Tình hình kinh tế - xã hội tháng 12, quý IV và năm 2025 tỉnh Lâm Đồng
- 06/01/2026 15:40
Năm 2025, kinh tế thế giới được các tổ chức quốc tế lớn như IMF, EU và Fitch Ratings nhận định có triển vọng khả quan hơn với mức dự báo tăng trưởng được điều chỉnh tăng nhẹ so với các kỳ đánh giá trước, dao động trong khoảng từ 2,5% đến 3,2%, trong khi OECD giữ nguyên dự báo ở mức 3,2%; thương mại hàng hóa toàn cầu dự kiến tăng trưởng ổn định ở mức 2,4% theo dự báo của WTO và lạm phát toàn cầu tiếp tục xu hướng giảm trên diện rộng xuống mức 4,2%. Trong bối cảnh đó, khu vực Đông Nam Á chứng kiến sự phân hóa về tốc độ phục hồi, song Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá là quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực, với các mức dự báo cụ thể: ADB lạc quan nhất ở mức 7,4%, tiếp đến là WB 6,6%, IMF 6,5% và OECD 6,2%. Động lực tăng trưởng chủ yếu của Việt Nam trong năm 2025 được xác định dựa trên đà phục hồi mạnh mẽ của kim ngạch xuất khẩu và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; kết hợp với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) duy trì đà tăng trưởng tích cực, mặc dù nền kinh tế vẫn đối mặt với thách thức từ rủi ro thiên tai và những bất định trong chính sách thương mại toàn cầu. Hòa cùng xu thế chung của cả nước, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng năm 2025 tiếp tục phục hồi và phát triển theo hướng ổn định, tích cực trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức từ kinh tế thế giới và trong nước. Hoạt động sản xuất, kinh doanh trên hầu hết các lĩnh vực duy trì đà tăng trưởng; thị trường hàng hóa, dịch vụ ổn định; đầu tư xã hội và du lịch tiếp tục được thúc đẩy; an sinh xã hội được bảo đảm. Sự đóng góp đồng đều của cả ba khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực dịch vụ, đã tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng chung của nền kinh tế địa phương trong năm. I. Tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025, tăng 6,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,10%, đóng góp 1,68 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,54%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm (riêng công nghiệp, tăng 4,80%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ tăng 8,28%, đóng góp 3,33 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm. Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 so với cùng kỳ (%) Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,1% (cùng kỳ tăng 5,02%), đóng góp 1,68 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; trong đó nông nghiệp tăng 5,22% (cùng kỳ tăng 5,13%), đóng góp 1,5 điểm phần trăm; thủy sản tăng 4,47% (cùng kỳ tăng 3,97%), đóng góp 0,16 điểm phần trăm; lâm nghiệp tăng 3,22%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,54%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm; trong đó xây dựng tăng 7,35%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm; công nghiệp tăng 4,8%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ đạt mức tăng 8,28% cao nhất trong 3 năm gần đây (năm 2023: 8,06%; năm 2024: 6,97%), đóng góp 3,33 điểm phần trăm, với nhiều ngành tăng trưởng mạnh như: bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 10,55%, đóng góp 0,79 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 15,07%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,79%, đóng góp 0,66 điểm phần trăm; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 11,38%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 10,52%, đóng góp 0,16 điểm phần trăm. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các chính sách xúc tiến, kích cầu, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ, sau khi bộ máy và địa giới hành chính được sắp xếp, vận hành ổn định. Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế của tỉnh chiếm 38,59%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,87%; khu vực dịch vụ chiếm 35,83%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm, chiếm 4,71% (cơ cấu tương ứng của năm 2024 là 38,06%; 21,52%; 35,59%; 4,83%). Nhìn chung, nền kinh tế của tỉnh ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao do từ năm 2024 trở lại đây mặt hàng nông sản chủ lực đang ở mức giá rất cao lên người dân mạnh dạn đầu tư, chăm sóc hơn; song khu vực dịch vụ đang dần có sự chuyển biến tích cực hơn.Cơ cấu kinh tế trong GRDP (ĐVT: %)Về quy mô GRDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 105,24 triệu đồng/người, tăng 12,7% (tăng 11,86 triệu đồng/người), tương đương 4.047,6 USD/người.Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 186,02 triệu đồng/lao động, tăng 13 triệu đồng/người so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng năng suất lao động luôn được cải thiện rõ rệt và ổn định qua từng năm (từ mức 109,1 năm 2020 lên 186,0 năm 2025).II. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnNăm 2025, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng của thiên tai, mưa lớn và lũ quét xảy ra trong hai tháng cuối năm, gây thiệt hại về cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trong năm vẫn duy trì và phát triển ổn định. Diện tích các loại cây trồng hàng năm tăng nhẹ so với năm trước. Chăn nuôi phát triển theo hướng thích ứng thị trường, người chăn nuôi chủ động chuyển sang nuôi gia cầm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và nâng cao hiệu quả kinh tế. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, nhất là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát hiệu quả, giúp người dân yên tâm đầu tư. Sản lượng khai thác thuỷ sản biển ổn định. Công tác phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và Chương trình OCOP được chú trọng; nhiều doanh nghiệp, chủ thể sản xuất được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông sản chủ lực, sản phẩm OCOP tại các hội nghị, triển lãm trong cả nước, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu nông nghiệp của tỉnh.1. Trồng trọt1.1. Cây hàng năm Diện tích gieo trồng cây hàng năm sơ bộ năm 2025 ước đạt 425.790,4 ha, tăng 1,43% so với năm trước và tăng ở hầu hết các loại cây trồng (chỉ có cây ngô diện tích gieo trồng giảm 5,2% và cây đậu tương diện tích gieo trồng giảm 1,6% so với năm trước). Trong đó: Diện tích cây lương thực có hạt sơ bộ đạt 223.293,7 ha, giảm 0,43%; sản lượng lương thực ước đạt 1.392.779,1 tấn, giảm 0,9% so với năm trước (cây lúa diện tích sơ bộ đạt 167.429,8 ha, tăng 1,28%; sản lượng ước đạt 1.006.108 tấn, giảm 0,78%. Cây ngô diện tích sơ bộ đạt 55.863,9 ha, giảm 5,2%; sản lượng ước đạt 386.671,1 tấn, giảm 1,21%). Cụ thể: - Vụ Đông xuân diện tích gieo trồng đạt 105.612 ha, tăng 1,5% so với vụ Đông Xuân năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 61.323,3 ha, tăng 2% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 55.314 ha, tăng 2,54%; sản lượng đạt 365.836,8 tấn, tăng 2,94%; năng suất đạt 66,1 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 26.727,6 ha, bằng so với cùng vụ năm trước; sản lượng đạt 872.364,2 tấn; tăng 1,1%; năng suất đạt 326,4 tạ/ha, tăng 3,5 tạ/ha. - Vụ Hè thu diện tích gieo trồng đạt 144.100,5 ha, tăng 0,04% so với vụ hè thu năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 79.012,4 ha, giảm 0,34% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 48.232 ha, tăng 0,23%; sản lượng đạt 262.651,1 tấn, giảm 8,67%; năng suất đạt 54,5 tạ/ha, giảm 5,3 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 32.767,3 ha, tăng 0,66%; sản lượng đạt 989.956,1 tấn; giảm 0,86%; năng suất đạt 302,1 tạ/ha, giảm 4,6 tạ/ha. - Vụ Mùa diện tích gieo trồng đạt 176.077,9 ha, tăng 1,4% so với vụ mùa năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 85.544,9 ha, tăng 0,83% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 63.883,8 ha, tăng 0,99%; sản lượng đạt 377.620,1 tấn, tăng 1,76%; năng suất đạt 59,1 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 31.167 ha, tăng 2,9%; sản lượng đạt 961.051,6 tấn; tăng 3,5%; năng suất đạt 308,4 tạ/ha.Diện tích gieo trồng cây hàng năm qua các năm 1.2. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh duy trì phát triển ổn định, tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nền nông nghiệp của tỉnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. Tổng diện tích trồng cây lâu năm sơ bộ đạt 622.873,0 ha, tăng 1,24% so với năm trước (cây ăn quả các loại diện tích đạt 107.152,3 ha, tăng 1,83%). Cụ thể một số cây trồng chính như sau: - Cây chè: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 9.329,3 ha, giảm 5,48%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 8.938,3 ha, giảm 1,39%; sản lượng ước đạt 116.699,1 tấn, giảm 0,49%; năng suất ước đạt 130,6 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với năm trước. Diện tích chè giảm do nhiều hộ chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, bơ, chanh dây,...; - Cây cà phê: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 328.650 ha, tăng 1,03%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 312.859,2 ha, tăng 1,71%; sản lượng ước đạt 1.028.393 tấn, tăng 5,57%; năng suất ước đạt 32,9 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với năm trước; - Cây cao su: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 75.381 ha, tăng 2,6%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 63.718,6 ha, tăng 3,05%; sản lượng ước đạt 112.026 tấn, tăng 3,95%; năng suất ước đạt 17,6 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha so với năm trước. Cao su chủ yếu tập trung ở khu vực Bình Thuận và Đắk Nông; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện; - Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 37.193 ha, tăng 0,02%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 34.613,8 ha, tăng 3,61%; sản lượng ước đạt 89.865 tấn, tăng 7,28%; năng suất ước đạt 26 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với năm trước. Trong năm, giá hồ tiêu duy trì ở mức cao và ổn định, người dân mở rộng diện tích cũng như tăng cường thâm canh để nâng cao năng suất vườn cây; - Cây điều: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 50.215 ha, tăng 1.49%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 47.857,9 ha, tăng 0,64%; sản lượng ước đạt 39.970 tấn, tăng 2,31%; năng suất ước đạt 8,4 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so với năm trước; - Cây dâu tằm: Trong thời gian gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định (180.000 đ - 200.000 đ/kg) nên người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. Diện tích hiện có sơ bộ đạt 11.320,4 ha, tăng 4,93%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 11.048,6 ha, tăng 6,99%; sản lượng ước đạt 289.405 tấn, tăng 5,6%; năng suất ước đạt 261,9 tạ/ha, giảm 3,5 tạ/ha so với năm trước; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 44.283,5 ha, tăng 4,34%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 23.070,2 ha, tăng 11,54%; sản lượng ước đạt 290.266 tấn, tăng 11,34%; năng suất ước đạt 125,8 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha so với năm trước. Trong thời gian tới, diện tích sầu riêng tiếp tục có xu hướng tăng do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác; - Cây thanh long: Trong năm 2025, giá bán thanh long tương đối ổn định, dù vẫn xuất hiện những biến động ngắn hạn theo mùa vụ (một số thời điểm, giá tăng cao nhờ nhu cầu xuất khẩu khả quan, nhất là các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á), mức giá thuận lợi này đã khuyến khích nhiều hộ tập trung chong đèn trái vụ. Diện tích hiện có sơ bộ đạt 26.126 ha, tăng 0,56%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 26.108,7 ha, tăng 1,06%; sản lượng ước đạt 577.731 tấn, tăng 2,92%; năng suất ước đạt 221,3 tạ/ha, tăng 4 tạ/ha so với năm trước. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Toàn tỉnh hiện có 966 công trình thủy lợi, trong đó: có 536 hồ chứa; 255 đập dâng; 13 cống dâng; 51 trạm bơm; 91 đập tạm; 20 kênh tiêu cùng với khoảng 3.632 km kênh mương (đã kiên cố hóa được khoảng 1.940 km, đạt 53,4%) và hệ thống đê biển, kè biển, kè sông. Trong năm 2025, diện tích canh tác được tưới đạt trên 73,45% diện tích cần tưới, trong đó: diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt khoảng 150.128 ha; diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt khoảng 97.202 ha. 1.4. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng Trong tháng 12/2025, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 433 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại 980 ha; chuột gây hại 310 ha; rầy nâu gây hại 171 ha (so với tháng trước, sâu đục thân gây hại tăng 39 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại tăng 465 ha; chuột gây hại tăng 60 ha; rầy nâu gây hại tăng 20 ha); - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.252,8 ha (tăng 16,8 ha so với tháng trước) tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, phường Đông Gia Nghĩa, phường Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.366 ha (tăng 36 ha so với tháng trước) tại các xã Bảo Lâm 1,2,3,4,5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác; bọ xít muỗi gây hại 2.047,2 ha cà phê chè (tăng 26,8 ha so với tháng trước) tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; Bệnh chết khô ngọn gây hại 30 ha tại Bảo Lâm 1; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.205,4 ha (tăng 319,1 ha so với tháng trước); bệnh thán thư gây hại 2.876 ha (tăng ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1,2,3,4, Tánh Linh, Suối Kiết, Tân Minh, Nam Thành; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 316 ha (tăng 02 ha so với tháng trước) tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 4.069 ha (tăng 920 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 916 ha (tăng 06 ha so với tháng trước) tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Tân Thành, Tiến Thành, Tân Lập, Tân Hải, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Liên Hương. Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất. 1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ caoDiện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao đến nay đạt 107.217 ha, với 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa) và có 08 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận. - Quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói: + Mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói xuất khẩu: Trong năm 2025, toàn tỉnh đã được cấp 952 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích 39.182 ha và 341 cơ sở đóng gói với tổng diện tích 533.659 m2; số hồ sơ gửi và đang chờ phê duyệt có 75 hồ sơ đề nghị cấp mã vùng trồng với quy mô 659,43 ha và 69 hồ sơ đề nghị cấp mã cơ sở đóng gói với tổng diện tích nhà xưởng 144.527,85 m2. + Vùng sản xuất hạt giống rau xuất khẩu sang thị trường EU: Có 12 mã số vùng trồng với sản lượng trên 7.000 kg hạt giống ớt, cà chua/vụ. Bên cạnh đó, có 05 mã vùng trồng cây giống, ngọn giống của Công ty TNHH Đà Lạt Hasfarm đăng ký xuất khẩu quy mô gần 300.000 ngọn giống, cây giống/vụ. + Mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt: Trong năm 2025, toàn tỉnh đã được cấp 271 mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt với tổng diện tích 2.641,58 ha. 1.6. Chương trình OCOP Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 926 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP đã được chứng nhận, trong đó có: 75 sản phẩm 4 sao và 844 sản phẩm 3 sao; trong năm có 07 sản phẩm OCOP tham gia đánh giá phân hạng cấp quốc gia 5 sao với 529 chủ thể tham gia. Kết quả dự kiến có 07 sản phẩm đề xuất đánh giá, phân hạng cấp Quốc gia đạt 5 sao (gồm 02 sản phẩm đánh giá, phân hạng lại và 04 sản phẩm nâng hạng lên 5 sao); 05 sản phẩm đạt hạng 4 sao (01 sản phẩm đánh giá, phân hạng lại và 04 sản phẩm nâng hạng từ 3 sao lên 4 sao); 09 sản phẩm đạt hạng 3 sao. 2. Chăn nuôi Trong năm 2025, ngành chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển thuận lợi; mặc dù giá thức ăn, con giống gia súc ở mức cao, dịch bệnh tiêu chảy trên đàn bò sữa và bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại một số nơi trên địa bàn tỉnh nhưng nhờ công tác kiểm dịch và quản lý tốt tại các trang trại (đặc biệt là trại chăn nuôi gia công) nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với năm trước.Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm(ĐVT: 1.000 con) - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27,3 nghìn con trâu, tăng 1,21% so với cùng thời điểm năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 406 tấn, tăng 1,95% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 1.628,3 tấn, tăng 1,83%. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 318,7 nghìn con bò, tăng 1,67% so với cùng thời điểm năm trước (trong đó đàn bò sữa 28,9 nghìn con, tăng 1,51%). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 4.399,5 tấn, tăng 2,37% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 17.506,3 tấn, tăng 2,12%. Sản lượng sữa bò quý IV/2025 ước đạt 23.950 tấn, giảm 0,8% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 95.031,7 tấn, tăng 0,8%. - Đàn lợn: Trong năm 2025 có thêm sự đóng góp của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thái Việt Corporation với quy mô hơn 35.000 con lợn và Công ty Thái Thịnh Tây Nguyên với quy mô hơn 8.000 con lợn nên tổng đàn cũng như sản lượng thịt hơn tăng cao so với năm trước. Tổng đàn lợn hiện có 1.532,3 nghìn con, tăng 4,06% so với cùng thời điểm năm trước (lợn không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.227,8 nghìn con, tăng 7,48%); sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 85.789,2 tấn, tăng 10,26% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 240.000,6 tấn, tăng 6,59%. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.395,6 nghìn con, tăng 8,05% so với cùng thời điểm năm trước (trong đó gà các loại 16.029,8 nghìn con, chiếm 71,58% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,13%); sản lượng thịt hơi xuất chuồng quý IV/2025 ước đạt 25.094,5 tấn, tăng 10,95% so với cùng kỳ; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 77.340,8 tấn, tăng 10,75%; sản lượng trứng quý IV/2025 ước đạt 312,3 triệu quả, tăng 2,6%, sản lượng trứng cả năm ước đạt 1.249,1 triệu quả, tăng 4,41%. Tổng đàn gia cầm và sản lượt thịt hơn tăng cao so với năm trước nhờ sự đóng góp của Công ty cổ phần MeBi Farm với quy mô trên 202 nghìn con gà đẻ trứng đã góp phần đáng kể vào việc nâng tổng đàn. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, bệnh DTLCP phát sinh tại 13 hộ tại 09 thôn của 04 xã với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 575 con/28.942 kg. Lũy kế, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 2.480 con/131.692,2 kg. Đến nay, có 21/25 xã đã qua 21 ngày không phát sinh lợn mắc bệnh, 04/25 xã dịch bệnh chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong năm 2025, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có nhiều chuyển biến tích cực; công tác trồng rừng, khôi phục và bảo vệ rừng thực hiện hiệu quả; diện tích rừng trồng mới và số cây xanh phân tán đều vượt kế hoạch; số vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp giảm so với cùng kỳ năm 2024. Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh đã vào mùa khô, không phát sinh thêm diện tích rừng trồng mới tập trung, giảm 1.705,7 ha so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 diện tích rừng trồng mới ước đạt 532 ha, giảm 54,22%; lũy kế năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 5.030 ha, giảm 22,61% so với năm trước; trồng cây xanh phân tán ước đạt 17,42 triệu cây. Trong tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 50.605,2 m3, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 ước đạt 85.697 m3, giảm 4,43%; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 368.390 m3, giảm 3,88%. Sản lượng củi khai thác trong tháng ước đạt 13.530 ste, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước; quý IV/2025 ước đạt 42.326 ste, tăng 0,54%; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 270.472 ste, tăng 6,95%. Trong năm 2025, tổng số vụ vi phạm lâm luật là 390 vụ (179 vụ đã xác định được đối tượng vi phạm), trong đó có 173 vụ phá rừng trái pháp luật (80 vụ xác định được đối tượng vi phạm) với diện tích rừng thiệt hại 29,99 ha. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ vi phạm giảm 365 vụ (số vụ phá rừng giảm 133 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại do phá rừng giảm 24,6 ha. 4. Thuỷ sản Trong năm 2025, sản lượng nuôi trồng giảm và khai thác đều tăng so với năm trước; hoạt động sản xuất giống, nhất là tôm giống được duy trì tốt nhờ kiểm soát chất lượng giống và hệ thống xét nghiệm chặt chẽ; đẩy mạnh công tác chống khai thác IUU. - Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 5.702,5 tấn, tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 513,5 tấn, tăng 2,68%); quý IV/2025 ước đạt 5.420 tấn, giảm 0,33% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.500 tấn, tăng 11,11%); lũy kế năm 2025 ước đạt 28.727 tấn, giảm 5,55% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 5.100 tấn, tăng 3,13%). - Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 20.865,3 tấn, tăng 8,74% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 19.901,1 tấn, tăng 6,18%); quý IV/2025 ước đạt 69.730 tấn, tăng 4,43% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế năm 2025, sản lượng khai thác đạt 252.530 tấn, tăng 4,89% (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 251.920 tấn, tăng 5,39%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Trong năm 2025 hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Công tác quản lý chất lượng giống thuỷ sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,08 tỷ post, giảm 2,92% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế năm 2025 ước đạt 24,63 tỷ post, tăng 6,32% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản qua các năm III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp năm 2025, duy trì đà phục hồi và tăng trưởng ổn định, cơ cấu ngành chuyển biến theo hướng tích cực, tiêu thụ sản phẩm cải thiện, tồn kho được kiểm soát, các khu công nghiệp tiếp tục thu hút đầu tư, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển công nghiệp trong thời gian tới. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 2,14% so với tháng trước và tăng 12,25% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 9,32% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 18,20%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,64%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,02%. Dự ước quý IV/2025 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 11,63% so với quý trước và tăng 10,66% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,09%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 13,61%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,05%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,71%. Tính chung cả năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,46%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,01%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,9%. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) qua các năm 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 401.399 m3, giảm 1,17% so với tháng trước và tăng 18,69% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 973.399 m3, tăng 6,29% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 4.199.087 m3, tăng 10,21% so với cùng kỳ. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.167 tấn, tăng 10,44% so với tháng trước và tăng 13,52% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 8.967 tấn, tăng 16,81% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 37.063 tấn, tăng 17,52% so với cùng kỳ. Một số công ty đã đưa được sản phẩm vào siêu thị Mega mark và mở rộng quy mô sản xuất phục vụ đơn đặt hàng tăng mới xuất khẩu qua Malaisya, Indonexia. - Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.622 tấn, tăng 4,46% so với tháng trước và tăng 37,59% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 5.984 tấn, tăng 0,16% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 22.584 tấn, tăng 0,03% so với cùng kỳ. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 862 nghìn đôi, tăng 35,20% so với tháng trước và tăng 66,83% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 2.052 nghìn đôi, tăng 45,09% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 6.548 nghìn đôi, tăng gấp 1,78 lần so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng vào các tháng cuối năm và năng lực tăng thêm ở Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 9.172 tấn tăng 32,45% so với tháng trước và tăng 23,87% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 29.412 tấn, tăng 35,02% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 127.695 tấn, tăng 22,71% so với cùng kỳ, nguyên nhân do năm 2025 nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông đi vào sản xuất. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 176,8 nghìn tấn, tăng 1,48% so với tháng trước và tăng 44,80% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 374,857 nghìn tấn, tăng 11,74% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 1.584,396 nghìn tấn, tăng 4,39% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 4.552 triệu kwh, tăng 4,23% so với tháng trước và tăng 15,01% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 9.015 triệu kwh tăng 7,51% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 36.652 triệu kwh, tăng 2,04% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 459 triệu kwh, tăng 2,7% so với tháng trước và tăng 3,31% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 sản lượng sản xuất ước đạt 1.370 triệu kwh tăng 1,35% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025 sản lượng ước đạt 5.483 triệu kwh, giảm 0,19% so với cùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,09% so với tháng trước và tăng 5,61% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,68%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,09%; trong khi ngành khai khoáng giảm 0,83% và ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6%. Tính chung cả năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,69% so với năm trước, chủ yếu nhờ mức tăng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,27% và ngành sản xuất, phân phối điện tăng 2,72%; ngành khai khoáng giảm mạnh 16,06%. Theo loại hình doanh nghiệp, so với cùng kỳ năm trước chỉ số sử dụng lao động trong tháng của doanh nghiệp nhà nước tăng 0,26%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 7,70% và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5,32%. Mức tăng cao của chỉ số sử dụng lao động trong tháng và xu hướng cao hơn bình quân năm 2025 cho thấy tín hiệu tích cực của thị trường lao động, phản ánh nhu cầu tuyển dụng tăng nhằm phục vụ sản xuất, kinh doanh cuối năm và triển vọng phát triển của các ngành công nghiệp trong thời gian tới. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 2,26% so với tháng trước và giảm 5,94% so với cùng kỳ; lũy kế năm 2025 chỉ số tiêu thụ tăng 7,68% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ năm 2025 tăng như: sản xuất thực phẩm tăng 2,46%; dệt tăng 5,87%; sản xuất trang phục tăng 22,65%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 72,35%; chế biến gỗ tăng 15,60%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 18,75%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 23,72%... Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: sản xuất đồ uống giảm 8,16%;... Nhìn chung chỉ số tiêu thụ của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong năm 2025 tăng so với cùng kỳ là một tín hiệu tốt trong nền kinh tế nói chung và sản xuất công nghiệp nói riêng đang chịu ảnh hưởng của những biến động khó lường từ tình hình kinh tế thế giới. 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 1,80% so với tháng trước và tăng 7,84% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 16,60%; ngành dệt tăng 3,12%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 194,97%;… Ngược lại những ngành giảm như: sản xuất đồ uống giảm 92,95%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 14,05%. 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Theo kết quả khảo sát các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, trong quý IV/2025 so với quý III/2025, có 30,82% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn, 39,73% doanh nghiệp cho rằng ổn định và 29,45% doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn. Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh gồm: 53,70% doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 48,15% doanh nghiệp đánh giá tính cạnh tranh của hàng trong nước cao; 31,48% doanh nghiệp cho biết không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 25,93% doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính; 24,07% doanh nghiệp phản ánh thiếu nguyên, nhiên vật liệu và 24,07% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp. Ngoài ra, 16,67% doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao; 14,81% doanh nghiệp đánh giá tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; và 22,22% doanh nghiệp cho rằng chính sách pháp luật của Nhà nước cùng một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Dự báo quý I/2026 so với quý IV/2025, có 75,34% doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và thuận lợi hơn, trong đó 28,08% doanh nghiệp dự báo tốt hơn và 47,26% doanh nghiệp cho rằng ổn định; 24,66% doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Chỉ số cân bằng của chỉ tiêu tình hình sản xuất kinh doanh đạt +3,42%, cho thấy môi trường kinh doanh có xu hướng cải thiện; doanh nghiệp kỳ vọng nền kinh tế tiếp tục ổn định, khó khăn của thị trường trong nước và quốc tế dần được tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh trong thời gian tới.Tỷ lệ các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý IV/2025 (%) 1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Các KCN trên địa bàn tỉnh đã thu hút được 06 dự án đầu tư (01 dự án FDI và 05 dự án đầu tư trong nước) với diện tích khoảng 22,23 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 452 tỷ đồng và 35 triệu USD. Lũy kế đến nay có 228 dự án (51 dự án FDI và 177 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 43.326,61 tỷ đồng và 466,44 triệu USD và diện tích đất đăng ký 712,68 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,24%. Cụ thể: - KCN Lộc Sơn thu hút được 55 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 46 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 3.120,43 tỷ đồng và 48,63 triệu USD, diện tích đất đã cho thuê lại 115,77ha/132,62 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 87,29%. - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 2.384,12 tỷ đồng và 77,10 triệu USD, diện tích đất cho thuê lại 55,95 ha/74,58 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 74,8 triệu USD và 857,94 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 51,44 ha/51,44 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với tổng vốn đầu tư đăng ký 11,85 triệu USD và 548,08 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,09 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 21 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 13 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.676,9 tỷ đồng và 56,18 triệu USD, diện tích đất cho thuê 59,25 ha/90,78 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 65,27%. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 17 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 772,41 tỷ đồng và 185,58 triệu USD, diện tích đất cho thuê 87,99 ha/276,93 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 31,77%. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 13.544,93 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 58,35 ha/202,32 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức thu hút được 01 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 100 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 1,5 ha/210,84 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 47 dự án đầu tư (gồm 04 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 43 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký đầu tư 1.948,8 tỷ đồng và 12,3 triệu USD; diện tích thuê lại 130 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,42 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Hoạt động ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá, giá trị sản xuất tăng so với năm trước; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giữ vai trò chủ lực, trong khi xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng và nhà ở là động lực tăng trưởng chính. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng nhìn chung ổn định và có triển vọng tích cực, tạo nền tảng thuận lợi cho ngành xây dựng tiếp tục phát triển. Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý IV/2025 theo giá hiện hành ước đạt 19.531 tỷ đồng, tăng 8,45% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025, giá trị sản xuất xây dựng ước đạt 62.658,8 tỷ đồng, tăng 9,67% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất với 34.983,9 tỷ đồng (55,83%), tăng 13,65%; loại hình kinh tế khác đạt 26.869,8 tỷ đồng (42,88%), tăng 9,15%. Ngược lại, doanh nghiệp nhà nước chỉ đạt 102,1 tỷ đồng (0,16%), giảm 79,43%, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 702,8 tỷ đồng (1,12%), giảm 43,11% so với cùng kỳ. Theo loại công trình, quý IV/2025, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành của công trình nhà ở ước đạt 7.991,42 tỷ đồng, tăng 1,38% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 4.148 tỷ đồng, tăng 23,96%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 5.375,9 tỷ đồng, tăng mạnh 79,51%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 2.016,4 tỷ đồng, tăng 7,76%. Lũy kế năm 2025, giá trị sản xuất xây dựng theo giá hiện hành của công trình nhà ở ước đạt 26.715,8 tỷ đồng, tăng 11,57% so với cùng kỳ; công trình nhà không để ở đạt 11.977,9 tỷ đồng, tăng 0,68%; công trình kỹ thuật dân dụng đạt 16.883,6 tỷ đồng, tăng 13,29%; hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 7.081,5 tỷ đồng, tăng 10,83% so với cùng kỳ.Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trìnhqua các năm (theo giá so sánh 2010) - (ĐVT: Tỷ đồng) Kết quả khảo sát xu hướng hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy 73,5% doanh nghiệp xây dựng nhận định tình hình sản xuất trong quý IV/2025 ổn định hoặc thuận lợi hơn quý III/2025, trong đó giá trị xây dựng dân dụng tăng 13,24% so với quý III/2025, phản ánh nhiều tín hiệu tích cực của lĩnh vực xây dựng. Bên cạnh đó, 72% doanh nghiệp xây dựng dự báo tình hình sản xuất trong quý I/2026 sẽ ổn định hoặc thuận lợi hơn quý IV/2025. Dự kiến trong năm 2026, ngành xây dựng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ tổng vốn đầu tư công ở mức cao, tập trung vào giao thông, kết nối vùng, cùng với việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công và tăng tốc triển khai các dự án hạ tầng, đô thị và du lịch, tạo động lực thúc đẩy thị trường vật liệu xây dựng và xây dựng dân dụng phát triển. 3. Đầu tư phát triển Tình hình hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng so với cùng kỳ; môi trường đầu tư cải thiện với số doanh nghiệp thành lập mới và quay lại hoạt động tăng mạnh. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân và triển khai một số dự án, công trình trọng điểm còn chậm do vướng mắc về mặt bằng, thủ tục và năng lực nhà thầu, đòi hỏi tiếp tục tập trung tháo gỡ để tạo động lực tăng trưởng thời gian tới. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn quý IV/2025 ước đạt 35.403,9 tỷ đồng, tăng 11,51% so với cùng kỳ. Lũy kế năm 2025, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 111.398,2 tỷ đồng, tăng 8,48% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn nhà nước đạt 24.830,5 tỷ đồng (chiếm 22,29%), tăng 4,14%; vốn ngoài nhà nước đạt 82.649,3 tỷ đồng (chiếm 74,19%), tăng 10,01%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 3.918,4 tỷ đồng (chiếm 3,52%), tăng 5,41%. Đáng chú ý, dự án Nhà máy chế biến khoai lang cắt lát đông lạnh tại KCN Tâm Thắng của Công ty TNHH Sejin F&S Vina (Hàn Quốc) với tổng vốn đầu tư hơn 155 tỷ đồng được khởi công đầu năm 2025, dự kiến đi vào hoạt động đầu năm 2026.Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn qua các năm(ĐVT: Tỷ đồng) Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện trong tháng ước đạt 1.768,2 tỷ đồng, tăng 5,79% so với tháng trước và giảm 1,35% so với tháng cùng kỳ năm trước do cuối năm điều chỉnh giảm kế hoạch vốn. Lũy kế cả năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 14.411,5 tỷ đồng, tăng 5,41% so với cùng kỳ năm trước, đạt 90,74% so với kế hoạch. Trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 14.371,2 tỷ đồng, tăng 5,52% so với cùng kỳ năm trước, đạt 90,82% so với kế hoạch; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 40,3 tỷ đồng, giảm 23,88% so với cùng kỳ năm trước, đạt 69,53% so với kế hoạch. Trong năm 2025 (tính đến 22/12/2025), toàn tỉnh có 48 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký 19.384,4 tỷ đồng. Lũy kế đến thời điểm hiện nay, tỉnh Lâm Đồng có 2.927 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn khoảng 2.009.973,8 tỷ đồng, trong đó có 236 dự án FDI với tổng vốn 224.284 tỷ đồng. Trong tháng (tính đến 18/12/2025), có 422 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 4,98% so với tháng trước và tăng 119,79% so với cùng kỳ; 96 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 123,26%; 56 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, giảm 28,21%; 73 doanh nghiệp giải thể, giảm 19,78% so với tháng trước. Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh có 4.183 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 78,61%; 822 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 22,14%; 1.713 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 12,4%; 833 doanh nghiệp giải thể, tăng 76,48% so với cùng kỳ. Tổng vốn đăng ký đạt 22.959 tỷ đồng, tăng 18,76%; số lao động đăng ký 16.558 người, tăng 19,12%. Bình quân mỗi tháng có trên 400 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, trong khi gần 70 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. * Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm Trong năm 2025, việc triển khai các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là tiến độ giải ngân vốn chậm so với kế hoạch do vướng mắc về quy hoạch khoáng sản, cấp phép vật liệu xây dựng, năng lực một số nhà thầu và công tác giải phóng mặt bằng; tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành, địa phương tập trung tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ thực hiện. - Dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành có tổng chiều dài 124,13 km, quy mô 4 làn xe, chia thành 5 dự án thành phần; trong đó các dự án thành phần do tỉnh Đắk Nông (cũ) phụ trách gồm dự án đường gom, cầu vượt với vốn bố trí 32,5 tỷ đồng, giải ngân 17,3 tỷ đồng, đạt 22,13%, và dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được bố trí 217,5 tỷ đồng. - Dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc đã hoàn thành công tác cắm cọc, bàn giao mặt bằng tại các địa phương có tuyến đi qua, dự kiến giải ngân khoảng 1.200 tỷ đồng đến ngày 31/01/2026. - Dự án cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương (giai đoạn 1) đã khởi công hơn 5 tháng nhưng chưa thể triển khai thi công do vướng mặt bằng; đến đầu tháng 12/2025, công tác giải phóng mặt bằng đạt 98,36% với 2.404/2.440 hồ sơ được kiểm đếm, song vẫn còn một số khó khăn liên quan đến giá bồi thường và hồ sơ đất đai. - Dự án đường Đạo Nghĩa - Quảng Khê giai đoạn 2 có tổng mức đầu tư 830 tỷ đồng, chiều dài 25,8 km hiện chưa có mặt bằng sạch, tiến độ chậm, tỉnh đã xem xét điều chuyển một phần vốn sang các dự án có khả năng triển khai nhanh hơn. - Dự án Nâng cấp Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Nông (cũ) có tổng mức đầu tư 753 tỷ đồng, kế hoạch vốn năm 2025 là 270,4 tỷ đồng; đến nay các hạng mục chính đạt 95–98% khối lượng và dự kiến hoàn thành, đưa vào sử dụng cuối tháng 12/2025. - Dự án Quảng trường trung tâm thành phố Gia Nghĩa (cũ) với tổng mức đầu tư hơn 400 tỷ đồng đang được đẩy nhanh tiến độ, tập trung hoàn thiện các hạng mục mặt sân, hạ tầng kỹ thuật và cảnh quan. - Dự án cải thiện môi trường đô thị Gia Nghĩa được phê duyệt tại Quyết định số 405/QĐ-UBND ngày 21/3/2025 với tổng mức đầu tư 1.499,21 tỷ đồng (vốn vay ADB 1.001,94 tỷ đồng, vốn đối ứng 497,28 tỷ đồng) và đã chính thức khởi công trong năm 2025. - Các dự án cải tạo, nâng cấp Tỉnh lộ 1, 2, 3 tiếp tục triển khai, trong đó Tỉnh lộ 1 hoàn thành khoảng 30% khối lượng, Tỉnh lộ 2 đã thông xe kỹ thuật trước Tết Nguyên đán 2026, Tỉnh lộ 3 dự kiến đưa vào sử dụng trong quý I/2026 nhưng còn bị ảnh hưởng bởi chồng lấn quy hoạch bô-xít. - Dự án Cảng hàng không Phan Thiết (hạng mục hàng không dân dụng theo hình thức BOT) và Khu đô thị sân bay Phan Thiết có tổng mức đầu tư dự kiến 3.797 tỷ đồng, công suất thiết kế 2 triệu hành khách/năm đến năm 2030. - Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh đang hoàn thiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư, đồng thời triển khai xây dựng 8 khu tái định cư với tổng diện tích 27,7 ha, tổng vốn khoảng 429 tỷ đồng; đã niêm yết phương án bồi thường 100/111 trường hợp và phê duyệt 14/111 trường hợp. - Dự án đường và quỹ đất từ Lê Duẩn lên đường bộ cao tốc đã cơ bản hoàn thành công tác cắm cọc, đang hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi, với diện tích thu hồi khoảng 242 ha. - Dự án đường trục ven biển ĐT.719B đoạn Phan Thiết - Kê Gà đã đưa vào khai thác 17,8 km, phần còn lại 3,88 km tiếp tục vướng mặt bằng khu vực mỏ titan; đoạn Hòn Lan - Tân Hải đang duy trì thi công song tiến độ vẫn chịu ảnh hưởng bởi mặt bằng. - Dự án cầu Văn Thánh tiếp tục chậm tiến độ do vướng mắc trong công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng. - Dự án nâng cấp Quốc lộ 28B có tổng chiều dài 68 km, tổng mức đầu tư hơn 1.400 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành tháng 3/2026; dự án sửa chữa Quốc lộ 27, 27C, 55 đoạn Km106-Km116 có kinh phí 52,8 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành cuối năm 2025. - Các dự án thủy lợi như hồ Ka Zam (495,5 tỷ đồng), hồ Ta Hoét (981,6 tỷ đồng) và hồ Ka Pét tiếp tục gặp khó khăn về giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư. - Dự án cải thiện cơ sở hạ tầng phát triển nông nghiệp từ nguồn vốn ODA của Nhật Bản có tổng mức đầu tư 1.159,44 tỷ đồng đang triển khai công tác bồi thường và lựa chọn nhà thầu. - Dự án đường Cam Ly - Phước Thành đạt khoảng 73,11% giá trị hợp đồng; dự án xây dựng thay thế 5 cầu yếu đã hoàn thành 3 cầu; dự án hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây - Đạ Sị đang thực hiện đo đạc, kiểm đếm phục vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Trong năm 2025 hoạt động thương mại, dịch vụ ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đời sống, sinh hoạt của nhân dân; lưu thông hàng hóa thông suốt, tình hình thị trường và giá cả hàng hóa trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định, không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá quá mức; xúc tiến thương mại trong và ngoài nước tiếp tục được quan tâm; du lịch tiếp tục phát triển ổn định, thúc đẩy tăng trưởng các ngành kinh tế tại địa phương; vận tải kho bãi diễn ra khá nhộn nhịp, tăng khá so với cùng kỳ năm trước. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Tình hình thị trường bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng trưởng ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân, nhất là trong dịp cuối tuần, lễ, tết. Các trung tâm siêu thị, chợ, các cơ sở kinh doanh tăng cường phục vụ người dân và du khách, không để xảy ra gián đoạn kinh doanh, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa; giá cả thị trường hàng hóa luôn ổn định, không tăng đột biến. Hoạt động du lịch, nhà hàng, cơ sở ăn uống, cơ sở lưu trú và các dịch vụ khác luôn mở cửa phục vụ cho người dân và du khách. Trong tháng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 25.203,5 tỷ đồng, tăng 5,49% so với tháng trước và tăng 24,41% so với cùng kỳ; trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 16.879,2 tỷ đồng, tăng 4,57% so với tháng trước và tăng 22,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 5.688,1 tỷ đồng, tăng 8,89% so với tháng trước và tăng 33,38% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.636,2 tỷ đồng, tăng 4,34% so với tháng trước và tăng 16,68% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 73.109 tỷ đồng, tăng 7,87% so với quý trước và tăng 23,29% so với cùng kỳ; trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 49.131,4 tỷ đồng, tăng 9,47% so với quý trước và tăng 22,36% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 16.296,6 tỷ đồng, tăng 10,9% so với quý trước và tăng 30,34% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 7.678 tỷ đồng, giảm 6,29% so với quý trước và tăng 15,62% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông quý IV/2025 ước đạt 117,4 tỷ đồng, tăng 3,06% so với quý trước và tăng 4,25% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 263,6 tỷ đồng, tăng 4,19% so với quý trước và tăng 10,29% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 261.381,8 tỷ đồng, tăng 16,28% so với cùng kỳ năm trước; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 175.214,4 tỷ đồng, tăng 16,25%; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 57.254,8 tỷ đồng, tăng 19,06%; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 28.912,6 tỷ đồng và tăng 11,31%. Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông đạt 449,2 tỷ đồng, tăng 3,81% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 969,5 tỷ đồng, tăng 7,46%. Nhìn chung, thị trường bán lẻ và dịch vụ năm 2025 tăng trưởng ổn định, nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và du lịch, đặc biệt trong các dịp lễ, tết.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ qua các năm (ĐVT: tỷ đồng) Riêng tổng mức bán lẻ hàng hóa trong tháng ước đạt 16.879,2 tỷ đồng, tăng 4,57% so với tháng trước và tăng 22,89% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 49.134,4 tỷ đồng, tăng 9,47% so với quý trước và tăng 22,36% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 175.214,4 tỷ đồng, tăng 16,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: lương thực, thực phẩm ước đạt 81.422,4 tỷ đồng, tăng 21,22% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 17.714,2 tỷ đồng, tăng 16,29% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 16.399,1 tỷ đồng, tăng 6,94% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 23.000,3 tỷ đồng, tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Tình hình lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra thuận lợi, các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cơ sở kinh doanh bán lẻ hoạt động bình thường, cung ứng lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng về chủng loại, phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, không có tình trạng găm hàng, sốt giá; không có hiện tượng mất an toàn thực phẩm. Các cửa hàng xăng dầu trên địa bàn tỉnh cung ứng kịp thời nhu cầu tiêu dùng của người dân. Kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường từ ngày 15/11-14/12/2025: Tổng số vụ kiểm tra: 70 vụ; tổng số vụ vi phạm: 69 vụ; tổng số vụ xử lý: 75 vụ (06 vụ kỳ trước chuyển sang); số vụ đang xử lý: 01 vụ (từ kỳ trước chuyển sang); tổng số tiền xử phạt: 442,75 triệu đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy: 317,85 triệu đồng. Kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/12/2025: Tổng số vụ kiểm tra: 752 vụ; tổng số vụ vi phạm và xử lý hành chính: 678 vụ (01 vụ thanh tra kỳ trước chuyển sang); tổng số vụ chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra: 02 vụ; số vụ đang xử lý: 01 vụ; tổng số tiền xử phạt: 5.282,86 triệu đồng; trị giá hàng hóa vi phạm: 3.430,37 triệu đồng. 2. Giá cả 2.1. Giá tiêu dùng (CPI) Giá lương thực, thực phẩm, giá gas, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 5,86% so với cùng kỳ năm trước, CPI bình quân 12 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,56%.Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 12 so với cùng kỳ qua các năm (ĐVT: %) So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 07 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,26%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,67%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,54%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,33%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,27%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,05%; Giáo dục tăng 0,05%. Có 01 nhóm hàng giá ổn định: Thuốc và dịch vụ y tế 100%. Có 03 nhóm hàng giảm giá: Đồ uống và thuốc lá giảm 0,06%; Thông tin và truyền thông giảm 0,12%; Giao thông giảm 1,03%. * Nguyên nhân làm tăng, giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng CPI: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,26% so với tháng trước, do ảnh hưởng ngập lụt, nguồn cung các mặt hàng như gạo, rau tươi, thịt lợn, thịt gia cầm tăng nên giá lương thực, thực phẩm tăng so với tháng trước. Đồng thời tháng 12 đang là mùa cưới hỏi, mùa Noel, Tết Dương lịch sắp đến, nhu cầu tiêu dùng thị trường tăng cao. Giá gas tháng 12/2025 tăng 2,18% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh tăng 8.500 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới. Giá gas thế giới bình quân tháng 12/2025 công bố ở mức 490 USD/tấn, tăng 22,5 USD/tấn so với tháng 11/2025. Chỉ số giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,63% do giá xi măng, cát, đá, gạch xây, gạch bê tông, tấm lợp, sơn tường… tăng theo giá nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất và nhu cầu sửa chữa, xây dựng cuối năm tăng cao. - Nguyên nhân làm giảm CPI: Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 04, 11, 18 và 25 tháng 12/2025, tính bình quân chung tháng 12/2025 chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu giảm 2,37% so với tháng trước. Giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,12% so tháng trước, do các cửa hàng điện máy xanh, cửa hàng thế giới di động đang có chương trình khuyến mãi nhân dịp cuối năm các mặt hàng điện thoại, phụ kiện điện thoại… * Các yếu tố làm tăng, giảm CPI năm 2025 so bình quân cùng kỳ - Các yếu tố làm tăng CPI bình quân năm 2025: Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 13,82% làm CPI chung tăng 0,85 điểm phần trăm, áp dụng giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế; Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,34% làm CPI chung tăng 0,80 điểm phần trăm, do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 8,38% do nhu cầu sử dụng điện tăng đồng thời ngày 09/5/2025 EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân; Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,62% làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó các mặt hàng trang sức bằng vàng tăng 29,41% do ảnh hưởng giá vàng trong trước tăng theo giá vàng thế giới; giá bảo hiểm y tế tăng 14,02% do tăng theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng từ 1.800.000 đồng lên 2.340.000 đồng, theo đó bảo hiểm y tế cho cán bộ công chức và người lao động cũng được tăng theo; Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,01% tác động làm CPI chung tăng 1,41 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 4,51%, tác động làm CPI chung tăng 1,02 điểm phần trăm, tăng mạnh chủ yếu giá thịt lợn tăng 10,35%. Nguyên nhân do nguồn cung ít, nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp Lễ, Tết; Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,92%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,75%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,38%. Nguyên nhân do tăng cao trong dịp Lễ Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán thị trường tiêu dùng; Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 2,39%, làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Các yếu tố làm giảm CPI bình quân năm 2025: Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, bình quân năm 2025 giảm 2,36% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 1,58% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,15 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 7,86%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất - Giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản: Quý IV/2025, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,46% so với quý trước và tăng 7,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, giá sản phẩm nông nghiệp tăng mạnh, chủ yếu do giá cây lâu năm và một số nông sản chủ lực tiếp tục duy trì ở mức cao nhờ nhu cầu thị trường ổn định và chi phí đầu vào tăng. Giá sản phẩm chăn nuôi có xu hướng tăng chậm hơn do nguồn cung dồi dào, trong khi giá lâm nghiệp và thủy sản biến động nhẹ, chịu tác động của điều kiện thời tiết và chi phí khai thác. Tính chung năm 2025, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 16,11% so với năm trước; trong đó nông nghiệp tăng 17,25%, chăn nuôi tăng 8,87%, lâm nghiệp tăng 3,07% và thủy sản tăng 4,25%. Mức tăng này phản ánh rõ tác động của biến động thời tiết, chi phí vật tư nông nghiệp tăng và nhu cầu tiêu thụ, xuất khẩu nông sản cải thiện. - Giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất: Quý IV/2025, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước, tập trung chủ yếu ở nhóm sản phẩm khai khoáng, điện, khí đốt và hơi nước. Giá một số loại vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất công nghiệp và xây dựng duy trì ở mức cao do chi phí năng lượng, vận chuyển và nhập khẩu tăng. Bình quân năm 2025, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu tăng 2,83% so với năm trước; trong 7 nhóm sản phẩm chính, các nhóm hàng đều tăng giá so với cùng kỳ năm trước, gồm: nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,22%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 10,26%; nguyên vật liệu khác tăng 0,11%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,77%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,53%; sản phẩm xây dựng tăng 3,31%; dịch vụ chuyên môn khoa học và công nghệ tăng 3,75%. Nhìn chung, giá nguyên, nhiên vật liệu trong quý IV và cả năm 2025 có xu hướng tăng, phản ánh chi phí đầu vào gia tăng do tác động của giá năng lượng và nguyên liệu cơ bản; tuy nhiên mức tăng bình quân năm vẫn được kiểm soát, cho thấy công tác điều hành giá hiệu quả và phù hợp với đà phục hồi, mở rộng sản xuất của các ngành kinh tế. - Giá sản xuất công nghiệp: Quý IV/2025, giá sản xuất công nghiệp tiếp tục chịu tác động từ biến động tăng của giá nguyên, nhiên vật liệu, đặc biệt là điện, nhiên liệu và khoáng sản, làm chi phí sản xuất của doanh nghiệp tăng lên. Tuy nhiên, mức tăng giá được kiểm soát nhờ năng lực điều tiết sản xuất và thị trường tiêu thụ tương đối ổn định. Tính chung năm 2025, giá sản xuất công nghiệp biến động phù hợp với xu hướng tăng của giá đầu vào, phản ánh áp lực chi phí đối với hoạt động sản xuất công nghiệp, đồng thời đặt ra yêu cầu doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản trị, tiết giảm chi phí và thích ứng với biến động giá trong thời gian tới. 3. Hoạt động du lịch Hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng tích cực, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội. Riêng tháng 12/2025, nhiều sự kiện văn hóa, du lịch quy mô lớn được tổ chức như Lễ hội Cồng chiêng Đông Nam Á 2025 với chủ đề “Âm vang Di sản - Gắn kết tương lai”, Lễ hội Trà quốc tế - World Tea Fest 2025, Trình diễn thời trang thổ cẩm, Lễ hội Di sản Cà phê toàn cầu 2025 (gồm không gian trưng bày “Cà phê và Di sản Việt Nam”, không gian ẩm thực - thưởng thức cà phê, triển lãm lịch sử cà phê, trải nghiệm pha chế, đêm nhạc “Coffee Music Night”) và Chương trình Countdown chào đón năm mới 2026, đã thu hút đông đảo người dân và du khách. Hoạt động lữ hành và các dịch vụ hỗ trợ được tăng cường, đáp ứng tốt nhu cầu tham quan, trải nghiệm. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch và liên kết vùng tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hình ảnh điểm đến; nhiều khu, điểm du lịch như NovaWorld Phan Thiết, Phú Quý, Thung lũng Tình yêu, Hồ Xuân Hương, thác Prenn, Cù Lao Câu ngày càng khẳng định sức hút, tạo động lực cho tăng trưởng du lịch bền vững trong năm 2025. Trong tháng, lượt khách du lịch ước đạt 1.852,1 nghìn lượt khách, tăng 10,22% so với tháng trước và tăng 23,86% so với cùng kỳ năm trước (trong đó khách trong ngày đạt 66,2 nghìn lượt, tăng 5,86% so với tháng trước và tăng 8,58% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 3.453,7 nghìn ngày, tăng 10,88% so với tháng trước và tăng 33,48% so với cùng kỳ; lượt khách quốc tế đạt 130 nghìn lượt, tăng 15,59% so với tháng trước và tăng 58,03% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ đạt 349,3 nghìn ngày khách, tăng 16,81% so với tháng trước và tăng 69,93% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025, lượt khách du lịch ước đạt 5.424 nghìn lượt, tăng 9,1% so với quý trước và tăng 17,64% so với cùng kỳ (trong đó khách trong ngày đạt 204,9 nghìn lượt, tăng 11,03% so với quý trước và tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 9.658,4 nghìn ngày, tăng 7,36% so với quý trước và tăng 18,27% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách quốc tế đạt 330,9 nghìn lượt, tăng 27,05% so với quý trước và tăng 41,66% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ đạt 929,5 nghìn ngày khách, tăng 13,46% so với quý trước và tăng 59,24% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, lượt khách du lịch tiếp tục là điểm sáng của khu vực dịch vụ, với 20.733,1 nghìn lượt khách, tăng 17,91% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 809,9 nghìn lượt, tăng 9,99%); ngày khách phục vụ ước đạt 38.145,6 nghìn ngày khách, tăng 22,65%; lượt khách quốc tế ước đạt 1.287 nghìn lượt khách, tăng 39,78%; ngày khách phục vụ ước đạt 4.018,8 nghìn ngày khách, tăng 61,74%. Thị trường khách quốc tế đến tỉnh chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Mỹ, Đài Loan, Đức, Anh, Malaixia.... Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 1.117,3 tỷ đồng, tăng 11,3% so với tháng trước và tăng 45,56% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.466,2 tỷ đồng, tăng 8,39% so với tháng trước và tăng 29,09% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 104,6 tỷ đồng, tăng 5,25% so với tháng trước và tăng 2,8 lần so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 3.181,2 tỷ đồng, tăng 13,48% so với quý trước và tăng 37,91% so với quý cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 12.891,7 tỷ đồng, tăng 9,02% so với quý trước và tăng 27,73% so với quý cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 223,7 tỷ đồng, tăng 3,3 lần so với quý trước và tăng 2,16 lần so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 11.007,3 tỷ đồng, tăng 21,48% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 45.599,1 tỷ đồng, tăng 17,93% so cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 648,3 tỷ đồng, tăng 78,47% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.094,1 tỷ đồng, tăng 10,88% so với tháng trước và tăng 21,61% so với cùng kỳ. Quý IV/2025 ước đạt 14.307,6 tỷ đồng, tăng 8,05% so với quý trước và tăng 23,45% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 ước đạt 56.610,6 tỷ đồng, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách và ngày khách phục vụ qua các năm 4. Hoạt động dịch vụ khác Trong năm, tình hình hoạt động các ngành dịch vụ khác duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh nhu cầu xã hội phục hồi và mở rộng, đặc biệt ở các lĩnh vực bất động sản, giáo dục - đào tạo, y tế và dịch vụ vui chơi, giải trí; tuy có biến động giảm theo quý do yếu tố mùa vụ nhưng xu hướng chung cả năm vẫn tích cực. Trong tháng, tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.636,2 tỷ đồng, tăng 4,34% so với tháng trước và tăng 16,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 315 tỷ đồng, tăng 1,89% so với tháng trước và tăng 12,94% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 116,7 tỷ đồng, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 8,6% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 87,3 tỷ đồng, tăng 3,81% so với tháng trước và tăng 12,93% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 156,6 tỷ đồng, tăng 3,67% so với tháng trước và tăng 28,97% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.412,7 tỷ đồng, tăng 5% so với tháng trước và tăng 18,17% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 547,8 tỷ đồng, tăng 4,41% so với tháng trước và tăng 14,43% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025, tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 7.678 tỷ đồng, giảm 6,29% so với quý trước và tăng 15,62% so với quý cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 921 tỷ đồng, tăng 5,79% so với quý trước và tăng 12,84% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 337,2 tỷ đồng, giảm 10,11% so với quý trước và tăng 8,49% so với quý cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 258 tỷ đồng, tăng 1,04% so với quý trước và tăng 14,33% so với quý cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 458,6 tỷ đồng, giảm 4,49% so với quý trước và tăng 29,21% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 4.110,7 tỷ đồng, giảm 9,73% so với quý trước và tăng 16,76% so với quý cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 1.592,4 tỷ đồng, giảm 3,99% so với quý trước và tăng 12,9% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 28.912,6 tỷ đồng, tăng 11,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 3.262,6 tỷ đồng, tăng 14,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 1.290,3 tỷ đồng, tăng 13,83% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 929,5 tỷ đồng, tăng 28,99% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 1.567,1 tỷ đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 15.810 tỷ đồng, tăng 9,75% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 6.053 tỷ đồng, tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Tình hình hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá và ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hóa và phát triển sản xuất, kinh doanh. Vận tải hành khách và hàng hóa đều tăng cả về khối lượng vận chuyển và luân chuyển; doanh thu vận tải, kho bãi tăng khá, đặc biệt là dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải. Hoạt động thông quan hàng hóa qua Cảng quốc tế Vĩnh Tân diễn ra ổn định, chủ yếu là xuất khẩu các mặt hàng vật liệu và sản phẩm công nghiệp, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa và tăng trưởng kinh tế địa phương. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.088,2 nghìn HK, tăng 5,32% so với tháng trước và tăng 17,38% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 577.285,4 nghìn HK.Km, tăng 5,36% so với tháng trước và tăng 12,44% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 lượt khách vận chuyển ước đạt 11.872,1 nghìn HK, tăng 15,56% so với quý cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.675.560,5 nghìn HK.Km, tăng 11,45% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 46.326,2 nghìn HK, tăng 12,11% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 6.727.883,2 nghìn HK.Km, tăng 12,66% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng 2025 ước đạt 2.112,9 nghìn tấn, tăng 3,50% so với tháng trước và tăng 12,12% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 307.978,1 nghìn tấn.Km, tăng 3,78% so với tháng trước và tăng 16,36% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 khối lượng vận chuyển ước đạt 6.247,4 nghìn tấn, tăng 11,41% so với quý cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 902.500,5 nghìn tấn.Km, tăng 12,91% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 22.984,9 nghìn tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 3.367.443 nghìn tấn.Km, tăng 8,23% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.306,6 tỷ đồng, tăng 4,97% so với tháng trước và tăng 18,98% so với cùng kỳ năm trước. Quý IV/2025 ước đạt 3.785,6 tỷ đồng, tăng 16,50% so với quý cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 ước đạt 14.416,3 tỷ đồng, tăng 15,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 6.132,1 tỷ đồng, tăng 19,31% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 6.105,1 tỷ đồng, tăng 6,81%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 2.116,5 tỷ đồng, tăng 34,11%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 62,5 tỷ đồng, tăng 15,52%. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Năm 2025 ước đạt 2.466,1 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.277,2 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 188,9 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi qua các năm (ĐVT: Tỷ đồng) V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng1. Thu ngân sách nhà nước Ước thu ngân sách nhà nước trong tháng đạt 2.928 tỷ đồng, giảm 30,66% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025 ước đạt 31.319 tỷ đồng (bằng110,86% kế hoạch, tăng 9,59% so cùng kỳ). Trong đó: thu nội địa ước đạt 29.680 tỷ đồng (bằng 111,53% kế hoạch, tăng 16,38% so cùng kỳ); thu xuất nhập khẩu ước đạt 1.639 tỷ đồng, (bằng 100,00% kế hoạch, giảm 46,69% so cùng kỳ). Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa như: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.924 tỷ đồng (bằng 156,25% kế hoạch năm và tăng 71,80% so với cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.515 tỷ đồng (bằng 123,29% kế hoạch năm và tăng 10,50%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 7.035 tỷ đồng (bằng 110,91% kế hoạch năm và tăng 4,83%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 3.052 tỷ đồng (bằng 118,19% kế hoạch năm và tăng 17,95%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 4.789 tỷ đồng (bằng 94,77% kế hoạch năm và tăng 24,76%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.660 tỷ đồng (bằng 103,74% kế hoạch năm và tăng 7,88%).Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn qua các năm 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh năm 2025 ước đạt 47.984 tỷ đồng (bằng 100% kế hoạch, tăng 17,85% so với cùng kỳ). Trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 13.748 tỷ đồng, tăng 17,26% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 33.342 tỷ đồng, tăng 15,73% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động tín dụng - Công tác huy động vốn: đến 30/11/2025, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 225.531 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 29.641 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 15,13%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 223.098 tỷ đồng (chiếm 99% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.433 tỷ đồng, (chiếm 1% tổng huy động vốn). Ước đến 31/12/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 227.500 tỷ đồng, tăng 15,96 so với đầu năm, tương ứng tăng 36.316 tỷ đồng. - Hoạt động tín dụng: đến 30/11/2025, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 367.468 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 28.005 tỷ đồng, tăng 8,25%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 365.197 tỷ đồng (chiếm 99% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.271 tỷ đồng (chiếm 1% tổng dư nợ tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 263.023 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 104.445 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/12/2025, dư nợ cho vay đạt 373.000 tỷ đồng, tăng 9,89% so với đầu năm, tăng 33.577 tỷ đồng. - Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,18% - 0,49%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 3,63% - 4,62%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 5,19% - 5,88%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 6,01% - 6,75%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,93% - 9,28%/năm, trung dài hạn 8,57% - 9,88%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,92% - 4,13%/năm. - Dư nợ cho vay: đến 30/11/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 188.989 tỷ đồng, chiếm 51,42% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.196 tỷ đồng, chiếm 8,76% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm nghiệp đạt 146.283 tỷ đồng, chiếm 39,82% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu đạt 7.898 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2,16% trong tổng dư nợ trên địa bàn. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng tổ chức tuyên truyền kỷ niệm 20 năm ngày Di sản Văn hóa Việt Nam (23/11/2005 - 23/11/2025); tuyên truyền Liên hoan các câu lạc bộ Cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I; tổ chức triển lãm tranh cổ động tấm lớn tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và tuyên truyền các ngày lễ, các hoạt động chính trị của địa phương và đất nước. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức Lễ hội cồng chiêng Đông Nam Á với chủ đề “Âm vang Di sản - Gắn kết tương lai” gồm chuỗi các hoạt động: Liên hoan các CLB cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2025; Đêm hội “Hòa âm cồng chiêng Đông Nam Á năm 2025”; Chương trình Trình diễn thời trang thổ cẩm; Lễ hội Di sản cà phê toàn cầu năm 2025. Tổ chức trưng bày “Bó hoa lớn nhất Việt Nam” với hơn 100 loại hoa khác nhau; tổ chức Lễ hội Trà quốc tế năm 2025. Trong tháng đã thực hiện 126 buổi chiếu phim phục vụ cơ sở, trường học và 14 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị: Khai mạc, bế mạc Giải đua Xe đạp các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2025 tại Nova World Phan Thiết; biểu diễn khai mạc, bế mạc Liên hoan các câu lạc bộ cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, tại phường Đông Gia Nghĩa và biểu diễn chương trình “Chào năm mới 2026” tại 03 khu vực Trung tâm, Đông và Tây Lâm Đồng; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né, Bình Thuận cũ). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng đã đón 12.581 lượt khách (Nhà trưng bày chính: 1.877 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 1.116 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 191 lượt; Cơ sở 1 (Đông Lâm Đồng) đón 9.047 lượt; Cơ sở 2 (Tây Lâm Đồng) đón 350 lượt khách tham quan. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 90 đoàn với 3.755 lượt người, trong đó có 21 khách nước ngoài. Phục vụ 09 lễ viếng, 01 lễ kết nạp Đảng. Tổ chức thực hiện 01 chương trình phát thanh “Về nguồn - Hành trình tri ân người thầy vĩ đại của dân tộc” và 01 phóng sự “Trường Dục Thanh - Điểm đến về nguồn”. Tham gia Triển lãm chuyên đề “Nơi này Bác đã đi qua -Trường Dục Thanh Phan Thiết” tại Di tích Quốc gia Đặc biệt mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, tỉnh Đồng Tháp. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 06 đoàn khách với 967 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 170 thẻ bạn đọc (63 thẻ thiếu nhi); phục vụ 237.871 lượt bạn đọc; luân chuyển 48.218 lượt tài liệu; bổ sung 324 bản sách từ nguồn biếu, tặng; xử lý kỹ thuật 600 bản sách; số hóa 75.700 trang/7 tài liệu sách tham khảo, 20 Địa chí Lâm Đồng. Trưng bày 500 bản sách nhân các ngày kỷ niệm. Cập nhật 184 tin bài lên trang website; chia sẻ bài lên mạng xã hội 289 lượt/33 bài; sưu tầm 110 tin bài về Lâm Đồng; giới thiệu 205 bản sách; phát hành 1 tập “Thông tin tư liệu Lâm Đồng - khu vực Đông Lâm Đồng” tháng 11 năm 2025 gồm 110 tin bài và tổ chức các hoạt động: Tuần lễ sáng tạo “Vẽ bìa sách yêu thích”; “Đọc sách cùng bé”. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Trong tháng tổ chức Giải Aerobic vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Võ thuật Cổ truyền Vô địch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Cờ vua học sinh tỉnh Lâm Đồng năm 2025 và Giải đua Xe đạp vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2025 - Vòng quanh Hồ Xuân Hương. - Thể thao thành tích cao: Cử đoàn vận động viên tham gia các giải thể thao quốc gia, quốc tế; kết quả đạt 13 huy chương (02 HCV, 03 HCB, 08 HCĐ), trong đó có 03 huy chương quốc tế (01 HCB, 02 HCĐ). Tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm ngày 14/12/2025: Đạt 757 huy chương (191 HCV, 206 HCB, 360 HCĐ); trong đó đạt 47 huy chương quốc tế (14 HCV, 19 HCB, 14 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Trong tháng tập trung tăng cường đảm bảo an toàn trường học, chủ động ứng phó, thống kê và khắc phục thiệt hại do mưa lũ, hỗ trợ học sinh, nhà giáo và cơ sở giáo dục bị ảnh hưởng trên địa bàn tỉnh; đồng thời tiếp tục đảm bảo ổn định nề nếp dạy học, chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.603 trường học và cơ sở giáo dục (giảm 02 trường so với năm học trước do sáp nhập 02 trường tiểu học và 02 trường mầm non ở xã Krông Nô) với 818.588 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 526 trường với 151.943 trẻ; cấp tiểu học có 564 trường với 321.257 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 240.603 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 104.785 học sinh. Trong năm học 2025-2026, nhu cầu giáo viên cho các cấp học là 42.892 giáo viên; tuy nhiên, số giáo viên hiện có 37.459 giáo viên, còn thiếu 5.433 giáo viên, trong đó: Cấp Tiểu học thiếu 1.463 giáo viên, THCS thiếu 1.453 giáo viên, THPT thiếu 495 giáo viên, chủ yếu ở các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Ngoại ngữ. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 826 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 522 ca so với tháng trước và giảm 8.141 ca so với cùng kỳ năm trước; không có trường hợp tử vong. Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh có 7.534 ca mắc, 03 ca tử vong. Trong tháng có 90 ổ dịch được phát hiện xử lý, lũy kế năm 2025 đã xử lý 1.127 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế năm 2025, toàn tỉnh có 07 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 256 ca mắc, giảm 138 ca so với tháng trước và tăng 186 ca so với cùng kỳ năm trước; lũy kế năm 2025 toàn tỉnh ước có 2.794 ca mắc. Trong tháng phát hiện 04 ổ dịch mới (xã Đạ Huoai: 2; xã Hào Bắc: 01; xã Gia Hiệp: 01), lũy kế năm 2025 đã phát hiện 21 ổ dịch bệnh tay chân miệng. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 14 ca mắc, tăng 04 ca so với tháng trước, giảm 596 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh ước có 4.075 ca mắc, không có tử vong. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, tiêm chủng đầy đủ cho 3.783 trẻ dưới 1 tuổi; lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 47.170 trẻ. Tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 4.991 trẻ, lũy kế 12 tháng ước tiêm cho 44.692 trẻ. Tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.540 trẻ, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 45.627 trẻ. Tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.343 trẻ, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 46.957 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 2 cho 3.544 trẻ, lũy kế 46.381 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 4.094 trẻ, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 42.708 trẻ. Tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai cho 3.690 người, lũy kế năm 2025 ước tiêm cho 43.085 người. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Toàn tỉnh còn quản lý 463 bệnh nhân, không còn bệnh nhân đang điều trị; số bệnh nhân đang giám sát là 20 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 451 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Bệnh nhân lao các thể trong tháng 11/2025 là 6 bệnh nhân/100.000 dân, lũy kế 11 tháng năm 2025 là 63 người/100.000 dân. Bệnh nhân Lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 bệnh nhân/100.000 dân, lũy kế 11 tháng là 36 bệnh nhân/100.000 dân. Bệnh nhân Lao kháng thuốc trong tháng 11/2025 là 03 bệnh nhân, lũy kế 11 tháng năm 2025 là 57 bệnh nhân. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 12 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 04 bệnh nhân tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.729 bệnh nhân mắc HIV, chuyển AIDS 1.777 bệnh nhân và có 883 bệnh nhân tử vong do AIDS. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 523.944 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 41.677 người, số ngày điều trị nội trú là 236.932 ngày, xét nghiệm cho 752.221 tiêu bản, chẩn đoán 128.897 hình ảnh, phẫu thuật 4.744 trường hợp. Lũy kế năm 2025 đã tổ chức khám bệnh cho 5.747.286 lượt người; 463.480 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 3.060.269 ngày; số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,69 ngày; công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 88%; đã xét nghiệm cho 8.994.624 tiêu bản; chẩn đoán 1.607.295 hình ảnh và phẫu thuật cho 60.017 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 68 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 1.230 cơ sở, kết quả có 01 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 4,0 triệu đồng. Lũy kế năm 2025, tỉnh đã thành lập 830 đoàn kiểm tra tại 17.105 cơ sở, kết quả có 146 cơ sở vi phạm bị xử phạt với tổng số tiền 905,27 triệu đồng. Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm tại phường Phan Thiết, làm 96 người nhập viện (do ăn bánh mì thịt nguội). Lũy kế năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 05 vụ ngộ độc thực phẩm làm 205 người mắc, có 01 trường hợp tử vong do ăn cá nóc. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương như: Lễ hội Cồng chiêng Đông Nam Á năm 2025; Chương trình Chào năm mới 2026 tại 3 khu vực; Lễ hội Trà quốc tế năm 2025. Tiếp tục đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số; thường xuyên rà soát thông tin trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng (từ ngày 15/11-15/12, qua rà soát trên hệ thống phần mềm giám sát thông tin mạng xã hội có 39.941 tin, bài viết; trong đó có 35.961 tin, bài có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; tin, bài tích cực tỷ lệ 75,2%; tin, bài tiêu cực tỷ lệ khoảng 24,8%; qua đánh giá, không có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Triển khai tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách mới, các hoạt động, sự kiện quan trọng của tỉnh. Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh tỉnh Lâm Đồng được tăng cường với nhiều hình thức, tận dụng hiệu quả các nền tảng truyền thông đa phương tiện; phản ánh kịp thời, toàn diện các hoạt động đối nội, đối ngoại; các vấn đề, sự kiện nổi bật của tỉnh, trong nước và quốc tế. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 13 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh; cấp đổi 01 Giấy phép hoạt động in; cấp 01 Giấy xác nhận đăng ký thông tin hoạt động cơ sở in. 5. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Trong năm 2025, hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ, đạt nhiều kết quả tích cực. Toàn tỉnh quản lý, triển khai 87 nhiệm vụ khoa học - công nghệ các cấp (9 nhiệm vụ cấp quốc gia, 47 nhiệm vụ cấp tỉnh, 13 nhiệm vụ cấp cơ sở và 18 nhiệm vụ mở mới), tổ chức nghiệm thu 24 nhiệm vụ; tổng hợp 110 đề xuất nhiệm vụ khoa học - công nghệ giai đoạn tiếp theo. Công tác hỗ trợ doanh nghiệp được đẩy mạnh, đến cuối năm có 14 doanh nghiệp khoa học - công nghệ; khảo sát, đánh giá trình độ công nghệ cho 54 doanh nghiệp; hỗ trợ sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Hệ sinh thái khởi nghiệp tiếp tục phát triển với việc tổ chức Techfest Lâm Đồng 2025, thu hút trên 280 đại biểu, hơn 100 gian hàng, kết nối cung - cầu công nghệ cho 8 tổ chức, doanh nghiệp; Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) xếp hạng 19/34 tỉnh, thành phố. Công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng được tăng cường, kiểm tra 191 cơ sở sản xuất, kinh doanh; kiểm nghiệm khoảng 10 nghìn mẫu sản phẩm, 49.160 phương tiện đo; tỷ lệ mẫu đạt chất lượng 61/63. Hạ tầng bưu chính, viễn thông và chuyển đổi số tiếp tục được đầu tư, mở rộng: toàn tỉnh có hơn 4 triệu thuê bao di động, trong đó 87,7% là thuê bao thông minh; 4,4 triệu thuê bao Internet; 99% hộ gia đình sử dụng cáp quang; 11.500 trạm BTS, trong đó có 832 trạm 5G; doanh thu bưu chính năm 2025 ước đạt 750 tỷ đồng. Công tác chuyển đổi số được đẩy mạnh với việc triển khai hệ thống dùng chung, chữ ký số (11.453 chứng thư), nền tảng tích hợp dữ liệu LGSP kết nối 22 hệ thống và hơn 400 nghì lượt giao dịch dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 6. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 6.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định. Kinh tế vùng DTTS của tỉnh đa dạng và đạt được nhiều thành tựu nổi bật; nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ lực phát triển theo hướng nông nghiệp công nghệ cao; phát triển trồng rừng, khai thác và chế biến lâm sản mang lại hiệu quả tích cực; khu vực ven biển hình thành các vùng sản xuất chuyên canh kết hợp chăn nuôi gia súc và phát triển du lịch sinh thái biển; nhiều xã đồng bào DTTS đã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đời sống người dân vùng đồng bào DTTS ngày càng cải thiện. Trong năm, các lễ hội truyền thống của đồng bào như lễ hội Katê của người Chăm, lễ mừng lúa mới của người Cơ Ho, lễ cúng bến nước của người M’nông, lễ hội của người Chu Ru, Mạ được duy trì và phục dựng. Nghề gốm Chăm đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. Phong trào văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao phát triển sâu rộng, trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai đồng bộ gắn với xây dựng nông thôn mới. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet, nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin của đồng bào. Chính sách giáo dục triển khai có hiệu quả. Hệ thống trường lớp vùng DTTS không ngừng được mở rộng, đa dạng về loại hình và từng bước nâng cao chất lượng. Toàn tỉnh đã xây dựng hệ thống giáo dục dân tộc chuyên biệt với các trường phổ thông dân tộc nội trú và nhiều trường phổ thông dân tộc bán trú tại các địa bàn khó khăn. Mạng lưới trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở được phân bổ tương đối hợp lý, bảo đảm hầu hết trẻ em DTTS đều được đến trường. Chính sách ưu tiên đối với học sinh, sinh viên DTTS được thực hiện có hiệu quả, học sinh được miễn giảm học phí, cấp học bổng, hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở bán trú và nội trú, vì vậy tỷ lệ bỏ học đã giảm rõ rệt, đặc biệt ở các cấp tiểu học và trung học cơ sở. Mô hình thí điểm việc dạy tiếng dân tộc trong nhà trường như tiếng Chăm, tiếng Ê Đê, tiếng M’nông, tiếng Cơ Ho được triển khai, qua đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc. Nhìn chung, chất lượng giáo dục vùng DTTS của tỉnh có nhiều tiến bộ, hệ thống trường lớp được mở rộng, tỷ lệ học sinh đến lớp tăng, chất lượng giáo dục nâng lên, qua đó góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Hệ thống y tế cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân; hiện nay 100% xã đã có trạm y tế, trong đó phần lớn đạt chuẩn quốc gia về y tế; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt khoảng 93-94%, trong đó phần lớn là đồng bào DTTS nhờ chính sách hỗ trợ của Nhà nước; công tác đào tạo nhân lực y tế là người DTTS được chú trọng nhằm đáp ứng và nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe người dân. 6.2. Chính sách tôn giáo Trên địa bàn tỉnh có 24 tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận đang hoạt động, gồm: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam, 10 hệ phái Tin Lành; 05 tổ chức Cao Đài; Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm Việt Nam; Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư đạo; Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo; Cộng đồng Tôn giáo Baha’i Việt Nam, Hồi giáo Bàni, Bàlamôn giáo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam và 33 tổ chức Tin Lành chưa được nhà nước cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Tổng số có khoảng 1.571.000 tín đồ, 3.531 chức sắc, 6.700 chức việc; 1.289 cơ sở tôn giáo hợp pháp; 04 cơ sở đào tạo tôn giáo; 721 tổ chức tôn giáo trực thuộc và 619 điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung. Trong năm 2025, tình hình hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh ổn định và tuân thủ pháp luật, đảm bảo theo đúng hiến chương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích và phương châm hành đạo. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh tổ chức lễ Phật đản, An cư kiết hạ và lễ Vu lan năm 2025; giải quyết các nhu cầu tôn giáo đảm bảo đúng quy định của pháp luật như: Chấp thuận thành lập 138 tổ chức tôn giáo trực thuộc; các tổ chức tôn giáo mời 21 đoàn người nước ngoài vào hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh; chấp thuận việc các tổ chức tôn giáo bổ nhiệm 266 chức việc; mở 34 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo; xác nhận thông báo phong phẩm 137 chức sắc; xác nhận tiếp nhận thông báo kết quả bổ nhiệm 114 trường hợp; xác nhận thuyên chuyển chức sắc 156 trường hợp; tiếp nhận thông báo cách chức, bãi nhiệm 09 trường hợp; xác nhận danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung 25 trường hợp... Nhìn chung, hoạt động các tổ chức tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định; các chính sách về tôn giáo được triển khai bình đẵng, có hiệu quả nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đồng thời duy trì ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn tỉnh. 6.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 364 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công, trong đó: Tiếp nhận 14 hồ sơ chuyển đến, 11 hồ sơ chuyển đi; lập thủ tục chuyển Hội đồng GĐYK 10 hồ sơ; trả lời 7 đơn thư; ban hành 51 Quyết định hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ; 170 Quyết định trợ cấp mai táng phí đối với thân nhân của người có công với cách mạng từ trần; đề nghị cấp lại bằng Tổ quốc ghi công cho 61 liệt sĩ; giải quyết 13 hồ sơ đính chính thông tin người có công; thực hiện báo tin mộ cho 02 thân nhân liệt sĩ… Công tác chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt đối với người có công với cách mạng và thân nhân được thực hiện đầy đủ, đã chi trả qua tài khoản 13.109/19.288 đối tượng với tổng số tiền 42.880.948.982 đồng. 7. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến ngày 30/11/2025, toàn tỉnh có 286.197 người tham gia BHXH, tăng 0,73% so với tháng trước và tăng 3,28% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 242.976 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 1,85% so với cùng kỳ năm trước; 43.221 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 12,07% so với cùng kỳ năm trước); có 219.939 người tham gia BHTN, tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.907.080 người, tăng 0,47% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ dân số tham gia BHYT chung toàn tỉnh đạt 93,02%. Trong tháng, đã giải quyết mới 8.547 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.806 người; lũy kế đến ngày 30/11/2025, đã giải quyết mới 109.276 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 21.265 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng là 4.270 người; trợ cấp 1 lần là 28.611 người; chế độ ốm đau là 59.414 người; chế độ thai sản là 13.143 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe là 3.838 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng là 19.148 người; hỗ trợ học nghề là 2.117 người). Tiếp nhận, giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177 và 178 là 82 người (lũy kế: 2.143 người). 8. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/11/2025-15/12/2025) Trong tháng xảy ra 74 vụ tai nạn giao thông, tăng 17 vụ so với tháng trước và giảm 43 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 35 người, tăng 12 người so với tháng trước và giảm 10 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 57 người, tăng 14 người so với tháng trước và giảm 34 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/12/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 873 vụ tai nạn giao thông, giảm 360 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 426 người, giảm 37 người; số người bị thương là 675 người, giảm 349 người so với cùng kỳ năm trước. 9. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Từ ngày 27/11/2025 đến 18/12/2025 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng đã xảy ra 02 vụ lũ quét. Thiên tai đã làm 02 người chết và 02 người bị thương; 8.359 căn nhà bị ngập; 1.795 ha lúa, 2.303 ha hoa màu bị thiệt hại và 1.113 ha cây lâu năm bị ảnh hưởng; 582 con gia súc và 23.412 con gia cầm chết, cuốn trôi,.... Ước tổng thiệt hại 281.171 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 18/12/2025, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng xảy ra 38 vụ thiên tai do mưa lớn kèm dông, lốc, sét, gió giật mạnh, lũ quét làm 17 người chết, 21 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 1.840,6 tỷ đồng. Đến nay tỉnh đã hoàn thành hỗ trợ khắc phục thiệt hại về nhà và sản xuất, qua đó giúp người dân dần ổn định cuộc sống; bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng giao thông thiết yếu, các tuyến đường huyết mạch trên địa bàn tỉnh (Quốc lộ 28, Quốc lộ 20, Đường tỉnh 725…) đã kịp thời sửa chữa, khôi phục, hiện nay đã cơ bản đáp ứng nhu cầu vận chuyển và đi lại của người dân. - Cháy, nổ: Trong tháng xảy ra 11 vụ cháy, nổ, không có thiệt hại về người. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 15/12/2025 xảy ra 61 vụ cháy, nổ làm chết 01 người và 02 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 18 vụ, số người chết giảm 4 người và số người bị thương giảm 03 người. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra, giảm 01 vụ so với tháng trước và giảm 03 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế từ đầu năm đến ngày 19/12/2025 xảy ra 20 vụ vi phạm, giảm 38 vụ so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 3,663 tỷ đồng. * Đánh giá chung Nhìn chung, năm 2025 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn; tăng trưởng toàn cầu phục hồi chậm, lạm phát dù đã hạ nhiệt nhưng vẫn duy trì ở mức cao tại một số nền kinh tế lớn; giá năng lượng, nguyên vật liệu và chi phí vận chuyển biến động khó lường; căng thẳng địa chính trị, xung đột khu vực và rủi ro về chuỗi cung ứng tiếp tục tác động đến hoạt động sản xuất, thương mại và đầu tư. Trong nước, cùng với những khó khăn chung của nền kinh tế, tỉnh triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm đầu tiên sau sáp nhập tỉnh, phát sinh nhiều vấn đề trong giai đoạn đầu như sắp xếp tổ chức bộ máy, điều chỉnh quy hoạch, phân bổ nguồn lực và thống nhất cơ chế quản lý, điều hành, ảnh hưởng nhất định đến tiến độ triển khai một số chương trình, dự án và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, tình hình thời tiết, thiên tai diễn biến phức tạp, mưa lớn kéo dài, lũ lụt cục bộ, sạt lở đất tại một số khu vực đã gây thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp, hạ tầng giao thông và đời sống người dân, làm gia tăng chi phí khắc phục, phục hồi sản xuất, ảnh hưởng đến tăng trưởng chung của nền kinh tế địa phương trong một số thời điểm. Trong bối cảnh đó, với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự phối hợp đồng bộ của các sở, ngành, địa phương và sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, người dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã từng bước ổn định và phục hồi rõ nét trong các quý cuối năm, đạt được nhiều kết quả tích cực. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tăng 6,42%, phản ánh xu hướng phục hồi và tăng trưởng khá trong điều kiện còn nhiều khó khăn sau sáp nhập. Quy mô nền kinh tế tiếp tục mở rộng, GRDP bình quân đầu người ước đạt 105,24 triệu đồng/người, tăng 12,7% so với năm trước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó khu vực dịch vụ tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu. Hoạt động sản xuất cây trồng duy trì ổn định, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 1,43%; nhiều cây trồng chủ lực tăng khá về sản lượng như cà phê, hồ tiêu và sầu riêng. Chăn nuôi phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm. Nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục mở rộng với diện tích 107.217 ha, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất, tạo nền tảng vững chắc cho ổn định kinh tế nông thôn. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 tăng 16,28% so với cùng kỳ, phản ánh sự phục hồi mạnh của thị trường trong nước, hoạt động thương mại, du lịch và dịch vụ tiêu dùng sau giai đoạn ổn định tổ chức bộ máy. Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi nhưng còn chịu tác động của biến động giá nguyên, nhiên vật liệu và tiến độ đầu tư, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 4,79%. Hoạt động đầu tư tiếp tục được duy trì, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tăng 8,48% so với năm trước, góp phần phát triển kết cấu hạ tầng và thúc đẩy tăng trưởng, dù chưa đạt mục tiêu kế hoạch do ảnh hưởng của quá trình rà soát, điều chỉnh danh mục dự án và thủ tục đầu tư sau sáp nhập. Công tác quản lý giá và điều hành thị trường được triển khai đồng bộ, hiệu quả; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2025 tăng 3,56%, nằm trong phạm vi kiểm soát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và đời sống dân cư. Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả tích cực, tổng thu nội địa tăng 16,38% so với năm trước. Song song với phát triển kinh tế, lĩnh vực an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, bảo đảm đầy đủ và kịp thời, nhất là trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và địa giới hành chính. Các chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo được thực hiện đầy đủ; công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghề, chăm lo đời sống người lao động được chú trọng. Các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa – xã hội tiếp tục ổn định, góp phần củng cố niềm tin của người dân và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG
Thông cáo báo chí tình hình kinh tế - xã hội năm 2025 tỉnh Lâm Đồng
- 06/01/2026 15:33
Năm 2025, kinh tế thế giới được các tổ chức quốc tế lớn như IMF, EU và Fitch Ratings nhận định có triển vọng khả quan hơn với mức dự báo tăng trưởng được điều chỉnh tăng nhẹ so với các kỳ đánh giá trước, dao động trong khoảng từ 2,5% đến 3,2%, trong khi OECD giữ nguyên dự báo ở mức 3,2%; thương mại hàng hóa toàn cầu dự kiến tăng trưởng ổn định ở mức 2,4% theo dự báo của WTO và lạm phát toàn cầu tiếp tục xu hướng giảm trên diện rộng xuống mức 4,2%. Trong bối cảnh đó, khu vực Đông Nam Á chứng kiến sự phân hóa về tốc độ phục hồi, song Việt Nam được các tổ chức quốc tế đánh giá là quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực, với các mức dự báo cụ thể: ADB lạc quan nhất ở mức 7,4%, tiếp đến là WB 6,6%, IMF 6,5% và OECD 6,2%. Động lực tăng trưởng chủ yếu của Việt Nam trong năm 2025 được xác định dựa trên đà phục hồi mạnh mẽ của kim ngạch xuất khẩu và ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; kết hợp với dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) duy trì đà tăng trưởng tích cực, mặc dù nền kinh tế vẫn đối mặt với thách thức từ rủi ro thiên tai và những bất định trong chính sách thương mại toàn cầu. Hòa cùng xu thế chung của cả nước, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng năm 2025 tiếp tục phục hồi và phát triển theo hướng ổn định, tích cực trong bối cảnh còn nhiều khó khăn, thách thức từ kinh tế thế giới và trong nước. Hoạt động sản xuất, kinh doanh trên hầu hết các lĩnh vực duy trì đà tăng trưởng; thị trường hàng hóa, dịch vụ ổn định; đầu tư xã hội và du lịch tiếp tục được thúc đẩy; an sinh xã hội được bảo đảm. Sự đóng góp đồng đều của cả ba khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực dịch vụ, đã tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng chung của nền kinh tế địa phương trong năm. I. Tăng trưởng kinh tế Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) năm 2025, tăng 6,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 5,10%, đóng góp 1,68 điểm phần trăm; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,54%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm (riêng công nghiệp, tăng 4,80%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm); khu vực dịch vụ tăng 8,28%, đóng góp 3,33 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 4%, đóng góp 0,20 điểm phần trăm. Tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 so với cùng kỳ (%) Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,1% (cùng kỳ tăng 5,02%), đóng góp 1,68 điểm phần trăm vào tăng trưởng chung; trong đó nông nghiệp tăng 5,22% (cùng kỳ tăng 5,13%), đóng góp 1,5 điểm phần trăm; thủy sản tăng 4,47% (cùng kỳ tăng 3,97%), đóng góp 0,16 điểm phần trăm; lâm nghiệp tăng 3,22%, đóng góp 0,02 điểm phần trăm. Khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,54%, đóng góp 1,21 điểm phần trăm; trong đó xây dựng tăng 7,35%, đóng góp 0,46 điểm phần trăm; công nghiệp tăng 4,8%, đóng góp 0,75 điểm phần trăm. Khu vực dịch vụ đạt mức tăng 8,28% cao nhất trong 3 năm gần đây (năm 2023: 8,06%; năm 2024: 6,97%), đóng góp 3,33 điểm phần trăm, với nhiều ngành tăng trưởng mạnh như: bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 10,55%, đóng góp 0,79 điểm phần trăm; vận tải kho bãi tăng 15,07%, đóng góp 0,43 điểm phần trăm; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 9,79%, đóng góp 0,66 điểm phần trăm; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 11,38%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; nghệ thuật, vui chơi và giải trí tăng 10,52%, đóng góp 0,16 điểm phần trăm. Kết quả này phản ánh hiệu quả của các chính sách xúc tiến, kích cầu, đặc biệt trong lĩnh vực du lịch và dịch vụ, sau khi bộ máy và địa giới hành chính được sắp xếp, vận hành ổn định.Cơ cấu kinh tế: Khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong nền kinh tế của tỉnh chiếm 38,59%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,87%; khu vực dịch vụ chiếm 35,83%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm, chiếm 4,71% (cơ cấu tương ứng của năm 2024 là 38,06%; 21,52%; 35,59%; 4,83%). Nhìn chung, nền kinh tế của tỉnh ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao do từ năm 2024 trở lại đây mặt hàng nông sản chủ lực đang ở mức giá rất cao lên người dân mạnh dạn đầu tư, chăm sóc hơn; song khu vực dịch vụ đang dần có sự chuyển biến tích cực hơn.Cơ cấu kinh tế trong GRDP (ĐVT: %) Về quy mô GRDP bình quân đầu người năm 2025 ước đạt 105,24 triệu đồng/người, tăng 12,7% (tăng 11,86 triệu đồng/người), tương đương 4.047,6 USD/người.Năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 186,02 triệu đồng/lao động, tăng 13 triệu đồng/người so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng năng suất lao động luôn được cải thiện rõ rệt và ổn định qua từng năm (từ mức 109,1 năm 2020 lên 186,0 năm 2025).II. Nông, lâm nghiệp và thủy sảnNăm 2025, sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng của thiên tai, mưa lớn và lũ quét xảy ra trong hai tháng cuối năm, gây thiệt hại về cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản trong năm vẫn duy trì và phát triển ổn định. Diện tích các loại cây trồng hàng năm tăng nhẹ so với năm trước. Chăn nuôi phát triển theo hướng thích ứng thị trường, người chăn nuôi chủ động chuyển sang nuôi gia cầm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và nâng cao hiệu quả kinh tế. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, nhất là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát hiệu quả, giúp người dân yên tâm đầu tư. Sản lượng khai thác thuỷ sản biển ổn định. Công tác phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và Chương trình OCOP được chú trọng; nhiều doanh nghiệp, chủ thể sản xuất được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông sản chủ lực, sản phẩm OCOP tại các hội nghị, triển lãm trong cả nước, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu nông nghiệp của tỉnh.1. Trồng trọt1.1. Cây hàng năm Diện tích gieo trồng cây hàng năm sơ bộ năm 2025 ước đạt 425.790,4 ha, tăng 1,43% so với năm trước và tăng ở hầu hết các loại cây trồng (chỉ có cây ngô diện tích gieo trồng giảm 5,2% và cây đậu tương diện tích gieo trồng giảm 1,6% so với năm trước). Trong đó: Diện tích cây lương thực có hạt sơ bộ đạt 223.293,7 ha, giảm 0,43%; sản lượng lương thực ước đạt 1.392.779,1 tấn, giảm 0,9% so với năm trước (cây lúa diện tích sơ bộ đạt 167.429,8 ha, tăng 1,28%; sản lượng ước đạt 1.006.108 tấn, giảm 0,78%. Cây ngô diện tích sơ bộ đạt 55.863,9 ha, giảm 5,2%; sản lượng ước đạt 386.671,1 tấn, giảm 1,21%). Cụ thể: - Vụ Đông xuân diện tích gieo trồng đạt 105.612 ha, tăng 1,5% so với vụ Đông Xuân năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 61.323,3 ha, tăng 2% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 55.314 ha, tăng 2,54%; sản lượng đạt 365.836,8 tấn, tăng 2,94%; năng suất đạt 66,1 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 26.727,6 ha, bằng so với cùng vụ năm trước; sản lượng đạt 872.364,2 tấn; tăng 1,1%; năng suất đạt 326,4 tạ/ha, tăng 3,5 tạ/ha. - Vụ Hè thu diện tích gieo trồng đạt 144.100,5 ha, tăng 0,04% so với vụ hè thu năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 79.012,4 ha, giảm 0,34% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 48.232 ha, tăng 0,23%; sản lượng đạt 262.651,1 tấn, giảm 8,67%; năng suất đạt 54,5 tạ/ha, giảm 5,3 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 32.767,3 ha, tăng 0,66%; sản lượng đạt 989.956,1 tấn; giảm 0,86%; năng suất đạt 302,1 tạ/ha, giảm 4,6 tạ/ha. - Vụ Mùa diện tích gieo trồng đạt 176.077,9 ha, tăng 1,4% so với vụ mùa năm trước, trong đó: Cây lương thực có hạt đạt 85.544,9 ha, tăng 0,83% (riêng cây lúa diện tích gieo trồng đạt 63.883,8 ha, tăng 0,99%; sản lượng đạt 377.620,1 tấn, tăng 1,76%; năng suất đạt 59,1 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha). Rau các loại diện tích gieo trồng đạt 31.167 ha, tăng 2,9%; sản lượng đạt 961.051,6 tấn; tăng 3,5%; năng suất đạt 308,4 tạ/ha.Diện tích gieo trồng cây hàng năm qua các năm 1.2. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh duy trì phát triển ổn định, tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nền nông nghiệp của tỉnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. Tổng diện tích trồng cây lâu năm sơ bộ đạt 622.873,0 ha, tăng 1,24% so với năm trước (cây ăn quả các loại diện tích đạt 107.152,3 ha, tăng 1,83%). Cụ thể một số cây trồng chính như sau: - Cây chè: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 9.329,3 ha, giảm 5,48%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 8.938,3 ha, giảm 1,39%; sản lượng ước đạt 116.699,1 tấn, giảm 0,49%; năng suất ước đạt 130,6 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với năm trước. Diện tích chè giảm do nhiều hộ chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, bơ, chanh dây,...; - Cây cà phê: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 328.650 ha, tăng 1,03%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 312.859,2 ha, tăng 1,71%; sản lượng ước đạt 1.028.393 tấn, tăng 5,57%; năng suất ước đạt 32,9 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với năm trước; - Cây cao su: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 75.381 ha, tăng 2,6%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 63.718,6 ha, tăng 3,05%; sản lượng ước đạt 112.026 tấn, tăng 3,95%; năng suất ước đạt 17,6 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha so với năm trước. Cao su chủ yếu tập trung ở khu vực Bình Thuận và Đắk Nông; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện; - Cây hồ tiêu: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 37.193 ha, tăng 0,02%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 34.613,8 ha, tăng 3,61%; sản lượng ước đạt 89.865 tấn, tăng 7,28%; năng suất ước đạt 26 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với năm trước. Trong năm, giá hồ tiêu duy trì ở mức cao và ổn định, người dân mở rộng diện tích cũng như tăng cường thâm canh để nâng cao năng suất vườn cây; - Cây điều: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 50.215 ha, tăng 1.49%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 47.857,9 ha, tăng 0,64%; sản lượng ước đạt 39.970 tấn, tăng 2,31%; năng suất ước đạt 8,4 tạ/ha, tăng 0,1 tạ/ha so với năm trước; - Cây dâu tằm: Trong thời gian gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định (180.000 đ - 200.000 đ/kg) nên người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích. Diện tích hiện có sơ bộ đạt 11.320,4 ha, tăng 4,93%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 11.048,6 ha, tăng 6,99%; sản lượng ước đạt 289.405 tấn, tăng 5,6%; năng suất ước đạt 261,9 tạ/ha, giảm 3,5 tạ/ha so với năm trước; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có sơ bộ đạt 44.283,5 ha, tăng 4,34%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 23.070,2 ha, tăng 11,54%; sản lượng ước đạt 290.266 tấn, tăng 11,34%; năng suất ước đạt 125,8 tạ/ha, giảm 0,2 tạ/ha so với năm trước. Trong thời gian tới, diện tích sầu riêng tiếp tục có xu hướng tăng do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác; - Cây thanh long: Trong năm 2025, giá bán thanh long tương đối ổn định, dù vẫn xuất hiện những biến động ngắn hạn theo mùa vụ (một số thời điểm, giá tăng cao nhờ nhu cầu xuất khẩu khả quan, nhất là các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á), mức giá thuận lợi này đã khuyến khích nhiều hộ tập trung chong đèn trái vụ. Diện tích hiện có sơ bộ đạt 26.126 ha, tăng 0,56%; diện tích cho sản phẩm ước đạt 26.108,7 ha, tăng 1,06%; sản lượng ước đạt 577.731 tấn, tăng 2,92%; năng suất ước đạt 221,3 tạ/ha, tăng 4 tạ/ha so với năm trước. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Toàn tỉnh hiện có 966 công trình thủy lợi, trong đó: có 536 hồ chứa; 255 đập dâng; 13 cống dâng; 51 trạm bơm; 91 đập tạm; 20 kênh tiêu cùng với khoảng 3.632 km kênh mương (đã kiên cố hóa được khoảng 1.940 km, đạt 53,4%) và hệ thống đê biển, kè biển, kè sông. Trong năm 2025, diện tích canh tác được tưới đạt trên 73,45% diện tích cần tưới, trong đó: diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt khoảng 150.128 ha; diện tích tưới tiên tiến, tiết kiệm nước đạt khoảng 97.202 ha. 1.4. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng Trong tháng 12/2025, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 433 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại 980 ha; chuột gây hại 310 ha; rầy nâu gây hại 171 ha (so với tháng trước, sâu đục thân gây hại tăng 39 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại tăng 465 ha; chuột gây hại tăng 60 ha; rầy nâu gây hại tăng 20 ha); - Cây sầu riêng:Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.252,8 ha (tăng 16,8 ha so với tháng trước) tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, phường Đông Gia Nghĩa, phường Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.366 ha (tăng 36 ha so với tháng trước) tại các xã Bảo Lâm 1,2,3,4,5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác; bọ xít muỗi gây hại 2.047,2 ha cà phê chè (tăng 26,8 ha so với tháng trước) tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; Bệnh chết khô ngọn gây hại 30 ha tại Bảo Lâm 1; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.205,4 ha (tăng 319,1 ha so với tháng trước); bệnh thán thư gây hại 2.876 ha (tăng ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1,2,3,4, Tánh Linh, Suối Kiết, Tân Minh, Nam Thành; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 316 ha (tăng 02 ha so với tháng trước) tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 4.069 ha (tăng 920 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 916 ha (tăng 06 ha so với tháng trước) tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Tân Thành, Tiến Thành, Tân Lập, Tân Hải, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Liên Hương.Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất.1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ caoDiện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao đến nay đạt 107.217 ha, với 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa) và có 08 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận. - Quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói: + Mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói xuất khẩu: Trong năm 2025, toàn tỉnh đã được cấp 952 mã số vùng trồng xuất khẩu với tổng diện tích 39.182 ha và 341 cơ sở đóng gói với tổng diện tích 533.659 m2; số hồ sơ gửi và đang chờ phê duyệt có 75 hồ sơ đề nghị cấp mã vùng trồng với quy mô 659,43 ha và 69 hồ sơ đề nghị cấp mã cơ sở đóng gói với tổng diện tích nhà xưởng 144.527,85 m2. + Vùng sản xuất hạt giống rau xuất khẩu sang thị trường EU: Có 12 mã số vùng trồng với sản lượng trên 7.000 kg hạt giống ớt, cà chua/vụ. Bên cạnh đó, có 05 mã vùng trồng cây giống, ngọn giống của Công ty TNHH Đà Lạt Hasfarm đăng ký xuất khẩu quy mô gần 300.000 ngọn giống, cây giống/vụ. + Mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt: Trong năm 2025, toàn tỉnh đã được cấp 271 mã số vùng trồng trong lĩnh vực trồng trọt với tổng diện tích 2.641,58 ha. 1.6. Chương trình OCOP Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 926 sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP đã được chứng nhận, trong đó có: 75 sản phẩm 4 sao và 844 sản phẩm 3 sao; trong năm có 07 sản phẩm OCOP tham gia đánh giá phân hạng cấp quốc gia 5 sao với 529 chủ thể tham gia. Kết quả dự kiến có 07 sản phẩm đề xuất đánh giá, phân hạng cấp Quốc gia đạt 5 sao (gồm 02 sản phẩm đánh giá, phân hạng lại và 04 sản phẩm nâng hạng lên 5 sao); 05 sản phẩm đạt hạng 4 sao (01 sản phẩm đánh giá, phân hạng lại và 04 sản phẩm nâng hạng từ 3 sao lên 4 sao); 09 sản phẩm đạt hạng 3 sao. 2. Chăn nuôi Trong năm 2025, ngành chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển thuận lợi; mặc dù giá thức ăn, con giống gia súc ở mức cao, dịch bệnh tiêu chảy trên đàn bò sữa và bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại một số nơi trên địa bàn tỉnh nhưng nhờ công tác kiểm dịch và quản lý tốt tại các trang trại (đặc biệt là trại chăn nuôi gia công) nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với năm trước.Số lượng đàn gia súc, gia cầm qua các năm(ĐVT: 1.000 con) - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 27,3 nghìn con trâu, tăng 1,21% so với cùng thời điểm năm trước; lũy kế cả năm 2025 ước đạt 1.628,3 tấn, tăng 1,83%. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 318,7 nghìn con bò, tăng 1,67% so với cùng thời điểm năm trước (trong đó đàn bò sữa 28,9 nghìn con, tăng 1,51%). Sản lượng thịt hơi xuất chuồng cả năm 2025 ước đạt 17.506,3 tấn, tăng 2,12%. Sản lượng sữa bò cả năm 2025 ước đạt 95.031,7 tấn, tăng 0,8%. - Đàn lợn: Trong năm 2025 có thêm sự đóng góp của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thái Việt Corporation với quy mô hơn 35.000 con lợn và Công ty Thái Thịnh Tây Nguyên với quy mô hơn 8.000 con lợn nên tổng đàn cũng như sản lượng thịt hơn tăng cao so với năm trước. Tổng đàn lợn hiện có 1.532,3 nghìn con, tăng 4,06% so với cùng thời điểm năm trước (lợn không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.227,8 nghìn con, tăng 7,48%); sản lượng thịt hơi xuất chuồng cả năm 2025 ước đạt 240.000,6 tấn, tăng 6,59%. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.395,6 nghìn con, tăng 8,05% so với cùng thời điểm năm trước (trong đó gà các loại 16.029,8 nghìn con, chiếm 71,58% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,13%); sản lượng thịt hơi xuất chuồng cả năm 2025 ước đạt 77.340,8 tấn, tăng 10,75%; sản lượng cả năm ước đạt 1.249,1 triệu quả, tăng 4,41%. Tổng đàn gia cầm và sản lượt thịt hơn tăng cao so với năm trước nhờ sự đóng góp của Công ty cổ phần MeBi Farm với quy mô trên 202 nghìn con gà đẻ trứng đã góp phần đáng kể vào việc nâng tổng đàn. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong năm 2025, công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng có nhiều chuyển biến tích cực; công tác trồng rừng, khôi phục và bảo vệ rừng thực hiện hiệu quả; diện tích rừng trồng mới và số cây xanh phân tán đều vượt kế hoạch; số vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp giảm so với cùng kỳ năm 2024. Trong năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 5.030 ha, giảm 22,61% so với năm trước; trồng cây xanh phân tán ước đạt 17,42 triệu cây; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 368.390 m3, giảm 3,88%; sản lượng củi khai thác ước đạt 270.472 ste, tăng 6,95%. Tổng số vụ vi phạm lâm luật là 390 vụ (179 vụ đã xác định được đối tượng vi phạm), trong đó có 173 vụ phá rừng trái pháp luật (80 vụ xác định được đối tượng vi phạm) với diện tích rừng thiệt hại 29,99 ha. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ vi phạm giảm 365 vụ (số vụ phá rừng giảm 133 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại do phá rừng giảm 24,6 ha. 4. Thuỷ sản Trong năm 2025, sản lượng nuôi trồng giảm và khai thác đều tăng so với năm trước; hoạt động sản xuất giống, nhất là tôm giống được duy trì tốt nhờ kiểm soát chất lượng giống và hệ thống xét nghiệm chặt chẽ; đẩy mạnh công tác chống khai thác IUU. Sản lượng nuôi trồng ước đạt 28.727 tấn, giảm 5,55% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 5.100 tấn, tăng 3,13%). Sản lượng khai thác thủy sản đạt 252.530 tấn, tăng 4,89% (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 251.920 tấn, tăng 5,39%). Sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Công tác quản lý chất lượng giống thuỷ sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,08 tỷ post, giảm 2,92% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế năm 2025 ước đạt 24,63 tỷ post, tăng 6,32% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản qua các năm III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Sản xuất công nghiệp năm 2025, duy trì đà phục hồi và tăng trưởng ổn định, cơ cấu ngành chuyển biến theo hướng tích cực, tiêu thụ sản phẩm cải thiện, tồn kho được kiểm soát, các khu công nghiệp tiếp tục thu hút đầu tư, tạo nền tảng thuận lợi cho phát triển công nghiệp trong thời gian tới. - Tính chung cả năm 2025, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 10,46%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,01%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,9%. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) qua các năm - Chỉ số sử dụng lao động tăng 3,69% so với năm trước, chủ yếu nhờ mức tăng của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,27% và ngành sản xuất, phân phối điện tăng 2,72%; ngành khai khoáng giảm mạnh 16,06%. - Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,68% so với cùng kỳ năm trước. - Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 1,80% so với tháng trước và tăng 7,84% so với cùng kỳ năm trước * Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Theo kết quả khảo sát các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, trong quý IV/2025 so với quý III/2025, có 30,82% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn, 39,73% doanh nghiệp cho rằng ổn định và 29,45% doanh nghiệp nhận định khó khăn hơn. Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh gồm: 53,70% doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 48,15% doanh nghiệp đánh giá tính cạnh tranh của hàng trong nước cao; 31,48% doanh nghiệp cho biết không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 25,93% doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính; 24,07% doanh nghiệp phản ánh thiếu nguyên, nhiên vật liệu và 24,07% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp. Ngoài ra, 16,67% doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao; 14,81% doanh nghiệp đánh giá tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; và 22,22% doanh nghiệp cho rằng chính sách pháp luật của Nhà nước cùng một số yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh. Dự báo quý I/2026 so với quý IV/2025, có 75,34% doanh nghiệp nhận định tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và thuận lợi hơn, trong đó 28,08% doanh nghiệp dự báo tốt hơn và 47,26% doanh nghiệp cho rằng ổn định; 24,66% doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn. Chỉ số cân bằng của chỉ tiêu tình hình sản xuất kinh doanh đạt +3,42%, cho thấy môi trường kinh doanh có xu hướng cải thiện; doanh nghiệp kỳ vọng nền kinh tế tiếp tục ổn định, khó khăn của thị trường trong nước và quốc tế dần được tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh trong thời gian tới. 2. Xây dựng Hoạt động ngành xây dựng trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá, giá trị sản xuất tăng so với năm trước; khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước giữ vai trò chủ lực, trong khi xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng và nhà ở là động lực tăng trưởng chính. Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng nhìn chung ổn định và có triển vọng tích cực, tạo nền tảng thuận lợi cho ngành xây dựng tiếp tục phát triển. Giá trị sản xuất ngành xây dựng năm 2025, giá trị sản xuất xây dựng ước đạt 62.658,8 tỷ đồng, tăng 9,67% so với cùng kỳ. Trong đó, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm tỷ trọng lớn nhất với 34.983,9 tỷ đồng (55,83%), tăng 13,65%; loại hình kinh tế khác đạt 26.869,8 tỷ đồng (42,88%), tăng 9,15%. Ngược lại, doanh nghiệp nhà nước chỉ đạt 102,1 tỷ đồng (0,16%), giảm 79,43%, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 702,8 tỷ đồng (1,12%), giảm 43,11% so với cùng kỳ. Kết quả khảo sát xu hướng hoạt động sản xuất kinh doanh cho thấy 73,5% doanh nghiệp xây dựng nhận định tình hình sản xuất trong quý IV/2025 ổn định hoặc thuận lợi hơn quý III/2025, trong đó giá trị xây dựng dân dụng tăng 13,24% so với quý III/2025, phản ánh nhiều tín hiệu tích cực của lĩnh vực xây dựng. Bên cạnh đó, 72% doanh nghiệp xây dựng dự báo tình hình sản xuất trong quý I/2026 sẽ ổn định hoặc thuận lợi hơn quý IV/2025. Dự kiến trong năm 2026, ngành xây dựng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng nhờ tổng vốn đầu tư công ở mức cao, tập trung vào giao thông, kết nối vùng, cùng với việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công và tăng tốc triển khai các dự án hạ tầng, đô thị và du lịch, tạo động lực thúc đẩy thị trường vật liệu xây dựng và xây dựng dân dụng phát triển.Giá trị sản xuất ngành xây dựng chia theo loại công trìnhqua các năm (theo giá so sánh 2010) - (ĐVT: Tỷ đồng) 3. Đầu tư phát triển Tình hình hoạt động đầu tư trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng, tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng so với cùng kỳ; môi trường đầu tư cải thiện với số doanh nghiệp thành lập mới và quay lại hoạt động tăng mạnh. Tuy nhiên, tiến độ giải ngân và triển khai một số dự án, công trình trọng điểm còn chậm do vướng mắc về mặt bằng, thủ tục và năng lực nhà thầu, đòi hỏi tiếp tục tập trung tháo gỡ để tạo động lực tăng trưởng thời gian tới.Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn qua các năm(ĐVT: Tỷ đồng) Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn năm 2025, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 111.398,2 tỷ đồng, tăng 8,48% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn nhà nước đạt 24.830,5 tỷ đồng (chiếm 22,29%), tăng 4,14%; vốn ngoài nhà nước đạt 82.649,3 tỷ đồng (chiếm 74,19%), tăng 10,01%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 3.918,4 tỷ đồng (chiếm 3,52%), tăng 5,41%. Đáng chú ý, dự án Nhà máy chế biến khoai lang cắt lát đông lạnh tại KCN Tâm Thắng của Công ty TNHH Sejin F&S Vina (Hàn Quốc) với tổng vốn đầu tư hơn 155 tỷ đồng được khởi công đầu năm 2025, dự kiến đi vào hoạt động đầu năm 2026. Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý thực hiện năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 14.411,5 tỷ đồng, tăng 5,41% so với cùng kỳ năm trước, đạt 90,74% so với kế hoạch. Trong đó vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 14.371,2 tỷ đồng, tăng 5,52% so với cùng kỳ năm trước, đạt 90,82% so với kế hoạch; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 40,3 tỷ đồng, giảm 23,88% so với cùng kỳ năm trước, đạt 69,53% so với kế hoạch. Cả năm (tính đến 22/12/2025), toàn tỉnh có 48 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký 19.384,4 tỷ đồng. Lũy kế đến thời điểm hiện nay, tỉnh Lâm Đồng có 2.927 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng vốn khoảng 2.009.973,8 tỷ đồng, trong đó có 236 dự án FDI với tổng vốn 224.284 tỷ đồng. Năm 2025, toàn tỉnh có 4.183 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 78,61%; 822 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 22,14%; 1.713 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, tăng 12,4%; 833 doanh nghiệp giải thể, tăng 76,48% so với cùng kỳ. Tổng vốn đăng ký đạt 22.959 tỷ đồng, tăng 18,76%; số lao động đăng ký 16.558 người, tăng 19,12%. Bình quân mỗi tháng có trên 400 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động, trong khi gần 70 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Trong năm 2025 hoạt động thương mại, dịch vụ ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đời sống, sinh hoạt của nhân dân; lưu thông hàng hóa thông suốt, tình hình thị trường và giá cả hàng hóa trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định, không xảy ra tình trạng đầu cơ, găm hàng, tăng giá quá mức; xúc tiến thương mại trong và ngoài nước tiếp tục được quan tâm; du lịch tiếp tục phát triển ổn định, thúc đẩy tăng trưởng các ngành kinh tế tại địa phương; vận tải kho bãi diễn ra khá nhộn nhịp, tăng khá so với cùng kỳ năm trước. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Tình hình thị trường bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng trưởng ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu của người dân, nhất là trong dịp cuối tuần, lễ, tết. Các trung tâm siêu thị, chợ, các cơ sở kinh doanh tăng cường phục vụ người dân và du khách, không để xảy ra gián đoạn kinh doanh, không để xảy ra tình trạng khan hiếm hàng hóa; giá cả thị trường hàng hóa luôn ổn định, không tăng đột biến. Hoạt động du lịch, nhà hàng, cơ sở ăn uống, cơ sở lưu trú và các dịch vụ khác luôn mở cửa phục vụ cho người dân và du khách. Dự ước năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 261.381,8 tỷ đồng, tăng 16,28% so với cùng kỳ năm trước; trong đó tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 175.214,4 tỷ đồng, tăng 16,25%; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 57.254,8 tỷ đồng, tăng 19,06%; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 28.912,6 tỷ đồng và tăng 11,31%. Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông đạt 449,2 tỷ đồng, tăng 3,81% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 969,5 tỷ đồng, tăng 7,46%. Nhìn chung, thị trường bán lẻ và dịch vụ năm 2025 tăng trưởng ổn định, nguồn cung hàng hóa dồi dào, giá cả ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng và du lịch, đặc biệt trong các dịp lễ, tết.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ qua các năm (ĐVT: tỷ đồng) Riêng tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 175.214,4 tỷ đồng, tăng 16,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: lương thực, thực phẩm ước đạt 81.422,4 tỷ đồng, tăng 21,22% so với cùng kỳ năm trước; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình ước đạt 17.714,2 tỷ đồng, tăng 16,29% so với cùng kỳ năm trước; gỗ và vật liệu xây dựng ước đạt 16.399,1 tỷ đồng, tăng 6,94% so với cùng kỳ năm trước; xăng, dầu các loại ước đạt 23.000,3 tỷ đồng, tăng 4,26% so với cùng kỳ năm trước. 2. Giá cả Giá lương thực, thực phẩm, giá gas, giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 5,86% so với cùng kỳ năm trước, CPI bình quân 12 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,56%.Tốc độ tăng/giảm CPI tháng 12 so với cùng kỳ qua các năm (ĐVT: %) Tính chung năm 2025, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 16,11% so với năm trước; trong đó nông nghiệp tăng 17,25%, chăn nuôi tăng 8,87%, lâm nghiệp tăng 3,07% và thủy sản tăng 4,25%. Mức tăng này phản ánh rõ tác động của biến động thời tiết, chi phí vật tư nông nghiệp tăng và nhu cầu tiêu thụ, xuất khẩu nông sản cải thiện. Bình quân năm 2025, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu tăng 2,83% so với năm trước; trong 7 nhóm sản phẩm chính, các nhóm hàng đều tăng giá so với cùng kỳ năm trước, gồm: nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,22%; sản phẩm từ khai khoáng tăng 10,26%; nguyên vật liệu khác tăng 0,11%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 6,77%; nước tự nhiên khai thác tăng 0,53%; sản phẩm xây dựng tăng 3,31%; dịch vụ chuyên môn khoa học và công nghệ tăng 3,75%. Giá sản xuất công nghiệp biến động phù hợp với xu hướng tăng của giá đầu vào, phản ánh áp lực chi phí đối với hoạt động sản xuất công nghiệp, đồng thời đặt ra yêu cầu doanh nghiệp nâng cao hiệu quả quản trị, tiết giảm chi phí và thích ứng với biến động giá trong thời gian tới. 3. Hoạt động du lịch Hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng trưởng tích cực, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội. Riêng tháng 12/2025, nhiều sự kiện văn hóa, du lịch quy mô lớn được tổ chức như Lễ hội Cồng chiêng Đông Nam Á 2025 với chủ đề “Âm vang Di sản - Gắn kết tương lai”, Lễ hội Trà quốc tế - World Tea Fest 2025, Trình diễn thời trang thổ cẩm, Lễ hội Di sản Cà phê toàn cầu 2025 (gồm không gian trưng bày “Cà phê và Di sản Việt Nam”, không gian ẩm thực - thưởng thức cà phê, triển lãm lịch sử cà phê, trải nghiệm pha chế, đêm nhạc “Coffee Music Night”) và Chương trình Countdown chào đón năm mới 2026, đã thu hút đông đảo người dân và du khách. Hoạt động lữ hành và các dịch vụ hỗ trợ được tăng cường, đáp ứng tốt nhu cầu tham quan, trải nghiệm. Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch và liên kết vùng tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần nâng cao hình ảnh điểm đến; nhiều khu, điểm du lịch như NovaWorld Phan Thiết, Phú Quý, Thung lũng Tình yêu, Hồ Xuân Hương, thác Prenn, Cù Lao Câu ngày càng khẳng định sức hút, tạo động lực cho tăng trưởng du lịch bền vững trong năm 2025. Năm 2025, lượt khách du lịch tiếp tục là điểm sáng của khu vực dịch vụ, với 20.733,1 nghìn lượt khách, tăng 17,91% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 809,9 nghìn lượt, tăng 9,99%); ngày khách phục vụ ước đạt 38.145,6 nghìn ngày khách, tăng 22,65%; lượt khách quốc tế ước đạt 1.287 nghìn lượt khách, tăng 39,78%; ngày khách phục vụ ước đạt 4.018,8 nghìn ngày khách, tăng 61,74%. Thị trường khách quốc tế đến tỉnh chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Mỹ, Đài Loan, Đức, Anh, Malaixia.... Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 11.007,3 tỷ đồng, tăng 21,48% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 45.599,1 tỷ đồng, tăng 17,93% so cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 648,3 tỷ đồng, tăng 78,47% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch ước đạt 56.610,6 tỷ đồng, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách và ngày khách phục vụ qua các năm 4. Hoạt động dịch vụ khác Trong năm, tình hình hoạt động các ngành dịch vụ khác duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh nhu cầu xã hội phục hồi và mở rộng, đặc biệt ở các lĩnh vực bất động sản, giáo dục - đào tạo, y tế và dịch vụ vui chơi, giải trí; tuy có biến động giảm theo quý do yếu tố mùa vụ nhưng xu hướng chung cả năm vẫn tích cực. Năm 2025 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 28.912,6 tỷ đồng, tăng 11,31% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 3.262,6 tỷ đồng, tăng 14,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 1.290,3 tỷ đồng, tăng 13,83% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 929,5 tỷ đồng, tăng 28,99% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 1.567,1 tỷ đồng, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 15.810 tỷ đồng, tăng 9,75% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 6.053 tỷ đồng, tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Tình hình hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng khá và ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hóa và phát triển sản xuất, kinh doanh. Vận tải hành khách và hàng hóa đều tăng cả về khối lượng vận chuyển và luân chuyển; doanh thu vận tải, kho bãi tăng khá, đặc biệt là dịch vụ kho bãi và hỗ trợ vận tải. Hoạt động thông quan hàng hóa qua Cảng quốc tế Vĩnh Tân diễn ra ổn định, chủ yếu là xuất khẩu các mặt hàng vật liệu và sản phẩm công nghiệp, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa và tăng trưởng kinh tế địa phương. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển ước đạt 46.326,2 nghìn HK, tăng 12,11% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 6.727.883,2 nghìn HK.Km, tăng 12,66% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển ước đạt 22.984,9 nghìn tấn, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 3.367.443 nghìn tấn.Km, tăng 8,23% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Năm 2025 ước đạt 14.416,3 tỷ đồng, tăng 15,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 6.132,1 tỷ đồng, tăng 19,31% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 6.105,1 tỷ đồng, tăng 6,81%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 2.116,5 tỷ đồng, tăng 34,11%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 62,5 tỷ đồng, tăng 15,52%.Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi qua các năm (ĐVT: Tỷ đồng) - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong năm 2025 ước đạt 2.466,1 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.277,2 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 188,9 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng1. Thu ngân sách nhà nước Ước thu ngân sách nhà nước năm 2025 ước đạt 31.319 tỷ đồng (bằng110,86% kế hoạch, tăng 9,59% so cùng kỳ). Trong đó: thu nội địa ước đạt 29.680 tỷ đồng (bằng 111,53% kế hoạch, tăng 16,38% so cùng kỳ); thu xuất nhập khẩu ước đạt 1.639 tỷ đồng, (bằng 100,00% kế hoạch, giảm 46,69% so cùng kỳ). Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa như: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.924 tỷ đồng (bằng 156,25% kế hoạch năm và tăng 71,80% so với cùng kỳ); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.515 tỷ đồng (bằng 123,29% kế hoạch năm và tăng 10,50%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 7.035 tỷ đồng (bằng 110,91% kế hoạch năm và tăng 4,83%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 3.052 tỷ đồng (bằng 118,19% kế hoạch năm và tăng 17,95%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 4.789 tỷ đồng (bằng 94,77% kế hoạch năm và tăng 24,76%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.660 tỷ đồng (bằng 103,74% kế hoạch năm và tăng 7,88%).Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn qua các năm 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh năm 2025 ước đạt 47.984 tỷ đồng (bằng 100% kế hoạch, tăng 17,85% so với cùng kỳ). Trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 13.748 tỷ đồng, tăng 17,26% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 33.342 tỷ đồng, tăng 15,73% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động tín dụng - Công tác huy động vốn: đến 30/11/2025, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 225.531 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 29.641 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 15,13%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 223.098 tỷ đồng (chiếm 99% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.433 tỷ đồng, (chiếm 1% tổng huy động vốn). Ước đến 31/12/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 227.500 tỷ đồng, tăng 15,96 so với đầu năm, tương ứng tăng 36.316 tỷ đồng. - Hoạt động tín dụng: đến 30/11/2025, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 367.468 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 28.005 tỷ đồng, tăng 8,25%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 365.197 tỷ đồng (chiếm 99% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.271 tỷ đồng (chiếm 1% tổng dư nợ tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 263.023 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 104.445 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/12/2025, dư nợ cho vay đạt 373.000 tỷ đồng, tăng 9,89% so với đầu năm, tăng 33.577 tỷ đồng. - Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,18% - 0,49%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 3,63% - 4,62%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 5,19% - 5,88%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 6,01% - 6,75%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,93% - 9,28%/năm, trung dài hạn 8,57% - 9,88%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,92% - 4,13%/năm.- Dư nợ cho vay: đến 30/11/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 188.989 tỷ đồng, chiếm 51,42% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.196 tỷ đồng, chiếm 8,76% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm nghiệp đạt 146.283 tỷ đồng, chiếm 39,82% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu đạt 7.898 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2,16% trong tổng dư nợ trên địa bàn. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao Trong năm đã tuyên truyền, tổ chức các sự kiện văn hóa, nghệ thuật nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ, tết, ngày kỷ niệm, sự kiện chính trị của đất nước năm 2025 nổi bật. Thể thao quần chúng đã tổ chức sôi nổi đều khắp ở các địa phương, nhiều loại hình thể thao được tổ chức. Tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm ngày 14/12/2025: Đạt 757 huy chương (191 HCV, 206 HCB, 360 HCĐ); trong đó đạt 47 huy chương quốc tế (14 HCV, 19 HCB, 14 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.603 trường học và cơ sở giáo dục (giảm 02 trường so với năm học trước do sáp nhập 02 trường tiểu học và 02 trường mầm non ở xã Krông Nô) với 818.588 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 526 trường với 151.943 trẻ; cấp tiểu học có 564 trường với 321.257 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 240.603 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 104.785 học sinh. Trong năm học 2025-2026, nhu cầu giáo viên cho các cấp học là 42.892 giáo viên; tuy nhiên, số giáo viên hiện có 37.459 giáo viên, còn thiếu 5.433 giáo viên, trong đó: Cấp Tiểu học thiếu 1.463 giáo viên, THCS thiếu 1.453 giáo viên, THPT thiếu 495 giáo viên, chủ yếu ở các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Ngoại ngữ. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế Công tác khám chữa bệnh đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Chất lượng khám chữa bệnh được duy trì và từng bước được nâng lên ở các tuyến. Triển khai thực hiện tốt công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm, từ đầu năm đến nay xảy ra 05 vụ ngộ độc thực phẩm. Thực hiện tốt việc cải cách thủ tục hành chính và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đảm bảo kết nối liên thông về khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định. Tiếp tục thực hiện việc thu dung, phân tuyến điều trị, tăng cường năng lực chẩn đoán, điều trị, hạn chế thấp nhất các trường hợp nặng, tử vong do bệnh sốt xuất huyết, tay chân miệng,... Đảm bảo đầy đủ cơ số thuốc, sinh phẩm, vật tư, trang thiết bị cho công tác phòng, chống dịch và công tác khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn tỉnh([1]). 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương như: Lễ hội Cồng chiêng Đông Nam Á năm 2025; Chương trình Chào năm mới 2026 tại 3 khu vực; Lễ hội Trà quốc tế năm 2025. Tiếp tục đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số; thường xuyên rà soát thông tin trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng (từ ngày 15/11-15/12, qua rà soát trên hệ thống phần mềm giám sát thông tin mạng xã hội có 39.941 tin, bài viết; trong đó có 35.961 tin, bài có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; tin, bài tích cực tỷ lệ 75,2%; tin, bài tiêu cực tỷ lệ khoảng 24,8%; qua đánh giá, không có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Triển khai tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách mới, các hoạt động, sự kiện quan trọng của tỉnh. Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh tỉnh Lâm Đồng được tăng cường với nhiều hình thức, tận dụng hiệu quả các nền tảng truyền thông đa phương tiện; phản ánh kịp thời, toàn diện các hoạt động đối nội, đối ngoại; các vấn đề, sự kiện nổi bật của tỉnh, trong nước và quốc tế. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 13 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh; cấp đổi 01 Giấy phép hoạt động in; cấp 01 Giấy xác nhận đăng ký thông tin hoạt động cơ sở in. 5. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Trong năm 2025, hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh được triển khai đồng bộ, đạt nhiều kết quả tích cực. Toàn tỉnh quản lý, triển khai 87 nhiệm vụ khoa học - công nghệ các cấp (9 nhiệm vụ cấp quốc gia, 47 nhiệm vụ cấp tỉnh, 13 nhiệm vụ cấp cơ sở và 18 nhiệm vụ mở mới), tổ chức nghiệm thu 24 nhiệm vụ; tổng hợp 110 đề xuất nhiệm vụ khoa học - công nghệ giai đoạn tiếp theo. Công tác hỗ trợ doanh nghiệp được đẩy mạnh, đến cuối năm có 14 doanh nghiệp khoa học - công nghệ; khảo sát, đánh giá trình độ công nghệ cho 54 doanh nghiệp; hỗ trợ sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn chất lượng và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Hệ sinh thái khởi nghiệp tiếp tục phát triển với việc tổ chức Techfest Lâm Đồng 2025, thu hút trên 280 đại biểu, hơn 100 gian hàng, kết nối cung - cầu công nghệ cho 8 tổ chức, doanh nghiệp; Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) xếp hạng 19/34 tỉnh, thành phố. Công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng được tăng cường, kiểm tra 191 cơ sở sản xuất, kinh doanh; kiểm nghiệm khoảng 10 nghìn mẫu sản phẩm, 49.160 phương tiện đo; tỷ lệ mẫu đạt chất lượng 61/63. Hạ tầng bưu chính, viễn thông và chuyển đổi số tiếp tục được đầu tư, mở rộng: toàn tỉnh có hơn 4 triệu thuê bao di động, trong đó 87,7% là thuê bao thông minh; 4,4 triệu thuê bao Internet; 99% hộ gia đình sử dụng cáp quang; 11.500 trạm BTS, trong đó có 832 trạm 5G; doanh thu bưu chính năm 2025 ước đạt 750 tỷ đồng. Công tác chuyển đổi số được đẩy mạnh với việc triển khai hệ thống dùng chung, chữ ký số (11.453 chứng thư), nền tảng tích hợp dữ liệu LGSP kết nối 22 hệ thống và hơn 400 nghì lượt giao dịch dữ liệu, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh 6. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 6.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định. Kinh tế vùng DTTS của tỉnh đa dạng và đạt được nhiều thành tựu nổi bật; nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ lực phát triển theo hướng nông nghiệp công nghệ cao; phát triển trồng rừng, khai thác và chế biến lâm sản mang lại hiệu quả tích cực; khu vực ven biển hình thành các vùng sản xuất chuyên canh kết hợp chăn nuôi gia súc và phát triển du lịch sinh thái biển; nhiều xã đồng bào DTTS đã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó có xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, đời sống người dân vùng đồng bào DTTS ngày càng cải thiện. Trong năm, các lễ hội truyền thống của đồng bào như lễ hội Katê của người Chăm, lễ mừng lúa mới của người Cơ Ho, lễ cúng bến nước của người M’nông, lễ hội của người Chu Ru, Mạ được duy trì và phục dựng. Nghề gốm Chăm đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại. Phong trào văn hóa - văn nghệ, thể dục - thể thao phát triển sâu rộng, trên 90% xã, thôn có nhà văn hóa, thiết chế thể thao. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” được triển khai đồng bộ gắn với xây dựng nông thôn mới. Hệ thống thông tin, truyền thông được mở rộng, 100% xã có sóng phát thanh, truyền hình, internet, nhiều chương trình bằng tiếng dân tộc đáp ứng nhu cầu thông tin của đồng bào. Chính sách giáo dục triển khai có hiệu quả. Hệ thống trường lớp vùng DTTS không ngừng được mở rộng, đa dạng về loại hình và từng bước nâng cao chất lượng. Toàn tỉnh đã xây dựng hệ thống giáo dục dân tộc chuyên biệt với các trường phổ thông dân tộc nội trú và nhiều trường phổ thông dân tộc bán trú tại các địa bàn khó khăn. Mạng lưới trường mầm non, tiểu học, trung học cơ sở được phân bổ tương đối hợp lý, bảo đảm hầu hết trẻ em DTTS đều được đến trường. Chính sách ưu tiên đối với học sinh, sinh viên DTTS được thực hiện có hiệu quả, học sinh được miễn giảm học phí, cấp học bổng, hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở bán trú và nội trú, vì vậy tỷ lệ bỏ học đã giảm rõ rệt, đặc biệt ở các cấp tiểu học và trung học cơ sở. Mô hình thí điểm việc dạy tiếng dân tộc trong nhà trường như tiếng Chăm, tiếng Ê Đê, tiếng M’nông, tiếng Cơ Ho được triển khai, qua đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa các dân tộc. Nhìn chung, chất lượng giáo dục vùng DTTS của tỉnh có nhiều tiến bộ, hệ thống trường lớp được mở rộng, tỷ lệ học sinh đến lớp tăng, chất lượng giáo dục nâng lên, qua đó góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Hệ thống y tế cơ bản đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe người dân; hiện nay 100% xã đã có trạm y tế, trong đó phần lớn đạt chuẩn quốc gia về y tế; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt khoảng 93-94%, trong đó phần lớn là đồng bào DTTS nhờ chính sách hỗ trợ của Nhà nước; công tác đào tạo nhân lực y tế là người DTTS được chú trọng nhằm đáp ứng và nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe người dân. 6.2. Chính sách tôn giáo Trên địa bàn tỉnh có 24 tổ chức tôn giáo được nhà nước công nhận đang hoạt động, gồm: Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Công giáo Việt Nam, 10 hệ phái Tin Lành; 05 tổ chức Cao Đài; Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm Việt Nam; Giáo hội Phật Đường Nam Tông Minh Sư đạo; Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo; Cộng đồng Tôn giáo Baha’i Việt Nam, Hồi giáo Bàni, Bàlamôn giáo, Tịnh độ Cư sĩ Phật hội Việt Nam và 33 tổ chức Tin Lành chưa được nhà nước cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Tổng số có khoảng 1.571.000 tín đồ, 3.531 chức sắc, 6.700 chức việc; 1.289 cơ sở tôn giáo hợp pháp; 04 cơ sở đào tạo tôn giáo; 721 tổ chức tôn giáo trực thuộc và 619 điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung. Trong năm 2025, tình hình hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh ổn định và tuân thủ pháp luật, đảm bảo theo đúng hiến chương, điều lệ, tôn chỉ, mục đích và phương châm hành đạo. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh tổ chức lễ Phật đản, An cư kiết hạ và lễ Vu lan năm 2025; giải quyết các nhu cầu tôn giáo đảm bảo đúng quy định của pháp luật như: Chấp thuận thành lập 138 tổ chức tôn giáo trực thuộc; các tổ chức tôn giáo mời 21 đoàn người nước ngoài vào hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh; chấp thuận việc các tổ chức tôn giáo bổ nhiệm 266 chức việc; mở 34 lớp bồi dưỡng người chuyên hoạt động tôn giáo; xác nhận thông báo phong phẩm 137 chức sắc; xác nhận tiếp nhận thông báo kết quả bổ nhiệm 114 trường hợp; xác nhận thuyên chuyển chức sắc 156 trường hợp; tiếp nhận thông báo cách chức, bãi nhiệm 09 trường hợp; xác nhận danh mục hoạt động tôn giáo bổ sung 25 trường hợp... Nhìn chung, hoạt động các tổ chức tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định; các chính sách về tôn giáo được triển khai bình đẵng, có hiệu quả nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, đồng thời duy trì ổn định chính trị, xã hội trên địa bàn tỉnh. 6.3. Chính sách người có công Công tác chính sách người có công được triển khai chu đáo, đảm bảo an sinh xã hội và chi trả trợ cấp kịp thời, đúng chế độ. Các hoạt động tri ân người có công được tổ chức ý nghĩa, bao gồm thăm tặng quà Tết Nguyên đán, tặng quà cho chiến sĩ và gia đình thân nhân liệt sĩ, ... 7. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến ngày 30/11/2025, toàn tỉnh có 286.197 người tham gia BHXH, tăng 0,73% so với tháng trước và tăng 3,28% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 242.976 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 1,85% so với cùng kỳ năm trước; 43.221 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 12,07% so với cùng kỳ năm trước); có 219.939 người tham gia BHTN, tăng 1,83% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.907.080 người, tăng 0,47% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ dân số tham gia BHYT chung toàn tỉnh đạt 93,02%. Trong năm (đến ngày 30/11/2025), đã giải quyết mới 109.276 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 21.265 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng là 4.270 người; trợ cấp 1 lần là 28.611 người; chế độ ốm đau là 59.414 người; chế độ thai sản là 13.143 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe là 3.838 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng là 19.148 người; hỗ trợ học nghề là 2.117 người). Tiếp nhận, giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177 và 178 là 82 người (lũy kế: 2.143 người). 8. Tai nạn giao thông Năm 2025 (đến ngày 15/12/2025), toàn tỉnh đã xảy ra 873 vụ tai nạn giao thông, giảm 360 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 426 người, giảm 37 người; số người bị thương là 675 người, giảm 349 người so với cùng kỳ năm trước. 9. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Từ đầu năm đến ngày 18/12/2025, trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng xảy ra 38 vụ thiên tai do mưa lớn kèm dông, lốc, sét, gió giật mạnh, lũ quét làm 17 người chết, 21 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 1.840,6 tỷ đồng. Đến nay tỉnh đã hoàn thành hỗ trợ khắc phục thiệt hại về nhà và sản xuất, qua đó giúp người dân dần ổn định cuộc sống; bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng giao thông thiết yếu, các tuyến đường huyết mạch trên địa bàn tỉnh (Quốc lộ 28, Quốc lộ 20, Đường tỉnh 725…) đã kịp thời sửa chữa, khôi phục, hiện nay đã cơ bản đáp ứng nhu cầu vận chuyển và đi lại của người dân. - Cháy, nổ: Trong năm (đến ngày 15/12/2025) xảy ra 61 vụ cháy, nổ làm chết 01 người và 02 người bị thương; so với cùng kỳ năm trước giảm 18 vụ, số người chết giảm 4 người và số người bị thương giảm 03 người. - Vi phạm môi trường: Trong năm (đến ngày 19/12/2025) xảy ra 20 vụ vi phạm, giảm 38 vụ so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 3,663 tỷ đồng. * Đánh giá chung Nhìn chung, năm 2025 diễn ra trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn; tăng trưởng toàn cầu phục hồi chậm, lạm phát dù đã hạ nhiệt nhưng vẫn duy trì ở mức cao tại một số nền kinh tế lớn; giá năng lượng, nguyên vật liệu và chi phí vận chuyển biến động khó lường; căng thẳng địa chính trị, xung đột khu vực và rủi ro về chuỗi cung ứng tiếp tục tác động đến hoạt động sản xuất, thương mại và đầu tư. Trong nước, cùng với những khó khăn chung của nền kinh tế, tỉnh triển khai thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm đầu tiên sau sáp nhập tỉnh, phát sinh nhiều vấn đề trong giai đoạn đầu như sắp xếp tổ chức bộ máy, điều chỉnh quy hoạch, phân bổ nguồn lực và thống nhất cơ chế quản lý, điều hành, ảnh hưởng nhất định đến tiến độ triển khai một số chương trình, dự án và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Bên cạnh đó, tình hình thời tiết, thiên tai diễn biến phức tạp, mưa lớn kéo dài, lũ lụt cục bộ, sạt lở đất tại một số khu vực đã gây thiệt hại đến sản xuất nông nghiệp, hạ tầng giao thông và đời sống người dân, làm gia tăng chi phí khắc phục, phục hồi sản xuất, ảnh hưởng đến tăng trưởng chung của nền kinh tế địa phương trong một số thời điểm. Trong bối cảnh đó, với sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự phối hợp đồng bộ của các sở, ngành, địa phương và sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp, người dân, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đã từng bước ổn định và phục hồi rõ nét trong các quý cuối năm, đạt được nhiều kết quả tích cực. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tăng 6,42%, phản ánh xu hướng phục hồi và tăng trưởng khá trong điều kiện còn nhiều khó khăn sau sáp nhập. Quy mô nền kinh tế tiếp tục mở rộng, GRDP bình quân đầu người ước đạt 105,24 triệu đồng/người, tăng 12,7% so với năm trước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, trong đó khu vực dịch vụ tiếp tục giữ vai trò động lực tăng trưởng chủ yếu. Hoạt động sản xuất cây trồng duy trì ổn định, diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 1,43%; nhiều cây trồng chủ lực tăng khá về sản lượng như cà phê, hồ tiêu và sầu riêng. Chăn nuôi phát triển ổn định, dịch bệnh được kiểm soát, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm. Nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục mở rộng với diện tích 107.217 ha, góp phần nâng cao giá trị gia tăng và hiệu quả sản xuất, tạo nền tảng vững chắc cho ổn định kinh tế nông thôn. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm 2025 tăng 16,28% so với cùng kỳ, phản ánh sự phục hồi mạnh của thị trường trong nước, hoạt động thương mại, du lịch và dịch vụ tiêu dùng sau giai đoạn ổn định tổ chức bộ máy. Sản xuất công nghiệp từng bước phục hồi nhưng còn chịu tác động của biến động giá nguyên, nhiên vật liệu và tiến độ đầu tư, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) ước tăng 4,79%. Hoạt động đầu tư tiếp tục được duy trì, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tăng 8,48% so với năm trước, góp phần phát triển kết cấu hạ tầng và thúc đẩy tăng trưởng, dù chưa đạt mục tiêu kế hoạch do ảnh hưởng của quá trình rà soát, điều chỉnh danh mục dự án và thủ tục đầu tư sau sáp nhập. Công tác quản lý giá và điều hành thị trường được triển khai đồng bộ, hiệu quả; chỉ số giá tiêu dùng (CPI) năm 2025 tăng 3,56%, nằm trong phạm vi kiểm soát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và đời sống dân cư. Thu ngân sách nhà nước đạt kết quả tích cực, tổng thu nội địa tăng 16,38% so với năm trước. Song song với phát triển kinh tế, lĩnh vực an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, bảo đảm đầy đủ và kịp thời, nhất là trong bối cảnh sắp xếp tổ chức bộ máy và địa giới hành chính. Các chính sách đối với người có công, đối tượng bảo trợ xã hội, hộ nghèo, cận nghèo được thực hiện đầy đủ; công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghề, chăm lo đời sống người lao động được chú trọng. Các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa – xã hội tiếp tục ổn định, góp phần củng cố niềm tin của người dân và tạo nền tảng cho phát triển bền vững trong giai đoạn tiếp theo./. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG [1] Năm 2025 sốt xuất huyết có 7.534 ca mắc, 03 ca tử vong, 1,127 ổ dịch; có 07 ca bệnh sốt rét; bệnh tay chân miệng có 2.794 ca mắc, phát hiện 21 ổ dịch bệnh. Có 4.075 ca mắc bệnh sởi, không có tử vong. Công tác phòng chống Phong có 463 bệnh nhân, không còn bệnh nhân đang điều trị; số bệnh nhân đang giám sát là 20 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 451 bệnh nhân.
