Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác thống kê cho UBND cấp xã
- 08/06/2026 16:52
Sáng ngày 06/6/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác thống kê cho UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý trên địa bàn tỉnh. Hội nghị do đồng chí Nguyễn Ngọc Phúc - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì. Tham dự Hội nghị có lãnh đạo Thống kê tỉnh; đại diện lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh; lãnh đạo, công chức các phòng chuyên môn thuộc Thống kê tỉnh; đại diện lãnh đạo UBND các xã, phường, đặc khu Phú Quý; công chức được phân công làm đầu mối công tác thống kê cấp xã và các Thống kê cơ sở. Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến đến các điểm cầu Thống kê cơ sở trên địa bàn tỉnh. Phát biểu khai mạc và chỉ đạo Hội nghị, đồng chí Nguyễn Ngọc Phúc nhấn mạnh, công tác thống kê là một nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước; số liệu thống kê không chỉ phục vụ việc lập báo cáo, mà còn là căn cứ để đánh giá đúng tình hình, nhận diện đúng tiềm năng, khó khăn, điểm nghẽn, từ đó đề xuất nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội sát thực tiễn. Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh nêu rõ, trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp xã là nơi trực tiếp quản lý dân cư, hộ gia đình, đất đai và các hoạt động kinh tế - xã hội phát sinh hằng ngày. Do đó, chất lượng thông tin thống kê cấp xã có ý nghĩa rất quan trọng, vừa phục vụ công tác quản lý, điều hành ở cơ sở, vừa góp phần nâng cao chất lượng số liệu thống kê của tỉnh. Nếu thông tin thống kê cấp xã không đầy đủ, không kịp thời, không sát thực tế thì việc đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở sẽ thiếu căn cứ, đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng tổng hợp, phân tích và tham mưu chung của tỉnh. Vì vậy, UBND các xã, phường, đặc khu cần xác định công tác thống kê là nhiệm vụ thường xuyên trong quản lý, điều hành. Tại Hội nghị, các đại biểu được phổ biến, hướng dẫn các nội dung trọng tâm gồm: công tác thống kê cấp xã và cơ chế phối hợp giữa Thống kê cơ sở với UBND xã, phường, đặc khu; Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp xã và chế độ báo cáo thống kê trên địa bàn cấp xã; phương pháp tính toán chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp xã; triển khai Phương án điều tra thu nhập bình quân đầu người cấp xã. Các chuyên đề tập huấn tập trung làm rõ yêu cầu phân công đầu mối thực hiện công tác thống kê tại cấp xã; trách nhiệm phối hợp cung cấp, rà soát, đối chiếu, xác nhận và giải trình số liệu giữa UBND cấp xã với Thống kê cơ sở. Đặc biệt, đối với chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn cấp xã, Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu thực hiện đúng phương pháp, đúng phạm vi, có nguồn số liệu rõ ràng, tránh tính trùng, bỏ sót hoạt động kinh tế và không sử dụng số liệu thiếu căn cứ. Đối với Phương án điều tra thu nhập bình quân đầu người cấp xã, Hội nghị yêu cầu các địa phương phối hợp chặt chẽ với Thống kê cơ sở trong rà soát địa bàn, lập danh sách hộ, lựa chọn điều tra viên, tuyên truyền vận động người dân cung cấp thông tin, kiểm tra tiến độ và chất lượng điều tra; bảo đảm kết quả điều tra trung thực, khách quan, phản ánh sát thực tế đời sống dân cư. Hội nghị cũng dành thời gian để các đại biểu trao đổi, thảo luận, nêu khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thống kê ở cơ sở; đồng thời được Thống kê tỉnh hướng dẫn, giải đáp các nội dung liên quan đến nguồn số liệu, biểu mẫu báo cáo, phương pháp tổng hợp và cơ chế phối hợp sau tập huấn. Phát biểu bế mạc Hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh đề nghị UBND các xã, phường, đặc khu tiếp tục quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thống kê trên địa bàn; phân công rõ lãnh đạo phụ trách, công chức đầu mối; phối hợp chặt chẽ với Thống kê cơ sở trong thu thập, tổng hợp, rà soát, cung cấp và chia sẻ thông tin thống kê. Đồng chí Trưởng Thống kê tỉnh cũng đề nghị các Thống kê cơ sở phát huy vai trò đầu mối nghiệp vụ trên địa bàn; chủ động hướng dẫn, hỗ trợ UBND cấp xã trong thực hiện Bộ chỉ tiêu thống kê cấp xã, chế độ báo cáo thống kê, tính toán chỉ tiêu Tổng giá trị sản phẩm trên địa bàn và triển khai Phương án điều tra thu nhập bình quân đầu người cấp xã. Khi phát sinh khó khăn, vướng mắc, các đơn vị cần kịp thời trao đổi với Thống kê tỉnh để được hướng dẫn, xử lý thống nhất. Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác thống kê cho UBND cấp xã là hoạt động thiết thực nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ thống kê ở cơ sở; tăng cường cơ chế phối hợp giữa chính quyền cấp xã với cơ quan Thống kê; từng bước đưa công tác thống kê cấp xã đi vào nền nếp, thực chất, phục vụ tốt hơn công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng trong giai đoạn mới. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh của Hội nghị:Đồng chí Nguyễn Ngọc Phúc - Tỉnh ủy viên, Phó Chủ tịch UBND tỉnh chủ trì và phát biểu chỉ đạo Hội nghị (tại điểm cầu Thống kê cơ sở Bảo Lộc).Đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh trình bày chuyên đề về công tác thống kê cấp xã.
Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức tập huấn nghiệp vụ công tác thống kê cho các sở, ban, ngành
- 08/06/2026 16:48
Sáng ngày 05/6/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác thống kê cho các sở, ban, ngành về thực hiện chế độ, biểu mẫu báo cáo thống kê thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh. Hội nghị do đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì, với sự tham dự của đại diện lãnh đạo, công chức, viên chức được giao nhiệm vụ tổng hợp, báo cáo và cung cấp thông tin thống kê tại các cơ quan, đơn vị trên địa bàn tỉnh. Phát biểu khai mạc Hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng nhấn mạnh vai trò quan trọng của thông tin thống kê trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Trong bối cảnh yêu cầu quản lý, điều hành ngày càng cao, thông tin, số liệu thống kê cần được cung cấp đầy đủ, kịp thời, chính xác, thống nhất, có căn cứ. Đồng chí Trưởng Thống kê tỉnh khẳng định, cùng với số liệu do ngành Thống kê thu thập, điều tra, tổng hợp theo quy định, thông tin chuyên ngành do các sở, ban, ngành cung cấp là nguồn dữ liệu quan trọng để rà soát, đối chiếu, phân tích tình hình thực tế theo từng ngành, lĩnh vực; phục vụ biên soạn các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của tỉnh, nhất là GRDP hằng quý, hằng năm và các chỉ tiêu phục vụ công tác điều hành của UBND tỉnh. Tại Hội nghị, các đại biểu được nghe giới thiệu chuyên đề về trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin, số liệu thống kê của các sở, ban, ngành; trong đó tập trung làm rõ vai trò của thống kê ngành, yêu cầu về chất lượng số liệu, trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin và những nội dung cần tiếp tục khắc phục trong quá trình thực hiện chế độ báo cáo thống kê. Hội nghị cũng hướng dẫn các cơ quan, đơn vị thực hiện chế độ báo cáo thống kê theo Quyết định số 1842/QĐ-UBND ngày 24/10/2025 của UBND tỉnh Lâm Đồng; hướng dẫn sử dụng phần mềm báo cáo thống kê qua mạng Internet; đồng thời trao đổi, thảo luận về dự thảo Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh và giải đáp những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện. Qua thảo luận, Thống kê tỉnh đề nghị các sở, ban, ngành tiếp tục rà soát danh mục biểu mẫu báo cáo thuộc trách nhiệm của đơn vị; phân công rõ đầu mối thực hiện; gửi báo cáo đúng nội dung, đúng biểu mẫu, đúng thời hạn và cập nhật đầy đủ trên phần mềm theo dõi báo cáo thống kê. Đối với các chỉ tiêu có biến động lớn, các đơn vị cần thuyết minh rõ nguyên nhân, cung cấp căn cứ để phục vụ công tác rà soát, đối chiếu, tổng hợp và phân tích. Phát biểu bế mạc Hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng đề nghị các sở, ban, ngành nâng cao hơn nữa trách nhiệm trong công tác thống kê ngành, lĩnh vực; xem việc cung cấp thông tin, số liệu cho cơ quan Thống kê là nhiệm vụ thường xuyên trong thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Đồng thời, tăng cường phối hợp với Thống kê tỉnh trong quá trình cung cấp, rà soát, giải trình và hoàn thiện số liệu, góp phần nâng cao chất lượng thông tin thống kê trên địa bàn tỉnh. Hội nghị tập huấn nghiệp vụ công tác thống kê cho các sở, ban, ngành là hoạt động thiết thực nhằm chuẩn hóa việc thực hiện chế độ báo cáo thống kê thuộc Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh; tăng cường trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị với Thống kê tỉnh; từng bước đưa công tác báo cáo, cung cấp thông tin, số liệu thống kê đi vào nền nếp, phục vụ tốt hơn công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh của Hội nghị: Đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu tại Hội nghị.
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
- 01/06/2026 09:32
I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tương đối ổn định. Các địa phương trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành thu hoạch vụ Đông xuân và đang xuống giống vụ Hè thu; cây trồng lâu năm đang được người dân tích cực đầu tư, chăm sóc; các loại dịch bệnh trên cây trồng xảy ra không đáng kể. Chăn nuôi ổn định, quy mô đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ; dịch bệnh trên vật nuôi xảy ra cục bộ tại một số địa phương và đã được kiểm soát. Hoạt động trồng rừng được triển khai; công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng được tập trung tăng cường. Khai thác thủy sản tăng so với cùng kỳ. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tính đến ngày 15/5/2026 ước đạt 134.789 ha, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: diện tích lúa ước đạt 61.740 ha, tăng 2,1%; diện tích cây ngô ước đạt 11.580 ha, tăng 2,2%; diện tích cây khoai lang ước đạt 3.350 ha, tăng 3,48%; diện tích đậu các loại ước đạt 3.351 ha, tăng 2,6%; diện tích rau các loại ước đạt 37.680 ha, tăng 4,83%; diện tích hoa các loại ước đạt 5.340 ha, tăng 4,76%. 1.2. Cây lâu năm Trong tháng, thời tiết trên địa bàn tỉnh bắt đầu bước vào mùa mưa trên diện rộng, giảm chi phí tưới nước sau mùa khô kéo dài; người dân đang tiếp tục chăm sóc các loại cây trồng lâu năm và chuẩn bị đầu tư trồng mới. - Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.732 ha; người dân chủ động tưới nước, chăm sóc tốt ở vùng trọng điểm như Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’lấp; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.371 ha; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện. Trong thời gian tới, diện tích trồng mới cao su có khả năng tăng nhưng với tốc độ chậm do biến động về giá và chi phí đầu tư; - Cây điều: Diện tích hiện có 45.483 ha; hiện đã hoàn tất thu hoạch năm 2026; diện tích điều chủ yếu già cỗi, giống cũ, kỹ thuật chăm sóc chưa đồng đều, kèm theo sự bất lợi của thời tiết mưa trái mùa trong giai đoạn ra hoa và nắng nóng kéo dài, năng suất và sản lượng điều đều giảm so với năm trước. Hiện hiệu quả kinh tế của cây điều không cao, người dân đang có xu hướng chuyển sang các loại cây trồng khác như sầu riêng, cây ăn quả,...; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.230 ha; hiện đang giai đoạn chăm sóc nuôi trái, sinh trưởng tương đối ổn định. Diện tích trồng mới đang tiếp tục được mở rộng trong thời gian tới do hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh; - Cây tiêu: Diện tích hiện có 37.719 ha; người dân đang hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025 - 2026. Giá hồ tiêu duy trì ở mức cao (khoảng 148.000 - 151.000 đồng/kg) là điểm sáng của ngành hồ tiêu trên địa bàn tỉnh, giúp người dân duy trì sản xuất; tuy nhiên vấn đề sâu bệnh vẫn là rủi ro lớn gây ảnh hưởng đến phát triển của ngành hồ tiêu. Năm 2026, cây tiêu ở Lâm Đồng được đánh giá phát triển theo hướng tập trung nâng cao năng suất và chất lượng, hạn chế mở rộng diện tích tự phát; mô hình trồng tiêu xen cà phê kết hợp canh tác hữu cơ và sinh thái đang được đẩy mạnh nhằm giảm chi phí; - Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.820 ha; cây sinh trưởng tương đối ổn định, sâu bệnh phát sinh ít, chi phí sản xuất tăng do nhu cầu tưới nước và xử lý hoa trái vụ; giá thanh long đang ở mức trung bình - khá, giúp người dân duy trì sản xuất. Cây thanh long đang chuyển từ mở rộng diện tích sang nâng cao năng suất, chất lượng như mở rộng sản xuất VietGAP, GloabaGAP; - Cây chè: Diện tích hiện có 9.200 ha; cây chè sinh trưởng và cho thu hoạch liên tục, đều đặn theo lứa, đảm bảo cung cấp nguyên liệu cho các cơ sở chế biến. Giá chè duy trì ổn định, thị trường tiêu thụ thuận lợi, góp phần duy trì hiệu quả sản xuất của ngành chè trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên diện tích chè chủ yếu đã già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp nên người dân đang dần chuyển đổi sang cây cà phê, sầu riêng,...; 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp trong những tháng mùa khô; diện tích canh tác được tưới đạt 75% diện tích cần tưới (trong đó, diện tích được tưới từ công trình thủy lợi tập trung đạt 24,5%). Tổng dung tích tại các hồ chứa trên địa bàn tỉnh khoảng 382,4 triệu m3, đạt trung bình khoảng 44,5% so với dung tích thiết kế, giảm 77,4 m3 so với tháng trước. 