế 28.898 trẻ, đạt tỷ lệ 58,7%; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 4.109/48.873 trẻ, lũy kế 29.245 trẻ, đạt tỷ lệ 59,8%; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 2 cho 3.996/48.873 trẻ, lũy kế 27.860 trẻ, đạt tỷ lệ 57%; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 3.781/46929 trẻ, lũy kế từ đầu năm đến nay 24.503 trẻ, đạt tỷ lệ 52,2%. - Công tác phòng chống Phong: Trong tháng không phát hiện thêm bệnh phong mới, duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Toàn tỉnh quản lý 136 bệnh nhân, đang điều trị 01 bệnh nhân, giám sát 04 bệnh nhân, chăm sóc tàn tật cho 135 bệnh nhân, có 1 bệnh nhân tử vong. - Công tác phòng chống Lao: Trong tháng phát hiện, thu dung, điều trị 84 bệnh nhân các thể, trong đó có 62 bệnh nhân lao phổi AFB (+); quản lý điều trị 595 bệnh nhân lao. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 15 bệnh nhân mới; số nhiễm HIV tích lũy là 4.514 người; số chuyển sang AIDS tích lũy đến nay là 1.766 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 533.846 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 42.532 người, số ngày điều trị nội trú 227.042 ngày, xét nghiệm cho 806.431 tiêu bản, chẩn đoán 148.582 hình ảnh, phẫu thuật 5.613 trường hợp. Lũy kế 8 tháng đã tổ chức khám bệnh cho 3.397.409 lượt người; 289.695 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.598.226 ngày điều trị nội trú, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,3 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 83,3%; đã xét nghiệm cho 5.647.726 tiêu bản; chẩn đoán 933.749 hình ảnh và phẫu thuật cho 36.723 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng xảy ra 02[14] vụ ngộ độc thực phẩm làm 92 người mắc, không có tử vong. Lũy kế 8 tháng, toàn tỉnh xảy ra 03 vụ ngộ độc thực phẩm làm 98 người mắc, có 01 trường hợp tử vong do ăn cá nóc. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Các cơ quan báo chí đã bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, tập trung tuyên truyền phản ánh các hoạt động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng. Trong tháng (từ ngày 15/7/2025 -15/8/2025), qua rà soát trên hệ thống phần mềm giám sát thông tin mạng xã hội, có 17.529 tin, bài viết có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; trong đó có 2.941 tin, bài tích cực; 9.589 tin, bài trung lập và 5.009 tin, bài tiêu cực; ngành chức năng đã kịp thời xây dựng phương án xử lý theo đúng quy định của pháp luật. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Hoạt động thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại được triển khai theo kế hoạch. Tỉnh đã triển khai tốt công tác tuyên truyền về các ngày lễ, ngày kỷ niệm, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và địa phương; đã rà soát cung cấp thông tin, dữ liệu phục vụ Triển lãm số và bản đồ số từ các sở, ngành gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản ấn phẩm trên địa bàn tỉnh; hướng dẫn các xã, phường và đặc khu triển khai thực hiện công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản, in và phát hành; rà soát và cung cấp danh sách các cơ sở in và phát hành tại địa phương. Quản lý chặt chẽ việc thẩm định và cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng toàn diện các xuất bản phẩm. Trong tháng đã cấp 01 Giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh trên địa bàn tỉnh. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số và tôn giáo 5.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số cơ bản ổn định. Mạng lưới giáo dục, y tế tiếp tục được đầu tư, cơ bản đáp ứng yêu cầu học tập và chăm sóc sức khoẻ người dân; công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lễ hội truyền thống được quan tâm thực hiện, các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được bảo tồn, phát huy. Các xã, phường triển khai các dự án thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt là các dự án mới tiếp nhận từ huyện; xây dựng kế hoạch vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2030; triển khai hướng dẫn các chủ đầu tư phân khai và tổ chức thực hiện nguồn vốn ngân sách nhà nước năm 2025 thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo trình độ phát triển (thôn đặc biệt khó khăn, xã khu vực I, II, III). Hiện nay, đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh thu hoạch vụ mùa; gieo trồng, xuống giống, chăm sóc các loại cây trồng và hoa màu. Một số loại cây trồng, con giống mới có năng suất, chất lượng cao được đồng bào đưa vào nuôi, trồng trên diện rộng; chăn nuôi gia súc, gia cầm được duy trì ổn định; các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, tiêm phòng được tăng cường, dịch bệnh trên cây trồng được kiểm soát. Công tác giao khoán bảo vệ rừng được duy trì và phát huy hiệu quả; các chương trình, chính sách, dự án trong vùng đồng bào dân tộc được triển khai toàn diện trên các lĩnh vực. 5.2. Chính sách tôn giáo Các hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và tuân thủ pháp luật, đảm bảo theo đúng hiến chương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích và phương châm hành đạo của các tôn giáo. Đã hợp nhất Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) 03 tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông, Bình Thuận thành Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Lâm Đồng và thống nhất cử nhân sự các Ban chuyên môn thuộc Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027, đồng thời đã tổ chức Hội nghị lần thứ I Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Lâm Đồng nhiệm kỳ 2022 - 2027. Chấp thuận Giáo phận Ban Mê Thuột bổ nhiệm 04 linh mục làm Phó xứ các Giáo xứ trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng; chấp thuận chủ trương về quy mô, sự cần thiết xây dựng công trình tôn giáo cho 05 cơ sở tôn giáo (Phật giáo: 04, Công giáo: 01); thông báo chấp thuận việc Giáo hội Cơ đốc Phục Lâm Việt Nam mời người nước ngoài vào hoạt động tôn giáo. Đoàn đại biểu Hội thánh Tin Lành Trưởng lão Việt Nam tỉnh Lâm Đồng gồm 25 người tham dự Đại hội Hội thánh Tin Lành Trưởng lão Việt Nam lần thứ IV, nhiệm kỳ 2025 - 2029; Đại hội đã bầu cử Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2025 - 2029; đồng thời, Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh đã tổ chức Hội đồng Bồi linh năm 2025 tại nhà thờ Tin Lành - Đà Lạt. Các cơ sở tín ngưỡng và tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. Các chính sách về tôn giáo được triển khai bình đẵng, có hiệu quả nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời duy trì ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn tỉnh. 6. Công tác xóa nhà tạm, nhà dột nát Toàn tỉnh đã hoàn thành 5.474 căn nhà (xây mới 4.136 căn, sửa chữa 1.338 căn), đạt 91,2% kế hoạch năm (Kế hoạch: 6.004 căn); còn lại 530 căn chưa hoàn thành, trong đó 462 căn diện xây mới và 68 căn sửa chữa. Đối với dự án hỗ trợ nhà ở Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát từ nguồn xã hội hóa: Tổng số phê duyệt 282 căn (xây mới); đến nay đã khởi công 282/282 căn, trong đó đã hoàn thành 146 căn (tại tỉnh Đắk Nông cũ). Đối với Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát do Thủ tướng Chính phủ phát động, đến nay đã hoàn thành 3.862/3.862 căn nhà, đạt 100% theo kế hoạch. 7. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 31/7/2025, toàn tỉnh có 274.446 người tham gia BHXH tăng 0,62% so với tháng trước và tăng 2,96% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 230.010 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 0,86% so với cùng kỳ năm trước; 44.436 người tham gia BHXH tự nguyện tăng 28,56%), 210.768 người tham gia BHTN, tăng 0,24% so với tháng trước và tăng 0,59% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.894.487 người, tăng 0,41% so với tháng trước và tăng 0,59% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 86,53% dân số. Trong tháng, đã giải quyết mới 11.443 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 3.284 người (Trong đó: 1.158 người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; 3.329 người hưởng trợ cấp 1 lần; 5.511 lượt người hưởng chế độ ốm đau; 1.091 lượt người hưởng chế độ thai sản; 354 lượt người hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; 3.017 người hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng; 267 người hưởng hỗ trợ học nghề). Lũy kế đến 31/7/2025, đã giải quyết mới 71.917 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 12.929 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: 2.568 người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; 19.834 người hưởng trợ cấp 1 lần; 38.542 người hưởng chế độ ốm đau; 8.315 người hưởng chế độ thai sản; 2.658 người hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; 12.188 người hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng; 741 người hưởng số người được hỗ trợ học nghề). Tiếp nhận, giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177, 178 là 853 người (lũy kế: 1.273 người). Lũy kế 7 tháng năm 2025, tổng số thu 5.569,8 tỷ đồng; tỷ lệ chậm đóng (tiền nợ) phải thu 4,16% và tỷ lệ chậm đóng phải tính lãi 1,78% so với dự toán thu. Chi BHXH, BHYT, BHTN với số tiền 3.867,7 tỷ đồng; trong đó: Chi trả chế độ BHXH là 3.331,2 tỷ đồng, chi BHTN là 200,9 tỷ đồng... 8. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/7-14/8/2025) Trong tháng xảy ra 60 vụ tai nạn giao thông, giảm 13 vụ so với tháng trước và giảm 34 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 29 người, giảm 15 người so với tháng trước và giảm 04 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 46 người, giảm 07 người so với tháng trước và giảm 39 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng, toàn tỉnh xảy ra 567 vụ tai nạn giao thông, giảm 263 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 280 người, giảm 19 người; số người bị thương là 450 người, giảm 271 người so với cùng kỳ năm trước. Tổng số phương tiện hiện đang quản lý là 221.474 xe ôtô; 2.982.682 xe môtô. Ngành chức năng phát hiện, xử lý 15.403 trường hợp vi phạm luật giao thông; tổng số tiền xử phạt trên 14,7 tỷ đồng; tước 110 giấy phép lái xe; tạm giữ 1.318 xe mô tô, 36 xe ô tô. 9. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng xảy ra 04 vụ thiên tai (mưa lớn kèm gió lốc giật mạnh) làm 01 người bị thương và 02 người chết (do sạt, lở bị vùi lấp tại phường Xuân Trường - Đà Lạt); hư hại 79 căn nhà, 06 cổng chào bị đổ sập, 06 cột điện bị gãy đổ, hư hỏng 01 cống thoát nước, sụp 02 mố cầu, 04 cầu dân sinh bị cuốn trôi hoàn toàn, hư hỏng 03 chiếc ô tô, chết 1.004 con gà, 75 máy tưới nước và hệ thống dẫn nước bị lũ cuốn trôi, 10 ao cá bị ngập, nhiều gia cầm và một số tài sản khác bị lũ cuốn trôi, hư hỏng. Ước tính tổng thiệt hại khoảng 23,52 tỷ đồng. Lũy kế 8 tháng năm 2025 trên địa bàn tỉnh xẩy ra 19 trận (đợt) mưa lớn kèm dông, lốc, mưa đá, gió giật mạnh sóng biển lớn; thiên tai đã làm 03 người chết và 09 người bị thương, hư hỏng 402 căn nhà, 06 ô tô, 01 xe máy, chìm 07 tàu cá, sạt lở 5,28km bờ biển, khoảng 146,59 ha cây trồng bị ảnh hưởng, 63,64 ha nhà kính, nhà lưới bị tốc mái, 06 cổng chào bị sập, 18 cột điện bị gãy đổ, hư hỏng 01 cống thoát nước và một số cây xanh, cơ sở hạ tầng, phương tiện khác. Ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 40,2 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng xảy ra 05 vụ cháy nổ, không có thiệt hại về người, ước thiệt hại 78 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không phát hiện vi phạm môi trường (tháng trước 0 vụ). Lũy kế 8 tháng xảy ra 18 vụ, giảm 06 vụ so với cùng kỳ năm trước, xử phạt 3.278 triệu đồng (cùng kỳ: số vụ vi phạm 24 vụ, xử phạt 1.072 triệu). * Đánh giá chung: Trong 8 tháng năm 2025, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh duy trì ổn định và có nhiều chuyển biến tích cực. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản phát triển tương đối thuận lợi, một số cây trồng và vật nuôi chủ lực đạt năng suất tốt, góp phần đảm bảo nguồn cung; công nghiệp - xây dựng phục hồi, nhất là ở lĩnh vực chế biến, năng lượng và hạ tầng; thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục sôi động, doanh thu bán lẻ và lượng khách tăng khá, khẳng định vai trò động lực tăng trưởng. Thu ngân sách đạt tiến độ cao, tín dụng mở rộng hợp lý, thị trường tiền tệ - ngoại hối ổn định, chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát, đời sống dân cư từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế như tiến độ giải ngân vốn đầu tư công chậm, chi đầu tư phát triển đạt thấp; các ngành khai khoáng, công nghiệp chế biến chế tạo, sản xuất và phân phối điện,... có mức tăng trưởng thấp chưa đạt mục tiêu đề ra; một số lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp gặp khó do biến động giá nguyên liệu, thời tiết; nợ xấu trong tín dụng chính sách còn tồn tại; áp lực giá cả đầu vào và dịch bệnh tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống. Để hoàn thành mục tiêu cả năm, cần đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, tập trung cho các dự án hạ tầng trọng điểm; tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và sản xuất nông nghiệp; giữ ổn định thị trường tài chính - tín dụng; quản lý giá cả linh hoạt, bảo đảm cung cầu hàng hóa thiết yếu; đồng thời đẩy mạnh xúc tiến thương mại, du lịch gắn với xây dựng thương hiệu và liên kết vùng. Những giải pháp này sẽ góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao đời sống nhân dân trong những tháng cuối năm.Thống kê tỉnh Lâm Đồng [1] Phường: Xuân Hương, Cam Ly, Lâm Viên, Xuân Trường, Lang Biang và xã Lạc Dương. [2] Phường: Bảo Lộc (1, 2 , 3), B’Lao và xã Bảo Lâm (1,2,3, 4, 5), Di Linh, Hòa Ninh, Hòa Bắc, Đinh Trang Thượng, Bảo Thuận, Sơn Điền, Gia Hiệp. [3] Xã: Hiệp Thạnh, Đức Tọng, Tân Hội, Ninh Gia, Tà Hine, Tà Năng, Đơn Dương, Ka Đô, Quảng Lập và D’Ran. [4] Xã Lâm Hà, Phú Sơn, Nam Hà, Nam Ban, Tân Hà, Phúc Thọ và Đam Rông (1, 2, 3, 4). [5] Xã: Đạ Huoai (1,2,3), Đạ Tẻh, Đạ Tẻh (2,3), Cát Tiên, Cát Tiên (2,3) [6] Phường: Hàm Thắng, Bình Thuận, Mũi Né, Phú Thủy, Phan Thiết, Tiến Thành và xã: Tuyên Quang, Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Tân Thành, Hàm Thuận Nam, Tân Lập, Đông Giang, La Dạ, Hàm Thuận Bắc, Hàm Thuận, Hồng Sơn, Hàm Liêm. [7] Đặc khu Phú Quý [8] Xã: Bắc Bình, Hồng Thái, Hải Ninh, Phan Sơn, Sông Lũy, Lương Sơn, Hòa Thắng, Vĩnh Hảo, Liên Hương, Tuy Phong, Phan Rí Cửa. [9] Phường: La Gi, Phước Hội và xã: Tân Hải, Tân Minh, Hàm Tân, Sơn Mỹ, Nam Thạnh, Đức Linh, Hoài Đức, Trà Tân, Nghị Đức, Bắc Ruộng, Đồng Kho, Tánh Linh, Suối Kiết. [10] Phường: Bắc Gia Nghĩa, Nam Gia Nghĩa, Đông Gia Nghĩa và xã: Quảng Sơn, Quảng Hòa, Quảng Khê, Tà Đùng. [11] Xã: Kiến Đức, Nhân Cơ, Quảng Tín, Quảng Trực, Tuy Đức và Quảng Tân. [12] Xã: Đức Lập, Đắk Mil, Thuận An, Đắk Sắk, Đức An, Đắk Song, Thuận Hạnh, Trường Xuân. [13] Xã Cư Jút, Đắk Wil, Nam Dong, Krông Nô, Nam Đà, Nâm Nung, Quảng Phú. [14] 01 vụ tại xã Đinh Trang Thượng làm 88 người mắc, 0 tử vong, không rõ cơ sở nguyên nhân, bữa ăn nguyên nhân, thức ăn nguyên nhân; chẩn đoán căn nguyên nghi do độc tố trực khuẩn Clostridium perfringens. 01 vụ tại thôn 3, xã Tuy Đức làm 04 người mắc, 0 tử vong; thức ăn nghi ngờ ngộ độc thực phẩm là nấm.

TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI THÁNG 7 VÀ 7 THÁNG NĂM 2025 TỈNH LÂM ĐỒNG
  •   15/08/2025 09:35

I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tại các địa phương được các cấp và các ngành tập trung chỉ đạo, nhằm đảm bảo kịp tiến độ, kế hoạch và đúng thời vụ; tập trung chủ yếu gieo trồng, chăm sóc, bón phân cây trồng vụ hè thu; tiếp tục trồng mới, tái canh cải tạo, tưới tiêu chăm sóc cây lâu năm; triển khai công tác phòng chống dịch bệnh trên cây trồng và vật nuôi; tình hình chăn nuôi ổn định. Hoạt động sản xuất lâm nghiệp tập trung chủ yếu trồng cây phân tán theo Đề án 1836 và trồng 50 triệu cây xanh; chăm sóc rừng trồng; chuyển giao hợp đồng giao khoán quản lý bảo vệ rừng đến các hộ và tổ chức nhận khoán; khai thác gỗ và lâm sản theo kế hoạch. Hoạt động nuôi trồng thủy sản ở một số địa phương gặp khó khăn do giá cả một số sản phẩm nuôi trồng giảm; sản lượng khai thác thủy sản biển tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. 1. Trồng trọt * Cây hàng năm: Trong tháng thời tiết mưa đều khắp các địa phương trong tỉnh, tạo độ ẩm cần thiết cho đất và thuận lợi cho công tác gieo trồng, cũng như tình hình sinh trưởng phát triển của cây trồng. Tổng diện tích gieo trồng ước 7 tháng năm 2025 đạt 254.273,5 ha; tăng 1,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngô đạt 37.783,3 ha, tăng 1,25%; rau các loại gieo trồng đạt 58.119,9 ha, tăng 1,1%; đậu các loại gieo trồng đạt 11.116,2 ha, tăng 3,59%; hoa các loại gieo trồng đạt 7.621,6 ha, tăng 4,86%. Tiến độ sản xuất vụ hè thu: Tính đến ngày 20/7/2025, toàn tỉnh đã tiến hành xuống giống gieo trồng vụ hè thu đạt 149.554,6 ha, tăng 3,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: diện tích lúa vụ hè thu đạt 48.291,2 ha, tăng 0,42%; ngô đạt 31.772,9 ha, tăng 2,1%; khoai lang đạt 3.823,9 ha, tăng 0,2%; đậu các loại đạt 1.424,8 ha, tăng 0,15%; rau các loại đạt 30.638,9 ha, tăng 1,01%; hoa các loại đạt 3.389,2 ha, tăng 5,15% so với cùng kỳ năm trước. * Cây lâu năm: Trong 7 tháng năm 2025, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung thu hoạch và chăm sóc diện tích cây lâu năm hiện có, đồng thời chuyển đổi một phần diện tích trồng kém hiệu quả sang các loại cây có giá trị kinh tế cao hơn; tiếp tục đầu tư cải tạo giống cũ có năng suất chất lượng thấp sang các giống mới có năng suất chất lượng cao, trong đó tập trung tái canh cây cà phê, chè và cây ăn quả như cây sầu riêng, bơ….cụ thể: - Cây cà phê: Đang trong giai đoạn trổ hoa, kết trái vì vậy việc tưới tiêu, chăm sóc, tỉa cành đang được bà con nông dân trong tỉnh quan tâm thực hiện. - Cây chè: Người dân tiến hành làm cỏ, chặt tỉa cành già cỗi, bón phân, tưới nước để cây chè sinh trưởng phát triển tốt cho nhiều búp. - Cây thanh long: Tiếp tục giữ vững thị trường xuất khẩu và có dấu hiệu phục hồi, đặc biệt tại các thị trường lớn như Trung Quốc và một số quốc gia Đông Nam Á, giá thanh long trong những tháng đầu năm nhìn chung ổn định, tạo động lực để người trồng thanh long yên tâm sản xuất. Nhiều hộ đã chủ động đầu tư xử lý ra hoa trái vụ nhằm nâng cao giá trị kinh tế. Tính đến ngày 15/7/2025, toàn tỉnh đã có 9.236,5 ha thanh long đạt chứng nhận VietGAP. - Cây sầu riêng: Tiếp tục có bước phát triển mạnh mẽ về diện tích và sản lượng. Do hiệu quả kinh tế cao, nhiều nông hộ đã chuyển đổi từ các loại cây trồng kém hiệu quả sang trồng sầu riêng. Bên cạnh việc mở rộng diện