Hội nghị sơ kết công tác quý IV/2025 và triển khai kế hoạch quý I/2026 của ngành Thống kê Lâm Đồng
- 30/12/2025 11:09
Sáng ngày 26/12/2025, Thống kê tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức Hội nghị sơ kết công tác quý IV/2025 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm quý I/2026. Đồng chí Phạm Quốc Hùng – Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì hội nghị với sự tham gia của các Phó Trưởng Thống kê tỉnh, lãnh đạo các phòng nghiệp vụ và kết nối trực tuyến đến 16 điểm cầu Thống kê cơ sở trên toàn tỉnh. Hội nghị đã đánh giá kết quả công tác quý IV/2025, toàn ngành Thống kê tỉnh Lâm Đồng đã triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ được giao, bảo đảm thực hiện đầy đủ, đúng hạn các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội tháng, quý và ước cả năm 2025, phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy, UBND tỉnh. Công tác điều tra thống kê được tổ chức đúng phương án, tiến độ; hoàn thành xử lý, nghiệm thu Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 và chủ động chuẩn bị các điều kiện cho Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Hoạt động cung cấp, phân tích và giải trình số liệu thống kê được tăng cường, đáp ứng tốt các yêu cầu thường xuyên và đột xuất, qua đó tiếp tục khẳng định vai trò của ngành Thống kê là nguồn thông tin kinh tế - xã hội tin cậy trên địa bàn tỉnh. Phát biểu chỉ đạo, Trưởng Thống kê tỉnh Phạm Quốc Hùng đã biểu dương sự nỗ lực, tinh thần trách nhiệm của lãnh đạo các đơn vị cùng toàn thể công chức, người lao động trong toàn Ngành đã hoàn thành tốt nhiệm vụ trong quý IV; nhanh chóng ổn định công việc trong bối cảnh có nhiều thay đổi, đảm bảo hoạt động thông suốt, nhịp nhàng; đồng thời triển khai, thực hiện hiệu quả bước đầu của cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Trưởng Thống kê tỉnh cũng ghi nhận tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo trong công tác tham mưu, điều hành, góp phần giữ vững kỷ cương, kỷ luật hành chính và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ngành. Để triển khai hiệu quả nhiệm vụ quý I/2026, Trưởng Thống kê tỉnh yêu cầu toàn Ngành tập trung bám sát kế hoạch công tác của Cục Thống kê và nhiệm vụ của địa phương giao. Trong quá trình tổ chức thực hiện, các đơn vị cần chú ý giao việc cụ thể theo kế hoạch và cả những nhiệm vụ đột xuất, đồng thời thường xuyên theo dõi, đánh giá trên phần mềm Taskgov; đây là cơ sở quan trọng để nhận xét, đánh giá công chức hàng tháng, quý và cả năm. Tổ chức thực hiện tốt cuộc Tổng điều tra kinh tế năm 2026 (giai đoạn 1). Tăng cường hơn nữa việc thực hiện kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ. Tiếp tục nâng cao công tác kiểm tra, giám sát trong việc thu thập số liệu thống kê; đẩy mạnh công tác giải trình và chịu trách nhiệm về số liệu thống kê; thực hiện nghiêm việc quy trách nhiệm cá nhân, lãnh đạo, người đứng đầu trong thực thi công vụ. Tiếp tục nâng cao chất lượng báo cáo thống kê; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác thống kê. Hội nghị sơ kết công tác quý IV/2025 của ngành Thống kê Lâm Đồng đã kết thúc thành công, thể hiện quyết tâm cao của toàn Ngành trong việc đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác, khẳng định vai trò là nguồn thông tin kinh tế - xã hội tin cậy của Đảng và Nhà nước tại địa phương. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh của Hội nghị:Đ/c Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu chỉ đạo tại hội nghịToàn cảnh Hội nghị sơ kết công tác qúy IV/2025 ngành Thống kê Lâm Đồng
Hội nghị tập huấn nghiệp vụ Tổng điều tra kinh tế năm 2026
- 24/12/2025 11:05
Thực hiện Quyết định số 3100/QĐ-BTC ngày 04/9/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Phương án Tổng điều tra kinh tế năm 2026; trong hai ngày 22-23/12/2025, Thống kê tỉnh Lâm Đồng đã tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ Tổng điều tra kinh tế năm 2026 cho đội ngũ cán bộ Thống kê các cấp trên địa bàn tỉnh. Hội nghị do ông Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh Lâm Đồng chủ trì, với sự tham dự của lãnh đạo các sở, ngành là thành viên Ban Chỉ đạo Tổng điều tra kinh tế năm 2026 tỉnh Lâm Đồng; lãnh đạo các phòng nghiệp vụ Thống kê tỉnh; toàn thể công chức Phòng Thống kê Dịch vụ - Giá và Phòng Thống kê Công nghiệp - Xây dựng; Trưởng và công chức các Thống kê cơ sở; cùng đại diện Báo và Phát thanh, Truyền hình Lâm Đồng đến dự và đưa tin. Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, ông Phạm Quốc Hùng nhấn mạnh Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là cuộc điều tra thống kê có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quy mô lớn, phạm vi rộng và nội dung phức tạp. Kết quả điều tra là cơ sở quan trọng để đánh giá thực trạng nền kinh tế, phục vụ xây dựng chiến lược, kế hoạch và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn tới. Do đó, công tác tập huấn cần bảo đảm thống nhất nhận thức về nghiệp vụ và thành thạo về kỹ năng sử dụng phần mềm cho toàn bộ lực lượng tham gia điều tra. Tại hội nghị, các báo cáo viên đã trực tiếp tập huấn nghiệp vụ điều tra và hướng dẫn sử dụng phần mềm thu thập thông tin đối với các loại phiếu điều tra gồm: cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể; cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; tổ hợp tác. Nội dung tập huấn tập trung làm rõ mục đích, yêu cầu của Tổng điều tra kinh tế năm 2026; phạm vi, đối tượng điều tra; phương pháp thu thập thông tin; cách ghi phiếu điều tra; cũng như quy trình kiểm tra, giám sát số liệu nhằm bảo đảm thông tin thu thập đầy đủ, chính xác và thống nhất trên toàn tỉnh. Bên cạnh phần lý thuyết, hội nghị dành thời gian cho học viên thực hành trực tiếp trên máy tính qua trang thông tin điều hành tác nghiệp Tổng điều tra; phần mềm điều tra CAPI trên thiết bị di động thông minh. Qua đó rèn luyện kỹ năng thao tác kỹ thuật, xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình điều tra thực tế, góp phần nâng cao chất lượng thu thập và tổng hợp thông tin. Thông qua hội nghị tập huấn, năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin của đội ngũ cán bộ làm công tác Tổng điều tra kinh tế trên địa bàn tỉnh tiếp tục được củng cố và nâng cao. Đây là tiền đề quan trọng để triển khai thành công Tổng điều tra kinh tế năm 2026, đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin thống kê đầy đủ, kịp thời, phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh khác của hội nghị:1Ông Phạm Quốc Hùng - Trưởng TTK Lâm Đồng phát biểu khai mạc hội nghị tập huấnToàn cảnh Hội nghị tập huấn
Hội nghị triển khai kế hoạch công tác năm 2026 “Thống kê Việt Nam: Kết nối dữ liệu - Kiến tạo tri thức - Phục vụ phát triển”
- 22/12/2025 08:01
Sáng ngày 19/12/2025, tại Hà Nội, Cục Thống kê (CTK) tổ chức Hội nghị Triển khai kế hoạch công tác năm 2026. Hội nghị được tổ chức trực tiếp tại CTK và trực tuyến tại điểm cầu của các Thống kê tỉnh. Thống kê cơ ở 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Cục trưởng CTK Nguyễn Thị Hương chủ trì hội nghị. Hội nghị là dịp để toàn ngànn Thống kê thống nhất nhận thức và hành động, quyết tâm thực hiện thắng lợi 8 nhiệm vụ trọng tâm năm 2026. Với chủ đề “Thống kê Việt Nam: Kết nối dữ liệu – Kiến tạo tri thức – Phục vụ phát triển”, Hội nghị khẳng định vai trò của công tác thống kê trong việc cung cấp thông tin thống kê đầy đủ, tin cậy và kịp thời, phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tham dự trực tiếp Hội nghị có ông Đỗ Văn Trường, Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ Tài chính, đại diện lãnh đạo các đơn vị thuộc Bộ Tài chính; lãnh đạo Cục Thống kê, lãnh đạo, công chức các đơn vị thuộc Cục Thống kê, Trưởng Thống kê của 34 Thống kê tỉnh, thành phố. Tại điểm cầu Thống kê tỉnh Lâm Đồng tham dự có các đồng chí lãnh đạo Thống kê tỉnh, lãnh đạo và công chức các Phòng chuyên môn; đồng thời trực tuyến tới 16 Thống kê cơ sở thuộc Thống kê tỉnh.Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương báo cáo tại hội nghị Báo cáo tại Hội nghị, bà Nguyễn Thị Hương - Cục trưởng Cục Thống kê nhấn mạnh những kết quả nổi bật trong năm 2025 vừa qua. Một trong những dấu ấn nổi bật là Cục Thống kê đã tập trung tham mưu để hoàn thiện môi trường pháp lý cho hoạt động thống kê; trình các cấp có thẩm quyền ban hành 09 văn bản quy phạm pháp luật và 01 Đề án quan trọng. Bao gồm Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thống kê, Nghị định quy định về phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực thống kê (Nghị định số 130/2025/NĐ-CP), và các Quyết định ban hành Chương trình điều tra thống kê quốc gia và Hệ thống ngành kinh tế: ngành sản phẩm Việt Nam. Cũng trong năm 2025, Cục Thống kê đã thực hiện hiệu quả việc sắp xếp lại, giảm cấp hành chính trung gian, rà soát và tinh gọn bộ máy bên trong theo đúng định hướng chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và Bộ Tài chính. Tổng cộng, qua hai lần sắp xếp, Cục Thống kê đã giảm 118 đầu mối, tương đương 18,21%. Trong năm 2025, vượt qua nhiều khó khăn, Cục Thống kê cũng đã nỗ lực hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ chính trị, góp phần quan trọng vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và địa phương. Cục Thống kê đã thực hiện biên soạn và phổ biến kịp thời Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội hằng tháng, quý và ước tính GDP, GRDP năm 2025, phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của Đảng, Chính phủ. Đặc biệt là đã tổ chức thành công Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 theo đúng tiến độ trong bối cảnh triển khai bộ máy chính quyền hai cấp. Đồng thời, công tác chuẩn bị cho Tổng điều tra kinh tế năm 2026 cũng đã và đang được triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả. Cục Thống kê đã xây dựng 02 bộ chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu cấp tỉnh, cấp xã phục vụ xây dựng văn kiện đại hội Đảng bộ của các địa phương đồng bộ, thống nhất trên cả nước. Biên soạn số liệu các chỉ tiêu thống kê kinh tế - xã hội của 34 tỉnh, thành phố giai đoạn 2010-2025 làm căn cứ đánh giá thực trạng và xác định mục tiêu của các địa phương theo địa giới hành chính mới. Ngoài ra, Cục Thống kê hoàn thành Báo cáo nghiên cứu đo lường đóng góp của khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong tăng trưởng và trong GDP; cung cấp số liệu phục vụ xây dựng Đề án phát triển kinh tế tư nhân, Đề án Các giải pháp chiến lược thúc đẩy tăng trưởng kinh tế “2 con số” Bên cạnh đó, công tác chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực thống kê tiếp tục được đẩy mạnh. Cục Thống kê đã cơ bản hoàn thành việc đầu tư và đào tạo cho 02 dự án công nghệ thông tin lớn; bao gồm: Hệ thống sản xuất thông tin thống kê điện tử và Hệ thống công nghệ thông tin phục vụ chế độ báo cáo cấp bộ, ngành, tỉnh, xã tần suất nhanh. Đặc biệt, 100% các cuộc điều tra đã áp dụng phiếu điều tra điện tử, giúp tập trung, thống nhất hóa cơ sở dữ liệu và giám sát trên môi trường số. Bà Nguyễn Thị Hương - Cục trưởng Cục Thống kê nhấn mạnh: Năm 2026, ngành Thống kê sẽ kỷ niệm 80 năm thành lập, hoạt động dưới chủ đề “Thống kê Việt Nam: Kết nối dữ liệu - Kiến tạo tri thức - Phục vụ phát triển” với 8 nhiệm vụ trọng tâm: Một là, đảm bảo thông tin thống kê phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp. Hai là, tiếp tục kiện toàn công tác tổ chức cán bộ ngành Thống kê. Ba là, triển khai Luật Thống kê và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong công tác thống kê. Năm là, tăng cường quản lý dữ liệu, bảo đảm an toàn và bảo mật dữ liệu thống kê. Sáu là, đẩy mạnh kết nối và sử dụng dữ liệu hành chính trong công tác thống kê. Bảy là, thực hiện thành công Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Tám là, tổ chức kỉ niệm 80 năm thành lập ngành Thống kê. Bà Hương cũng nhấn mạnh, để thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ, Cục Thống kê sẽ tập trung vào các giải pháp chiến lược như: hoàn thiện thể chế pháp lý; tăng cường kỷ luật, kỷ cương công vụ; nâng cao chất lượng công chức, và đẩy nhanh tiến độ các dự án đầu tư xây dựng cơ bản. Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác quốc tế thông qua các dự án ODA nhằm nâng cao năng lực Thống kê Việt Nam… Tại Hội nghị, đã trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng cho các tập thể, cá nhân trong Ngành có thành tích xuất sắc trong quá trình công tác. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh khác của hội nghị:Ông Đỗ Văn Trường - Phó Bí thư chuyên trách Đảng ủy Bộ Tài chính trao tặng danh hiệu thi đua - khen thưởng cho các tập thể, cá nhân thuộc Cục Thống kê Tại điểm cầu Thống kê tỉnh Lâm Đồng:
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 11 và 11 tháng năm 2025 tỉnh Lâm Đồng
- 02/12/2025 15:12
I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản chịu ảnh hưởng bởi thiên tai mưa lũ đã ảnh hưởng trực tiếp đến 5.710 ha lúa mùa vụ và 8.567 ha hoa màu. Tuy nhiên 11 tháng năm 2025, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì và phát triển ổn định. Diện tích các loại cây trồng hàng năm tăng nhẹ so với cùng kỳ. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia cầm và đàn lợn đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, nhất là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát hiệu quả, giúp người dân yên tâm đầu tư. Sản lượng khai thác thủy sản biển ổn định. Công tác phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và Chương trình OCOP được chú trọng; nhiều doanh nghiệp, chủ thể sản xuất được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông sản chủ lực, sản phẩm OCOP tại các hội nghị, triển lãm trong cả nước, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu nông nghiệp của tỉnh. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Vụ mùa năm 2025 diện tích xuống giống đúng vụ, công tác xã hội hóa giống lúa đẩy mạnh, tăng tỷ lệ sử dụng giống lúa xác nhận; tăng cường công tác dự báo, theo dõi, quản lý chặt chẽ tình hình và xử lý kịp thời sâu bệnh trên cây trồng. Trong vụ tình hình thời tiết tương đối thuận lợi, tuy nhiên vẫn còn tình trạng ngập cục bộ do mưa lớn xảy ra ở một số địa phương như xã Hàm Kiệm, xã Hàm Chính, xã Hàm Thuận Nam, xã Hàm Thuận, xã Bắc Bình đã ảnh hưởng đến diện tích gieo trồng lúa, rau màu. Tổng diện tích gieo trồng Vụ mùa ước đạt 170.353,3 ha, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: + Cây lương thực có hạt: Diện tích gieo trồng ước đạt 85.544,9 ha, tăng 0,83% so với cùng kỳ năm trước. Ước sản lượng lương thực vụ mùa đạt 512.423,3 tấn, năng suất đạt 59,9 tạ/ha; so với cùng kỳ năm trước, tăng 1,21% về sản lượng và tăng 0,22 tạ/ha về năng suất (trong đó: cây lúa diện tích ước đạt 64.132,2 ha, tăng 1,38%; sản lượng ước đạt 377.620,1 tấn, tăng 1,8%, năng suất ước đạt 58,88 tạ/ha. Cây bắp diện tích ước đạt 21.412,7 ha, giảm 0,71%; sản lượng ước đạt 134.803,2 tấn, giảm 0,3%; năng suất ước đạt 62,95 tạ/ha, tăng 0,25 tạ/ha); + Cây chất bột: Diện tích ước đạt 31.248,2 ha. Trong đó diện tích cây mỳ ước đạt 29.780,3 ha, tăng 0,62%; sản lượng ước đạt 602.098,4 tấn, tăng 0,7%; năng suất ước đạt 202,18 tạ/ha, tăng 0,12 tạ/ha so với cùng kỳ năm trước. + Cây công nghiệp ngắn ngày: Diện tích gieo trồng ước đạt 5.903,5 ha, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: Cây mía diện tích ước đạt 1.018,5 ha, tăng 0,14%; sản lượng ước đạt 46.887,8 tấn, tăng 0,2%; năng suất ước đạt 460,36 tạ/ha, tăng 0,13 tạ/ha. Cây đậu phộng diện tích ước đạt 4.044,6 ha, tăng 3,2%; sản lượng ước đạt 8.584,9 tấn, tăng 5,5%; năng suất ước đạt 21,23 tạ/ha, tăng 0,47 tạ/ha. Cây mè diện tích ước đạt 292,2 ha, tăng 1,0%; sản lượng ước đạt 182,9 tấn, tăng 1,3%; năng suất ước đạt 6,26 tạ/ha, tăng 0,2 tạ/ha). + Rau, đậu, hoa: Diện tích gieo trồng ước đạt 39.427,7 ha, tăng 2,82% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: rau các loại diện tích ước đạt 31.167 ha, tăng 2,9%; sản lượng ước đạt 961.051,6 tấn, tăng 3,5%; năng suất ước đạt 308,36 tạ/ha, tăng 1,81 tạ/ha. Đậu các loại diện tích ước đạt 5.127,7 ha, tăng 1,5%; sản lượng ước đạt 6.653,4 tấn, tăng 1,6%; năng suất ước đạt 12,98 tạ/ha, tăng 0,01 tạ/ha).Diện tích gieo trồng cây hàng năm qua các năm 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm. Tổng diện tích các loại cây lâu năm trên địa bàn tỉnh ước đạt 636.646 ha, tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể diện tích một số loại cây lâu năm như sau: Cây cà phê diện tích ước đạt 328.650 ha, tăng 1,03%; Cây chè diện tích ước đạt 9.003,9 ha, giảm 5,29%; Cây điều diện tích ước đạt 50.215 ha, tăng 1,49%; Cây tiêu diện tích ước đạt 37.193 ha, tăng 0,02%; Cây dâu tằm diện tích ước đạt 11.320,4 ha, tăng 4,93%; Cây sầu riêng diện tích ước đạt 44.283,5 ha, tăng 4,34%; Cây bơ diện tích ước đạt 8.959,6 ha, giảm 2,54%; Cây thanh long diện tích ước đạt 26.126 ha, tăng 0,56%; Cây ca cao diện tích ước đạt 430,7 ha, tăng 1,56%; Cây cao su diện tích ước đạt 75.381 ha, tăng 2,6%; Cây mắc ca diện tích ước đạt 11.317 ha, tăng 2,55%; (12). Cây chanh leo diện tích ước đạt 1.810,4 ha, tăng 3,11%. 1.3. Tình hình dịch bệnh Trong tháng 11/2025, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 676 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại 964 ha; chuột gây hại 376 ha; rầy nâu gây hại 304 ha (so với tháng trước, sâu đục thân gây hại tăng 562 ha; bệnh đạo ôn lá gây hại tăng 492 ha; chuột gây hại tăng 126 ha; rầy nâu gây hại tăng 280 ha); - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.393,4 ha (giảm 74,9 ha so với tháng trước) tại các xã Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, Quảng Khê, phường Đông Gia Nghĩa, phường Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.309,3 ha (giảm 802,2 ha so với tháng trước) tại các xã Bảo Lâm 1,2,3,4,5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác; bọ xít muỗi gây hại 1.973,6 ha cà phê chè (tăng 288,6 ha so với tháng trước) tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; Bệnh chết khô ngọn gây hại 30 ha tại Bảo Lâm 1; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.210,4 ha (tăng 178,4 ha so với tháng trước); bệnh thán thư gây hại 2.740 ha (giảm 96 ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1,2,3,4, Tánh Linh, Suối Kiết, Tân Minh, Nam Thành; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 308 ha (giảm 02 ha so với tháng trước) tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 4.003 ha (giảm 47 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 910 ha (giảm 269 ha so với tháng trước) tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Tân Thành, Tiến Thành, Tân Lập, Tân Hải, Tuyên Quang, Bình Thuận, Hàm Thuận Bắc, Hàm Liêm, Hàm Thuận, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Liên Hương. Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất. 2. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi; mặc dù giá thức ăn, con giống gia súc vẫn ở mức cao, dịch bệnh tiêu chảy trên đàn bò sữa và bệnh Dịch tả lợn Châu Phi đã xảy ra tại một số nơi trên địa bàn tỉnh nhưng nhờ công tác kiểm dịch và quản lý tốt tại các trang trại (đặc biệt là trại chăn nuôi gia công) nên nhìn chung tổng đàn các loại vật nuôi vẫn giữ được mức tăng so với cùng kỳ. So với cùng kỳ năm trước, toàn tỉnh có 27,2 nghìn con trâu, tăng 0,74%; có 318,5 nghìn con bò, tăng 1,63% (trong đó đàn bò sữa 28,6 nghìn con, tăng 0,70%); có 1.490,5 nghìn con lợn, tăng 9,1% (lợn không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.240,7 nghìn con, tăng 9,54%); có 22.390,5 nghìn con gia cầm, tăng 8,25% (trong đó gà các loại 16.025 nghìn con, chiếm 71,57% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,96%); đàn lợn và đàn gà tăng do trong năm 2025 có thêm đóng góp của Chi nhánh Công ty Cổ phần Thái Việt Corporation với quy mô hơn 35.000 con lợn, Công ty Thái Thịnh Tây Nguyên với quy mô hơn 8.000 con lợn và Công ty cổ phần MeBi Farm với quy mô hiện có trên 202 nghìn con gà đẻ trứng đã góp phần đáng kể vào việc nâng tổng đàn. Sản lượng thịt hơi các loại ước 11 tháng năm 2025 đạt 311.090,8 tấn, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước.Số lượng đàn gia súc, gia cầm 11 tháng qua các năm(ĐVT: 1.000 con) * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng phát sinh 18 hộ tại 12 thôn của 10 xã với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 350 con/25.015 kg. Lũy kế, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 1.905 con/102.750 kg. Đến nay, có 18/24 xã đã qua 21 ngày không phát sinh lợn mắc bệnh, 06/24 xã dịch bệnh chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, đã trồng rừng tập trung (trồng mới) ước đạt 395 ha, tăng 3,95% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 5.030 ha, tăng 4,93% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây xanh ước đạt gần 17,8 triệu cây, đạt 102,7% kế hoạch năm. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 26.382 m3, tăng 0,98% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 340.682,3 m3, tăng 2,04% so với cùng kỳ năm trước. - Trong tháng, phát sinh 45 vụ vi phạm lâm luật, giảm 31 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, tổng số vụ vi phạm là 339 vụ, giảm 373 vụ so với cùng kỳ. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 3.126,2 tấn, tăng 4,51% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 500,1 tấn, tăng 3,09%). Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 25.600,6 tấn, tăng 2,45% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 4.586,5 tấn, tăng 3,19%). - Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 20.805,3 tấn, tăng 8,41% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 20.743,3 tấn, tăng 8,43%). Lũy kế 11 tháng năm 2025, sản lượng khai thác đạt 232.411,1 tấn, tăng 4,89% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 231.114,7 tấn, tăng 4,91%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong 11 tháng năm 2025 hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Công tác quản lý chất lượng giống thủy sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,16 tỷ post, tăng 2,69% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 22,55 tỷ post, tăng 7,27% so với cùng kỳ năm trước.Sản lượng thủy sản 11 tháng qua các năm II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Hoạt động sản xuất công nghiệp 11 tháng năm 2025 tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng so với cùng kỳ. Đóng góp chủ yếu vào mức tăng chung là ngành khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo, nhờ sự phục hồi của thị trường xuất khẩu và năng lực sản xuất tăng thêm từ các dự án mới. Một số sản phẩm chủ lực như giày da, phân bón, vật liệu xây dựng có mức tăng khá, nhóm ngành đồ uống do chi phí đầu vào và thị trường tiêu thụ gặp khó khăn. Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp tăng, phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất dịp cuối năm. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 10,71% so với tháng trước và tăng 13,65% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 51,67% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 9,64%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 15,22%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,18%. Tính chung 11 tháng năm 2025, ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 4,27% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 17,45%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,38%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,78%. Chỉ số sản xuất công nghiệp 11 tháng so với cùng kỳ qua các năm 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Sản lượng trong tháng ước đạt 408.947 m³, giảm 5,15% so với tháng trước và tăng 40,82% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 3.380 nghìn m³, tăng 16,80% so với cùng kỳ. Nhằm khắc phục tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng như năm trước, đặc biệt là vào các tháng cuối năm, các doanh nghiệp khai thác đá đã chủ động tăng sản lượng ngay từ đầu năm để đáp ứng nhu cầu xây dựng tăng cao. - Sản phẩm thủy sản chế biến, bảo quản: Trong tháng, sản lượng ước đạt 2.107 tấn, tăng 13,82% so với tháng trước và tăng 10% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 19.439 tấn, tăng 1,48% so với cùng kỳ. Mặc dù thời tiết không thuận lợi cho hoạt động khai thác thủy sản, nhưng nhờ có kế hoạch sản xuất dài hạn, các doanh nghiệp chế biến thủy sản vẫn duy trì được sản lượng ổn định và chưa bị ảnh hưởng đáng kể. - Sản phẩm rau, quả chế biến, bảo quản: Sản lượng trong tháng ước đạt 2.986 tấn, tăng 1,87% so với tháng trước và tăng 21,47% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 34.014 tấn, tăng 17,98% so với cùng kỳ. Nhu cầu tiêu dùng trong nước tăng cùng với sự phục hồi đơn hàng xuất khẩu đã thúc đẩy sản lượng; đồng thời lợi thế về điều kiện tự nhiên, khí hậu và công nghệ chế biến tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của ngành. - Sản phẩm đồ uống: Sản lượng trong tháng ước đạt 30.712 nghìn lít, tăng 8,66% so với tháng trước nhưng giảm 1,61% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 300.719 nghìn lít, giảm 7,98% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên vật liệu đầu vào (Malt, gạo, đường) tăng cao, nhu cầu tiêu thụ bia giảm và thị trường cạnh tranh gay gắt cả trong nước và quốc tế. - Sản phẩm giày, dép: Sản lượng trong tháng ước đạt 658 nghìn đôi, tăng 19,01% so với tháng trước và tăng 44,07% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 5.707 nghìn đôi, tăng mạnh 80,71% so với cùng kỳ, chủ yếu do doanh nghiệp tiếp tục nhận thêm đơn hàng và tăng năng lực sản xuất tại Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam. - Sản phẩm phân bón: Sản lượng tháng 11 ước đạt 5.826 tấn, bằng 43,75% so với tháng trước nhưng tăng 25,09% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 117.424 tấn, tăng 18,10% so với cùng kỳ. Sản lượng tăng do Nhà máy Hóa chất Đức Giang - Đắk Nông chính thức đi vào hoạt động từ quý II/2025. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng, sản lượng ước đạt 121,5 nghìn tấn, tăng 0,70% so với tháng trước và tăng 1,42% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 1.354,7 nghìn tấn, tăng 2,37% so với cùng kỳ. - Điện sản xuất: Sản lượng trong tháng ước đạt 3.273 triệu kWh, tăng 19,76% so với tháng trước và tăng 15,51% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 31.006 triệu kwh, tăng 0,93% so với cùng kỳ. - Điện thương phẩm: Sản lượng trong tháng ước đạt 468 triệu kwh, tăng 3,66% so với tháng trước và tăng 3,59% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đạt 5.045 triệu kwh, giảm nhẹ 0,31% so với cùng kỳ. Sản lượng giảm do thực hiện tuyên truyền tiết kiệm điện, giảm điện chiếu sáng công cộng ở một số địa điểm và do nhiều hộ dân, cơ sở sản xuất - kinh doanh sử dụng một phần điện từ hệ thống năng lượng mặt trời mái nhà. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động của các doanh nghiệp công nghiệp trong tháng tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 5,31% so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp khai khoáng giảm 0,57%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,24%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,97%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,02%. Tính chung 11 tháng năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,55%. Trong đó: ngành công nghiệp khai khoáng giảm 17,29%; ngành chế biến, chế tạo tăng 5,21%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,26%. Xét theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 0,87%, doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng 6,95%, và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 5,39% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động tăng so với cùng kỳ và cao hơn mức bình quân 11 tháng năm 2025, cho thấy nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp có xu hướng cải thiện, đặc biệt nhằm phục vụ yêu cầu sản xuất vào thời điểm cuối năm. Hoạt động sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục duy trì đà tăng, dự báo thị trường lao động ngành này sẽ phát triển tích cực trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp Tính đến tháng 11/2025, các khu công nghiệp (KCN) trên địa bàn tỉnh đã thu hút 06 dự án đầu tư (01 dự án FDI và 05 dự án trong nước) với tổng diện tích khoảng 22,23 ha, tổng vốn đăng ký 452 tỷ đồng và 35 triệu USD. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 228 dự án còn hiệu lực (51 dự án FDI và 177 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 43.326,6 tỷ đồng và 466,4 triệu USD, diện tích đất đăng ký 712,7 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,24%. - KCN Lộc Sơn: Thu hút 56 dự án (09 FDI và 47 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 87,29%. Giá trị giải ngân đối với hạng mục nâng cấp Nhà máy xử lý nước thải tập trung và hệ thống thu gom nước thải đạt 63/1.000 triệu đồng, bằng 6,32% kế hoạch năm 2025. - KCN Phú Hội: Thu hút 32 dự án (11 FDI và 21 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 75,02%. Giải ngân trong tháng đạt 7,13/17,207 tỷ đồng (41,44% kế hoạch năm 2025). Lũy kế đến nay đã giải ngân 62,81/72,8 tỷ đồng, đạt 86,28% khối lượng được phê duyệt. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Thu hút 39 dự án (10 FDI và 29 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 100%. Trong tháng, chủ đầu tư thực hiện trồng cây xanh, duy tu hạ tầng và bảo trì trạm xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 0,43/2,7 tỷ đồng (15,93%). Lũy kế thực hiện đạt 76,24/48,28 tỷ đồng, tương đương 157,81% tổng vốn dự án. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2: Thu hút 12 dự án (02 FDI và 10 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I: Thu hút 22 dự án (08 FDI và 14 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 65,27%. Trong tháng, chủ đầu tư trồng cây xanh và thi công hoàn thiện các tuyến đường D2, N1, N2, N3. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 18,13/54,11 tỷ đồng (33,51%). Lũy kế thực hiện đạt 289,26/273,42 tỷ đồng, tương đương 105,79% tổng vốn dự án. - KCN Hàm Kiệm II: Thu hút 17 dự án (07 FDI và 10 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 31,77%. Trong tháng, chủ đầu tư tiếp tục san lấp mặt bằng, trồng cây xanh và thi công các tuyến đường D1, D3, D5, N1, N3, N4. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 39,8/100 tỷ đồng (39,8%). Lũy kế thực hiện đạt 376,18/491,82 tỷ đồng, tương đương 76,49% tổng vốn dự án. - KCN Sông Bình: Thu hút 03 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 13.544,93 tỷ đồng; diện tích cho thuê 58,35/202,32 ha, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. Trong tháng, chủ đầu tư tiếp tục trồng cây xanh và thi công đường D1, D3, N4, N6. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 2,22/4,34 tỷ đồng (51,15%), giảm 25,77% so với cùng kỳ. Lũy kế thực hiện đạt 320,91/781,05 tỷ đồng (41,09%). - KCN Tân Đức: Thu hút 01 dự án trong nước với vốn đăng ký 100 tỷ đồng; diện tích cho thuê 1,5/210,84 ha, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. Trong tháng, chủ đầu tư tiếp tục san lấp mặt bằng; thi công các tuyến đường D3a, D3b, N1a, N1b, N2, N3, D2; trồng cây xanh; thi công Nhà máy cấp nước và Nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng năm 2025 đạt 273,56/562,07 tỷ đồng (48,67%). Lũy kế thực hiện đạt 900,27/1.200 tỷ đồng (75,02%). - KCN Tâm Thắng: Thu hút 47 dự án (04 FDI và 43 trong nước), tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ: Thu hút 01 dự án với quy mô 129,42 ha, tổng vốn đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lấp đầy 87,44%. 2. Đầu tư phát triển Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước tiếp tục được đẩy mạnh, tập trung vào các công trình hạ tầng trọng điểm. Trong tháng, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước thực hiện có quy mô lớn nhất từ đầu năm đến nay, tăng 15,68%. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.854,6 tỷ đồng, tăng 15,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.847,7 tỷ đồng (chiếm 99,63% tổng vốn ngân sách nhà nước), tăng 15,93% so với cùng kỳ; vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 6,8 tỷ đồng (chiếm 0,37%), giảm 26,46% so với cùng kỳ. Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh bao gồm: vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 578,5 tỷ đồng, giảm 11,12% so với cùng kỳ; vốn Trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu đạt 643 tỷ đồng, tăng 31,47%; vốn nước ngoài (ODA) đạt 41,1 tỷ đồng, tăng 67%; vốn xổ số kiến thiết đạt 580,1 tỷ đồng, tăng 38,43%; vốn khác đạt 5 tỷ đồng, giảm 50,98% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 12.820,5 tỷ đồng, bằng 80,72% kế hoạch năm và tăng 7,92% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh đạt 12.786,7 tỷ đồng, tăng 8,02%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã đạt 33,8 tỷ đồng, giảm 18,97% so với cùng kỳ.Vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nướcdo địa phương quản lý 11 tháng qua các năm Trong 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 45 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 15.434,9 tỷ đồng. Lũy kế đến ngày 20/11/2025, trên địa bàn tỉnh có 2.924 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 2.006.024 tỷ đồng (trong đó có 236 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 224.284 tỷ đồng). Tính từ đầu năm đến ngày 18/11/2025, toàn tỉnh có 3.761 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 74,93% so với cùng kỳ; 1.657 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,8%; 760 doanh nghiệp giải thể, tăng 77,16%; 726 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 15,24% so cùng kỳ. Tổng số vốn trong 11 tháng đầu năm 2025 các doanh nghiệp đã đăng ký 19.446 tỷ đồng, tăng 11,03% so với cùng kỳ. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Tình hình thương mại trên địa bàn tỉnh trong 11 tháng năm 2025 duy trì mức tăng trưởng tương đối ổn định. Nguồn cung hàng hóa bảo đảm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người dân; giá cả nhìn chung không biến động lớn, thị trường giữ được trạng thái ổn định. Hoạt động du lịch tiếp tục sôi động với nhiều giải thể thao và lễ hội diễn ra trên địa bàn, thu hút đông đảo du khách, vận động viên trong nước và quốc tế. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định, chủ động mở rộng và nâng cao chất lượng phục vụ du khách. Các nhà hàng, cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống tăng cường phục vụ người dân và du khách, thực hiện đúng quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm, niêm yết giá và bán đúng giá. Hoạt động vận tải đường bộ ổn định, đáp ứng kịp thời nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa trên thị trường. Vận tải đường thủy diễn ra thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại và du lịch của người dân, đặc biệt là phục vụ tốt nhu cầu di chuyển đến và đi từ đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Thị trường thương mại, dịch vụ những tháng cuối năm tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng tăng cao dịp Tết Nguyên đán. Các doanh nghiệp phân phối, bán lẻ đã chủ động chuẩn bị nguồn hàng, triển khai đồng bộ các chương trình khuyến mại, kích cầu, góp phần gia tăng tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ. Bên cạnh đó, các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu được đẩy mạnh đã hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, tác động tích cực đến lưu thông hàng hóa và hoạt động của chuỗi cung ứng trên địa bàn. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 24.731,1 tỷ đồng, tăng 3,08% so với tháng trước và tăng 26,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 16.621,5 tỷ đồng, tăng 3,15% so với tháng trước và tăng 24,17% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 5.517 tỷ đồng, tăng 2,89% so với tháng trước và tăng 37,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.592,6 tỷ đồng, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 20,33% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 236.994,8 tỷ đồng, tăng 16,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ ước đạt 158.815,3 tỷ đồng, tăng 15,98% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 51.837 tỷ đồng, tăng 19,41% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 26.342,5 tỷ đồng, tăng 10,90% so với cùng kỳ năm trước.Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ 11 tháng qua các năm (ĐVT: tỷ đồng) 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng không ghi nhận hiện tượng găm hàng hay tăng giá bất hợp lý. Hoạt động mua bán, giao thương diễn ra sôi động tại các chợ đầu mối, chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện ích, trung tâm thương mại và trên các sàn thương mại điện tử, góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, ổn định thị trường và phát triển tiêu dùng nội địa. Giá các mặt hàng thiết yếu được duy trì ở mức hợp lý và tương đối ổn định. Đối với mặt hàng xăng dầu, các cơ sở kinh doanh chấp hành tốt các quy định pháp luật; không xuất hiện điểm nóng về vi phạm đo lường, chất lượng, găm hàng hay hạn chế bán ra; nguồn cung đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng, không xảy ra khan hiếm cục bộ tại các cửa hàng bán lẻ. Từ ngày 15/10 đến 14/11/2025 đã kiểm tra 265 vụ, phát hiện 229 vụ vi phạm, xử lý 224 vụ, với tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính 1.834 triệu đồng, trị giá hàng hóa áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả 667,4 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Giá lương thực, thực phẩm tiếp tục tăng do ảnh hưởng bởi ngập lụt; giá nhiên liệu tăng do điều chỉnh giá xăng dầu trong nước là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,89% so với tháng trước, tăng 5,56% so với cùng kỳ năm trước và tăng 5,40% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,35%. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 09 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,92%; Giao thông tăng 1,23%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,29%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,20%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,14%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,07%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,01%; Giáo dục tăng 0,01%. Có 02 nhóm hàng giảm giá: Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,04%; Thông tin và truyền thông giảm 0,23%.Tốc độ tăng/giảm CPI 11 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước (%) * Nguyên nhân làm tăng, giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng CPI: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,92% so với tháng trước, do ảnh hưởng ngập lụt, nguồn cung các mặt hàng gạo; rau tươi, thịt lợn, thịt gia cầm giảm nên giá lương thực, thực phẩm tăng cao so với tháng trước. Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 06, 13 và 20 trong tháng, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu tăng 2,62% so với tháng trước. - Nguyên nhân làm giảm CPI: Giá gas trong tháng giảm 1,64% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh giảm 6.500 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới. Giá gas thế giới bình quân trong tháng công bố ở mức 467,5 USD/tấn, giảm 17,5 USD/tấn so với tháng trước. Giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,23% so tháng trước, do các cửa hàng điện máy xanh, cửa hàng thế giới di động đang có chương trình khuyến mãi các mặt hàng điện thoại, phụ kiện điện thoại. * Các yếu tố làm tăng, giảm CPI 11 tháng năm 2025 so bình quân cùng kỳ - Các yếu tố làm tăng CPI bình quân 11 tháng năm 2025 + Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 14,02% làm CPI chung tăng 0,86 điểm phần trăm, áp dụng giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế; + Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,32% làm CPI chung tăng 0,80 điểm phần trăm, do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 8,55% do nhu cầu sử dụng điện tăng đồng thời ngày 11/10/2024 và ngày 09/5/2025 EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân; + Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,71% làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó các mặt hàng trang sức bằng vàng tăng 27,70% do ảnh hưởng giá vàng trong trước tăng theo giá vàng thế giới; giá bảo hiểm y tế tăng 15,38% do tăng theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng từ 1.800.000 đồng lên 2.340.000 đồng, theo đó bảo hiểm y tế cho cán bộ công chức và người lao động cũng được tăng theo; + Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,57% tác động làm CPI chung tăng 1,25 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 4,01%, tác động làm CPI chung tăng 0,91 điểm phần trăm, tăng mạnh chủ yếu giá thịt lợn tăng 9,90%. Nguyên nhân do nguồn cung ít, nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp Lễ, Tết; + Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,84%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,66%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,28%. Nguyên nhân do tăng cao trong dịp Lễ Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán thị trường tiêu dùng; + Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 1,96%, làm CPI chung tăng 0,13 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Các yếu tố làm giảm CPI bình quân 11 tháng năm 2025 + Giá các mặt hàng gạo giảm 0,34%. Nguyên nhân, do nguồn cung tại địa phương cũng như nguồn cung trong nước dồi dào, tình hình xuất khẩu gạo các thị trường Philippines, Indonesia cũng giảm so cùng kỳ, do đó giá so bình quân cùng kỳ năm trước có phần giảm nhẹ; + Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 1,71% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,17 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 8,26%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. 3. Hoạt động du lịch Ngành du lịch tiếp tục đà phục hồi và phát triển nhờ công tác tổ chức thành công nhiều sự kiện kích cầu đa dạng. Trong tháng, tỉnh đã thu hút lượng lớn du khách thông qua các hoạt động nổi bật như: Giải Golf đồng đội quốc tế; giải bắn súng hơi Laser rutival; lễ hội Dinh Thầy Thím; Lễ hội Trà Quốc tế - World Tea Fest 2025; “Trà ngoại giao” với sự tham dự của 60 đại sứ các nước; hội chợ, triển lãm trà quốc tế; hội nghị cấp cao về chiến lược phát triển ngành trà; lễ hội đường phố, đại nhạc hội và trình diễn áo dài của 80 thí sinh Miss Cosmo thế giới; các buổi biểu diễn Lễ hội Hoa Dã Quỳ & Âm Nhạc Mùa Đông; triển lãm “Hương Núi - Sắc Rừng”.... thu hút đông đảo người dân và khách du lịch. Đồng thời, việc tận dụng tốt lợi thế mùa cao điểm khách quốc tế nghỉ đông đã giúp gia tăng lượng khách nước ngoài đến địa phương. Các đơn vị kinh doanh lữ hành và dịch vụ hỗ trợ du lịch hoạt động ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của du khách. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.819,1 nghìn lượt, tăng 3,96% so tháng trước và tăng 28,91% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 76,6 nghìn lượt, tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 14,34% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.210 nghìn ngày khách, tăng 4,52% so với tháng trước và tăng 33,69% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 lượt khách ước đạt 18.830,2 nghìn lượt, tăng 19,66% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 681,6 nghìn lượt, tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 33.795,6 nghìn ngày khách, tăng 22,32% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 105 nghìn lượt khách, tăng 18,26% so với tháng trước và tăng 34,26% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 246,8 nghìn ngày khách, tăng 20,23% so với tháng trước và tăng 26,27% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 lượt khách quốc tế ước đạt 1.110 nghìn lượt khách, tăng 32,38% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 2.895,9 nghìn ngày khách, tăng 27,06% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường khách quốc tế đến tỉnh chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nga, Mỹ, Đài Loan, Đức, Anh, Malaixia.... Lượt khách và ngày khách phục vụ 11 tháng qua các năm Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 1.084,9 tỷ đồng, tăng 3,84% so với tháng trước và tăng 48,35% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.411,6 tỷ đồng, tăng 2,66% so với tháng trước và tăng 36,38% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 20,4 tỷ đồng, tăng 3,38% so với tháng trước và giảm 41,61% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 9.955,9 tỷ đồng, tăng 21,51% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 41.416,4 tỷ đồng, tăng 18,69% so cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 464,7 tỷ đồng, tăng 42,59% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.132,7 tỷ đồng, tăng 2,76% so với tháng trước và tăng 33,57% so với cùng kỳ. Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 51.557,9 tỷ đồng, tăng 24,46% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.592,6 tỷ đồng, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 20,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 305,9 tỷ đồng, tăng 3,07% so với tháng trước và tăng 12,87% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 111,8 tỷ đồng, tăng 3,03% so với tháng trước và tăng 7,75% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 88,5 tỷ đồng, tăng 2,15% so với tháng trước và tăng 18,46% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 152,8 tỷ đồng, tăng 1,28% so với tháng trước và tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.406,2 tỷ đồng, tăng 3,97% so với tháng trước và tăng 24,89% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 527,4 tỷ đồng, tăng 1,42% so với tháng trước và tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng 2025 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 26.342,5 tỷ đồng, tăng 10,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.944,3 tỷ đồng, tăng 14,11% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 1.173,3 tỷ đồng, tăng 14,35% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 846,7 tỷ đồng, tăng 31,61% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 1.412,1 tỷ đồng, tăng 17,68% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 14.458,1 tỷ đồng, tăng 9,14% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 5.508 tỷ đồng, tăng 8,93% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng hoạt động vận tải diễn ra ổn định, các ngày nghỉ cuối tuần nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa phục vụ người dân tăng. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.288,4 tỷ đồng tăng 4,39% so với tháng trước và tăng 20,75% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 13.153,2 tỷ đồng, tăng 15,51% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 3.995,4 nghìn HK, tăng 2,39% so với tháng trước và tăng 18,37% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 571.662,5 nghìn HK.Km, tăng 3,87% so với tháng trước và tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 42.351,9 nghìn HK, tăng 11,88% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 6.174.365,7 nghìn HK.Km, tăng 13,01% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng 2025 ước đạt 2.251,6 nghìn tấn, tăng 7,58% so với tháng trước và tăng 21,88% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 317.244,9 nghìn tấn.Km, tăng 6,54% so với tháng trước và tăng 20,83% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 21.082,1 nghìn tấn, tăng 6,70% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 3.079.933,0 nghìn tấn.Km, tăng 8,31% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.288,4 tỷ đồng, tăng 4,39% so với tháng trước và tăng 20,75% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 13.153,2 tỷ đồng, tăng 15,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 5.614,1 tỷ đồng, tăng 19,54% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 5.567,8 tỷ đồng, tăng 6,57%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.913,9 tỷ đồng, tăng 35,14%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 57,4 tỷ đồng, tăng 14,6%. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 2.262,7 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 2.106,6 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 156,1 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi 11 tháng các năm (ĐVT: Tỷ đồng) IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.291 tỷ đồng, tăng 6,27% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 2.136 tỷ đồng, tăng 6,00%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 155 tỷ đồng, tăng 10,19%. Lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 28.254 tỷ đồng, bằng 100,01% kế hoạch năm và tăng 16,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 26.820 tỷ đồng, bằng 100,79% kế hoạch năm và tăng 17,65% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.434 tỷ đồng, bằng 87,48% kế hoạch năm và giảm 7,97% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa 11 tháng năm 2025: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.609 tỷ đồng (bằng 143,73% kế hoạch năm và tăng 72,81% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.317 tỷ đồng (bằng 107,18% kế hoạch năm và tăng 21,19%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 6.282 tỷ đồng (bằng 99,04% kế hoạch năm và tăng 7,94%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 2.763 tỷ đồng (bằng 196,65% kế hoạch năm và tăng 17,21%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 4.209 tỷ đồng (bằng 83,29% kế hoạch năm và tăng 23,87%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.400 tỷ đồng (bằng 97,95% kế hoạch năm và tăng 6,91%).Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 11 tháng các năm 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 6.705 tỷ đồng, lũy kế 11 tháng năm 2025 ước đạt 38.941 tỷ đồng, bằng 81,16% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển ước đạt 12.027 tỷ đồng, bằng 110,22% kế hoạch năm; chi thường xuyên ước đạt 26.473 tỷ đồng, bằng 92,21% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: Đến 31/10/2025, huy động vốn của các Tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 222.937 tỷ đồng, tăng 13,8% so với đầu năm, tương ứng tăng 27.047 tỷ đồng. Trong đó: huy động bằng đồng Việt Nam đạt 220.552 tỷ đồng (chiếm 99% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.385 tỷ đồng, (chiếm 1% tổng huy động vốn). Ước đến 30/11/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 224.000 tỷ đồng, tăng 14,4% so với đầu năm, tương ứng tăng 28.110 tỷ đồng. Hoạt động tín dụng: Đến 31/10/2025, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 363.307 tỷ đồng, tăng 7,0% so với đầu năm, tương ứng tăng 23.844 tỷ đồng. Trong đó: dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 361.201 tỷ đồng (chiếm 99% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.106 tỷ đồng (chiếm 1% tổng dư nợ tổng dư nợ); dư nợ cho vay ngắn hạn là 260.637 tỷ đồng; dư nợ cho vay trung dài hạn là 102.670 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 30/11/2025, dư nợ cho vay đạt 368.000 tỷ đồng, tăng 8,4% so với đầu năm, tương ứng tăng 28.537 tỷ đồng. Tình hình thực hiện lãi suất: Lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,23% - 0,47%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 3,19% - 4,43%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 4,72% - 5,56%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 5,6% - 6,05%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,5% - 8,7%/năm, trung dài hạn 8,3% - 9,73%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,87% - 4,06%/năm. Dư nợ cho vay: Đến 31/10/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch, dịch vụ, thương mại đạt 186.817 tỷ đồng, chiếm 51,42% tổng dư nợ; ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.008 tỷ đồng, chiếm 8,81% tổng dư nợ; ngành nông, lâm nghiệp đạt 144.479 tỷ đồng, chiếm 39,77% tổng dư nợ. Nợ xấu đạt 7.300 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 2% trong tổng dư nợ trên địa bàn. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1 Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng tổ chức tuyên truyền Đại hội đại biểu Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030; tổ chức các hoạt động truyền thông hưởng ứng Ngày Thế giới xóa bỏ bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái (25/11); Tháng hành động vì bình đẳng giới và phòng, ngừa, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2025; tuyên truyền các ngày lễ, các hoạt động chính trị của địa phương và đất nước. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức Liên hoan các câu lạc bộ Cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, năm 2025; chương trình biểu diện phục vụ khai mạc Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, năm 2025; chương trình “Giao lưu kết nối và hợp tác phát triển du lịch giữa Lâm Đồng và đối tác Malaysia năm 2025”; biểu diễn chương trình âm nhạc đường phố phục vụ nhân dân và du khách; biểu diễn các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né, Bình Thuận cũ). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng đã đón 12.459 lượt khách (Nhà trưng bày trung tâm Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng đón 3.380 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt đón 727 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên đón 212 lượt; Cơ sở 1 (Đông Lâm Đồng) đón 7.951 lượt; Cơ sở 2 (Tây Lâm Đồng) đón 189 lượt khách tham quan. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận tỉnh Lâm Đồng: Tổ chức phục vụ 119 đoàn với 6.019 lượt người, trong đó có 79 khách nước ngoài. Phục vụ 15 lễ viếng, 01 kết nạp Đảng, 01 lễ trao huy hiệu Đảng, 02 buổi sinh hoạt chuyên đề. Trưng bày triển lãm ảnh chuyên đề “Những tấm gương bình dị mà cao quý” tại Khu di tích Dục Thanh nhân kỷ niệm 20 năm Ngày Di sản văn hóa Việt Nam (23/11/2005 - 23/11/2025), gắn với kỷ niệm 56 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1969 - 2025). + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 950 lượt khách (10 đoàn) đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Sưu tầm 01 hiện vật phục vụ trưng bày bổ sung tại Nhà tưởng niệm - Trưng bày Khu di tích. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 104 thẻ bạn đọc (28 thẻ thiếu nhi); phục vụ 258.092 lượt bạn đọc; luân chuyển 25.736 lượt tài liệu; bổ sung 260 bản sách từ nguồn biếu, tặng; xử lý kỹ thuật 2.456 bản sách; số hóa 7.888 trang/28 tài liệu; cập nhật 74 tin bài lên trang website; trưng bày 110 tài liệu. Trưng bày, giới thiệu sách chào mừng kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam, Ngày truyền thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (18/11/1930-18/11/2025) và kỷ niệm 43 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982- 20/11/2025). 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Trong tháng tổ chức Hội thi thể thao các dân tộc thiểu số tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2025; Giải Taekwondo vô địch tỉnh Lâm Đồng; Giải Futsal vô địch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Đua xe đạp vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025 - Cúp NovaWorld Phan Thiết; Cuộc thi Fitness Supermodel Vietnam 2025 - Siêu mẫu Thể hình Việt Nam 2025 mùa thứ 8; Giải Bóng chuyền Giải Bóng chuyền 6x6 nam Vô địch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Võ thuật Cổ truyền Vô địch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Giải Cờ vua học sinh tỉnh Lâm Đồng năm 2025. - Thể thao thành tích cao: Đăng cai tổ chức giải quần vợt đồng đội nữ quốc tế Billie Jean King Cup nhóm III khu vực Châu Á-Châu Đại dương tại Việt Nam năm 2025 tại NovaWorld Phan Thiết. Cử đoàn vận động viên tham gia 08 giải thể thao quốc gia, 02 giải thể thao quốc tế; kết quả đạt 48 huy chương (09 HCV, 11 HCB, 28 HCĐ), trong đó có 02 huy chương quốc tế (01 HCB, 01 HCĐ). Tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm ngày 14/11/2025: Đạt 744 huy chương (189 HCV, 203 HCB, 352 HCĐ); trong đó đạt 44 huy chương quốc tế (14 HCV, 18 HCB, 12 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Hoạt động giáo dục ổn định và đi vào nề nếp. Trong tháng tập trung rà soát, củng cố điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị và đội ngũ nhà giáo để phục vụ công tác dạy, học; đồng thời đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý và giảng dạy, tăng cường huy động xã hội hóa giáo dục, phát triển trường ngoài công lập nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.605 trường học (cơ sở giáo dục) với 808.873 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 527 trường với 117.925 trẻ; cấp tiểu học có 565 trường với 322.382 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 243.173 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 120.809 học sinh. Trong năm học 2025-2026, nhu cầu giáo viên cho các cấp học là 42.892 giáo viên; tuy nhiên, số giáo viên hiện có 37.459 giáo viên, còn thiếu 5.433 giáo viên, trong đó: Cấp Tiểu học thiếu 1.463 giáo viên, THCS thiếu 1.453 giáo viên, THPT thiếu 495 giáo viên, chủ yếu ở các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Ngoại ngữ. Ngành chức năng đã đề xuất UBND tỉnh bổ sung biên chế, đồng thời tổ chức bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, ứng dụng công nghệ và kỹ năng quản lý cho đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế - Phòng chống sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm khác: Trong tháng phát hiện 1.282 ca mắc sốt xuất huyết mới, tăng 27 ca so với tháng trước; có 01 ca tử vong. Lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 6.625 ca mắc, 03 ca tử vong. Trong tháng có 153 ổ dịch được phát hiện xử lý, lũy kế 11 tháng năm đã xử lý 1.052 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng có 01 ca mắc; lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 07 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 379 ca mắc, giảm 69 ca so với tháng trước; lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 2.493 ca mắc. Trong tháng phát hiện 03 ổ dịch mới (Cát Tiên 3: 01, Bảo Lâm 5: 01, Đắk Mil: 01), lũy kế 11 tháng năm 2025 đã phát hiện 17 ổ dịch bệnh tay chân miệng. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 10 ca mắc, tăng 01 ca so với tháng trước, giảm 303 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 3.967 ca mắc, không có tử vong. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, tiêm chủng đầy đủ cho 5.533 trẻ dưới 1 tuổi, lũy kế 11 tháng năm 2025 đã tiêm cho 41.001 trẻ. Tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.765 trẻ, lũy kế 11 tháng đã tiêm cho 34.527 trẻ. Tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.740 trẻ, lũy kế 11 tháng đã tiêm cho 40.122 trẻ. Tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.940 trẻ, lũy kế 11 tháng đã tiêm cho 41.093 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 2 cho 3.823 trẻ, lũy kế 40.245 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 2.618 trẻ, lũy kế 11 tháng năm 2025 đã tiêm cho 35.972 trẻ. - Công tác phòng chống Phong: Trong tháng không phát hiện bệnh phong mới, duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chuẩn của Bộ Y tế. Toàn tỉnh hiện quản lý 464 bệnh nhân phong, đang giám sát 20 bệnh nhân, chăm sóc tàn tật 452 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Trong tháng, khám phát hiện 12 bệnh nhân lao mới, trong đó có 04 bệnh nhân lao phổi AFB (+). - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 11 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 03 bệnh nhân chuyển AIDS, có 03 bệnh nhân tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.717 bệnh nhân mắc HIV, chuyển AIDS 1.770 bệnh nhân và có 879 bệnh nhân tử vong do AIDS. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 861.285 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 49.771 người, số ngày điều trị nội trú là 286.007 ngày, xét nghiệm cho 815.388 tiêu bản, chẩn đoán 147.226 hình ảnh, phẫu thuật 5.280 trường hợp. Lũy kế 11 tháng năm 2025 đã tổ chức khám bệnh cho 5.228.747 lượt người; 430.823 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 2.510.682 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,74 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 101%; đã xét nghiệm cho 7.881.612 tiêu bản; chẩn đoán 1.480.401 hình ảnh và phẫu thuật cho 53.498 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 78 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 770 cơ sở, kết quả có 20 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 166,6 triệu đồng. Lũy kế 11 tháng năm 2025, tỉnh đã thành lập 764 đoàn kiểm tra tại 15.875 cơ sở, kết quả có 138 cơ sở vi phạm bị xử phạt với tổng số tiền 892,2 triệu đồng. Trong tháng không xảy ra ngộ độc thực phẩm. Lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 04 vụ ngộ độc thực phẩm làm 109 người mắc, có 01 trường hợp tử vong do ăn cá nóc. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương như: Liên hoan các câu lạc bộ Cồng chiêng tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, năm 2025; Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 và tuyên truyền đưa Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 vào cuộc sống. Trong tháng tiếp tục đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số; thường xuyên rà soát thông tin trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng (từ ngày 15/10-15/11, qua rà soát trên hệ thống phần mềm giám sát thông tin mạng xã hội có 30.354 tin, bài viết có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; tin, bài tích cực tỷ lệ 75,2%; tin, bài tiêu cực tỷ lệ 24,8%); qua đánh giá, không có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Triển khai tốt công tác tuyên truyền về các ngày lễ, ngày kỷ niệm, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và địa phương. Tuyên truyền đối ngoại, quảng bá, giới thiệu về hình ảnh, chính sách, môi trường đầu tư, truyền thống lịch sử, văn hóa, tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế, những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội. Thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại trên địa bàn tỉnh đã phản ánh toàn diện các hoạt động đối nội, đối ngoại; các vấn đề, sự kiện trong tỉnh, trong nước và trên thế giới. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 06 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh, 01 giấy xác nhận đăng ký hoạt động in. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định. Hệ thống trường học trong vùng đồng bào DTTS cơ bản đảm bảo về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các lớp học duy trì sĩ số học sinh; công tác y tế tiếp tục được triển khai có hiệu quả, hoạt động khám chữa bệnh, chương trình tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện tốt, không có dịch bệnh nguy hiểm phát sinh. Trong tháng, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi; việc giải ngân vốn cho các dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS được quan tâm; các chính sách hỗ trợ cho học sinh, sinh viên, hỗ trợ lãi suất vay vốn cho đồng bào DTTS tại chỗ và chính sách khoán bảo vệ rừng tiếp tục được triển khai hiệu quả. Đến nay, đã thực hiện đầu tư ứng trước bắp lai, lúa nước cho 703 hộ/1.278,5 ha với giá trị đầu tư trên 9,1 tỷ đồng; trong đó: bắp lai 547 hộ/1.162,4 ha/8,4 tỷ đồng và lúa nước 156 lượt hộ/116,1 ha/619 triệu đồng. Chủ động tìm kiếm thị trường và ký hợp đồng thu mua, tiêu thụ bắp lai thương phẩm với các doanh nghiệp thu mua nông sản trong và ngoài tỉnh; lũy kế đến nay đã tổ chức thu mua trên 2.500 tấn bắp lai thương phẩm trị giá trên 10 tỷ đồng. Tổ chức thu mua mủ cao su, chi trả tiền mua mủ hàng ngày kết hợp thu hồi nợ đầu tư; lũy kế đến nay đã thu mua được trên 12,5 tấn mủ cao su trị giá trên 190 triệu đồng. Trong tháng, tình hình mưa lũ diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống người dân vùng đồng bào DTTS. Mưa lũ đã làm 198,4 ha bắp lai thuộc chương trình hỗ trợ thực hiện chính sách đầu tư phát triển sản xuất của 158 hộ bị hư hỏng hoàn toàn, ước thiệt hại khoảng 2,5 tỷ đồng. Ngoài ra, mưa lũ đã làm thiệt hại lớn đối với ngành nông nghiệp và tài sản khác, vì vậy cuộc sống của một bộ phận đồng bào DTTS trên địa bàn tinh đang gặp nhiều khó khăn sau thiên tai. 5.2. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 358 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công, trong đó: Tiếp nhận 23 hồ sơ chuyển đến, 10 hồ sơ chuyển đi; lập thủ tục chuyển Hội đồng Giám định y khoa 10 hồ sơ; trả lời 20 đơn thư; ban hành 39 Quyết định hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ; 189 Quyết định trợ cấp mai táng phí đối với thân nhân của người có công với cách mạng từ trần; đề nghị cấp lại bằng Tổ quốc ghi công cho 16 liệt sĩ; 03 Quyết định giải quyết trợ cấp ưu đãi giáo dục; giải quyết 04 hồ sơ đính chính thông tin người có công… Công tác chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt đối với người có công với cách mạng và thân nhân được thực hiện đầy đủ, đã chi trả qua tài khoản 12.685/19.508 đối tượng với tổng số tiền 42,5 tỷ đồng/tháng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 30/10/2025, toàn tỉnh có 284.112 người người tham gia BHXH, tăng 1,33% so với tháng trước và 1,90% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 240.680 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 0,59% so với cùng kỳ năm trước; 43.432 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 9,77% so với cùng kỳ năm trước); có 219.030 người tham gia BHTN, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.893.040 người, tăng 1,45% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 86,20% dân số. Trong tháng, đã giải quyết mới 10.191 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 2.157 người; lũy kế đến 30/10/2025, đã giải quyết mới 100.729 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 19.459 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 3.990 người; trợ cấp 1 lần cho 26.686 người; chế độ ốm đau cho 54.458 người; chế độ thai sản cho 11.998 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 3.597 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 17.777 người; hỗ trợ học nghề cho 1.682 người). Tiếp nhận, giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177 và 178 là 161 người (lũy kế: 2.061 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/10-13/11/2025) Trong tháng xảy ra 57 vụ tai nạn giao thông, giảm 18 vụ so với tháng trước và giảm 38 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 23 người, giảm 16 người so với tháng trước và giảm 19 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 43 người, giảm 6 người so với tháng trước và giảm 20 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 799 vụ tai nạn giao thông, giảm 317 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 391 người, giảm 27 người; số người bị thương là 618 người, giảm 315 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (Từ ngày 28/10-23/11/2025) trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 đợt mưa lớn kèm dông lốc, gây ngập lụt, sạt lở. Thiên tai đã làm 05 người chết và 01 người bị thương; 3.819 căn nhà bị ngập, hư hỏng; khoảng 7.608 ha cây trồng các loại bị thiệt hại, ảnh hưởng; 10.186 con gia súc, gia cầm bị chết cuốn trôi; 254 điểm sạt lở; các địa phương tổ chức di dời 1.424 hộ ra khỏi khu vực nguy hiểm; ngoài ra, mưa lớn kéo dài đã gây lũ lụt và sạt lở nhiều tuyến đường (toàn bộ taluy âm đoạn Km 226+600-Km 226+800 trên đèo Mimosa sụt lún nghiêm trọng, toàn bộ mặt đường bị đứt gãy, chiều rộng khoảng 50m, sâu khoảng 30m, chiều dài vệt trượt khoảng 100m; tại Km 224+600 đến Km 224+700 trên đèo Prenn xảy ra sạt lở làm gần ½ nền đường bị sụt lún, sạt lở, rơi xuống phía ta-luy âm) khiến hai tuyến giao thông huyết mạch vào trung tâm Đà Lạt bị chia cắt; ước tổng giá trị thiệt hại trong tháng 11 khoảng 1.152 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 36 đợt thiên tai; làm chết 15 người; bị thương 19 người; hư hỏng 10.161 căn nhà; thiệt hại 20.202 ha cây trồng; chìm 29 tàu cá; hư hỏng nhiều tài sản và công trình dân sinh khác; ước tổng giá trị thiệt hại trên 1.347 tỷ đồng. Đến nay, tỉnh đã tiếp nhận 600 tỷ đồng kinh phí hỗ trợ; trong đó: 500 tỷ đồng do Thủ tướng Chính phủ hỗ trợ (theo Quyết định số 2549/QĐ-TTg ngày 21/11/2025 và Quyết định số 2572/QĐ-TTg ngày 23/11/2025), 20 tỷ đồng của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 50 tỷ đồng của tỉnh Quảng Ninh, 30 tỷ đồng từ các nguồn hỗ trợ khác; hỗ trợ 1.000 tấn gạo để kịp thời ổn định đời sống người dân tại Quyết định số 3929/QĐ-BCT ngày 23/11/2025 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. - Cháy, nổ: Trong tháng xảy ra 06 vụ cháy, nổ; không có thiệt hại về người. Lũy kế 11 tháng năm 2025 xảy ra 50 vụ cháy, nổ (giảm 6 vụ so cùng kỳ năm trước); làm 01 người chết và bị thương 02 người. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ vi phạm môi trường, không tăng/giảm so với tháng trước và giảm 2 vụ so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 11 tháng năm 2025 xảy ra 20 vụ, giảm 35 vụ so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 3,663 tỷ đồng. * Đánh giá chung Nhìn chung, tình hình kinh tế - xã hội 11 tháng năm 2025 của tỉnh tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định: Sản xuất nông nghiệp duy trì ổn định, sản lượng các sản phẩm chủ lực tăng so với cùng kỳ; giá cà phê trong vụ thu hoạch giữ mức cao, hỗ trợ tăng thu nhập cho nông hộ. Dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát, chăn nuôi gia cầm quy mô lớn tiếp tục mở rộng, đóng góp tích cực vào giá trị ngành. Công tác quản lý vật tư nông nghiệp và an toàn thực phẩm được thực hiện thường xuyên. Tỉnh triển khai hiệu quả các giải pháp chống khai thác IUU và không xảy ra vi phạm vùng biển nước ngoài. Số vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp giảm mạnh so với năm trước, phản ánh chuyển biến tích cực trong quản lý, bảo vệ rừng. Ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, cấp mã số vùng trồng và phát triển OCOP tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao giá trị sản xuất toàn ngành. Công nghiệp - đầu tư phát triển tiếp tục ổn định, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 4,27%, nhiều doanh nghiệp mở rộng sản xuất dù còn gặp khó khăn về chi phí đầu vào và thị trường tiêu thụ. Khu vực doanh nghiệp tiếp tục phát triển với 3.761 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 74,93%. Hoạt động thương mại - dịch vụ sôi động, tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng 16,11%. Du lịch phục hồi mạnh với 18,8 triệu lượt khách, tăng 19,66%; khách quốc tế tăng 32,38%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 24,46% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa và hành khách đều tăng; thị trường giá cả nhìn chung ổn định, nguồn cung hàng hóa dồi dào, công tác quản lý thị trường được tăng cường góp phần giữ vững ổn định kinh tế cuối năm. Hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi động với nhiều sự kiện quy mô quốc gia và quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh địa phương và nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Công tác an sinh xã hội, chính sách đối với người có công và đồng bào dân tộc thiểu số được triển khai đầy đủ, kịp thời; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 86,2% dân số. Ngành Giáo dục duy trì ổn định quy mô trường lớp; công tác y tế dự phòng và tiêm chủng mở rộng được thực hiện nề nếp. Đặc biệt, tình hình trật tự an toàn giao thông có chuyển biến tích cực, tai nạn giao thông giảm sâu cả 3 tiêu chí (số vụ, số người chết và bị thương) so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, nền kinh tế của tỉnh vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Thiên tai, bão lũ diễn biến phức tạp, khó lường đã gây thiệt hại nặng nề về người, tài sản và cơ sở hạ tầng (ước tính giá trị thiệt hại lũy kế trên 1.347 tỷ đồng), ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp và đời sống dân sinh. Hoạt động của doanh nghiệp còn gặp nhiều áp lực, số lượng doanh nghiệp giải thể tăng cao (tăng 77,16%). Một số ngành công nghiệp như sản xuất đồ uống, điện thương phẩm sụt giảm do chi phí đầu vào tăng và nhu cầu thị trường biến động, điện sản xuất tăng thấp. Tình hình dịch bệnh sốt xuất huyết còn diễn biến phức tạp, số ca mắc tích lũy ở mức cao. Ngoài ra, tình trạng thiếu hụt giáo viên cục bộ ở các cấp học vẫn chưa được giải quyết triệt để, gây áp lực cho công tác giáo dục đào tạo.TKT Lâm Đồng