2. Chăn nuôi Trong tháng, tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì ổn định, chuyển từ quy mô nhỏ lẻ sang chăn nuôi tập trung, liên kết sản xuất theo chuỗi, quy mô đàn các loại vật nuôi đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù còn chịu áp lực từ chi phí đầu vào và nguy cơ dịch bệnh, song với giá bán nhiều sản phẩm chăn nuôi ở mức khá đã thúc đẩy người chăn nuôi tiếp tục đầu tư, tái đàn. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 33.517,2 tấn, tăng 6,0% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 161.743,9 tấn, tăng 9,51%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,4 nghìn con, tăng 0,46% so với cùng kỳ. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,0 nghìn con, tăng 1,54% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 30,2 nghìn con, tăng 3,61%). Chăn nuôi bò sữa tiếp tục phát triển ổn định, các trang trại tận dụng tối đa lợi thế về khí hậu mát mẻ và diện tích đồng cỏ dồi dào; cùng với việc chú trọng cải thiện con giống, nâng cao kỹ thuật chăm sóc, áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.496 nghìn con, tăng 5,98% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.221 nghìn con, tăng 6,86%). Giá lợn hơi trong tháng dao động theo xu hướng tăng nhẹ, giúp người chăn nuôi mạnh dạn tái đàn. Khu vực chăn nuôi trang trại và doanh nghiệp tiếp tục giữ vai trò chủ lực với mô hình sản xuất khép kín, an toàn sinh học và liên kết tiêu thụ ổn định. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.720 nghìn con gia cầm, tăng 7,17% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.120 nghìn con, chiếm 70,95% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,18%). Chăn nuôi gia cầm tiếp tục phát triển nhờ thời gian quay vòng vốn nhanh, nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định. Nhiều cơ sở chăn nuôi đã chú trọng áp dụng quy trình an toàn sinh học, vệ sinh chuồng trại và tiêm phòng định kỳ nhằm hạn chế nguy cơ phát sinh dịch bệnh. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, tại xã Đạ Tẻh 3 phát sinh 01 cơ sở chăn nuôi có lợn mắc bệnh, đã tiêu hủy 9.081 con với tổng trọng lượng 257.811 kg. Lũy kế từ ngày 01/01/2026 đến nay, toàn tỉnh đã tiêu hủy 11.787 con lợn mắc bệnh, tương đương 633.872 kg. Hiện nay, xã Đạ Tẻh 3 vẫn còn ổ dịch chưa qua 21 ngày theo quy định. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...): không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện tiêu hủy, khoanh vùng xử lý bệnh DTLCP phát sinh; triển khai tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường, tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi (đã thực hiện phân bổ 1.500 liều vắc xin phòng bệnh Lở mồm long móng và 50 lít hóa chất cho xã Tánh Linh và xã Đạ Tẻh 3 để tổ chức tiêm phòng cho đàn vật nuôi). 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, hoạt động trồng rừng được triển khai, diện tích rừng trồng mới ước đạt 2.005 ha, tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước; diện tích trồng cây phân tán ước đạt 2,3 triệu cây, tăng 3,91%. Tỉnh đã tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng trong mùa khô năm 2026. Tuy nhiên, trong tháng đã xảy ra 04 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 0,9 ha; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 06 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 1,8 ha (so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng tăng 01 vụ, diện tích rừng thiệt hại tăng 0,6 ha). - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 43.425 m3, tăng 5,02% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 190.584 m3, tăng 3,66%. - Sản lượng củi khai thác ước đạt 30.035 ste, tăng 2,18% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 149.958 ste, tăng 2,02%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/4 - 10/5/2026) là 53 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 26 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 3,9 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 18 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 15 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 1,9 ha). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 - 10/5/2026), tổng số vụ vi phạm là 240 vụ, tăng 18 vụ so với cùng kỳ năm trước (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 105 vụ, giảm 11 vụ; diện tích rừng bị thiệt hại 17,5 ha, giảm 0,3 ha). 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, tình hình nuôi trồng thủy sản tương đối ổn định; công tác hỗ trợ kỹ thuật, phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi trồng thủy sản được chú trọng. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 490,2 ha, tăng 2,07% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 2.385,6 ha, tăng 1,40% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 2.143,7 ha, tăng 1,27%; diện tích nuôi tôm đạt 222,1 ha, tăng 2,90%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.318,8 tấn, giảm 0,37% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 390,3 tấn, tăng 5,18%). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 11.589,7 tấn, tăng 0,72% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.920 tấn, tăng 4,07%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi; nguồn lợi cá cơm xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho các tàu nghề vây cá nồi nhỏ, nghề pha xúc đánh bắt. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 21.686 tấn, tăng 3,21% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 21.600 tấn, tăng 3,03%). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 94.125,9 tấn, tăng 3,0 (sản lượng khai thác biển đạt 93.811,6 tấn, tăng 2,93%). - Sản xuất giống thủy sản: Hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên, chất lượng tôm giống được giữ vững trên thị trường. Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,3 tỷ post, tăng 9,57% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 10,4 tỷ post, tăng 5,27%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Những tháng đầu năm 2026, hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh tiếp tục phục hồi và tăng trưởng khá, nhiều ngành chủ lực duy trì đà phát triển ổn định. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng vai trò động lực tăng trưởng chính, cùng với sự tăng trưởng của ngành khai khoáng và các ngành hạ tầng thiết yếu như điện, nước và xử lý rác thải. Nhờ đó, sản xuất công nghiệp toàn tỉnh trong tháng Năm và 5 tháng đầu năm đều đạt mức tăng tích cực so với cùng kỳ năm trước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 12,03% so với tháng trước và tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 22,44% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 22,15%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 12,14%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,94%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,04% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 20%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,01%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,71%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,81%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 394.477 m3, giảm 5,04% so với tháng trước và tăng 22,05% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.698.630 m3, tăng 20,63% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang tập trung nhiều giải pháp để giải ngân vốn đầu tư công cũng như đạt chỉ tiêu về vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026; tháng 5 giảm so với tháng 4 là do trong tháng có kỳ nghỉ lễ 30/4-01/5/2026 được nghỉ liên tiếp trong các ngày đầu tháng 5/2026. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.511 tấn, giảm 0,77% so với tháng trước và tăng 16,62% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 15.941 tấn, tăng 12,49% so với cùng kỳ. Nguyên nhân là do các doanh nghiệp nhận được nhiều đơn hàng xuất khẩu và chủ động nguồn hàng cho các tháng sắp tới. - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.313 tấn, tăng 32,29% so với tháng trước và tăng 13,92% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 10.052 tấn, tăng 18,05% so với cùng kỳ. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 19.491 nghìn lít, tăng 7,39% so với tháng trước và tăng 25,12% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 101.409 nghìn lít, tăng 16,52% so với cùng kỳ, nguyên nhân là các do doanh nghiệp tăng cường sản xuất các sản phẩm rượu vang từ quả tươi hiện đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Ước trong tháng sản lượng đạt 746 nghìn đôi, tăng 17,43% so với tháng trước và tăng 21,70% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.956 nghìn đôi, tăng 25,18% so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 10.848 tấn, tăng 3,14% so với tháng trước và tăng 14,30% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 56.394 tấn, tăng 36,64% so với cùng kỳ; nguyên nhân là do các doanh nghiệp đã chủ động sản xuất phục vụ mùa sản xuất nông nghiệp năm 2026. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Ước trong tháng đạt 121,993 nghìn tấn, tăng 2,51% so với tháng trước và tăng 5,68% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 642,801 nghìn tấn, tăng 0,6% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.843 triệu kwh, tăng 17,65% so với tháng trước và tăng 11,85% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 15.186 triệu kwh, tăng 2,03% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 507 triệu kwh, giảm 3,19% so với tháng trước nhưng tăng 14,37% so với cùng kỳ; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.525 triệu kwh tăng 7,0% so với cùng kỳ. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 1,87% so với tháng trước và tăng 8,37% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,26%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,85%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,69%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,41%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động tháng 5/2026 của khối doanh nghiệp nhà nước giảm 1,01% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 13,22%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 4,95%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 6,19%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,96%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,19%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,63%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,75%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm 2025 và xu hướng cao hơn bình quân các tháng đầu năm 2026 là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong tháng (từ ngày 15/4 - 15/5/2026) đã thu hút 01 dự án đầu tư vào các KCN trên địa bàn tỉnh (Công ty Cổ phần Quốc tế Thiên Hà; vốn đầu tư 80 tỷ, diện tích đất thuê lại 1,098 ha). Lũy kế từ đầu năm 2026 đến nay đã thu hút được 06 dự án đầu tư (trong đó có 01 dự án nước ngoài và 05 dự án trong nước) với tổng vốn đầu tư đăng ký là 258,7 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích đất thuê lại 5,18 ha. Lũy kế đến nay, trong các KCN trên địa bàn tỉnh có 244 dự án (58 dự án FDI và 186 dự án trong nước) với tổng vốn đăng ký đầu tư là 46.728,8 tỷ đồng và 515,132 triệu USD, diện tích đất đăng ký 727,11 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 53,88%. Hiện nay, trong các KCN có 175 doanh nghiệp đi vào hoạt động; kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh thực hiện đến tháng 5/2025: doanh thu đạt 10.335 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 219,6 triệu USD; nộp ngân sách đạt 672,2 tỷ đồng. Công tác đầu tư hạ tầng các KCN được các chủ đầu tư quan tâm triển khai. Trong tháng, có 6/14 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị là 20,41/881,6 tỷ đồng đạt 2,32% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026, tăng 13,90% so với cùng kỳ (17,9 tỷ đồng). Cụ thể: - KCN Phan Thiết giai đoạn 1: Chủ đầu tư duy tu cây xanh. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,01/0,8 tỷ đồng đạt 1,22% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm I: Chủ đầu tư duy tu cây xanh, duy tu giao thông trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,10/22,8 tỷ đồng đạt 0,44% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm II: Chủ đầu tư san lấp mặt bằng KCN; duy tu cây xanh trong KCN; duy tu và thi công các tuyến đường trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 10,0/205,0 tỷ đồng đạt 4,88% kế hoạch năm 2026. - KCN Sông Bình: Chủ đầu tư duy tu cây xanh trong KCN; tiếp tục thi công các tuyến đường giao thông (đường D1, D3, N4, N6) trong KCN. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,1/59,1 tỷ đồng đạt 0,17% kế hoạch năm 2026. - KCN Tuy Phong: Chủ đầu tư triển khai thi công hệ thống thoát nước mưa tuyến D2 và các tuyến giao thông. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 0,2 tỷ đồng. - KCN Tân Đức: Chủ đầu tư tiếp tục đền bù giải tỏa KCN những diện tích đất còn lại; dọn dẹp và thi công san lấp mặt bằng KCN, thi công các tuyến đường trong KCN (D2, D3, D4, N1, N2, N3), nhà máy xử lý nước thải. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 5/2026 là 10,0/473 tỷ đồng đạt 2,11% kế hoạch năm 2026. - KCN Lộc Sơn: Thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phú Hội: Thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết: Giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Tâm Thắng: Đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Nhân Cơ: Thu hút được 01 dự án. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 860,1 tỷ đồng, tăng 2,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 801,6 tỷ đồng, chiếm 93,2% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn, tăng 2,52% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh trong tháng đạt 368,7 tỷ đồng, tăng 34,01% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 110,6 tỷ đồng, giảm 49,11% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 13,2 tỷ đồng, giảm 26,03% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 303,8 tỷ đồng, tăng 13,02% so với cùng kỳ; vốn khác 5,4 tỷ đồng, tăng 91,2% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 58,5 tỷ đồng, chiếm 6,8% trong tổng số vốn nhà nước trên địa bàn và tăng 4,24% so với cùng kỳ. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 3.552,9 tỷ đồng, đạt 23,34% so với kế hoạch năm, tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 3.312,8 tỷ đồng, tăng 4,06% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.539,61 tỷ đồng, tăng 21,85% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 471,03 tỷ đồng, giảm 46,54% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 53,78 tỷ đồng, giảm 28,55% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 1.227,24 tỷ đồng, tăng 28,98% so với cùng kỳ; vốn khác 21,14 tỷ đồng, tăng 76,82% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 240,1 tỷ đồng, tăng 3,96% so với cùng kỳ. Từ đầu năm đến ngày 14/5/2026, toàn tỉnh có 2.019 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 96,2% so với cùng kỳ năm trước; 1.086 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 3,12%; 393 doanh nghiệp giải thể, tăng 88,9%; 508 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 15,72%. Tổng số vốn trong 5 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp đã đăng ký 9.808,4 tỷ đồng, tăng 49,53% so với cùng kỳ năm trước.. Tình hình thu hút đầu tư (từ đầu năm đến ngày 22/5/2026), toàn tỉnh có 22 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 115.171,5 tỷ đồng; 20 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. Về giải ngân vốn đầu tư công, đến ngày 21/5/2026, toàn tỉnh giải ngân 1.097,8 tỷ đồng, đạt 7,4% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Kết quả này cho thấy áp lực giải ngân trong các tháng còn lại là rất lớn. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Tình hình thương mại và dịch vụ trong tháng tiếp tục phát triển tích cực, các ngành, lĩnh vực duy trì ổn định. Hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị thương mại diễn ra bình thường; nhiều siêu thị, trung tâm thương mại triển khai chương trình khuyến mãi nhằm kích cầu tiêu dùng. Lĩnh vực lưu trú, ăn uống, du lịch và dịch vụ khác đã chủ động chuẩn bị nhân lực, hàng hóa và cơ sở vật chất phục vụ nhu cầu du khách trong các dịp lễ lớn như Giỗ Tổ Hùng Vương, ngày 30/4 và 01/5 với thời gian nghỉ kéo dài. Các doanh nghiệp thương mại, du lịch và vận tải cũng tăng cường quảng bá, khuyến mãi để thu hút khách du lịch, góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại và dịch vụ trong mùa du lịch hè năm 2026. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Tình hình thị trường trong tháng tương đối ổn định, sức mua người dân tăng so với tháng trước, các nhóm hàng tăng trưởng ổn định. Nhu cầu người dân tập trung vào những mặt hàng thiết yếu phục vụ cho nhu cầu cá nhân và gia đình. Tại địa phương công tác kích cầu tiêu dùng được tăng cường nhiều mặt, các hệ thống siêu thị, cửa hàng điện máy, siêu thị tiện ích thường xuyên có các chương trình khuyến mãi, giảm giá nhiều mặt hàng khuyến khích nhu cầu mua sắm của người dân. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 16.791,8 tỷ đồng, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 20,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 10.402,5 tỷ đồng, tăng 2,69% so với tháng trước và tăng 20,88% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.330,7 tỷ đồng, tăng 8,4% so với tháng trước và tăng 18,51% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 3.058,7 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 22,79% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 80.343,5 tỷ đồng, tăng 16,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 49.960,2 tỷ đồng, tăng 15,08% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 15.791,3 tỷ đồng, tăng 20,01% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 14.591,9 tỷ đồng, tăng 15,88% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Quản lý thị trường tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu; đồng thời đẩy mạnh đấu tranh với hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ và kiểm soát thị trường đối với mặt hàng gạo, vật liệu xây dựng. Công tác theo dõi cung cầu, giá bán xăng dầu cũng được tăng cường nhằm kịp thời phát hiện các dấu hiệu bất thường như tăng giá bất hợp lý, gián đoạn nguồn cung hoặc ngừng bán hàng không đúng quy định. Trong tháng, lực lượng chức năng đã kiểm tra 159 vụ, phát hiện 151 vụ vi phạm, xử lý 150 vụ với tổng số tiền xử phạt trên 1,1 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 15/12/2025 đến 14/5/2026, đã kiểm tra 629 vụ, với 603 tổng số vụ vi phạm; 604 tổng số vụ xử lý (05 vụ kỳ trước chuyển sang, 03 vụ đoàn kiểm tra liên ngành chuyển sang) với tổng số tiền xử phạt gần 4,8 tỷ đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng Trong tháng và 5 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng; hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của người dân cơ bản ổn định. Tuy nhiên, thị trường hàng hóa và dịch vụ vẫn chịu tác động của nhiều yếu tố như biến động giá nhiên liệu, chi phí vận tải, nhu cầu tiêu dùng theo mùa vụ, cùng với diễn biến giá cả trên thị trường thế giới, qua đó ảnh hưởng trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,21% so với tháng trước. So với tháng 12/2025, CPI trong tháng tăng 0,76% và tăng 4,66% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 5 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,47% so với bình quân cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 07 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,48%; Đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,08%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; Giao thông tăng 0,26%; Giáo dục tăng 0,02%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,12%. Có 04 nhóm hàng giảm giá: May mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,11%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,16%; Thông tin và truyền thông giảm 0,17%; Hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,2%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá xăng tăng 1,39% so với tháng trước, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá trong tháng. Giá nhóm lương thực tăng 0,22% so tháng trước, trong đó chủ yếu các mặt hàng gạo tăng 0,28%; nguyên nhân, do thương lái thu mua lúa giá có phần cao so tháng trước, tác động giá bán thị trường tăng theo; bên cạnh đó, giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và giá vật tư phân bón, nguyên liệu đầu vào sản xuất đang ở mức cao. Giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 0,55% so tháng trước, do giá nguyên vật liệu chế biến, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng; đồng thời trong tháng có kỳ nghỉ Lễ 30/4-01/5 kéo dài nhiều ngày nhu cầu ăn uống bên ngoài tăng. Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,56% do chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là giá nguyên, nhiên liệu sản xuất và chi phí vận chuyển tăng, tác động đẩy giá các loại vật liệu như: cát, đá, xi măng, thép, gạch... tăng so tháng trước. - Nguyên nhân giảm: Giá gas trong tháng giảm 2,92% so với tháng trước, mặc dù giá gas thế giới đi ngang ở mức 775 USD/tấn, giá bán lẻ trong nước công ty điều chỉnh giảm 22.000 đồng/bình 12 kg so với tháng trước. Giá dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 07, 14 và 21 tháng 5/2026, tính bình quân chung tháng 5/2026 chỉ số giá mặt hàng dầu hỏa giảm 21,08% so với tháng trước; giá dầu diezel giảm 16,44% so với tháng trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng đầu năm 2026 tăng 4,47% so với bình quân cùng kỳ năm 2025. * Nguyên nhân tác động đến CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2026 CPI bình quân 5 tháng đầu năm 2026 tăng chủ yếu do giá nhiều nhóm hàng thiết yếu tăng so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm lương thực tăng 2,52%, làm CPI chung tăng 1,13 điểm phần trăm; riêng giá gạo tăng 1,14% do chịu tác động từ giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng tăng trong dịp lễ, Tết. Nhóm thực phẩm tăng 4,94%, làm CPI chung tăng 1,23 điểm phần trăm, đáng chú ý là giá thịt lợn tăng 6,15%, thịt gia cầm tăng 4,36% do nguồn cung thiếu hụt, nhu cầu tiêu dùng tăng và chi phí chăn nuôi còn ở mức cao. Nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 4,97%, làm CPI chung tăng 0,42 điểm phần trăm, do giá lương thực, thực phẩm, gas, chi phí thuê mặt bằng và nhân công tăng. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,99%, tác động làm CPI tăng 1,07 điểm phần trăm, chủ yếu do giá vật liệu xây dựng như xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào; giá thuê nhà ở tăng; giá gas tăng 10,38% và giá dầu hỏa tăng 39,62% theo biến động giá thế giới. Bên cạnh đó, một số nhóm hàng, dịch vụ khác cũng tạo áp lực tăng CPI, như: đồ uống và thuốc lá tăng 3,36%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,12%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,49% do nhu cầu tiêu dùng dịp Tết tăng, trong khi chi phí sản xuất, vận chuyển và nguyên liệu đầu vào tăng. Nhóm giao thông tăng 5,34%, làm CPI chung tăng 0,61 điểm phần trăm, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 9,24% và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 25,57%. Nhóm giáo dục tăng 7,20%, làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm, do một số cơ sở giáo dục ngoài công lập điều chỉnh tăng học phí thường niên. Ở chiều ngược lại, nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,25%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, chủ yếu do giá một số dòng điện thoại thế hệ cũ giảm khi doanh nghiệp triển khai các chương trình khuyến mại, kích cầu tiêu dùng. 3. Hoạt động du lịch Dịp lễ năm nay, nhờ giao thông thuận lợi, thời tiết mát mẻ và nhu cầu nghỉ dưỡng tăng cao, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, thu hút đông đảo du khách. Các điểm đến như Mũi Né, Phan Thiết, Tiến Thành và Đà Lạt tiếp tục được nhiều du khách lựa chọn nhờ kết hợp hài hòa giữa nghỉ dưỡng, vui chơi và trải nghiệm biển. Trong tháng diễn ra nhiều hoạt động hấp dẫn như Lễ hội thả diều “Hello Sunny 2026”, Lễ hội Diều khổng lồ Sky Fest tại Bikini Beach với nhiều chương trình biểu diễn, âm nhạc và pháo hoa. Đặc khu Phú Quý cũng đưa vào hoạt động khu ẩm thực đêm phục vụ du lịch, góp phần hình thành sản phẩm du lịch đêm mới. Bên cạnh đó, ngành đường sắt đã thử nghiệm tour trải nghiệm “Hành trình đêm Đà Lạt” trên tuyến tàu cổ từ Ga Đà Lạt đến Ga Trại Mát, tạo thêm điểm nhấn thu hút du khách. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.115,8 nghìn lượt, tăng 4,52% so tháng trước và tăng 19,39% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 71,5 nghìn lượt, tăng 2,08% so với tháng trước và tăng 13,09% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.909 nghìn ngày khách, tăng 4,21% so với tháng trước và tăng 21,95% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 119 nghìn lượt khách, tăng 8,77% so với tháng trước và tăng 20,96% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 380,7 nghìn ngày khách, tăng 9,52% so với tháng trước và tăng 27,17% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 9.996,5 nghìn lượt, tăng 19,54% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 357,4 nghìn lượt, tăng 16,31% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 18.778,5 nghìn ngày khách, tăng 21,66% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 đạt 724,8 nghìn lượt, tăng 18,76% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.311,2 nghìn ngày khách, tăng 22,41% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến tỉnh trong 5 tháng đầu năm 2026 chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc, Đức, Mỹ, Pháp, Anh. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 654,8 tỷ đồng, tăng 6,38% so với tháng trước và tăng 14,26% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.621,1 tỷ đồng, tăng 9% so với tháng trước và tăng 19,24% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 54,8 tỷ đồng, tăng 5,08% so với tháng trước và tăng 39,84% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 3.262,6 tỷ đồng, tăng 21,89% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 12.265,6 tỷ đồng, tăng 19,15% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 263,1 tỷ đồng, tăng 39,99% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.986,5 tỷ đồng, tăng 4,46% so với tháng trước và tăng 23,17% so với cùng kỳ. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 27.763,1 tỷ đồng, tăng 24,06% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 3.058,7 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 22,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 712,6 tỷ đồng, tăng 2,06% so với tháng trước và tăng 12,79% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 167,7 tỷ đồng, tăng 0,05% so với tháng trước và tăng 8,81% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148,1 tỷ đồng, giảm 0,39% so với tháng trước và tăng 25,64% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 239,8 tỷ đồng, tăng 0,34% so với tháng trước và tăng 13,20% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.478,7 tỷ đồng, giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 34,20% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 311,8 tỷ đồng, tăng 2,61% so với tháng trước và tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 14.591,9 tỷ đồng, tăng 15,88% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 3.557,8 tỷ đồng, tăng 10,69% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 833,5 tỷ đồng, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 728,1 tỷ đồng, tăng 18,37% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 1.198,3 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 6.781,9 tỷ đồng, tăng 20,78% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.492,3 tỷ đồng, tăng 9,75% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trong tháng diễn ra sôi động nhờ nhu cầu đi lại, tham quan tăng cao trong kỳ nghỉ lễ 30/4 và 01/5 kéo dài. Cùng với đó, thời tiết biển thuận lợi, sóng êm đã giúp các tuyến vận tải thủy nội địa, đặc biệt tuyến ra đảo Phú Quý, tăng cường tần suất hoạt động, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và du khách. Doanh thu vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.236,4 tỷ đồng, tăng 3,49% so với tháng trước và tăng 26,62% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.894,6 tỷ đồng, tăng 22,96% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.815,0 nghìn HK, tăng 3,78% so với tháng trước và tăng 10,86% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 407.296,7 nghìn HK.Km, tăng 3,90% so với tháng trước và tăng 11,88% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 13.775,2 nghìn HK, tăng 15,29% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.988.465,3 nghìn HK.Km, tăng 16,18% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 1.982,6 nghìn tấn, tăng 2,59% so với tháng trước và tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 292.351,8 nghìn tấn.Km, tăng 2,77% so với tháng trước và tăng 15,96% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 9.909,7 nghìn tấn, tăng 14,37% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.458.211,3 nghìn tấn.Km, tăng 14,90% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.236,4 tỷ đồng, tăng 3,49% so với tháng trước và tăng 26,62% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 5.894,6 tỷ đồng, tăng 22,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.012,6 tỷ đồng, tăng 26,69% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.889,6 tỷ đồng, tăng 25,58% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 770,6 tỷ đồng, tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 221,8 tỷ đồng, tăng 1,32% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.135,8 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 972,8 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 163 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.527,2,9 tỷ đồng, tăng 3,78% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước thực hiện 16.300 tỷ đồng, bằng 47,34% kế hoạch năm và tăng 17,76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước thực hiện 15.150 tỷ đồng, bằng 46,37% kế hoạch năm và tăng 15,03%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước thực hiện 1.150 tỷ đồng, bằng 65,34% kế hoạch năm và tăng 71,43% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước thực hiện 2.227 tỷ đồng (bằng 58,55% kế hoạch năm và tăng 7,41% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước thực hiện 745 tỷ đồng (bằng 54% kế hoạch năm và tăng 11,4%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước thực hiện 4.286 tỷ đồng (bằng 64,09% kế hoạch năm và tăng 62,62%); thuế thu nhập cá nhân ước thực hiện 1.418 tỷ đồng (bằng 51,94% kế hoạch năm và tăng 5,6%); các khoản thu về nhà, đất ước thực hiện 1.786,2 tỷ đồng (bằng 24,22% kế hoạch năm và giảm 7,33%); thu từ xổ số kiến thiết ước thực hiện 2.800 tỷ đồng (bằng 48,28% kế hoạch năm và tăng 9,51%). 2. Chi ngân sách nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước 3.892,2 tỷ đồng; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 ước 20.976,6 tỷ đồng, bằng 47,15% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 9.046,1 tỷ đồng, bằng 68,46% kế hoạch năm; chi thường xuyên 11.928,2 tỷ đồng, bằng 39,29% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) trong tỉnh ở mức 0,17% - 0,42%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; ở mức 4,28% - 4,74%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; ở mức 6,73% -8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; ở mức 6,88% - 7,98%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh NHTM ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ 9,06%/năm - 10,84%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,3% - 4,66%/năm. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đến 30/4/2026, đạt 237.889 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 8.614 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,76%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 233.187 tỷ đồng (chiếm 98,86% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 2.702 tỷ đồng, (chiếm 1,14% tổng huy động vốn). Ước đến 31/5/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 239.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 9.725 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4,2%. Dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đến 30/4/2026, đạt 373.244 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 2.260 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,361. Trong đó: Dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 370.659 tỷ đồng (chiếm 99,31% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.585 tỷ đồng (chiếm 0,69% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn 264.088 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 109.156 tỷ đồng. Ước đến 31/5/2026, dư nợ cho vay đạt 374.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1%. Đến 30/4/2026, dư nợ cho vay ngành dịch vụ, du lịch, thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 185.088 tỷ đồng, chiếm 49,59% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.630 tỷ đồng, chiếm 8,74% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm thủy sản đạt 155.526 tỷ đồng, chiếm 41,6% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.186 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,7% trong tổng dư nợ tín dụng. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thay mới và trang trí pano các loại, biểu trưng, cổng hơi, cờ hồng, cờ lá pano,… phục vụ công tác tuyên truyền trực quan các nhiệm vụ chính trị và chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026) theo Công văn số 98-CV/BTGDVĐU ngày 14/5/2026 của Ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy về “Đẩy mạnh tuyên truyền Kỷ niệm 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026)”; đồng thời tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến người dân trên địa bàn tỉnh. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ chào mừng kỷ niệm 72 năm Ngày Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2026); 136 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2026) và chương trình Dạ hội Điện ảnh chủ đề “Lâm Đồng - Đại ngàn, hoa và biển” tại Đặc khu Phú Quý; ngoài ra đã thực hiện 55 buổi chiếu phim lưu động tại cơ sở để phục vụ người dân và du khách. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 29.510 lượt khách, trong đó có 1.813 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 6.074 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 3.706 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 1.183 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 13.867 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 4.680 lượt). Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026 đã đón 146.423 lượt khách, trong đó có 13.065 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 41.075 lượt; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 27.272 lượt; Di tích quốc gia đặc biệt Khảo cổ Cát Tiên: 6.307 lượt; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 64.835 lượt; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 6.934 lượt). Ngoài ra đã tổ chức triển lãm ảnh chuyên đề “Chiến thắng Điện Biên Phủ - Mốc vàng lịch sử”; chương trình giáo dục trải nghiệm “Chúng em làm chiến sĩ Điện Biên” và tổ chức trưng bày triển lãm chuyên đề “Sắc màu di sản văn hóa, thiên nhiên và nghề thủ công truyền thống tỉnh Lâm Đồng” tại Trường THCS Nguyễn Du, xã Thuận Hạnh. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ tiếp đón 256 đoàn với 21.838 lượt khách (trong đó có 14 khách quốc tế); phục vụ 45 lễ viếng, lễ kết nạp Đảng, sinh hoạt chuyên đề. Luỹ kế từ ngày 01/01 - 12/5/2026 đã đón 850 đoàn với 55.246 lượt khách (trong đó có 237 khách quốc tế); phục vụ 93 lễ viếng, 03 báo công, 05 kết nạp Đoàn, 01 kết nạp Đảng,... đồng thời tổ chức triển lãm 03 đợt ảnh tư liệu, ảnh nghệ thuật (315 hình ảnh) và thực hiện 06 phóng sự tại Di tích Dục Thanh. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 22 đoàn khách với 3.310 lượt khách; luỹ kế từ ngày 01/01 - 13/5/2026 đã đón 67 đoàn với 11.290 lượt khách (có 17 lượt khách quốc tế) đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 4.848 thẻ (4.029 thẻ thiếu nhi), phục vụ 387.324 lượt bạn đọc, luân chuyển 173.873 lượt tài liệu, trưng bày 129.450 bản sách, giới thiệu trên mạng xã hội 48 bản sách mới, sưu tầm 185 tin bài tỉnh Lâm Đồng và giới thiệu 92 bản sách theo chuyên đề. Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026 đã cấp mới và gia hạn 5.457 thẻ (4.206 thẻ thiếu nhi), phục vụ 1.271.644 lượt bạn đọc, luân chuyển 374.514 lượt tài liệu, trưng bày 141.426 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương và độc giả. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Lễ khai mạc hè, phát động bơi an toàn phòng, chống đuối nước năm 2026; lớp tập huấn bơi an toàn, phòng, chống đuối nước trẻ em trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng năm 2026 (KV1); Hội thi bơi, cứu đuối tỉnh Lâm Đồng năm 2026; Giải thể dục thể hình và nữ fitness vô địch các CLB tỉnh; Môn Cờ tướng - Đại hội Thể dục thể thao tỉnh lần thứ I năm 2026; Giải Vô địch Thể hình các Câu lạc bộ toàn quốc năm 2026. - Thể thao thành tích cao: Trong tháng tổ chức Giải Quần vợt quốc tế NovaWorld Phan Thiet U16 ATF Tennis Classic và UTR Pro Tennis Tour năm 2026; Giải cúp các CLB Yoga tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026; Giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2026 và cử đoàn vận động viên tham gia 12 giải thể thao quốc gia, kết quả đạt được 155 huy chương (20 HCV, 45 HCB, 90 HCĐ). Lũy kế từ ngày 01/01 - 14/5/2026, đã đạt được 222 huy chương (35 HCV, 58 HCB, 129 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Trong tháng, các cơ sở giáo dục tập trung tổ chức dạy và học, ôn thi học kỳ II năm học 2025 - 2026 theo kế hoạch; tiếp tục thực hiện công tác xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn thương tích, an toàn giao thông, phòng chống đuối nước cho trẻ em, phòng chống cháy nổ, các loại tội phạm; đẩy mạnh tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, vệ sinh cảnh quan môi trường “Xanh - Sạch - Đẹp” trong các cơ sở giáo dục và đẩy mạnh công tác chuyển đổi số trong quản lý, giảng dạy. Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 1.593 cơ sở giáo dục với 24.494 lớp và 818.588 học sinh, gồm: 526 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó 400 công lập) với 5.707 lớp và 151.943 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó 558 công lập) với 10.210 lớp và 321.257 học sinh; 365 trường trung học cơ sở (trong đó 363 công lập) với 6.016 lớp và 240.603 học sinh; 122 trường trung học phổ thông với 2.561 lớp và 104.785 học sinh; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó 02 công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ - Tin học; 11 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập với 7.529 học viên. Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Toàn tỉnh có 78 cơ sở GDNN, gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. Tính đến thời điểm 14/5/2026, toàn tỉnh có 931/1.434 trường công lập đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 64,92%); trong đó cấp mầm non 247/400 trường (đạt tỷ lệ 61.75%), cấp tiểu học 355/557 trường (đạt tỷ lệ 63,73%), cấp trung học cơ sở 256/363 trường (đạt tỷ lệ 70,52%) và cấp trung học phổ thông 73/114 trường (đạt tỷ lệ 64,04%). Hiện nay tỉnh tập trung rà soát cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân sự phục vụ kỳ thi; xây dựng phương án bảo đảm an ninh, an toàn, phòng chống gian lận thi cử và các điều kiện phục vụ tổ chức kỳ thi. Kỳ thi năm 2026, toàn tỉnh có 91 điểm thi được bố trí tại các xã, phường, đặc khu; số phòng thi dự kiến: 1.845 phòng; số lượng thí sinh dự kiến đăng ký: 41.309 thí sinh (trong đó thí sinh đang học lớp 12 tại các trường THPT, GDTX: 39.594 thí sinh; thí sinh tự do: 1.715 thí sinh). 