tích, người trồng sầu riêng ngày càng quan tâm đến áp dụng các kỹ thuật canh tác tiên tiến, góp phần nâng cao năng suất và chất lượng trái. Tuy nhiên, tốc độ phát triển nhanh cũng đặt ra yêu cầu cần có quy hoạch hợp lý, kiểm soát chất lượng chặt chẽ và theo sát diễn biến thị trường tiêu thụ nhằm hạn chế rủi ro đầu ra. - Cây cao su: Xu hướng duy trì ổn định. Mặc dù giá cả chưa có nhiều đột biến, nhưng thị trường xuất khẩu đang dần phục hồi, nhất là từ phía Trung Quốc, giúp giá mủ cao su giữ ở mức khá; nhờ vậy người dân vẫn chăm sóc tốt vườn cây hiện có, đồng thời đẩy mạnh mở rộng tại những vùng có điều kiện canh tác phù hợp. - Cây điều: Trong thời gian qua có mức tăng trưởng nhẹ, chủ yếu do một số địa phương phục hồi lại diện tích cũ và trồng mới bằng giống ghép năng suất cao. Tuy nhiên vẫn còn nhiều vườn điều đã già cỗi, năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao khiến người dân có xu hướng chuyển sang cây trồng khác như sầu riêng, cao su, xoài... Diện tích điều được kỳ vọng sẽ được duy trì ổn định nếu có sự hỗ trợ về giống mới, kỹ thuật canh tác và chính sách bao tiêu đầu ra rõ ràng. - Cây tiêu: Có xu hướng giảm về diện tích; mặc dù giá tiêu trên thị trường có tín hiệu tăng, nhưng chi phí chăm sóc cao, sâu bệnh diễn biến phức tạp, hiệu quả kinh tế không ổn định khiến người trồng hạn chế trồng mới. Nhiều vườn tiêu già cỗi, không còn khả năng phục hồi được chuyển đổi sang các cây trồng có tiềm năng cao hơn như sầu riêng, cao su, xoài. * Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất: Công tác thủy lợi phục vụ sản xuất đáp ứng yêu cầu. Đến nay, trên địa bàn tỉnh có 1.426 công trình thủy lợi, trong đó: có 535 hồ chứa, 231 đập dâng, 14 cống dâng, cống điều tiết, 51 trạm bơm, 91 đập tạm, 20 kênh tiêu, 3 bờ bao thủy lợi. Về hệ thống kênh tưới có khoảng 1.578 km kênh mương và 481 hệ thống kênh dẫn. Công tác phòng chống thiên tai tiếp tục được quan tâm, tổ chức trực ban đột xuất, thường xuyên theo dõi thông tin tình hình khí tượng thủy văn, thời tiết nguy hiểm, thiên tai, sự cố, thảm họa xảy ra; tập trung kiểm tra hiện trạng đập, hồ chứa, công trình thủy lợi trước mùa mưa, lũ năm 2025. * Tình hình dịch bệnh trên cây trồng: Sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát; các loại sâu bệnh thường gây hại trên cây cà phê, chè, sầu riêng và các cây trồng khác như: bọ xít muỗi, xì mủ, thối rễ, thán thư,... cụ thể: - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 1.936 ha (163 ha nhiễm nặng), giảm 855,7 ha so với cùng kỳ năm trước. - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại với diện tích nhiễm 2.290 ha (tăng 1.060 ha); bọ xít muỗi gây hại 1.944,1 ha (tăng 317,1 ha); bệnh chết khô ngọn 103 ha (20,7 ha nhiễm nặng). - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 2.779 ha (giảm 368,3 ha) và bệnh thán thư gây hại 2.962 ha (giảm 350,5 ha). - Cây cà chua: Bệnh xoăn lá virus gây hại rải rác tất cả các vùng trồng cà chua với diện tích 71,4 ha (tăng 8,1 ha), sâu đục lá cà chua Nam Mỹ gây hại 5,1 ha. - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 284 ha (giảm 67 ha). Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất. 2. Chăn nuôi Trong tháng, tình hình chăn nuôi trên bàn tỉnh có chiều hướng duy trì và phát triển tích cực; tuy giá thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao, nhưng giá bán các sản phẩm gia súc ổn định và dịch bệnh được kiểm soát tốt, do đó người chăn nuôi yên tâm đầu tư tăng đàn, đặc biệt là các trại chăn nuôi gia công. So với cùng kỳ năm trước, toàn tỉnh có 26,3 nghìn con trâu, giảm 3,17%; có 310,5 nghìn con bò, tương đương so với cùng kỳ năm trước (trong đó: đàn bò thịt 279,7 nghìn con, tăng 0,32%; đàn bò sữa 30,8 nghìn con, giảm 2,84%); có 1.329,5 nghìn con lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ), tăng 5,06%; có 21.373,1 nghìn con gia cầm, tăng 9,61% (trong đó đàn gà 14.961,2 nghìn con, tăng 10,83%). * Công tác tiêm phòng, kiểm dịch động vật: Trong tháng, công tác kiểm soát dịch bệnh được tăng cường. Tính đến ngày 30/7/2025: Tổng số lợn mắc bệnh, chết và tiêu hủy là 697 con/18 hộ/15 thôn/10 xã (Đắk Sắk, Tuy Đức, Quảng Tín, Cư Jút, Krông Nô, Đức An, Trường Xuân, Nhân Cơ, Nam Đà và Bảo Lâm 1), trọng lượng tiêu hủy 29.363 kg; tổng đàn lợn mẫn cảm với bệnh dịch tả lợn Châu Phi của 10 xã là 157.796 con (Đắk Sắk:10.518 con, Tuy Đức: 11.610 con, Quảng Tín: 27.000 con, Cư Jút: 51.250 con, Đức An: 35.900 con, Nam Đà: 2.094 con, Nhân Cơ: 4.000, Trường Xuân: 6.495 con và Bảo Lâm1: 8.929 con); Xã Krông Nô có bệnh dịch tả lợn Châu Phi đã qua 21 ngày (những xã đã qua 21 ngày không phát sinh lợn mắc bệnh, chết được xem là hết bệnh). Các cơ quan chức năng đã chỉ đạo đơn vị chuyên môn triển khai các biện pháp chống dịch theo quy định, tăng cường công tác giám sát và phòng bệnh đối với 159.520 con lợn tại 06 xã mẫn cảm với bệnh dịch tả lợn Châu phi; cấp 460 lít hóa chất phục vụ công tác chống dịch. Duy trì thực hiện công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất, nhập tỉnh theo quy trình kiểm dịch. Trong tháng, không phát hiện vi phạm trong công tác kiểm dịch động vật. Đã thực hiện kiểm dịch 268,5 nghìn con lợn; 326 con trâu bò; 2.819,3 nghìn con gia cầm; 216 tấn thức ăn gia súc; 13 tấn thức ăn thủy sản; 14 tấn sản phẩm khác (chủ yếu phủ tạng, thịt); 10 triệu quả trứng gia cầm; 1,7 tỷ post tôm giống và 1.000 con cá tầm giống. 3. Sản xuất lâm nghiệp - Công tác trồng rừng: Trong tháng đã trồng được 951,0 ha rừng tập trung, lũy kế 7 tháng đã trồng được 3.204,4 ha, đạt 58,62% kế hoạch năm, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước. Về thực hiện Đề án trồng 01 tỷ cây xanh: Trong 7 tháng năm 2025, đã trồng khoảng 2.895 nghìn cây, đạt 16,51% kế hoạch năm. Đến nay, toàn tỉnh đã trồng được 59.323 nghìn cây, đạt 83,6% kế hoạch trồng triệu cây xanh giai đoạn 2021-2025. - Công tác phòng, chống cháy rừng: Trong tháng không xảy ra cháy rừng trên địa bàn tỉnh; lũy kế 7 tháng năm 2025 đã xảy ra 17 vụ cháy rừng, làm 12 ha rừng bị thiệt hại. - Công tác quản lý, bảo vệ rừng: Công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn được duy trì thường xuyên, liên tục; đã tiến hành kiểm tra, truy quét, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm. Trong tháng, đã phát hiện 27 vụ vi phạm luật lâm nghiệp, diện tích thiệt hại do phá rừng 1,36 ha, khối lượng lâm sản thiệt hại là 24 m3 và tang vật vi phạm là 1,06 m3 gỗ tròn; tổng số vụ vi phạm đã xử lý hành chính 29 vụ; tang vật tịch thu 57,3 m3 gỗ các loại, thu nộp ngân sách hơn 309 triệu đồng. Lũy kế 7 tháng năm 2025, tổng số vụ vi phạm 291 vụ, làm thiệt hại 18,22 ha rừng; tổng khối lượng lâm sản thiệt hại 548,1 m3 gỗ các loại và tang vật là 6,6 m3 gỗ tròn. Tổng số vụ vi phạm đã xử lý 334 vụ (xử lý hành chính 326 vụ, chuyển xử lý hình sự 08 vụ), tang vật tịch thu 258,7 m3 gỗ các loại; thu nộp ngân sách hơn 2.488,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ vi phạm giảm 44,9%, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 46,8%, khối lượng lâm sản thiệt hại giảm 22,3%. 4. Thuỷ sản - Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng trong tháng ước đạt 238,4 ha, giảm 2,77% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 7 tháng năm 2025 diện tích nuôi trồng ước đạt 1.510,4 ha, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước (trong đó diện tích nuôi cá 1.067,0 ha, giảm 1,93%; diện tích nuôi tôm 400,4 ha, tăng 3,38% so với cùng kỳ). - Sản lượng nuôi trồng: Tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh trong những tháng vừa qua gặp khó khăn chủ yếu ở xã Sơn Mỹ và Trà Tân do tình hình nuôi thủy sản không mang lại hiệu quả, giá cá thương phẩm giảm trong khi các chi phí đi kèm tăng, rất nhiều hộ nuôi san lấp cải tạo diện tích để chuyển sang trồng cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả. Trong tháng sản lượng ước đạt 1.847,1 tấn; giảm 3,57% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 7 tháng năm 2025 ước đạt 14.499,6 tấn, tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước. - Sản lượng khai thác: Từ đầu năm đến nay tình hình thời tiết tương đối thuận lợi cho hoạt động đánh bắt thủy sản. Nguồn lợi thủy sản đã xuất hiện trở lại nên đa số các nghề khai thác đạt hiệu quả cao. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng biển ven bờ và vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đặc khu Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK-1. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước 24.090 tấn, tăng 3,86% so với cùng kỳ năm trước (trong đó, sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 24.051 tấn, tăng 3,94%). Lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng khai thác đạt 140.359,3 tấn, tăng 3,62% so với cùng kỳ năm trước (trong đó, sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 140.066,9 tấn, tăng 3,63%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Công tác quản lý chất lượng giống thuỷ sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Tình hình sản xuất, kinh doanh tôm giống trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay gặp nhiều thuận lợi do thị trường tiêu thụ tôm giống tăng khá, nhiều cơ sở tái đầu tư sản xuất. Nguyên nhân do tình hình nuôi tôm thương phẩm trên cả nước gặp nhiều thuận lợi, chi phí đầu tư nuôi tôm ổn định, hiệu quả nuôi đạt, giá tăng nên doanh nghiệp nuôi tôm tăng thả tôm giống. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước 2 tỷ con, tăng 11,14% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 7 tháng năm 2025 ước đạt 14 tỷ con, tăng 8,54% so với cùng kỳ năm trước. - Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản: Trên biển, lực lượng kiểm ngư tổ chức cao điểm tuần tra, kiểm soát bảo vệ nguồn lợi thủy sản; tại cảng cá lực lượng chức năng phối hợp với lực lượng của các đơn vị liên tổ chức kiểm tra, kiểm soát nghề cá tại các cảng cá, phục vụ phòng, chống khai thác IUU. Trong tháng không có tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài. Lũy kế 7 tháng năm 2025, đã ban hành 27 Quyết định với tổng số tiền xử phạt 349,3 triệu đồng (giảm 60,3% số vụ, giảm 73,6% số tiền so cùng kỳ năm trước). Tính đến ngày 15/7/2025, 100% tàu cá có chiều dài từ 06 mét trở lên đã được cấp chứng nhận đăng ký tàu cá và cập nhật vào Sổ đăng ký tàu cá quốc gia; có 7.443 tàu cá được cấp giấy phép khai thác thủy sản còn hạn, đạt 88,27%; có 1.988/1994 tàu cá có chiều dài từ 15 mét trở lên đang hoạt động đã thực hiện lắp đặt thiết bị giám sát tàu cá (VMS). II. Công nghiệp; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Bảy tháng đầu năm 2025, kinh tế thế giới phức tạp. Xung đột kéo dài ở Ukraine và Trung Đông tiếp tục làm gián đoạn chuỗi cung ứng, gây áp lực lên chi phí sản xuất toàn cầu. Thêm vào đó, các rào cản thương mại và căng thẳng Mỹ - Trung cũng là những yếu tố nguy cơ làm chậm lại các hoạt động thương mại và sản xuất. Trong nước, nền kinh tế cho thấy sức bật mạnh mẽ, linh hoạt thích ứng để duy trì đà phục hồi và bảo đảm an sinh xã hội. Tại tỉnh, ngành công nghiệp đã có những bước chuyển tích cực, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò chủ lực với tỷ trọng cao nhất. Nhìn chung, đà tăng trưởng của ngành được duy trì ổn định, là kết quả của sự phục hồi sản xuất ở các lĩnh vực chủ lực và đóng góp từ các dự án mới. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 1,68% so với tháng trước và tăng 11,73% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2025, ước IIP tăng 3,49% so với cùng kỳ năm trước[1]. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 4,49%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,42%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,32%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,15%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 358.151 m3, giảm 2,2% so với tháng trước và tăng 6,01% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 2.174.600,3 m3, tăng 8,95% so với cùng kỳ, xu hướng phục hồi. - Sản phẩm thủy sản đông lạnh: Trong tháng có sự khởi sắc sản lượng các sản phẩm đông lạnh từ thủy sản như: cá, tôm, mực,… sản xuất đạt 1.809 tấn tăng 10,61% so với tháng trước và tăng 3,1% so với cùng kỳ, lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 11.805 tấn, tăng 4,45% so với cùng kỳ, nhu cầu thị trường ổn định. - Sản phẩm rau, quả cấp đông: Trong tháng sản lượng ước đạt 1.618 tấn, tăng 3,73% so với tháng trước và tăng 11,05% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 11.009 tấn, tăng 20,53% so với cùng kỳ. Đặc biệt, sản phẩm từ một số doanh nghiệp đã được đưa vào siêu thị lớn như Mega Market và xuất khẩu sang Malaysia, Indonesia. - Sản phẩm hạt điều nhân: Trong tháng sản lượng điều khô sản xuất ước đạt 1.597 tấn, giảm nhẹ 0,73% so với tháng trước và tăng 2,95% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 11.780 tấn, tăng mạnh 23,20% so với cùng kỳ. Sản phẩm hạt điều khô có sự tăng trưởng so với cùng kỳ nhờ giá điều năm 2025 đang có xu hướng cao, đặc biệt là giá điều nhân xuất khẩu. Đây là tín hiệu tích cực, khuyến khích các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất cá thể tập trung vào nâng cao sản lượng sản xuất. - Sản phẩm thức ăn cho gia súc: Ước trong tháng sản lượng đạt 21,9 nghìn tấn, tăng 3,24% so với tháng trước và tăng 16,95% so với cùng kỳ, lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 145,9 nghìn tấn, tăng 10,25% so với cùng kỳ. - Sản phẩm bia: Ước trong tháng sản lượng đạt 9,7 nghìn lít, tăng 0,1% so với tháng trước và giảm 13,99% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 60,3 nghìn lít, giảm 18,78% so với cùng kỳ. Nguyên nhân giảm chủ yếu do nhu cầu thị trường tiêu thụ thấp, sản lượng bia sản xuất điều chuyển qua chi nhánh khác thuộc tổng công ty. - Sản phẩm nước khoáng: Nước khoáng có ga ước trong tháng sản lượng đạt 2,2 triệu lít tăng 5% so với tháng trước và tăng 36,33% so với cùng kỳ, lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 13,4 triệu lít, tăng 13,02% so với cùng kỳ; nước khoáng không có ga dự ước trong tháng sản lượng đạt 6,5 triệu lít tăng 5% so với tháng trước và giảm 8,73% so với cùng kỳ, lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 42,4 triệu lít, giảm 7,92% so với cùng kỳ. - Sản phẩm vải lụa tơ tằm: Trong tháng sản lượng vải lụa tơ tằm sản xuất ước đạt 115 m2, tăng 4,66% so với tháng trước và tăng 8,28% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 724 m2, tăng 2,27% so với cùng kỳ. - Sản phẩm quần áo may sẵn các loại: Ước trong tháng sản lượng đạt 3.613 nghìn cái, tăng 5,86% so với tháng trước và tăng 10,04% so với cùng kỳ, lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 22.732 nghìn cái, tăng 17,09% so với cùng kỳ. - Sản phẩm giày, dép: Ước trong tháng sản lượng đạt 618 nghìn đôi, tăng 6,72% so với tháng trước và tăng gấp 2,55 lần so với cùng kỳ, lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 3.558 nghìn đôi, tăng gấp 2,08 lần so với cùng kỳ do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng và năng lực tăng thêm ở Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng phân bón sản xuất ước đạt 14.828 tấn tăng 5,86% so với tháng trước và tăng 10,04% so với cùng kỳ, lũy kế 7 tháng năm 2025 đạt 69.987 tấn, tăng 10,04% so với cùng kỳ. Sản phẩm có sự tăng trưởng cao do nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông mới đi vào sản xuất sản phẩm. - Sản phẩm alumin: Trong tháng ước đạt 132 nghìn tấn, tăng 0,78% so với tháng trước và tăng 4,71% so với cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 896,86 nghìn tấn, tăng 3,58% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Ước trong tháng sản lượng đạt 2.704 triệu kwh, tăng 0,52% so với tháng trước và tăng 13,82% so với cùng kỳ, tăng cao so cùng kỳ do Nhà máy Nhiệt diện Vĩnh Tân 2, Nhiệt điện Vĩnh tân 4 và 4 mở rộng cùng kỳ sản lượng thấp (Nhiệt diện Vĩnh Tân 2 tháng 7/2024 sản xuất 203,4 tr.kwh, ước T7/2025 sản xuất 347,5 tr.kwh tăng 70,85% so với cùng kỳ; Nhiệt diện Vĩnh Tân 4 và 4 mở rộng tháng 7/2024 sản xuất 549,6 tr.kwh ước T7/2025 sản xuất 843,5 tr.kwh tăng 53,49% so với cùng kỳ). Lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 19.834 triệu kwh, giảm 0,84% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Ước trong tháng sản lượng đạt 430,5 triệu kwh, tăng 3,91% so với tháng trước và tăng 3,25% so với cùng kỳ, lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 3.201,7 triệu kwh, giảm 2,16% so với cùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. - Sản phẩm nước ghi thu: Ước trong tháng sản lượng đạt 9,7 triệu m3, tăng 1,52% so với tháng trước và tăng 7,02% so với cùng kỳ, lũy kế 7 tháng năm 2025 sản lượng đạt 67,2 triệu m3, tăng 2,86% so với cùng kỳ. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực, tăng 1,94% so với tháng trước và tăng 4,27% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc một số doanh nghiệp mới được thành lập, đồng thời nhiều doanh nghiệp đã gia tăng tuyển dụng để đáp ứng tiến độ sản xuất theo các đơn hàng mới phát sinh trong tháng. Tính chung 7 tháng năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 2,82% so với cùng kỳ năm trước. Điều này phản ánh sự ổn định của thị trường lao động và thể hiện tín hiệu phục hồi, phát triển tích cực của khu vực sản xuất công nghiệp trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp Lũy kế đến nay, các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh đã thu hút tổng cộng 234 dự án đầu tư, gồm 187 dự án trong nước và 47 dự án nước ngoài, với tổng vốn đăng ký đạt 43.742,8 tỷ đồng và 454,1 triệu USD. Diện tích đất đã cho thuê đạt 756,6 ha trên tổng số 1.520 ha đất thương phẩm, tương ứng với tỷ lệ lấp đầy 49,78%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 là khu hoạt động hiệu quả nhất khi đã lấp đầy 100% diện tích (51,4 ha), thu hút 39 dự án, trong đó có 10 dự án nước ngoài, với tổng vốn đăng ký 857,9 tỷ đồng và 74,8 triệu USD. KCN Phan Thiết giai đoạn 2 đạt tỷ lệ lấp đầy 81,92% với 12 dự án (2 FDI), tổng vốn đăng ký 548,1 tỷ đồng và 11,9 triệu USD. - KCN Hàm Kiệm I đạt tỷ lệ lấp đầy 65,27% với diện tích đã cho thuê là 59,3 ha, thu hút 21 dự án (8 FDI), tổng vốn đầu tư 1.676,9 tỷ đồng và 56,2 triệu USD. KCN Hàm Kiệm II có diện tích cho thuê lớn hơn (88,2 ha) nhưng tỷ lệ lấp đầy 31,68%, với 17 dự án (7 FDI), tổng vốn đăng ký 687,4 tỷ đồng và 185,6 triệu USD. - KCN Sông Bình mới thu hút 03 dự án trong nước, với tổng vốn đăng ký đạt tới 13.544,9 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn toàn tỉnh, dù tỷ lệ lấp đầy còn khá thấp (28,84% trên 58,4 ha). KCN Tân Đức mới thu hút được 01 dự án trong nước, với tổng vốn đầu tư 100 tỷ đồng, diện tích