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2025 tỉnh Lâm Đồng
- 04/11/2025 07:00
I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 10 và 10 tháng năm 2025 tiếp tục duy trì và phát triển ổn định. Diện tích các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tiếp tục tăng so với cùng kỳ. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia cầm và đàn lợn đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, nhất là bệnh Dịch tả lợn Châu Phi được kiểm soát hiệu quả, giúp người dân yên tâm đầu tư. Sản lượng khai thác thủy sản biển ổn định. Công tác phát triển kinh tế hợp tác, hợp tác xã và Chương trình OCOP được chú trọng; nhiều doanh nghiệp, chủ thể sản xuất được hỗ trợ quảng bá, giới thiệu sản phẩm nông sản chủ lực, sản phẩm OCCOP tại các hội nghị, triển lãm trong cả nước, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu nông nghiệp của tỉnh. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tiến độ Vụ mùa: Tính đến thời điểm báo cáo diện tích gieo trồng Vụ mùa ước đạt 163.550,2 ha, tăng 1,67% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó: + Cây lương thực có hạt: Diện tích gieo trồng ước đạt 83.452,9 ha, tăng 1,01% so với cùng kỳ năm trước (diện tích cây lúa ước đạt 63.530,2 ha, tăng 1,66%; diện tích cây bắp ước đạt 19.912,7 ha, giảm 0,99%); + Cây có hạt chứa dầu: Diện tích gieo trồng ước đạt 4.376,8 ha, tăng 1,26% so với cùng kỳ năm trước (diện tích cây đậu phộng ước đạt 3.594,6 ha, tăng 1,44%); + Rau, đậu, hoa: Diện tích gieo trồng ước đạt 38.952,5 ha, tăng 1,98% so với cùng kỳ năm trước (rau các loại ước đạt 30.617,4 ha, tăng 3,34%; Đậu các loại đạt 4.357,6 ha, giảm 8,6%; Hoa các loại ước đạt 3.977,5 ha, tăng 4,64%). 1.2. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh duy trì và phát triển ổn định, trong đó các cây trồng chủ lực tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng trong cơ cấu nông nghiệp của tỉnh. Việc chuyển đổi cây trồng theo hướng nâng cao giá trị và chất lượng sản phẩm, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và thị trường đang được triển khai hợp lý, góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả. Hiện người dân đang tích cực chăm sóc cho cây cà phê, cây ăn quả và các cây trồng lâu năm khác, cụ thể một số cây chính sau: - Cây cà phê: Giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân mở rộng thêm diện tích trồng mới; diện tích ước đạt 328.650 ha, tăng 1,03% so với cùng kỳ năm trước; hiện cây cà phê đang trong giai đoạn nuôi trái, người dân đang tập trung chăm sóc; - Cây cao su: Diện tích ước đạt 74.439 ha, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong thời gian tới, diện tích trồng mới cao su có khả năng tiếp tục tăng nhưng với tốc độ chậm, do nông dân vẫn còn thận trọng trước những biến động về giá cả và chi phí đầu tư. Dù vậy, cùng với xu hướng phục hồi của thị trường thế giới, cao su vẫn được xem là loại cây có tiềm năng phát triển ổn định, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu cây công nghiệp lâu năm của tỉnh; - Cây chè: Người dân đã chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, bơ, chanh dây,... Diện tích chè hiện có ước đạt 9.411 ha, giảm 4,14% so với cùng kỳ năm trước; - Cây dâu tằm: Diện tích ước đạt 10.615 ha, tăng 0,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong thời gian gần đây, việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định nên người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích; - Cây thanh long: Diện tích ước đạt 26.489,1 ha, tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân tăng chủ yếu nhờ mở rộng diện tích trồng mới và duy trì tốt diện tích hiện có tại các vùng sản xuất ổn định; - Cây sầu riêng: Diện tích ước đạt 43.859,8 ha, tăng 3,34% so với cùng kỳ năm trước. Dự báo trong thời gian tới, diện tích sầu riêng tiếp tục có xu hướng tăng do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh. 1.3. Tình hình dịch bệnh Trong tháng 10/2025, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: - Cây lúa: Ốc bươu vàng gây hại 724 ha (tăng 653 ha so với tháng trước); bệnh đạo ôn lá gây hại 472 ha (giảm 492,8 ha so với tháng trước); chuột gây hại 250 ha (tăng 130 ha so với tháng trước) tại các xã Đạ Tẻh, Langbiang, Đức Trọng, Tân Hội, Ninh Gia, Tà Hine, Tà Năng, Tà Đùng, Quảng Sơn, phường Đông Gia Nghĩa, Bắc Gia Nghĩa, Hàm Thuận Bắc Hàm Thuận, Hồng Sơn, Bắc Bình, Hải Ninh, Hồng Thái, Liên Hương, Tuy Phong; - Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.468,3 ha (tăng 25,3 ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Quảng Sơn, phường Bắc Gia Nghĩa, Nam Gia Nghĩa; - Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 2.111,5 ha (giảm 751,2 ha so với tháng trước) tại các xã Bảo Lâm 1, 2, 3, 4, 5 và rải rác ở các vùng trồng cà phê khác; bọ xít muỗi gây hại 1.685 ha cà phê chè (giảm 288,6 ha so với tháng trước) tại xã Lạc Dương, phường Xuân Trường - Đà Lạt; bệnh chết khô ngọn gây hại 30 ha tại Bảo Lâm 1; - Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.032 ha (ít biến động so với tháng trước); bệnh thán thư gây hại 2.836 ha (tăng 14 ha so với tháng trước) tại các xã Cát Tiên, Đạ Tẻh, Đạ Tẻh 3, Đạ Huoai, Đạ Huoai 2, Đam Rông 1,2,3,4, Tánh Linh, Suối Kiết; - Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 310 ha (tăng 4 ha so với tháng trước) tại xã Đạ Tẻh 3; - Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 4.050 ha (tăng 938 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 1.179 ha (tăng 357 ha so với tháng trước) tại các xã Hàm Thạnh, Hàm Kiệm, Hàm Thuận Nam, Bắc Bình, Phan Rí Cửa, Tân Lập, Tuyên Quang, Tân Hải và phường Bình Thuận, Tiến Thành. Những vùng bị dịch bệnh trên cây trồng được cơ quan chức năng kịp thời thực hiện các biện pháp kiểm soát, không để thành dịch gây thiệt hại lớn cho sản xuất. 2. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì và phát triển về tổng đàn vật nuôi; giá thức ăn, con giống gia súc vẫn ở mức cao, giá bán các sản phẩm trâu, bò giảm, dịch bệnh tiêu chảy trên đàn bò sữa nên tổng đàn trâu, bò có khuynh hướng giảm; chăn nuôi heo tại các trang trại được kiểm dịch tốt nên vẫn tiếp tục phát triển về quy mô đàn; do ảnh hưởng của dịch tả lợn châu Phi, hộ chăn nuôi nhỏ lẻ có xu hướng chuyển sang nuôi gia cầm nên quy mô đàn gia cầm tăng mạnh so với cùng kỳ. So với cùng kỳ năm trước, toàn tỉnh có 26,6 nghìn con trâu, giảm 0,33%; có 312 nghìn con bò, tăng 0,12% (trong đó đàn bò sữa 29,5 nghìn con, giảm 0,34% do dịch tiêu chảy đã làm nhiều con chết và giá thu mua sữa giảm, nhiều hộ dân đang thanh lý đàn bò sữa); có 1.398,9 nghìn con lợn, tăng 5,1% (lợn không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.356,4 nghìn con, tăng 4,78%); có 22.111,5 nghìn con gia cầm, tăng 10,01%, trong đó gà các loại 15.561,6 nghìn con, chiếm 70,38% trong tổng đàn gia cầm, tăng 11,89% (đàn gà tăng mạnh do Công ty cổ phần MeBi Farm, quy mô hiện có trên 202 nghìn con gà đẻ trứng đã góp phần đáng kể vào việc nâng tổng đàn và sản lượng trứng tăng). Sản lượng thịt hơi các loại ước 10 tháng năm 2025 đạt 286.903 tấn, tăng 7,52% so với cùng kỳ năm trước. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Trong tháng, bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP) phát sinh tại 10 hộ tại 10 thôn của 08 xã với tổng số lợn mắc bệnh bị tiêu hủy 358 con/22.063 kg. Lũy kế, tổng số lợn mắc bệnh DTLCP chết và bị tiêu hủy 1.555 con/77.735 kg. Đến nay, có 16/23 xã đã qua 21 ngày không phát sinh lợn mắc bệnh, 07/23 xã dịch bệnh chưa qua 21 ngày. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...): không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Tổ chức kiểm tra tình hình dịch bệnh DTLCP tại các địa phương có dịch nêu trên, đồng thời phân bổ kịp thời cho các địa phương 3.245 liều vắc xin phòng, chống dịch bệnh trên vật nuôi và 90 lít hóa chất khử trùng, tiêu độc. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, đã trồng rừng tập trung (trồng mới) ước đạt 137 ha, giảm 10,92% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, diện tích rừng trồng mới ước đạt 4.635 ha, tăng 5,01% so với cùng kỳ năm trước; trồng cây xanh ước đạt 6.383.000 cây, đạt 36,6% kế hoạch năm. - Sản lượng gỗ khai thác tháng Mười ước đạt 31.607,3 m3, giảm 0,88% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 314.300,3 m3, tăng 2,13% so với cùng kỳ năm trước. - Trong tháng, phát sinh 23 vụ vi phạm lâm luật. Lũy kế 10 tháng năm 2025, tổng số vụ vi phạm là 352 vụ (139 vụ đã xác định được đối tượng vi phạm, chiếm 39,5%), trong đó phá rừng 136 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 25,03 ha. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm giảm 282 vụ (phá rừng giảm 102 vụ), diện tích rừng bị thiệt hại giảm 20,52 ha. 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 3.375,4 tấn, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 492 tấn, tăng 4,24%). Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 22.474,4 tấn, tăng 2,63% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 4.086,4 tấn, tăng 3,2%). - Khai thác thủy sản: Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 23.034 tấn, tăng 3,47% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 22.846 tấn, tăng 2,9%). Lũy kế 10 tháng năm 2025, sản lượng khai thác đạt 211.605,8 tấn, tăng 4,56% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 210.371,4 tấn, tăng 4,58%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong 10 tháng đầu năm 2025 hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên. Công tác quản lý chất lượng giống thủy sản, nhất là giống tôm bố mẹ luôn được tăng cường. Tình hình sản xuất, kinh doanh tôm giống trên địa bàn tỉnh từ đầu năm đến nay ổn định; sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,2 tỷ post, tăng 4,74% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 20,4 tỷ post, tăng 7,77% so với cùng kỳ năm trước. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Trong tháng, sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục giữ được đà tăng trưởng khá, làm cho toàn ngành công nghiệp 10 tháng năm 2025 tăng 3,91% so với cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp chế biến chế tạo; ngành công nghiệp khai khoáng tăng trưởng cao đã đóng góp lớn vào tăng trưởng chung của khu vực công nghiệp; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải duy trì mức tăng trưởng ổn định. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 11,51% so với tháng trước và tăng 14,09% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20,55% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 10,78%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 16,06%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,39%. Tính chung 10 tháng năm 2025, ước chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 3,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 11,58%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 8,34%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 1,23%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,11%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: sản lượng sản xuất trong tháng ước đạt 362.146 m3, giảm 2,22% so với tháng trước và tăng 16,43% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng sản xuất ước đạt 3.322.523 m3, tăng 12,11% so với cùng kỳ. Nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng (đá, cát, đất san lấp) phục vụ nhu cầu xây dựng trong thời gian tới (đặc biệt là các công trình trọng điểm sản lượng khai thác đá xây dựng có xu hướng tăng cao trong những tháng cuối năm). - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: trong tháng sản lượng ước đạt 2.689 tấn, tăng 1,82% so với tháng trước và tăng 10,74% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 30.785 tấn, tăng 16,74% so với cùng kỳ. Trong 10 tháng năm 2025 một số công ty tiếp tục đẩy mạnh sản xuất đáp ứng nhu cầu hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng và đáp ứng các đơn hàng tăng mới xuất khẩu qua Malaisya, Indonexia. - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: sản lượng các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản trong tháng ước đạt 1.802 tấn, tăng 1,20% so với tháng trước và tăng 5,5% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 17.283 tấn, tăng 4,35% so với cùng kỳ. - Sản phẩm đồ uống: ước trong tháng sản lượng đạt 30.456 nghìn lít, tăng 1,46% so với tháng trước và tăng 1,61% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 272.197 nghìn lít, giảm 7,91% so với cùng kỳ. Nguyên nhân chủ yếu do sự sụt giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm bia cùng với chi phí nguyên vật liệu tăng cao (Malt, gạo, đường), và sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường. - Sản phẩm giày, dép: ước trong tháng sản lượng đạt 771 nghìn đôi, tăng 42,56% so với tháng trước và tăng 74,93 so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 5.267 nghìn đôi, tăng gấp 1,95 lần so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng và năng lực tăng thêm ở Công ty TNHH Giày Nam Hà Việt Nam. - Sản phẩm phân bón: ước trong tháng sản lượng sản xuất đạt 13.259 tấn tăng 0,36% so với tháng trước và tăng 23,67% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 111.543 tấn, tăng 17,70% so với cùng kỳ. Trong năm 2025, trên địa bàn Nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông đi vào sản xuất. - Sản phẩm Ôxit nhôm: trong tháng ước đạt 127,12 nghìn tấn, tăng 2,83% so với tháng trước và tăng 11% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 1.239,67 nghìn tấn, tăng 3% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: ước trong tháng sản lượng đạt 3.092 triệu kwh, tăng 21,81% so với tháng trước và tăng 17,44% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 28.072 triệu kwh, tăng 0,73% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: trong tháng ước sản lượng đạt 463 triệu kwh, tăng 5,6% so với tháng trước và tăng 1,89% so với cùng kỳ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 sản lượng đạt 4.588 triệu kwh, giảm 0,43% so với cùng kỳ. Các chương trình khuyến khích và ý thức tiết kiệm điện của người dân và doanh nghiệp được nâng cao cũng có thể góp phần làm chậm tốc độ tăng trưởng tiêu thụ điện; ngoài ra nhiều hộ dân, cơ sở kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng một phần điện năng lượng mặt trời tự sản xuất, tự tiêu dùng. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 2,55% so với tháng trước và tăng 5,31% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 15,49%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,06%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,12%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 3,1%. Tính chung 10 tháng năm 2025, chỉ số sử dụng lao động tăng 3,52%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 19,67%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 5,32%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2,26%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,73%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động trong tháng của khối doanh nghiệp nhà nước tăng 0,64% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 8,06%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 2,23%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng so với cùng kỳ năm 2024 và xu hướng cao hơn bình quân 10 tháng đầu năm 2025 là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho thời gian hoạt động sản xuất cuối năm; dự báo thị trường lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp Hiện nay trong các khu công nghiệp có 166 doanh nghiệp/dự án đang hoạt động, kết quả hoạt động sản xuất - kinh doanh thực hiện trong 9 tháng năm 2025 như sau: doanh thu ước đạt 24.878,9 tỷ đồng; xuất khẩu 523,9 triệu USD; nộp ngân sách nhà nước 929,7 tỷ đồng. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp duy trì ổn định, các sản phẩm chủ yếu gồm: may mặc, da giày, gỗ, giấy, nông lâm hải sản, hạt điều, cơ khí, thực phẩm, vật liệu xây dựng, khoáng sản...; bên cạnh vẫn còn một số doanh nghiệp gặp khó khăn, dừng hoạt động nhưng chưa có kế hoạch khôi phục hoạt động trở lại. Trong 9 tháng năm 2025 tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh thu hút được 13 dự án đầu tư (01 dự án FDI) với diện tích khoảng 27,7 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 958,2 tỷ đồng và 35 triệu USD; lũy kế đến nay toàn tỉnh hiện có 15 khu công nghiệp, 229 dự án (51 dự án FDI và 178 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 43.411,6 tỷ đồng và 466,4 triệu USD và diện tích đất đăng ký 713,25 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 49,99%. Cụ thể: - KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 3.180,4 tỷ đồng và 48,6 triệu USD, diện tích đất đã cho thuê lại 117 ha/132,6 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 88,19%. - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký 2.384,1 tỷ đồng và 77,1 triệu USD, diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký 74,8 triệu USD và 857,9 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 11 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 09 dự án đầu tư có vốn trong nước), với tổng vốn đầu tư đăng ký 11,9 triệu USD và 543,1 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 23 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 22 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 14 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 1.706,9 tỷ đồng và 56,2 triệu USD, diện tích đất cho thuê 60,1 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,16%. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 17 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 772,4 tỷ đồng và 185,6 triệu USD, diện tích đất cho thuê 88 ha/276,9 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 31,77%. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 13.544,9 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 58,4 ha/202,3 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. - KCN Tân Đức thu hút được 01 dự án đầu tư trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 100 tỷ đồng, diện tích đất cho thuê 1,5 ha/210,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 0,71%. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 47 dự án đầu tư (gồm 04 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 43 dự án đầu tư có vốn trong nước) với tổng vốn đăng ký đầu tư 1.948,8 tỷ đồng và 12,3 triệu USD; diện tích thuê lại 130 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,01%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,4 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. 2. Đầu tư phát triển Tính chung 10 tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện ước đạt 10.903,6 tỷ đồng, bằng 68,65% kế hoạch năm là sự nỗ lực lớn; tuy nhiên, 03 tháng cuối năm để vốn đầu tư thực hiện hoàn thành theo đúng kế hoạch vẫn là thách thức. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.536,6 tỷ đồng, tăng 5,81% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng này chủ yếu nhờ địa phương đẩy nhanh tiến độ thi công các công trình trọng điểm, giải ngân vốn đầu tư công đạt kết quả tích cực. Trong đó, vốn cấp tỉnh đạt 1.531,7 tỷ đồng, chiếm 99,68% tổng vốn, tăng 5,94%; vốn cấp xã đạt 4,8 tỷ đồng, chiếm 0,32%, giảm 23,49% do quá trình sắp xếp lại tổ chức bộ máy cấp xã. Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh bao gồm: vốn cân đối ngân sách tỉnh ước 608,8 tỳ đồng, tăng 10,78% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước 459,8 tỷ đồng, giảm 6,89%; vốn nước ngoài (ODA) ước 31,2 tỷ đồng tăng 48,23%; vốn xổ số kiến thiết 427,3 tỷ đồng, tăng 13,1%. Lũy kế 10 tháng năm 2025, tổng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 10.903,6 tỷ đồng, đạt 68,65% kế hoạch năm và tăng 6,1% so với cùng kỳ. Trong đó: Vốn cấp tỉnh ước đạt 10.877,1 tỷ đồng, tăng 6,18%; vốn cấp xã đạt 26,4 tỷ đồng, giảm 18,38%. Trong 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 42 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 14.340,7 tỷ đồng. Lũy kế đến ngày 14/10/2025, trên địa bàn tỉnh có 2.939 dự án đầu tư còn hiệu lực hoạt động với tổng vốn đầu tư khoảng 2.022 nghìn tỷ đồng (trong đó có 235 dự án FDI, tổng vốn đầu tư là 224,3 nghìn tỷ đồng). Tính từ đầu năm đến ngày 14/10/2025, toàn tỉnh có 3.317 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 73,03% so với cùng kỳ; 1.572 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, tăng 12,77%; 658 doanh nghiệp giải thể, tăng 79,29%; 950 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 19,95% so cùng kỳ. Tổng số vốn trong 10 tháng đầu năm 2025 các doanh nghiệp đã đăng ký 17.194 tỷ đồng, tăng 21,29% vốn đăng ký so với cùng kỳ. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Hoạt động thương mại, dịch vụ 10 tháng năm 2025 ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, sinh hoạt của nhân dân, nhất là trong dịp lễ, Tết. Tình hình lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra thuận lợi, các hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cơ sở kinh doanh bán lẻ hoạt động bình thường, cung ứng lượng hàng hóa dồi dào, đa dạng về chủng loại, phục vụ đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân, không có tình trạng găm hàng, sốt giá; không có hiện tượng mất an toàn thực phẩm. Hoạt động du lịch diễn ra khá nhộn nhịp, trên địa bàn tỉnh tổ chức nhiều sự kiện thu hút nhiều du khách đến du lịch và nghỉ dưỡng. Dịch vụ lữ hành hoạt động ổn định; các nhà hàng, cơ sở kinh doanh ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí tăng cường phục vụ cho người dân địa phương và du khách. Hoạt động kinh doanh vận tải đường bộ ổn định đáp ứng nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hóa; vận tải đường thủy diễn ra thông suốt phục vụ cho du khách và người dân đảo Phú Quý. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Hoạt động thương mại dịch vụ trên địa bàn tỉnh duy trì đà tăng trưởng tích cực. Nguồn cung hàng hóa dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất và tiêu dùng, giá cả các mặt hàng thiết yếu được giữ ổn định, không có biến động bất thường. Những yếu tố thuận lợi này đã thúc đẩy tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng so với cùng kỳ. Song song đó, các hoạt động xúc tiến thương mại được đẩy mạnh nhằm đa dạng hóa hình thức khuyến mại và mở rộng thị trường tiêu thụ. Tỉnh đã tổ chức đoàn tham gia Hội chợ mùa Thu 2025 (26/10-04/11) tại Hà Nội và chủ trì chương trình kết nối giao thương giữa Siêu thị Tứ Sơn với các doanh nghiệp Lâm Đồng (20/10). Đồng thời, thông tin về các chương trình xúc tiến thương mại tiềm năng đã được phổ biến rộng rãi tới doanh nghiệp, tiêu biểu như: Hội chợ Công Thương vùng Đồng bằng Sông Hồng-Hải Phòng 2025, Hội chợ sản phẩm OCOP, Hội chợ Thương mại Việt Nam tại Campuchia 2025, và Tuần lễ nông sản Việt Nam tại Sơn Đông (Trung Quốc). Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 24.113,4 tỷ đồng, tăng 3,16% so với tháng trước và tăng 26,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 16.259,7 tỷ đồng, tăng 2,95% so với tháng trước và tăng 25,2% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 5.418,7 tỷ đồng, tăng 3,57% so với tháng trước và tăng 41,68% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.435 tỷ đồng, tăng 3,68% so với tháng trước và tăng 8,28% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 212.386 tỷ đồng, tăng 15,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ ước đạt 142.339,6 tỷ đồng, tăng 15,21% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 46.376,8 tỷ đồng, tăng 17,67% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 23.669,6 tỷ đồng, tăng 9,59% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong tháng 10, tình hình thị trường trên địa bàn tỉnh ổn định, không có nhiều biến động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, đa dạng, phong phú, đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn cũng như khách du lịch đến tham quan. Trên địa bàn không có hiện tượng găm hàng, tăng giá quá mức để thu lợi bất chính. Hoạt động mua bán, giao thương diễn ra sôi động tại các chợ đầu mối, chợ truyền thống, siêu thị, cửa hàng tiện ích, trung tâm thương mại và trên các sàn thương mại điện tử góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa, ổn định thị trường và phát triển tiêu dùng nội địa. Giá cả các mặt hàng thiết yếu được giữ ở mức hợp lý, tương đối ổn định. Riêng đối với mặt hàng xăng dầu nhìn chung các cơ sở kinh doanh đều chấp hành tốt các quy định của pháp luật, không xuất hiện các điểm nóng vi phạm về đo lường, chất lượng, găm hàng chờ tăng giá, giảm lượng xăng dầu bán ra mà không có lý do chính đáng; nguồn cung xăng dầu đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn, không có hiện tượng khan hiếm. Trong tháng 8/2025 không thực hiện kiểm tra. Từ ngày 15/9-14/10/2025, đã tiến hành kiểm tra 85 vụ, phát hiện 84 vụ vi phạm, xử lý 74 vụ, đang xử lý 10 vụ, tổng số tiền xử phạt 271,5 triệu đồng, trị giá hàng hóa áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả gần 29,4 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Giá lương thực, thực phẩm tiếp tục tăng do ảnh hưởng bởi mưa bão; giá nhà ở thuê tăng do nhu cầu thuê nhiều đây là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,66% so với tháng trước, tăng 4,89% so với cùng kỳ năm trước và tăng 4,46% so với tháng 12 năm trước. CPI bình quân 10 tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm trước tăng 3,13%. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 10 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,36%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,01%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,80%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,65%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,66%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,48%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,23%; Giáo dục tăng 0,18%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,17%; Bưu chính viễn thông tăng 0,03%. Có 01 nhóm hàng giảm giá: Giao thông giảm 0,93%. * Nguyên nhân làm tăng, giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng CPI: Giá hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,36% so với tháng trước, do ảnh hưởng thời tiết mưa bão, nguồn cung giảm nên làm cho giá các mặt hàng lương thực, thực phẩm tăng so với tháng trước. Giá nhà ở thuê tăng 1,53% do nhu cầu thuê nhà vào dịp đầu năm học mới tăng và đồng thời do nâng cấp nhà ở thuê nên giá dịch vụ tăng. - Nguyên nhân làm giảm CPI: Giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 02, 09, 16 và 23 tháng 10/2025, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng nhiên liệu giảm 2,38% so với tháng trước. Giá gas trong tháng giảm 1,82% so với tháng trước, do giá gas trong nước điều chỉnh giảm 7.800 đồng/bình 12 kg theo giá gas thế giới. Giá gas thế giới bình quân trong tháng công bố ở mức 485 USD/tấn, giảm 20 USD/tấn so với tháng 9/2025. * Các yếu tố làm tăng, giảm CPI 10 tháng năm 2025 so bình quân cùng kỳ - Các yếu tố làm tăng CPI bình quân 10 tháng năm 2025 + Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng cao nhất 14,26% làm CPI chung tăng 0,88 điểm phần trăm do áp dụng giá dịch vụ y tế tăng theo Thông tư số 21/2024/TT-BYT ngày 17/10/2024 của Bộ Y tế; + Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,26% làm CPI chung tăng 0,79 điểm phần trăm, do giá nhà ở thuê và giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng. Trong đó, chỉ số giá nhóm điện sinh hoạt tăng 8,57% do nhu cầu sử dụng điện tăng đồng thời ngày 11/10/2024 và ngày 09/5/2025 EVN điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân; + Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,87% làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó các mặt hàng trang sức bằng vàng tăng 26,2% do ảnh hưởng giá vàng trong trước tăng theo giá vàng thế giới; giá bảo hiểm y tế tăng 17,05% do tăng theo Nghị định số 24/2023/NĐ-CP, ngày 01/7/2024 mức lương cơ sở được điều chỉnh tăng từ 1.800.000 đồng lên 2.340.000 đồng, theo đó bảo hiểm y tế cho cán bộ công chức và người lao động cũng được tăng theo; + Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,18% tác động làm CPI chung tăng 1,12 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 3,6%, tác động làm CPI chung tăng 0,81 điểm phần trăm, tăng mạnh chủ yếu giá thịt lợn tăng 9,47%. Nguyên nhân do nguồn cung ít, nhu cầu tiêu dùng tăng trong các dịp Lễ, Tết; + Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,71%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,59%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,19%. Nguyên nhân do tăng cao trong dịp Lễ Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán thị trường tiêu dùng; + Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 1,46%, làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Các yếu tố làm giảm CPI bình quân 10 tháng năm 2025 + Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 0,11% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, trong đó giảm chủ yếu mặt hàng gạo giảm 0,90%. Nguyên nhân, do nguồn cung tại địa phương cũng như nguồn cung trong nước dồi dào, tình hình xuất khẩu gạo các thị trường Philippines, Indonesia cũng giảm so cùng kỳ, do đó giá so cùng kỳ năm trước có phần giảm, mức giảm dao động từ 500 đồng/kg – 900 đồng/kg tùy loại; + Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 2,04% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung giảm 0,2 điểm phần trăm, trong đó giá giảm chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu giảm 9,18%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước. 3. Hoạt động du lịch Hoạt động du lịch trong tháng tăng so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng trên địa bàn tỉnh diễn ra một số sự kiện, hoạt động tiêu biểu như: Lễ hội Katê, Bế mạc tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng, Lễ hội khinh khí cầu và nghệ thuật Lâm Đồng, giải quần vợt Vô địch Quốc gia - Cúp Novaworld.... đã thu hút đông đảo người dân và khách du lịch. Hoạt động lữ hành và các dịch vụ hỗ trợ tiếp tục tăng cường phục vụ cho người dân và du khách. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.892,2 nghìn lượt, tăng 1,18% so tháng trước và tăng 40,03% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 76,6 nghìn lượt, tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 14,34% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.313,2 nghìn ngày khách, tăng 1,47% so với tháng trước và tăng 44,44% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 lượt khách ước đạt 17.156,5 nghìn lượt, tăng 19,77% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 681,6 nghìn lượt, tăng 11,06% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 30.827,9 nghìn ngày khách, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 82,1 nghìn lượt khách, tăng 4,72% so với tháng trước và tăng 12,24% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 180,5 nghìn ngày khách, tăng 8,6% so với tháng trước và tăng 10,92% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 lượt khách quốc tế ước đạt 998,3 nghìn lượt khách, tăng 31,31% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 2.624,4 nghìn ngày khách, tăng 25,95% so với cùng kỳ năm trước. Thị trường khách quốc tế đến tỉnh chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Trung Quốc, Liên Bang Nga, Mỹ, Đài Loan, Đức, Anh.... Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 1.051,4 tỷ đồng, tăng 5,05% so với tháng trước và tăng 48,5% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 4.350,2 tỷ đồng, tăng 3,22% so với tháng trước và tăng 40,98% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 17,1 tỷ đồng, tăng 2,82% so với tháng trước và giảm 44,71% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 8.877,5 tỷ đồng, tăng 18,97% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 37.057,6 tỷ đồng, tăng 17,05% so cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành đạt 441,7 tỷ đồng, tăng 51,81% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.131,2 tỷ đồng tăng 4,85% so với tháng trước và tăng 44,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 45.472,6 tỷ đồng, tăng 20,99% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.435 tỷ đồng, tăng 3,68% so với tháng trước và tăng 8,28% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 298,5 tỷ đồng, tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 12,14% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt gần 110 tỷ đồng, tăng 2,44% so với tháng trước và tăng 10,37% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 91,2 tỷ đồng, tăng 3,43% so với tháng trước và tăng 23,91% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 152,8 tỷ đồng, giảm 2,03% so với tháng trước và tăng 32,11% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.262,3 tỷ đồng, tăng 4,62% so với tháng trước và tăng 3,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 520,2 tỷ đồng, tăng 4,6% so với tháng trước và tăng 10,17% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng 2025 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 23.669,6 tỷ đồng, tăng 9,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.640,1 tỷ đồng, tăng 14,33% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 1.063 tỷ đồng, tăng 15,26% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 762,8 tỷ đồng, tăng 34,44% so với cùng kỳ; doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 1.261,3 tỷ đồng, tăng 16,56% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 12.961,6 tỷ đồng, tăng 6,93% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác ước đạt 4.980,8 tỷ đồng, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong tháng hoạt động vận tải kho bãi trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định và có xu hướng tăng so với tháng trước. Bên cạnh đó, do thời tiết thuận lợi và nhiều lễ hội, sự kiện du lịch diễn ra trong tháng, lượng hành khách và hàng hóa vận chuyển tăng, kéo theo doanh thu vận tải và dịch vụ kho bãi đều có cải thiện. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng 10/2025 ước đạt 1.300,5 tỷ đồng tăng 5,92% so với tháng trước và tăng 19,94% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 11.931,1 tỷ đồng, tăng 15,61% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 4.074,5 nghìn hành khách (HK), tăng 4,46% so với tháng trước và tăng 19,31% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 577.943,2 nghìn HK.Km, tăng 5,88% so với tháng trước và tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, lượt khách vận chuyển ước đạt 38.749,7 nghìn HK, tăng 12,38% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 5.630.266 nghìn HK.Km, tăng 13,33% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.042,7 nghìn tấn, tăng 7,1% so với tháng trước và tăng 8,92% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 312.750,3 nghìn tấn.Km, tăng 5,86% so với tháng trước và tăng 14,94% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025, khối lượng vận chuyển ước đạt 18.820,2 nghìn tấn, tăng 5,07% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 2.777.692,8 nghìn tấn.Km, tăng 7,62% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi: Trong tháng ước đạt 1.300,5 tỷ đồng, tăng 5,92% so với tháng trước và tăng 19,94% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 11.931,1 tỷ đồng, tăng 15,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu vận tải hành khách ước đạt 5.108,1 tỷ đồng, tăng 19,82% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 5.029,8 tỷ đồng, tăng 6,05%; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.741 tỷ đồng, tăng 37,31%; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 52,2 tỷ đồng, tăng 13,4%. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân: Trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 1.822 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 1.722,1 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 99,9 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.767 tỷ đồng, tăng 16,09% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 2.655 tỷ đồng, tăng 16,74%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 112 tỷ đồng, tăng 2,55%. Lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 25.801,2 tỷ đồng, bằng 91,33% kế hoạch năm và tăng 16,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 24.547,5 tỷ đồng, bằng 92,25% kế hoạch năm và tăng 18,12% so với cùng kỳ năm trước; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 1.253,7 tỷ đồng, bằng 76,49% kế hoạch năm và giảm 11,53% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa 10 tháng năm 2025: thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 3.287 tỷ đồng (bằng 130,89% kế hoạch năm và tăng 75,52% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 1.168 tỷ đồng (bằng 95,09% kế hoạch năm và tăng 15,29%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 5.254 tỷ đồng (bằng 82,83% kế hoạch năm và giảm 0,75%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 2.494 tỷ đồng (bằng 96,58% kế hoạch năm và tăng 16,24%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 3.851 tỷ đồng (bằng 76,22% kế hoạch năm và tăng 26,02%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 4.113 tỷ đồng (bằng 91,55% kế hoạch năm và tăng 6,57%). 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.764 tỷ đồng, lũy kế 10 tháng năm 2025 ước đạt 35.000 tỷ đồng, bằng 72,94% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 11.327 tỷ đồng, bằng 103,80% kế hoạch năm %; chi thường xuyên 23.570 tỷ đồng, bằng 82,10% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Các ngân hàng và tổ chức tín dụng tiếp tục thực hiện các chính sách tín dụng để phục vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ các chính sách tín dụng cho phát triển doanh nghiệp. Cụ thể như sau: Công tác huy động vốn: đến ngày 30/9/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 221.722 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 25.832 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 13,2%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 219.382 tỷ đồng (chiếm 99% tổng huy động vốn), bằng ngoại tệ đạt 2.340 tỷ đồng, (chiếm 1% tổng huy động vốn). Ước tính đến ngày 31/10/2025, huy động vốn toàn tỉnh đạt 224.000 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 28.110 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 14,3%. Hoạt động tín dụng: đến ngày 30/9/2025, dư nợ cho vay đạt 358.872 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 19.409 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 5,7%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 356.848 tỷ đồng (chiếm 99% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.024 tỷ đồng (chiếm 1% tổng dư nợ tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 257.112 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn là 101.760 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/10/2025, dư nợ cho vay đạt 362.500 tỷ đồng, so với đầu năm tăng 23.037 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 6,8%. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng kỳ hạn dưới 1 tháng hiện phổ biến ở mức 0,3% - 0,65%/năm, kỳ hạn 1 tháng đến dưới 6 tháng 2,46% - 4,66%/năm, kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng 3,27% - 5,24%/năm, kỳ hạn từ 12 tháng trở lên 4,46% - 5,61%/năm. Lãi suất cho vay Việt Nam đồng lãi suất cho vay các đối tượng ưu tiên ngắn hạn 4%/năm; cho vay lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn ở mức 6,42% - 8,59%/năm, trung dài hạn 3,69% - 9,87%/năm. Lãi suất cho vay USD ngắn hạn 3,79% - 4,05%/năm. Dư nợ cho vay: đến 30/9/2025, dư nợ cho vay ngành du lịch - dịch vụ - thương mại đạt 184.344 tỷ đồng, chiếm 51,3% tổng dư nợ, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 31.652 tỷ đồng, chiếm 8,8% tổng dư nợ, ngành nông nghiệp đạt 142.876 tỷ đồng, chiếm 39,9% tổng dư nợ. Nợ xấu đạt 7.763 tỷ đồng, chiếm 2,2% trong tổng dư nợ trên địa bàn. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1 Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện làm mới biểu tượng trang trí, pano tấm lớn, pano dọc, pano phướn, tranh cổ động, standee, băng rôn, thảm hoa tươi,... phục vụ tuyên truyền Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Lâm Đồng lần thứ I (2025 - 2030); Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, nhiệm kỳ 2025-2030 và tuyên truyền chào mừng thành công Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 gắn với Hội nghị xúc tiến đầu tư vào tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Lễ Bế mạc Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng năm 2025;... - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tổ chức biểu diễn chương trình nghệ thuật phục vụ các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đặc biệt là các chương trình phục vụ: Khai mạc Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Lâm Đồng lần thứ I; Hội nghị tổng kết 05 năm thực hiện Dự án 6 “Bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số”; bế mạc “Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng” năm 2025; Đại hội và chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I nhiệm kỳ 2025 - 2030; Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Lâm Đồng năm 2025. Bên cạnh đó đã tổ chức chương trình phục vụ gian hàng trưng bày, giới thiệu sản phẩm OCOP, sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao và món ngon Lâm Đồng năm 2025; biểu diễn chương trình âm nhạc đường phố hưởng ứng chuỗi hoạt động “Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng” năm 2025; duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Phường Mũi Né, Bình Thuận cũ). - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng: Trong tháng đã đón 11.134 lượt khách đến tham quan (Nhà trưng bày chính Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng tiếp đón 1.586 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt tiếp đón 497 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên tiếp đón 281 lượt; Cơ sở 1 (Đông Lâm Đồng) tiếp đón 8.437 lượt; Cơ sở 2 (Tây Lâm Đồng) tiếp đón 333 lượt. Thực hiện nghiên cứu, sưu tầm tư liệu, hình ảnh về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội phục vụ triển lãm tại Đại hội thi đua yêu nước và Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025- 20230; thực hiện biên tập nội dung, thiết kế maket và dàn dựng triển lãm hơn 550 hình ảnh, tư liệu phục vụ Đại hội bộ tỉnh Lâm Đồng. + Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 181 đoàn với 4.675 lượt người, trong đó có 148 khách nước ngoài. Phục vụ 13 lễ viếng, 01 kết nạp Đảng, 01 sinh hoạt chuyên đề. Phối hợp với Báo và Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng thực hiện 02 phóng sự: “Triển lãm giới thiệu Trường Dục Thanh với Nhân dân Điện Biên”, “Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận, tỉnh Lâm Đồng đón hơn 110.000 lượt khách” và 01 ký sự “Sông Cà Ty - Vươn ra biển lớn”; báo Tin tức và Dân tộc - Thông tấn xã Việt Nam thực hiện phóng sự “Trưng bày 60 bức ảnh về Nơi Bác dừng chân - Trường Dục Thanh Phan Thiết”. Tham gia Triển lãm ảnh chuyên đề “Nơi Bác dừng chân Trường Dục Thanh Phan Thiết” và tọa đàm, trao đổi chuyên môn về “Chủ tịch Hồ Chí Minh với chiến dịch Điện Biên Phủ” tại Bảo tàng Chiến thắng Điện Biên Phủ. + Ban Quản lý Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận (cũ): Tiếp đón 1.040 lượt khách (12 đoàn) đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Thường xuyên tổ chức sưu tầm tài liệu, hiện vật, các mẩu chuyện kể của cán bộ, chiến sĩ Cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận cũ trong kháng chiến chống Mỹ phục vụ trưng bày bổ sung tại Nhà tưởng niệm. - Hoạt động Thư viện: Đã cấp 159 thẻ bạn đọc (33 thẻ thiếu nhi); phục vụ 129.394 lượt bạn đọc; luân chuyển 52.203 lượt tài liệu; bổ sung 550 bản sách từ nguồn biếu, tặng; xử lý kỹ thuật 1.459 bản sách; số hóa 10.984 trang/40 tài liệu. Phát hành 01 tập Thông tin tư liệu Lâm Đồng tháng 9/2025 với 100 tin, bài. Trưng bày, xếp sách nghệ thuật hưởng ứng Tuần lễ học tập suốt đời năm 2025 tại phường Đông Gia Nghĩa và Bắc Gia Nghĩa với 1.500 bản sách; trưng bày, giới thiệu 768 bản sách về các chuyên đề; đăng tải 67 tin bài tuyên truyền nhân các ngày kỷ niệm, phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức các Giải thể thao: Cầu lông Vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Bóng đá 11 người Vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Bóng bàn Vô địch các Câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng năm 2025 và Giải Bóng chuyền hơi nữ Vô địch các Câu lạc bộ tỉnh năm 2025. - Thể thao thành tích cao: Đăng cai tổ chức giải Quần vợt Vô địch quốc gia năm 2025; giải Điền kinh người khuyết tật quốc gia 2025. Cử đoàn vận động viên tham gia 10 giải thể thao quốc gia và 01 giải thể thao quốc tế; kết quả đạt 76 huy chương (21 HCV, 28 HCB, 27 HCĐ). Tổng thành tích từ đầu năm đến thời điểm báo cáo đạt 696 huy chương (180 HCV, 192 HCB, 324 HCĐ); trong đó đạt 44 huy chương quốc tế (14 HCV, 18 HCB, 12 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Hoạt động giáo dục ổn định và đi vào nền nếp. Trong tháng tập trung rà soát, củng cố điều kiện cơ sở vật chất, thiết bị và đội ngũ nhà giáo để phục vụ công tác dạy, học. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.605 trường học (cơ sở giáo dục) với 808.873 học sinh; trong đó: Giáo dục mầm non có 527 trường với 117.925 trẻ; cấp tiểu học có 565 trường với 322.382 học sinh; cấp trung học cơ sở có 365 trường với 243.173 học sinh và cấp trung học phổ thông có 122 trường với 120.809 học sinh. Hiện nay nhiều trường vẫn còn thiếu phòng học, phòng chức năng, trang thiết bị dạy học, đặc biệt tại các khu vực nông thôn và vùng đồng bào dân tộc. Năm học 2025-2026, nhu cầu giáo viên cho các cấp học là 42.892 giáo viên (cấp sở: 7.068, cấp xã 35.824), tuy nhiên số giáo viên hiện có 37.459 giáo viên, còn thiếu 5.433 giáo viên (trong đó: Cấp tiểu học thiếu 1.463 giáo viên, cấp trung học cơ sở thiếu 1.453 giáo viên, cấp trung học phổ thông thiếu 495 giáo viên), chủ yếu ở các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Tin học, Ngoại ngữ. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: Hiện nay toàn tỉnh có 06 trường cao đẳng, 05 trường trung cấp (trong đó có 01 trường trung cấp công lập, 04 trường trung cấp tư thục) và 21 trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên; ngoài ra toàn tỉnh có 55 trung tâm giáo dục nghề nghiệp tư thục và doanh nghiệp, cơ sở khác đăng ký hoạt động giáo dục nghề nghiệp. 3. Y tế - Phòng chống sốt xuất huyết và các bệnh truyền nhiễm khác: Trong tháng phát hiện 1.255 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 268 ca so với tháng trước và giảm 514 ca so với cùng kỳ năm trước; không có trường hợp tử vong. Lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 5.343 ca mắc, có 02 ca tử vong. Trong tháng có 160 ổ dịch được phát hiện xử lý; lũy kế 10 tháng đã phát hiện xử lý 899 ổ dịch. - Công tác phòng chống bệnh sốt rét: Trong tháng có 02 ca mắc; lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 06 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 310 ca mắc, tăng 106 ca so với tháng trước; lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 2.114 ca mắc, tăng 558 ca so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng phát hiện 07 ổ dịch mới (Đạ Huoai: 4, Đà Lạt: 2, Di Linh: 01), lũy kế 10 tháng năm 2025 đã phát hiện 14 ổ dịch bệnh tay chân miệng. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 09 ca mắc, giảm 20 ca so với tháng trước; lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh có 3.957 ca mắc, tăng 3.678 ca so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng phát hiện 07 ổ dịch mới (Đạ Huoai: 4, Đà Lạt: 2, Di Linh: 01), lũy kế 10 tháng năm 2025 đã phát hiện 14 ổ dịch bệnh tay chân miệng. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, tiêm chủng đầy đủ cho 4.262 trẻ dưới 1 tuổi, lũy kế 10 tháng năm 2025 đã tiêm cho 35.468 trẻ. Tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 4.066 trẻ, lũy kế 10 tháng năm 2025 đã tiêm cho 36.162 trẻ. Tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 3.643 trẻ, lũy kế 10 tháng đã tiêm cho 36.382 trẻ. Tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 4.063 trẻ, lũy kế 10 tháng đã tiêm cho 37.153 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 2 cho 4.473 trẻ, lũy kế 36.422 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 3 cho 4.473 trẻ, lũy kế 10 tháng năm 2025 đã tiêm cho 33.354 trẻ. Tiêm phòng uốn ván cho phụ nữ có thai cho 3.987 người; lũy kế 10 tháng đã tiêm cho 32.495 người. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Toàn tỉnh còn quản lý 466 bệnh nhân, không còn bệnh nhân đang điều trị; đang giám sát 20 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 454 bệnh nhân. - Công tác phòng chống Lao: Trong tháng, khám phát hiện 17 bệnh nhân lao mới, trong đó có 03 bệnh nhân lao phổi AFB (+). - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 20 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 01 bệnh nhân chuyển AIDS, có 02 bệnh nhân tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.538 bệnh nhân mắc HIV, chuyển AIDS 1.768 bệnh nhân và có 876 bệnh nhân tử vong do AIDS. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 467.737 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.494 người, số ngày điều trị nội trú là 219.682 ngày, xét nghiệm cho 879.745 tiêu bản, chẩn đoán 129.451 hình ảnh, phẫu thuật 4.839 trường hợp. Lũy kế 10 tháng năm 2025 đã tổ chức khám bệnh cho 4.678.914 lượt người; 746.812 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 2.124.568 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,86 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 83,9%; đã xét nghiệm cho 7.149.753 tiêu bản; chẩn đoán 1.237.606 hình ảnh và phẫu thuật cho 47.411 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, tỉnh đã triển khai 82 đoàn kiểm tra an toàn thực phẩm tại 994 cơ sở, kết quả có 986 cơ sở đạt yêu cầu, 08 cơ sở vi phạm bị phạt (số tiền phạt là 38 triệu đồng). Lũy kế 10 tháng năm 2025, tỉnh đã thành lập 764 đoàn kiểm tra tại 14.719 cơ sở, kết quả có 12.915 cơ sở đạt và 108 cơ sở vi phạm bị xử lý (tổng số tiền xử phạt là 630,63 triệu đồng). Trong tháng xảy ra 01 vụ ngộ độc thực phẩm (tại xã Phan Rí Cửa) làm 11 mắc, 06 người nhập viện, không có tử vong; nguyên nhân do ăn cá nóc. Lũy kế 10 tháng năm 2025, toàn tỉnh xảy ra 04 vụ ngộ độc thực phẩm làm 109 người mắc, có 01 trường hợp tử vong do ăn cá nóc. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác truyền thông các sự kiện, hoạt động của Trung ương và địa phương, đặc biệt là Tháng trải nghiệm điểm đến du lịch tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Đại hội đại biểu MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030; Đại hội thi đua yêu nước tỉnh Lâm Đồng lần thứ I; Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Tổ chức Họp báo Hội nghị Xúc tiến đầu tư vào tỉnh Lâm Đồng năm 2025; Họp báo thông tin kết quả Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030. Trong tháng tiếp tục đẩy mạnh truyền thông trên các nền tảng số; thường xuyên rà soát thông tin trên báo chí, các trang mạng xã hội viết về tỉnh Lâm Đồng (Từ ngày 15/9-15/10, qua rà soát trên hệ thống phần mềm giám sát thông tin mạng xã hội có 25.514 tin, bài viết; trong đó có 18.886 tin, bài viết có từ khóa đề cập đến Lâm Đồng; tin, bài tích cực chiếm tỷ lệ khoảng 80%, tiêu cực chiếm tỷ lệ khoảng 20%). Các cơ quan báo chí đã bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương, tập trung tuyên truyền phản ánh các hoạt động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng,... Qua rà soát, không có thông tin tiêu cực nào đến mức độ sai phạm phải đề xuất cơ quan chức năng xử lý. - Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Triển khai tốt công tác tuyên truyền về các ngày lễ, ngày kỷ niệm, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước và địa phương. Chuyển đổi mã định danh thiết bị truyền thanh vào Hệ thống thông tin nguồn cấp tỉnh kết nối với hệ thống thông tin nguồn Trung ương. Khởi tạo và cấp tài khoản hệ thống thông tin nguồn cấp tỉnh cho 124 xã, phường, đặc khu trong tỉnh. - Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 06 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh, 01 giấy xác nhận đăng ký hoạt động in. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ổn định. Hệ thống trường học trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số cơ bản đảm bảo về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, các lớp học duy trì sĩ số học sinh, công tác hỗ trợ học sinh nghèo, cấp phát học bổng, bảo hiểm y tế được triển khai đầy đủ; công tác y tế tiếp tục được triển khai có hiệu quả, hoạt động khám chữa bệnh, chương trình tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khỏe sinh sản, phòng, chống dịch bệnh được thực hiện tốt, không có dịch bệnh nguy hiểm phát sinh; công tác bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lễ hội truyền thống được quan tâm thực hiện, các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục được bảo tồn, phát huy. Trong tháng, tình hình sản xuất và đời sống người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Đồng bào các dân tộc khẩn trương thu hoạch vụ mùa; gieo trồng, xuống giống, chăm sóc các loại cây trồng và hoa màu. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng được kiểm soát, ngành chức năng đã triển khai nhiều biện pháp phòng trừ nên không gây thiệt hại nhiều đến sản xuất. Tình hình tiêu thụ nông sản nhìn chung ổn định; công tác hỗ trợ sản xuất, chuyển giao khoa học kỹ thuật được duy trì,... Đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện, công tác giảm nghèo tiếp tục được quan tâm. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số có thu nhập thấp, thiếu việc làm ổn định. 5.2. Chính sách tôn giáo Tình hình hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định, chấp hành đúng quy định của pháp luật. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh đăng ký bổ nhiệm Sư cô Thích Nữ Liên Tâm làm Trụ trì Tịnh xá Ngọc Thạnh, xã Hiệp Thạnh; đăng ký điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung có tên “Đạo tràng Bảo Pháp” tại xã Đạ Huoai; đăng ký tổ chức khóa tu cho tăng, ni hệ phái Khất sỹ tại Tịnh xá Trúc Lâm, xã Hàm Tân; Chùa Linh Bảo, phường Lang Biang tổ chức lễ khánh thành và an vị Phật, tham dự lễ có khoảng 300 tăng ni, phật tử trong và ngoài tỉnh, trong đó có 06 tu sỹ người nước ngoài. Tổ chức Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu (FABC) tại Trung tâm thánh Mẫu Tà Pao, xã Đồng Kho; Hội đồng Giám mục Việt Nam tổ chức Đại hội lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2025-2028, tham dự Đại hội có 37 đại biểu, Đại hội đã bầu Ban Thường vụ Hội đồng Giám mục Việt Nam nhiệm kỳ 2025 -2028 gồm 04 thành viên và 21 Ủy ban, Tiểu ban trực thuộc. Hội thánh Cao Đài Tòa thánh Tây Ninh tổ chức Đại lễ Hội yến Diêu Trì cung và kỷ niệm 100 năm thành lập. Hoạt động các tổ chức tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường, ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã Tổ chức tổ chức đưa đón đoàn người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ thực hiện điều dưỡng tập trung tại Trung tâm Điều dưỡng và Chăm sóc người có công Khánh Hòa. Giải quyết 244 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công; tiếp nhận 15 hồ sơ chuyển đến, 15 hồ sơ chuyển đi; lập thủ tục chuyển Hội đồng giám định y khoa 4 hồ sơ; trả lời 13 đơn thư; ban hành 46 Quyết định hưởng trợ cấp thờ cúng liệt sĩ; 129 Quyết định trợ cấp mai táng phí đối với thân nhân của người có công với cách mạng từ trần; 14 Quyết định chấm dứt chế độ: đề nghị cấp lại bằng Tổ quốc ghi công cho 03 liệt sĩ; 3 Quyết định giải quyết trợ cấp ưu đãi giáo dục; giải quyết 8 hồ sơ đính chính thông tin người có công; thực hiện báo tin mộ cho 3 thân nhân liệt sĩ. Triển khai công tác thưc hiện chi trả trợ cấp không dùng tiền mặt đối với người có công với cách mạng và thân nhân: Chi trả qua tài khoản 11.958/19.420 đối tượng, với tổng số tiền: 40.446,35 triệu đồng/tháng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 30/9/2025, toàn tỉnh có 280.374 người người tham gia BHXH, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước (trong đó: 236.649 người tham gia BHXH bắt buộc, tăng 0,73%; 43.725 người tham gia BHXH tự nguyện, tăng 17,33%); có 215.828 người tham gia BHTN, tăng 1,46% so với cùng kỳ năm trước; số người tham gia BHYT là 2.909.525 người, tăng 0,82% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 86,69% dân số. Trong tháng, đã giải quyết mới 9.988 người hưởng chế độ BHXH và chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.982 người; lũy kế đến 30/9/2025, đã giải quyết mới 90.538 người hưởng chế độ BHXH và chi trả cho 17.302 người hưởng chế độ BHTN (Trong đó: Lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng là 3.614 người; trợ cấp 1 lần là 24.533 người; chế độ ốm đau là 48.387 người; chế độ thai sản là 10.725 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe là 3.279 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng là 15.959 người; số người được hỗ trợ học nghề là 1.343 người). Giải quyết nghỉ hưu trước tuổi theo Nghị định số 177 và 178 là 355 người (lũy kế: 1.900 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/9-14/10/2025) Trong tháng xảy ra 75 vụ tai nạn giao thông, giảm 25 vụ so với tháng trước và giảm 19 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 39 người, giảm 10 người so với tháng trước và tăng 09 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương 49 người, giảm 27 người so với tháng trước và giảm 39 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 10 tháng (15/12/2024 đến ngày 14/10/2025), toàn tỉnh xảy ra 742 vụ tai nạn giao thông, giảm 274 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 368 người, giảm 4 người; số người bị thương 575 người, giảm 295 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng xảy ra 01 vụ thiên tai (mưa lớn kèm gió giật mạnh) làm 01 người bị thương và 01 người chết. Thiên tai làm hư hại 13 căn nhà; ngập úng hư hại 281 ha lúa và 121 ha hoa màu; cuốn trôi 03 con heo và 202 con gia cầm; ước thiệt hại khoảng 3,3 tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2025 xảy ra 25 vụ thiên tai, ước tổng giá trị thiệt hại khoảng 74 tỷ đồng. - Cháy, nổ: Trong tháng xảy ra 06 vụ cháy, không có thiệt hại về người, chưa thống kê được giá trị thiệt hại về tài sản. - Tình hình cứu nạn cứu hộ: Trong tháng xảy ra 09 vụ sự cố tai nạn, đã cứu được 21 người, tìm được là 05 thi thể nạn nhân. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ. Lũy kế 10 tháng năm 2025 xảy ra 19 vụ, giảm 25 vụ so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 3,6 tỷ đồng. * Đánh giá chung Nhìn chung, tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng năm 2025 của tỉnh tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định; cả ba khu vực kinh tế đều tăng trưởng: Sản xuất nông nghiệp duy trì phát triển, diện tích gieo trồng Vụ Mùa tăng 1,67%. Các cây công nghiệp, cây ăn quả chủ lực tăng diện tích (sầu riêng tăng 3,34%, cà phê tăng1,03%). Chăn nuôi phát triển tích cực, đàn gia cầm tăng 10,01%, đàn lợn tăng 5,1%. Dịch tả lợn Châu Phi cơ bản được kiểm soát. Rừng trồng mới tăng 5,01%, số vụ vi phạm lâm luật giảm mạnh 282 vụ; sản lượng thủy sản tăng 4,56% đều cho thấy kết quả tích cực. Sản xuất công nghiệp giữ đà tăng trưởng khá. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 3,91%, chủ yếu nhờ sự đóng góp của ngành khai khoáng tăng 11,58% và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,34%. Nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực tăng cao (giày, dép gấp 1,95 lần; phân bón tăng 17,70% ). Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp biến động mạnh. Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới tăng 73,03%, doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 19,95%. Có 42 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 14.340,7 tỷ đồng. Khu vực dịch vụ là điểm sáng rõ nét nhất. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ tăng 15,08% so với cùng kỳ. Hoạt động du lịch phục hồi mạnh thu hút 17,2 triệu lượt khách, tăng 19,77%, trong đó khách quốc tế đạt gần 1 triệu lượt, tăng 31,31%. Vận tải tăng trưởng tốt ở cả hành khách (tăng 12,38%) và hàng hóa (tăng 5,07%). Tài chính - Tín dụng ổn định. Thu ngân sách nhà nước bằng 91,33% kế hoạch năm và tăng 16,22% so với cùng kỳ. Dư nợ cho vay ước đến 31/10 tăng 6,8% so với đầu năm. Lạm phát được kiểm soát, CPI bình quân 10 tháng tăng 3,13%. Lĩnh vực xã hội đạt nhiều kết quả tích cực. Các hoạt động văn hóa, thể thao được tổ chức sôi nổi. An sinh xã hội và chính sách cho người có công được thực hiện đầy đủ. Trật tự an toàn giao thông, 10 tháng tai nạn giao thông giảm sâu trên cả 3 tiêu chí: số vụ (giảm 274 vụ), số người chết (giảm 4 người) và số người bị thương (giảm 295 người). Trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Nổi rõ là tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm; tình hình đăng ký doanh nghiệp tuy tăng mạnh về số lượng thành lập mới nhưng số doanh nghiệp giải thể cũng tăng rất cao (tăng 79,29%). Lĩnh vực xã hội tồn tại nhiều vấn đề cấp bách: ngành y tế đối mặt với sự bùng phát của dịch sởi (tăng 3.678 ca) và tay chân miệng (tăng 558 ca); ngành giáo dục thiếu hụt 5.433 giáo viên. Thiên tai còn diễn biến phức tạp. Thống kê tỉnh Lâm Đồng
Mít-tinh kỷ niệm Ngày Thống kê Thế giới và Tọa đàm cấp cao với chủ đề “Thống kê vì tương lai bền vững trong kỷ nguyên số - Hành trình giám sát SDG của Việt Nam”
- 21/10/2025 12:38
Sáng 20/10/2025, tại Hà Nội, Cục Thống kê đã tổ chức mít-tinh kỷ niệm Ngày Thống kê Thế giới và Tọa đàm cấp cao với chủ đề “Thống kê vì tương lai bền vững trong kỷ nguyên số - Hành trình giám sát SDG của Việt Nam” với hình thức trực tiếp và trực tuyến kết nối đến Thống kê của 34 tỉnh, thành phố. Tại điểm cầu Thống kê tỉnh Lâm Đồng, tham dự gồm: Ban Lãnh đạo Thống kê tỉnh, lãnh đạo các phòng, toàn thể công chức, người lao động và kết nối trực tuyến với các Thống kê cơ sở. Phát biểu tại buổi lễ, Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương cho biết: Ngày 20/10 được Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thức chọn là Ngày Thống kê Thế giới từ năm 2010 và được tổ chức định kỳ 5 năm một lần nhằm tôn vinh giá trị, tính trung thực, khách quan và chuyên nghiệp của ngành Thống kê. Chủ đề năm nay “Thúc đẩy thay đổi bằng dữ liệu và số liệu thống kê chất lượng cho mọi người” mang ý nghĩa chiến lược, khẳng định vai trò của thống kê trong việc cung cấp thông tin chính xác, minh bạch phục vụ mục tiêu phát triển bền vững, đảm bảo “không ai bị bỏ lại phía sau” trong kỷ nguyên dữ liệu toàn cầu. Tại buổi lễ, Cục trưởng Nguyễn Thị Hương đã đọc Thư chúc mừng Ngày Thống kê Thế giới của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính. Trong thư, Thủ tướng gửi lời chúc mừng và biểu dương toàn ngành Thống kê đã chung sức, đồng lòng, đổi mới sáng tạo, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đồng thời bày tỏ niềm tin tưởng vào đội ngũ công chức, viên chức, người lao động của Ngành sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng thông tin thống kê, bảo đảm số liệu trung thực, khách quan, đầy đủ và kịp thời, phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành của Đảng và Nhà nước, góp phần vào sự phát triển giàu mạnh, văn minh và thịnh vượng của đất nước. Phát biểu chào mừng tại chương trình, ngài Matt Jackson, Đại diện Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNFPA), đại diện cho các cơ quan Liên hợp quốc (United Nations Country Team-UNCT) nhận định, đây là thời điểm chúng ta nhận ra vai trò quan trọng của dữ liệu và thống kê trong việc định hình một tương lai bền vững cho tất cả mọi người. Trong khuôn khổ Tọa đàm cấp cao, các đại biểu đã tập trung thảo luận về vai trò của dữ liệu thống kê trong giám sát và thực hiện các Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG) của Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phân tích dữ liệu theo giới tính, độ tuổi, dân tộc trong hoạch định chính sách công bằng và bao trùm. Đồng thời, các ý kiến cũng đề cập đến cơ hội và thách thức trong chuyển đổi số thống kê, định hướng tiến tới tổng điều tra dân số dựa trên đăng ký điện tử, phù hợp với xu hướng quốc tế. Buổi lễ và tọa đàm đã góp phần nâng cao nhận thức về giá trị của thông tin thống kê, khơi dậy niềm tự hào nghề nghiệp, đồng thời tạo động lực để ngành Thống kê tiếp tục đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh lễ mít tinh:Bà Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê phát biểu tại buổi lễÔng Matt Jackson, Đại diện Quỹ Dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam (UNFPA), đại diện cho các cơ quan Liên hợp quốc. Ông Phạm Quốc Hùng, Trưởng Thống kê tỉnh tham dự mít tinh
Tọa đàm kỷ niệm Ngày Thống kê Thế giới 20/10 và kỷ niệm 95 năm Ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 - 20/10/2025)
- 20/10/2025 08:01
Chiều ngày 15/10/2025, tại Hội trường Thống kê tỉnh Lâm Đồng đã diễn ra buổi Tọa đàm kỷ niệm Ngày Thống kê Thế giới (20/10) và kỷ niệm 95 năm Ngày Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930 - 20/10/2025). Tham dự có các Phó trưởng Thống kê tỉnh, lãnh đạo các phòng nghiệp vụ và toàn thể công chức, người lao động tại cơ quan Thống kê tỉnh; lãnh đạo và công chức Thống kê cơ sở Đà Lạt. Kết nối trực tuyến đến 15 điểm cầu Thống kê cơ sở. Phát biểu khai mạc, đồng chí Trương Thị Mộng Di, Phó Trưởng Thống kê tỉnh nhấn mạnh ý nghĩa của Ngày Thống kê Thế giới, là dịp ôn lại và tôn vinh vai trò của dữ liệu thống kê trong hoạch định chính sách phát triển bền vững, đồng thời ghi nhận những nỗ lực, đóng góp của đội ngũ công chức, người lao động ngành Thống kê Lâm Đồng trong bối cảnh đổi mới mô hình tổ chức hai cấp. Tại buổi tọa đàm về Ngày Thống kê Thế giới, đồng chí Nguyễn Hoài Hải - Phó Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu đề dẫn Tọa đàm Ngày Thống kê Thế giới, nhấn mạnh thông điệp của Liên hợp quốc năm 2025: “Thúc đẩy thay đổi bằng dữ liệu và số liệu thống kê chất lượng cho mọi người”. Đồng chí khẳng định, công tác thống kê không chỉ là công cụ quản lý, mà còn là nền tảng quan trọng trong hoạch định và đánh giá chính sách phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển bền vững của tỉnh Lâm Đồng. Buổi tọa đàm chuyên đề “Ngày Thống kê Thế giới” đã diễn ra sôi nổi với các tham luận tiêu biểu: “Vai trò tham mưu của ngành Thống kê địa phương trong hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội” (Phòng Thống kê Tổng hợp) và “Thu thập thông tin đầu vào tốt hơn để dữ liệu tốt hơn, cuộc sống tốt hơn” (Thống kê cơ sở Cư Jút). Các tham luận đều nhấn mạnh vai trò của công tác thống kê trong cung cấp thông tin tin cậy phục vụ điều hành kinh tế - xã hội của địa phương. Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày Phụ nữ Việt Nam, đồng chí Nguyễn Văn Tỉnh, Phó Trưởng Thống kê tỉnh, Trưởng Ban Vì sự tiến bộ của Phụ nữ đã phát biểu tri ân và gửi lời chúc mừng tới toàn thể nữ công chức, người lao động ngành Thống kê. Các tham luận của Thống kê cơ sở Lâm Hà và Phòng Thống kê Nông nghiệp & Xã hội đã làm nổi bật vai trò, đóng góp của phụ nữ trong gia đình, xã hội và trong công tác thống kê, đặc biệt là trong giai đoạn sắp xếp mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Buổi tọa đàm kết thúc trong không khí đoàn kết, ấm áp và nhiều cảm xúc. Lãnh đạo Thống kê tỉnh đã tặng quà, chụp hình lưu niệm cùng các chị em phụ nữ, thể hiện sự quan tâm, trân trọng đối với “một nửa yêu thương” của Ngành. Sự kiện là dịp để toàn thể công chức, người lao động nhìn lại chặng đường phấn đấu, khẳng định tinh thần trách nhiệm, đoàn kết và cống hiến, góp phần đưa ngành Thống kê Lâm Đồng ngày càng phát triển vững mạnh./. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh của buổi tọa đàmĐ/c Trương Thị Mộng Di, Phó Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu khai mạc buổi tọa đàmĐ/c Nguyễn Hoài Hải - Phó Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu đề dẫn Tọa đàm Ngày Thống kê Thế giới, nhấn mạnh thông điệp của Liên hợp quốc năm 2025Đ/c Nguyễn Văn Tỉnh, Phó Trưởng Thống kê tỉnh, Trưởng Ban Vì sự tiến bộ của Phụ nữ phát biểu tri ân và gửi lời chúc mừng đến toàn thể nữ công chức, người lao động ngành Thống kê Lâm ĐồngLãnh đạo Thống kê tỉnh đã tặng quà, chụp hình lưu niệm cùng phụ nữ ngành Thống Kê Lâm Đồng