cho thuê 1,5 ha, tương ứng 0,7% tỷ lệ lấp đầy. - KCN Lộc Sơn đã lấp đầy 85,21% diện tích (112,8 ha/132,3 ha), thu hút 55 dự án (9 FDI), tổng vốn 3.120,4 tỷ đồng và 48,6 triệu USD. - KCN Phú Hội thu hút 32 dự án (11 FDI), với tổng vốn 2.384,1 tỷ đồng và 77,1 triệu USD, đạt tỷ lệ lấp đầy 75,02% trên diện tích 56 ha. - KCN Tâm Thắng với tỷ lệ lấp đầy 96,27% trên 129 ha, thu hút 47 dự án với tổng vốn 2.223 tỷ đồng. - KCN Nhân Cơ hiện chỉ có 01 dự án quy mô lớn là Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông, với vốn đầu tư lên tới 18.423 tỷ đồng, diện tích sử dụng 128 ha, tỷ lệ lấp đầy 86,49%. - Hiện tại, một số KCN đang trong quá trình thi công hạ tầng và chưa thu hút được dự án đầu tư, gồm: KCN Tuy Phong, Sơn Mỹ 1, Sơn Mỹ 2 (tại Bình Thuận) và KCN Phú Bình (tại Lâm Đồng cũ). Những KCN này được kỳ vọng sẽ là động lực phát triển mới khi hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật đồng bộ và có chính sách thu hút đầu tư phù hợp. 2. Đầu tư phát triển Trong bối cảnh tinh gọn bộ máy hành chính, sáp nhập các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Đắk Nông thành tỉnh Lâm Đồng mới; mặc dù đã có sự chuyển giao và chuẩn bị kỹ lưỡng nhưng cũng ít nhiều ảnh hưởng đến tiến độ giải ngân vốn đầu tư công. Bên cạnh đó, do thời tiết không thuận lợi (mưa nhiều), giá cả một số vật tư, nhiên, vật liệu tăng cao,... làm ảnh hưởng đến tiến độ công trình. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng ước đạt 1.261,8 tỷ đồng, giảm 0,04% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.259,1 tỷ đồng (chiếm 99,79% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn), tăng 0,04%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 2,7 tỷ đồng (chiếm 0,21% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn), giảm 26,86%. Tính chung 7 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước 6.545,7 tỷ đồng, đạt 41,21% so với kế hoạch, tăng 7,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 6.531,6 tỷ đồng, tăng 7,81%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 14 tỷ đồng, giảm 12,14%. - Thu hút đầu tư: Trong tháng không có dự án cấp mới, điều chỉnh, thu hồi hoặc chấm dứt hoạt động. Lũy kế 7 tháng năm 2025, có 36 dự án cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư đạt 13.702,8 tỷ đồng, diện tích 648,2 ha. Lũy kế đến nay trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có 2.940 dự án với tổng vốn đầu tư khoảng 2,7 triệu tỷ đồng. - Về phát triển doanh nghiệp: Trong tháng có 200 doanh nghiệp thành lập mới, với số vốn đăng ký 664,9 tỷ đồng, tăng 102% về số doanh nghiệp, tăng 120% về vốn đăng ký; 68 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 19,3%; 37 doanh nghiệp giải thể, tăng 105,6%; 48 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 65,5% so cùng kỳ. Lũy kế 7 tháng năm 2025, có 1.726 doanh nghiệp thành lập mới, với số vốn đăng ký 9.159,9 tỷ đồng, tăng 19,1% về số doanh nghiệp, tăng 2,3% về vốn đăng ký; 1.358 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 16%; 389 doanh nghiệp giải thể, tăng 37,2%; 566 doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 10,1% so cùng kỳ. III. Thương mại; giá cả; du lịch; xuất nhập khẩu; giao thông vận tải Sau sáp nhập, tỉnh Lâm Đồng mới hình thành hành lang kinh tế liên kết giữa Tây Nguyên, duyên hải Nam Trung Bộ và Đông Nam Bộ, tạo nền tảng cho phát triển toàn diện. Trong đó, văn hóa, du lịch và thương mại được xác định là ba trụ cột chính, vừa là động lực tăng trưởng, vừa là không gian sáng tạo để hội tụ trí tuệ, bản sắc, công nghệ và nguồn lực xã hội. Trong tháng thị trường hàng hóa ổn định, nguồn cung dồi dào, phục vụ tốt nhu cầu tiêu dùng và du lịch. Hạ tầng thương mại phát triển, thị trường xuất khẩu mở rộng. Sức mua tăng nhờ các cơ sở kinh doanh chủ động dự trữ hàng hóa phục vụ khách du lịch mùa cao điểm. Hoạt động du lịch sôi động, lượng khách tăng mạnh tại các điểm đến trọng yếu do mùa du lịch hè. Dịch vụ lữ hành, lưu trú, giải trí đều tăng trưởng tích cực. Vận tải đường bộ và đường thủy ổn định, đặc biệt tuyến đặc khu Phú Quý duy trì thông suốt, đáp ứng nhu cầu di chuyển và vận chuyển hàng hóa - hành khách. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng Hoạt động thương mại dịch vụ sôi động, hàng hóa dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và sản xuất. Giá cả ổn định, không xảy ra biến động với các mặt hàng thiết yếu. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành đều tăng so với cùng kỳ. Thị trường tiêu thụ mở rộng, đa dạng hình thức khuyến mãi, đảm bảo cung ứng hàng hóa đầy đủ và kịp thời cho sản xuất và tiêu dùng. Nhiều doanh nghiệp bán lẻ, đại lý kinh doanh đã triển khai chương trình khuyến mại, giảm giá hấp dẫn, tập trung vào các mặt hàng thiết yếu, hàng hóa theo mùa như thời trang, thiết bị điện gia dụng, hóa mỹ phẩm… nhằm kích cầu tiêu dùng và gia tăng doanh thu. Đồng thời, các chính sách kích cầu tiêu dùng như lễ hội du lịch, lễ hội mua sắm, chương trình xúc tiến thương mại tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần mở rộng phân phối hàng hóa và thúc đẩy tiêu dùng nội địa. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 22.032,8 tỷ đồng, tăng 5,15% so với tháng trước và tăng 16,05% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 13,2%). Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 14.520,5 tỷ đồng, tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 16,41% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 5.092,9 tỷ đồng, tăng 9,16% so với tháng trước và tăng 17,74% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.419,4 tỷ đồng, tăng 6,46% so với tháng trước và tăng 10,63% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 142.531,9 tỷ đồng, tăng 12,56% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,75%). Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 95.715,1 tỷ đồng, tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 31.365,3 tỷ đồng, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 15.460,5 tỷ đồng, tăng 9,78% so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 14.520,5 tỷ đồng, tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 16,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn như: lương thực, thực phẩm ước đạt 6.757,3 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 46,54% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa), tăng 4,48% so với tháng trước và tăng 20,97% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 1.421,1 tỷ đồng (chiếm 9,79%), tăng 2,47% so với tháng trước và tăng 14,65% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 1.475,6 tỷ đồng (chiếm 10,16%), tăng 1,63% so với tháng trước và tăng 5,24% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 1.906,3 tỷ đồng (chiếm 13,13%), tăng 4,54% so với tháng trước và tăng 5,2% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng năm 2025 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 95.715,1 tỷ đồng, tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: lương thực, thực phẩm ước đạt 43.741,9 tỷ đồng, tăng 15,25% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 9.793,2 tỷ đồng, tăng 13,28%; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 9.393,1 tỷ đồng, tăng 12,27%; xăng, dầu các loại ước đạt 12.798,5 tỷ đồng, tăng 0,51%. 1.2. Công tác quản lý thị trường Tình trạng tàng trữ hàng cấm, hàng không rõ nguồn gốc, hàng xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm và vi phạm trong hoạt động thương mại điện tử vẫn còn diễn ra, với thủ đoạn tinh vi rất khó phát hiện; các mặt hàng vi phạm chủ yếu như: giày dép, quần áo thời trang, mỹ phẩm, thực phẩm tươi sống, thực phẩm đông lạnh, phụ tùng xe máy, đặc sản địa phương... các hành vi vi phạm chủ yếu mang tính chất nhỏ lẻ, chưa phát hiện các vụ việc có quy mô lớn, nghiêm trọng ảnh hưởng đến thị trường và quyền lợi người tiêu dùng. Trong tháng, lực lượng Quản lý thị trường đã kiểm tra 50 vụ, phát hiện 40 vụ vi phạm, đã xử lý 60 vụ vi phạm (gồm 20 vụ từ kỳ trước chuyển qua). Tổng số tiền xử phạt 656,75 triệu đồng và trị giá hàng hóa vi phạm là 310,529 triệu đồng. 2. Giá tiêu dùng Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở, giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống, giá đồ uống và thuốc lá tăng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,27% so với tháng trước, tăng 2,76% so với cùng kỳ năm trước và tăng 2,67% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân 7 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 2,74%. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 09 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,55%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,47%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,30%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,28%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,27%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,19%; Hàng hóa và dịch vụ khác 0,18%; Bưu chính viễn thông tăng 0,04%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%. Nhóm hàng Giáo dục (100%) và nhóm hàng giao thông giảm giá (giảm 0,30%). Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 7 tháng năm 2025 tăng 2,74% so với bình quân cùng kỳ năm 2024. * Các nguyên nhân làm tăng, giảm CPI trong tháng: - Các nguyên nhân làm tăng CPI trong tháng: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,55% so với tháng trước, do nhu cầu tiêu dùng và du lịch hè tăng tác động giá bán tăng so tháng trước; giá đồ uống và thuốc lá tăng 0,47% so tháng trước, do giá nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng, giá thành sản xuất tăng nên các nhà cung ứng điều chỉnh giá bán ra vì vậy giá thị trường tiêu dùng tăng so tháng trước; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,95% do giá xi măng, cát đá, sắt thép, gạch, ngói tăng do ảnh hưởng chi phí nhập khẩu nguyên liệu và tại địa phương nhu cầu xây dựng tăng cao đặc biệt một số công trình đầu tư công gấp rút hoàn thành. - Các nguyên nhân làm giảm CPI trong tháng: giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 03, 10, 17 và 24 của tháng, tính bình quân chung tháng 7/2025 chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu giảm 1,28% so với tháng trước; giá gas trong tháng giảm 3,04% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh giảm 11.000 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới. Giá gas thế giới bình quân tháng 7/2025 công bố ở mức 560 USD/tấn, giảm 25 USD/tấn so với tháng trước. * Các yếu tố làm tăng, giảm CPI bình quân 7 tháng năm 2025 so bình quân cùng kỳ - Các yếu tố làm tăng CPI bình quân 7 tháng năm 2025: + Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,68% tác động làm CPI chung tăng 0,94 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng 9,54% do nguồn cung hạn chế trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết; + Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,44%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,07%; các thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,43%. Nguyên nhân do tăng cao trong dịp Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán sản phẩm; + Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,82% làm CPI chung tăng 0,72 điểm phần trăm, do giá nhà ở thuê và giá nguyên vật liệu đầu vào tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 7,20% do nhu cầu sử dụng điện tăng đồng thời ngày 11/10/2024 và ngày 09/5/2025 EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân; giá gas tăng 2,26% do Nhà nước điều chỉnh giá gas trong nước tăng theo giá thế giới; + Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 15,48% làm CPI chung tăng 0,95 điểm phần trăm, áp dụng giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế; + Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,89% làm CPI chung tăng 0,21 điểm phần trăm, trong đó các mặt hàng trang sức bằng vàng tăng 22,42% do ảnh hưởng giá vàng trong nước tăng theo giá vàng thế giới; giá bảo hiểm y tế tăng 25,22% do tăng theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng từ 1.800.000 đồng lên 2.340.000 đồng, theo đó bảo hiểm y tế cho cán bộ công chức và người lao động cũng được tăng theo. - Các yếu tố làm giảm CPI bình quân 7 tháng năm 2025 + Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 1,33% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,07 điểm phần trăm, trong đó giảm chủ yếu mặt hàng gạo giảm 2,40%. Nguyên nhân, do nguồn cung tại địa phương cũng như nguồn cung trong nước dồi dào, tình hình xuất khẩu gạo cũng giảm so cùng kỳ, do đó giá so cùng kỳ năm trước có phần giảm, mức giảm dao động từ 500 - 1.000 đồng/kg tùy loại; + Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,93% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,28 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 11,82%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, các hoạt động chào mừng tỉnh Lâm Đồng mới diễn ra sôi nổi với nhiều chương trình nghệ thuật đặc sắc, thu hút đông đảo người dân và du khách. Phan Thiết tổ chức loạt chương trình biểu diễn ấn tượng, trong khi Đà Lạt phát triển mạnh dịch vụ du lịch về đêm như: Vườn Ánh Sáng Lumiere với 7 khu vực ánh sáng theo chủ đề, Delight Park - công viên giải trí 14 hoa và ánh sáng nghệ thuật. Các hoạt động âm nhạc đường phố, thể thao cộng đồng cũng góp phần tạo nên không khí mùa hè rộn ràng. Du lịch thể thao tiếp tục sôi động với các giải đấu lớn như Marathon Bikini Run tại NovaWorld Phan Thiết, đua xe đạp, Billiards quốc gia, bóng rổ, võ thuật,… tất cả diễn ra dịp cao điểm du lịch hè thu hút đông đảo vận động viên, khán giả và du khách. Tỉnh tập trung phát triển các loại hình du lịch chủ lực và tiềm năng như: du lịch nghỉ dưỡng, thể thao biển, du lịch sinh thái, cộng đồng, canh nông, rừng - biển - đồi cát, du lịch văn hóa - tâm linh - lễ hội, thể thao mạo hiểm, MICE (kết hợp du lịch với tổ chức hội nghị, hội thảo, sự kiện, khen thưởng cho nhân viên, đối tác hoặc khách hàng), du lịch chăm sóc sức khỏe, khám phá đảo, đặc biệt là tuyến ra đặc khu Phú Quý. Nhiều điểm đến mới tiếp tục hình thành và thu hút khách như: các bãi biển và công viên giải trí ven biển (Circus Land, Wonderland, Dino Park,...) các vườn trái cây, trang trại nông nghiệp, làng nghề truyền thống, cùng các điểm sinh thái đặc sắc ở cao nguyên. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.909,1 nghìn lượt, tăng 9,97% so tháng trước và tăng 13,52% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách phục vụ trong ngày ước đạt 75,8 nghìn lượt khách, tăng 3,32% so với tháng trước và tăng 15% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.470 nghìn ngày khách, tăng 10,96% so với tháng trước và tăng 16,64% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng năm 2025 lượt khách ước đạt 11.546,7 nghìn lượt, tăng 13,82% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách phục vụ trong ngày ước đạt 450,6 nghìn lượt khách, tăng 9,41% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 21.037,7 nghìn ngày khách, tăng 16,99% so với cùng kỳ năm trước.  Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 95,7 nghìn lượt khách, tăng 13,49% so với tháng trước và tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 247,6 nghìn ngày khách, tăng 14,79% so với tháng trước và tăng 4,64% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng năm 2025 lượt khách quốc tế ước đạt 791,3 nghìn lượt khách, tăng 34,26% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 2.197,8 nghìn ngày khách, tăng 31,58% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 981,6 tỷ đồng, tăng 11,73% so với tháng trước và tăng 12,51% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.013,9 tỷ đồng, tăng 8,7% so với tháng trước và tăng 17,54% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 97,4 tỷ đồng, tăng 3,24% so với tháng trước và gấp 2,57 lần so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 6.004,5 tỷ đồng, tăng 14,56% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 24.896 tỷ đồng, tăng 12,92% so cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 455,8 tỷ đồng, tăng gấp 2,37 lần so cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Trong tháng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.419,4 tỷ đồng, tăng 6,46% so với tháng trước và tăng 10,63% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 284,5 tỷ đồng, tăng 7,72% so với tháng trước và tăng 16,69% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 111,1 tỷ đồng, tăng 2,81% so với tháng trước và tăng 23,33% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 61,7 tỷ đồng, tăng 2,07% so với tháng trước và tăng 44,12% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 140 tỷ đồng, giảm 0,96% so với tháng trước và tăng 35,81% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.299,7 tỷ đồng, tăng 9,1% so với tháng trước và tăng 3,88% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 522,4 tỷ đồng, tăng 2,99% so với tháng trước và tăng 14,55% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng 2025 doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 15.460,5 tỷ đồng, tăng 9,78% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 1.755,5 tỷ đồng, tăng 13,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 689 tỷ đồng, tăng 18,51% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 477,9 tỷ đồng, tăng 40,54% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 768,4 tỷ đồng, tăng 16,18% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 8.445,3 tỷ đồng, tăng 7,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 3.324,5 tỷ đồng, tăng 8,38% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Việc sáp nhập hành chính giữa Bình Thuận, Lâm Đồng và Đắk Nông thành tỉnh Lâm Đồng mới đã thúc đẩy nhu cầu vận tải liên vùng tăng mạnh. Hoạt động điều phối nhân lực, hồ sơ và trang thiết bị giữa các trung tâm hành chính mới hình thành đã làm gia tăng đáng kể lưu lượng vận chuyển hàng hóa và hành khách trong ngắn hạn. Tuy nhiên, từ tuần thứ 3 của tháng, khu vực biển chịu ảnh hưởng của gió mạnh, sóng cao và mưa lớn của bão số 3 (bão Wipha), gây gián đoạn cục bộ đến vận chuyển đường biển. Dự ước doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng đạt 1.279,5 tỷ đồng, tăng 4,44% so với tháng trước và tăng 19,84% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng năm 2025 ước đạt 8.233,1 tỷ đồng, tăng 15,98% so với cùng kỳ.  - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.311 nghìn HK, tăng 7,75% so với tháng trước và tăng 24,06% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt gần 622.287,5 nghìn HK.Km, tăng 7,72% so với tháng trước và tăng 23,55% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 26.917,2 nghìn HK, tăng 11,85% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 3.980.100,7 nghìn HK.Km, tăng 14,98% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 1.910,6 nghìn tấn, tăng 1,28% so với tháng trước và tăng 4,09% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 278.684,5 nghìn tấn.Km, tăng 1,49% so với tháng trước và tăng 3,75% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 13.064,7 nghìn tấn, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.874.255,1 nghìn tấn.Km, tăng 5,77% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.279,5 tỷ đồng, tăng 4,44% so với tháng trước và tăng 19,84% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng năm 2025 ước đạt 8.233,1 tỷ đồng, tăng 15,98% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.554,5 tỷ đồng, tăng 19,92% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.429,8 tỷ đồng, tăng 5,27%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.212 tỷ đồng, tăng 43,6%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 36,7 tỷ đồng, tăng 12,04%. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 7 tháng năm 2025 ước đạt 910,8 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 836,7 nghìn tấn (muối xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 74,1 nghìn tấn (túi xi măng, máy móc, muối xá). IV. Thu ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu - chi ngân sách Ước thu ngân sách trong tháng đạt 2.406,1 tỷ đồng. Lũy kế 7 tháng năm 2025 ước đạt 18.662,3 tỷ đồng, đạt 66,06% dự toán năm, trong đó thu nội địa 17.665,7 tỷ đồng, đạt 66,39% dự toán năm. Trong tổng thu ngân sách gồm: thu thuế, phí, lệ phí 10.616,4 tỷ đồng, đạt 66,57% dự toán năm; thu tiền nhà, đất 2.873,6 tỷ đồng, đạt 57,59% dự toán năm; thu thuế xuất nhập khẩu 996,6 tỷ đồng, đạt 60,81% dự toán toán năm. Chi ngân sách nhà nước 7 tháng năm 2025 ước thực hiện 30.011,4 tỷ đồng, đạt 62,55% so với dự toán năm; trong đó: Chi đầu tư phát triển 4.018,9 tỷ đồng; chi thường xuyên 17.547 tỷ đồng. 2. Hoạt động tín dụng Đến đầu tháng, hoạt động tín dụng trên địa bàn tỉnh ổn định, an toàn, thông suốt, cụ thể: Lãi suất huy động VNĐ đối với tiền gửi kỳ hạn dưới 01 tháng hiện phổ biến ở mức 0,1 - 0,3%/năm, kỳ hạn 01 tháng đến dưới 6 tháng 2,3 - 3,8%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 3 - 4,9%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 4,9 - 6,1%/năm. Lãi suất cho vay VNĐ các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4%/năm, cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác, ngắn hạn ở mức 6,7 - 10,5%/năm, trung dài hạn 7 - 12%/năm; lãi suất cho vay USD  3,5 - 8% năm. Tỷ giá trong tháng 7, tại các chi nhánh NHTM (Vietcombank, BIDV,Vietinbank, Agribank, ACB, …) tỷ giá mua USD/VND dao động ở mức 25.805 - 25.950; tỷ giá bán USD/VND dao động ở mức 26.270 - 26.330. Hiện nay toàn tỉnh có 62 đại lý đổi ngoại tệ, 01 đại lý chi trả ngoại tệ đáp ứng nhu cầu đổi tiền của du khách. Giá vàng miếng SJC bình quân giao động ở mức 118,5 -120,5 triệu đồng/lượng. Đến 21/7/2025 giá vàng miếng tăng khoảng 1 triệu đồng/lượng vào khoảng 119,7-121,2 triệu đồng/lượng. Toàn tỉnh có 06 doanh nghiệp được cấp phép mua bán vàng miếng tại 65 điểm giao dịch và có 297 đơn vị đủ điều kiện sản xuất vàng trang sức, mỹ nghệ. Tổng huy động vốn đạt 219.000 tỷ đồng, tăng 0,1% so với đầu tháng, tăng 11,8% so đầu năm. Trong đó: huy động bằng đồng Việt Nam là 213.757 tỷ đồng, tăng 0,1% so với đầu tháng, tăng 11,97% so với đầu năm; bằng ngoại tệ là 2.090 tỷ đồng, giảm 0,01% so với đầu tháng, tăng 0,61% so với đầu năm. Dư nợ cho vay đạt 385.800 tỷ đồng, tăng 0,01% so với đầu tháng, tăng 3,34% so với đầu năm. Dư nợ bằng đồng Việt Nam đạt 348.808 tỷ đồng, tăng 0,01% so với đầu tháng, tăng 3,38% so với đầu năm. Dư nợ bằng ngoại tệ đạt 1.992 tỷ đồng, giảm 0,02% so với đầu tháng, giảm 3,21% so với đầu năm.  Dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 182.400 tỷ đồng, chiếm 52%, tổng dư nợ, tăng 4,65% so với đầu năm; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 31.600 tỷ đồng, chiếm 9% tổng dư nợ, giảm 3,05% so với đầu năm; nông - lâm - thủy sản đạt 138.544 tỷ đồng, chiếm 39% tổng dư nợ, tăng 3,19% so với đầu năm. Dư nợ cho vay doanh nghiệp trên địa bàn 40.350 tỷ đồng, giảm 1.305 tỷ đồng, giảm 3,13% so với đầu năm. Cho vay hỗ trợ mua nhà ở theo Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ đến 30/6/2025 đạt 506 tỷ đồng với 1.369 khách hàng còn dư nợ.  V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1 Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Tổ chức hỗ trợ, nghiên cứu, phục hồi, bảo tồn, phát huy văn hóa phi vật thể của dân tộc thiểu số Mạ, Churu có nguy cơ mai một tại xã Bảo Lâm 1 và các xã: Đơn Dương, Quảng Lập và Ka Đô; tuyên truyền và tổ chức chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng Lễ công bố Quyết định thành lập tỉnh Lâm Đồng mới; tổ chức các chương trình giao lưu văn nghệ chào mừng Đại hội Đại biểu Đảng bộ tại các địa phương nhiệm kỳ 2025 - 2030; thường xuyên tổ chức hoạt động triển lãm các kỷ vật văn hóa Đà Lạt để phục vụ nhân dân và du khách. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng (từ ngày 11/6 - 10/7/2025) đã đón 25.755 lượt khách đến tham quan (3.521 lượt tại Nhà trưng bày chính Bảo tàng Lâm Đồng; 1.070 lượt tại Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt; 542 lượt tại Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên; 20.622 lượt tại cơ sở 1- phường Phan Thiết). Tổ chức Lễ đón nhận Bằng xếp hạng di tích miếu Liêm Công tại xã Bắc Bình. Hoàn thành hồ sơ khoa học di tích Hải đăng Kê Gà, xã Tân Thành; tổ chức khảo sát, nghiên cứu thu thập tư liệu, hình ảnh trong Lễ tẩy trần tại Đền thờ Pô Nit xã Bắc Bình; tổ chức Lễ trao tặng và đón nhận cây đàn Violin sứ độc bản của Nghệ sĩ Nguyễn Xuân Huy; đồng thời sưu tầm mới được 02 hiện vật, 35 hình ảnh. Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Bình Thuận tổ chức phục vụ 219 đoàn với 21.013 lượt người, trong đó có 09 khách nước ngoài; phục vụ 15 lễ viếng, kết nạp Đảng. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ) tiếp đón, phục vụ 1.762 lượt khách (với 17 đoàn) đến tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm.  - Hoạt động Thư viện: Thư viện tỉnh đã cấp 239 thẻ bạn đọc (29 thẻ người lớn, 113 thẻ thiếu nhi); phục vụ 224.861 lượt bạn đọc; luân chuyển 11.646 lượt tài liệu; bổ sung 1.948 tài liệu; xử lý 2.496 tài liệu; tổng số tài liệu của thư viện hiện có là 852.226 bản; số hóa 52.058 trang tài liệu; đăng tải 52 tin tuyên truyền. Trưng bày, triển lãm, giới thiệu 150 tài liệu nhân kỷ niệm Ngày Truyền thống lực lượng thanh niên xung phong Việt Nam (15/7); Ngày Thương binh liệt sĩ (27/7); Ngày Thành lập công đoàn Việt Nam (28/7). Xuất bản 04 tập thông tin chuyên đề kỷ niệm 120 năm ngày sinh đồng chí Hoàng Quốc Việt (28/5/1905 - 28/5/2025), lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam; kỷ niệm 110 năm Ngày sinh đồng chí Nguyễn Văn Linh (01/7/1915 - 01/7/2025), Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 100 năm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6/1925 - 21/6/2025); kỷ niệm 100 năm thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (6/1925 - 6/2025)) với 43 tin, bài. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tiếp tục duy trì và mở rộng các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, đáp ứng nhu cầu vận động, nâng cao sức khỏe, lối sống lành mạnh cho người dân; tổ chức giải Bóng đá 7 người mở rộng lần thứ II năm 2025 - Cúp Sơn Con Gấu Behr; giải đua Xe đạp vô địch các Câu lạc bộ - Cúp Hiệp hội Thanh long năm 2025; tổ chức giải bơi trẻ, thiếu niên, nhi đồng tỉnh Lâm Đồng 2025. - Thể thao thành tích cao: Đăng cai giải Vô địch trẻ Vovinam quốc gia lần thứ 22 năm 2025. Ban hành quyết định cử đoàn VĐV tham gia 11 giải, đạt 84 huy chương (17 HCV, 25 HCB, 42 HCĐ), trong đó có 16 huy chương quốc tế (5 HCV, 6HCB, 5 HCĐ). Kết quả đến nay đã đạt 313 huy chương (73 HCV, 80 HCB, 160 HCĐ), trong đó đạt 22 huy chương quốc tế (7 HCV, 8HCB, 7 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Đã tổ chức và công bố kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2024 - 2025. Toàn tỉnh có 59 trường có thí sinh đỗ tốt nghiệp THPT đạt 100%; có 37.657/37.978 thí sinh được công nhận tốt nghiệp THPT, đạt tỷ lệ 99,15%; trong đó có 321 thí sinh đạt điểm 10 (Môn địa lý có 139 thí sinh, vật lý 90, kinh tế pháp luật 42, lịch sử 20, hóa học 11, toán 7, ngoại ngữ 3, sinh học 2, tin học 1 và môn công nghệ - nông nghiệp có 10 thí sinh); có 01 thí sinh thủ khoa toàn quốc khối D07. Đến tháng 7 năm 2025, mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) trên địa bàn tỉnh có 44 cơ sở GDNN (gồm: 04 Trường Cao đẳng công lập; 02 Trường Trung cấp tư thục; 16 Trung tâm GDNN (9 công lập, 07 tư thục); 18 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 04 cơ sở giáo dục khác (gồm 4 trường trung cấp liên kết đào tạo)). Trong tháng đã tuyển sinh 2.815 học viên, gồm: 267 học viên trình độ sơ cấp, 2.548 học viên thường xuyên; đã xét tốt nghiệp cho 2.115 học viên, trong đó có 332 học viên trình độ sơ cấp và 1.783 học viên thường xuyên. 3. Y tế - Phòng chống sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm khác: Sốt xuất huyết trong tháng 7 phát hiện 356 ca mắc mới, không có trường hợp tử vong. Hiện nay đã phát hiện 79 ổ dịch sốt xuất huyết nhỏ và đã tổ chức xử lý kịp thời bằng phương pháp diệt lăng quăng, phun hóa chất theo quy định Bộ Y tế, tổ chức giám sát lăng quăng tại 111 điểm với 122 lượt, phát hiện có 09 điểm vượt ngưỡng và đã thực hiện các biện pháp xử lý, giám sát muỗi tại 86 điểm với 93 lượt. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, tiêm chủng đầy đủ cho 1.618 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24 giờ sau sinh cho 1.310 trẻ; tiêm vắc xin sởi mũi 2 cho 1.570 trẻ em 18 tháng tuổi; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 1.655 trường hợp; tiêm vắc xin Viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 1.476 trẻ; tiêm phòng uốn ván 2+ cho 1.533 phụ nữ có thai. - Công tác phòng chống Phong: Trong tháng không phát hiện thêm bệnh phong mới, duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Toàn tỉnh hiện quản lý 108 bệnh nhân phong, đang điều trị 01 bệnh nhân và đang giám sát 04 bệnh nhân, chăm sóc tàn tật 107 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Trong tháng, khám phát hiện 50 bệnh nhân lao mới, trong đó có 30 bệnh nhân lao phổi AFB (+); toàn tỉnh quản lý điều trị 323 bệnh nhân lao. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng, không phát hiện bệnh nhân HIV mới (lũy kế đến nay có 2.618 trường hợp nhiễm HIV), không có trường hợp chuyển AIDS mới (lũy kế đến nay có 633 trường hợp chuyển AIDS); có 03 trường hợp tử vong do AIDS (lũy kế đến nay có 874 trường hợp tử vong do AIDS). - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng, tổ chức khám bệnh cho 447.807 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 35.224 lượt bệnh nhân với 215.090 ngày điều trị nội trú, 776.899 tiêu bản xét nghiệm, 132.837 chẩn đoán hình ảnh, 4.847 trường hợp phẫu thuật. Lũy kế 7 tháng năm 2025 đã tổ chức khám bệnh cho 2.896.844 lượt, 248.252 lượt bệnh nhân điều trị nội với 1.437.690 ngày điều trị nội trú, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,1 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 84,7%, đã xét nghiệm cho 4.629.899 tiêu bản, chẩn đoán 829.694 hình ảnh và 30.515 trường hợp phẫu thuật. - Công tác bảo đảm an toàn thực phẩm: Trong tháng không xảy ra ngộ độc thực phẩm; lũy kế 7 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm làm 06 người mắc, trong đó có 01 người tử vong. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Triển khai tốt công tác tuyên truyền về các ngày lễ, ngày kỷ niệm, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước; hướng dẫn thông tin, tuyên truyền Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị; Kết luận số 155-KL/TW, ngày 17/5/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư; Kết luận số 157-KL/TW, ngày 25/5/2025 của Bộ Chính trị về triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị về sắp xếp tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính; Quyết định số 1810-QĐ/TU, ngày 16/5/2025 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về ban hành khung chức danh, chức vụ định hướng bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp xã. Hoàn thành Cuộc thi trực tuyến “Tìm hiểu về biển, đảo Việt Nam” với 16.602 người tham gia dự thi với tổng số 20.848 lượt thi. - Báo chí và truyền thông: Tập trung tuyên truyền phản ánh các hoạt động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng; thực hiện rà soát chặc chẽ 15.090 tin, bài trên trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng, qua đánh giá, chưa có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Quản lý chặt chẽ việc thẩm định và cấp giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh nhằm nâng cao chất lượng toàn diện các xuất bản phẩm. Trong tháng đã cấp 13 Giấy phép xuất bản tải liệu không kinh doanh. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số và tôn giáo 5.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số cơ bản ổn định. Hiện nay, đồng bào các dân tộc trên địa bàn tỉnh thu hoạch vụ mùa; gieo trồng, xuống giống, chăm sóc các loại cây trồng và hoa màu; dịch bệnh trên cây trồng được kiểm soát. Trong tháng tỉnh đã xây dựng phương án phân bổ chi tiết nguồn ngân sách nhà nước năm 2025 thực hiện Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; triển khai rà soát, phê duyệt danh sách các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2021-2025; sửa đổi, bổ sung danh sách các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2021-2025. Phê duyệt danh sách xã khu vực III, II, I và công nhận thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025; sửa đổi, bổ sung danh sách xã khu vực III, II, I và công nhận thôn đặc biệt khó khăn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025. 5.2. Chính sách tôn giáo Các hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và tuân thủ pháp luật. Đã đăng ký thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc, bổ nhiệm chức việc; mở lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo; thường huấn linh mục,… Trong tháng tỉnh đã thực hiện kiểm tra công tác quản lý Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo năm 2025 tại UBND xã Trà Tân; làm việc với Tòa Giám mục Giáo phận Phan Thiết, Chùa Hồi giáo Bàni để trao đổi một số vấn đề liên quan đến đất đai, phong phẩm chức sắc; chấp thuận việc các tổ chức tôn giáo thành lập 37 tổ chức tôn giáo trực thuộc (07 công giáo; 03 Tin Lành; 27 Ban quản trị Phật giáo); chấp thuận việc các tổ chức tôn giáo bổ nhiệm 19 chức việc (01 công giáo, 16 phật giáo; 01 giáo hội Cơ đốc Phục lâm Việt Nam; 01 Tin Lành) và triển khai thực hiện các chính sách tôn giáo trên địa bàn tỉnh. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 30/6/2025, toàn tỉnh có 276.172 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 4,02% so với cùng kỳ năm trước; 210.264 người tham gia BHTN, tăng 0,75%; số người tham gia BHXH tự nguyện 43.934 người, tăng 27,9%; số người tham gia BHYT 2.882.744 người, tăng 1,11%. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 86,18% dân số. Tính đến 30/6/2025, đã xét duyệt giải quyết cho 70.119 lượt người hưởng các chế độ BHXH, BHTN, tăng 8,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: 13.681 người hưởng trợ cấp thất nghiệp; 13.671 người hưởng trợ cấp BHXH một lần; 42.559 người hưởng các chế độ ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức - phục hồi sức khỏe. Tổng số người đang hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH dài hạn xét duyệt, quản lý đến cuối tháng 6/2025 là 28.531 người. Lũy kế 6 tháng năm 2025, tổng số thu 5.159,2 tỷ đồng; tỷ lệ chậm đóng (tiền nợ) phải thu là 1,84% so với dự toán thu. Chi BHXH, BHYT, BHTN với số tiền 3.470,7 tỷ đồng; trong đó: Chi trả chế độ BHXH: 3.146.991 triệu đồng, chi BHTN 160.257 triệu đồng, chi BHYT 1.163.431 triệu đồng. 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 21/6-20/7/2025) Trong tháng xảy ra 73 vụ tai nạn giao thông, tăng 9 vụ so với tháng trước và giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước; bị thương 53 người, giảm 04 người so với tháng trước và giảm 23 người so với cùng kỳ năm trước; số người chết 44 người; tăng 08 người so với tháng trước và tăng 04 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 507 vụ, giảm 229 vụ so với cùng kỳ năm trước (giảm 31,11%); bị thương 404 người, giảm 232 người (giảm 36,48%); số người chết 251 người, giảm 15 người (giảm 5,64%). Tổng số phương tiện đang quản lý gồm 216.179 xe ôtô; 2.974.861 xe môtô. Xử lý phát hiện và xử lý vi phạm trật tự an toàn giao thông: đường bộ 10.673 trường hợp, tổng số tiền xử phạt trên 10,122 tỷ đồng, tước 87 giấy phép lái xe, tạm giữ 739 xe môtô và 30 xe ôtô; đường thủy thực hiện 70 ca tuần tra với 229 lượt cán bộ chiến sĩ, phát hiện lập biên bản 06 trường hợp vi phạm, thu phạt 4 triệu đồng. 8. Thiên tai, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng xảy ra 04 vụ chủ yếu do ảnh hưởng của cơn bão số 3 (bão Wipha), có các vùng mây đối lưu phát triển gây ra mưa kèm theo dông, lốc, sét và gió giật mạnh làm: 03 người bị thương; 3 căn nhà bị thiệt hại nặng; 89 căn nhà bị thiệt hại một phần; 8,84 ha rau màu bị thiệt hại; 16,2 ha nhà kính bị thiệt hại; 35,7 ha nhà lưới bị thiệt hại; 20 cột điện bị đổ, gãy; 04 cổng chào, bảng hiệu sập đổ; 03 chiếc Ô tô con và 01 xe máy bị hư hỏng; 02 điểm nguy cơ sạt lở,.... Ước tổng thiệt hại khoảng 14,075 tỷ đồng. Lũy kế 7 tháng năm 2025 toàn tỉnh đã xảy ra 12 vụ thiên tai (08 trận mưa lớn kèm lốc xoáy, 04 trận mưa lớn, mưa đá, kèm gió giật mạnh); 01 người chết và 05 người bị thương; 128 căn nhà sập, tốc mái, hư hỏng; 9,15 ha cây trồng hư hại; 51,9 ha nhà kính, nhà lưới bị tốc mái; sạt lở 5,28km bờ biển (rộng từ 30-40m); chìm 07 tàu cá và một số cây xanh, cơ sở hạ tầng, phương tiện khác. Ước tổng thiệt hại khoảng 16,68 tỷ đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không có vụ vi phạm môi trường, giảm 4 vụ so với tháng trước và giảm 01 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 7 tháng năm 2025 xảy ra 18 vụ (số tiền xử phạt là 3.278 triệu đồng), giảm 06 vụ so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ: số vụ vi phạm 24 vụ, xử phạt 1.072 triệu đồng). [1] Lâm Đồng (cũ) tăng 9,58%; Bình Thuận tăng 0,75%, Đắk Nông tăng 7,22%.