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; đồng thời đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống dịch và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phục vụ công tác phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 164 ca mắc sốt xuất huyết mới, bằng so với tháng trước và giảm 35 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong, phát hiện và xử lý 26 ổ dịch. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.600 ca mắc và phát hiện xử lý 125 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 749 ca mắc, tăng 296 ca so với tháng trước và tăng 535 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 2.080 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 10 ca mắc, giảm 06 ca so với tháng trước và giảm 716 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 53 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 3.673 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.337 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.201 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.289 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 3.907 trẻ, mũi 2 cho 3.900 trẻ và mũi 3 cho 4.445 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.722 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 03 bệnh nhân; đang giám sát 10 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân. Bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 01 bệnh nhân (bệnh nhân tử vong). - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân lao mới các thể thu nhận là 163 bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân lao mới các thể/dân số là 04 bệnh nhân/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03 bệnh nhân/100.000 dân; bệnh nhân lao kháng thuốc trong tháng là 04 bệnh nhân . - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 05 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 02 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.818 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.789 người, tử vong 1.574 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 473.726 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 37.342 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 234.326 ngày, xét nghiệm cho 671.773 tiêu bản, chẩn đoán 145.500 hình ảnh và phẫu thuật 5.528 trường hợp. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 2.161.490 lượt người; 171.671 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 1.035.416 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,27 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 85,0%; ước xét nghiệm cho 2.593.528 tiêu bản; chẩn đoán 627.601 hình ảnh và phẫu thuật cho 24.561 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 44 cơ sở (trong đó 05 bếp ăn tập thể và bếp ăn trường học, cả 05 cơ sở đều đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm), kết quả có 8 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 52,5 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 4.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; các chính sách an sinh xã hội và đầu tư trong vùng đồng bào DTTS và miền núi, đặc biệt là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi được Nhà nước quan tâm triển khai. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy. Hiện nay, do ảnh hưởng của giá xăng, dầu tăng cao, tình trạng thiếu nước tưới trong mùa khô xảy ra ở một số địa phương đã hưởng đến đời sống, sinh hoạt và sản xuất của người dân, trong đó có đồng bào DTTS. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng. Các hoạt động thể thao truyền thống, trò chơi dân gian, hoạt động vui chơi giải trí được quan tâm tổ chức; công tác quảng bá các sản phẩm OCOP và đặc sản địa phương gắn liền với bản sắc văn hóa vùng đồng bào DTTS được triển khai thông qua các chương trình kích cầu du lịch hè 2026, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào DTTS. - Hoạt động giáo dục tiếp tục được quan tâm, đầu tư. Công tác xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới và vùng sâu, vùng xa được triển khai tích cực để đầu năm học 2026 - 2027 đưa vào sử dụng. Hiện nay, các trường học vùng đồng bào DTTS của tỉnh tập trung vào tổ chức kỳ thi học kỳ II năm học 2025 - 2026 và chuẩn bị tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh các giải pháp nhằm giảm tỷ lệ học sinh yếu kém và đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục bình đẳng cho học sinh vùng đồng bào DTTS. - Hệ thống Y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Các hoạt động khám chữa bệnh, tiêm chủng,… tiếp tục được triển khai có hiệu quả. Trong tháng, tỉnh đã xây dựng Kế hoạch hoạt động của Ban Chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT tỉnh Lâm Đồng năm 2026; trong đó, trọng tâm là tỷ lệ bao phủ BHYT toàn dân, BHYT hộ gia đình, tỷ lệ tham gia BHXH, BHXH tự nguyện năm 2026 và xây dựng chính sách hỗ trợ đóng BHYT cho đồng bào người DTTS đang sinh sống tại địa bàn các xã, thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh. 4.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh Lâm Đồng ban hành Kế hoạch hướng dẫn tổ chức Đại lễ Phật đản năm 2026 và tổ chức các hoạt động nhân dịp kỷ niện Đại lễ Phật đản năm 2026, qua đó phần lan tỏa giá trị hòa bình, nhân ái, hướng thiện và gắn kết cộng đồng; tổ chức mở lớp bồi dưỡng cho 52 chư Ni hệ phái khất sỹ tại Tịnh xá Ngọc Cảnh, phường Xuân Hương - Đà Lạt; Ban Hướng dẫn Phật tử tỉnh, thuộc Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Lâm Đồng tổ chức Trại Huấn luyện Huynh trưởng cấp II - Huyền Trang 1-2026 tại Chùa Linh Quang, đặc khu Phú Quý, có khoảng 120 trại sinh tham dự. Các cơ sở Công giáo trên địa bàn tỉnh tổ chức hoạt động tôn giáo theo kế hoạch. Tu hội Truyền giáo Thánh Vinh Sơn - Tỉnh dòng Việt Nam, phường Xuân Hương- Đà Lạt tổ chức Thánh lễ bế mạc năm Thánh và kỷ niệm 400 năm thành lập Tu hội, 70 năm Tu hội hiện diện tại Việt Nam, có khoảng 2.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong và ngoài tỉnh tham dự; Giáo phận Ban Mê Thuột tổ chức Thánh lễ tạ ơn thành lập Giáo xứ Hòa Thuận, xã Quảng Tín và bổ nhiệm linh mục quản xứ tiên khởi, có khoảng 1.000 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân trong giáo phận tham dự; Giám mục Giáo phận Đà Lạt, Giáo phận Phan Thiết và Giáo phận Ban Mê Thuột tham gia cùng Phái đoàn Hội đồng Giám mục Việt Nam (gồm 37 chức sắc, chức việc) hoạt động tôn giáo tại Toà Thánh Vatican; các Giáo xứ thuộc các Giáo phận trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng tổ chức Thánh lễ, dâng hoa, rước kiệu mừng kính Đức Mẹ Maria trong chuỗi sự kiện của Tháng Hoa năm 2026. Ban Đại điện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh tổ chức lễ ra mắt công nhận Chi hội và bổ nhiệm chức việc làm quản nhiệm Chi hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam) xã Ka Đô và xã Tà Hine, có khoảng 1.600 người là chức sắc, chức việc, tín đồ trong và ngoài tỉnh tham dự; tổ chức huấn luyện chấp sự, đặc trách các điểm nhóm, tại Chi hội Tin Lành Liên Nghĩa, xã Đức Trọng và Chi hội Tin Lành Bảo Lộc, phường 1 Bảo Lộc, có khoảng 1.000 người tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 4.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 402 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Tổ chức thăm, tặng quà người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng nhân dịp kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Miền nam, thống nhất đất nước; đồng thời tổ chức đưa 189 lượt người có công với cách mạng đi điều dưỡng tập trung tại trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công tỉnh Khánh Hòa và Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng. Từ đầu năm đến nay đã giải quyết 1.551 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chi trả trợ cấp hàng tháng không dùng tiền mặt cho 13.802 người có công với cách mạng với tổng kinh phí 182,24 tỷ đồng. Phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 người (47 căn xây mới, 40 căn sửa chữa). Tổ chức 04 đợt điều dưỡng tập trung đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ tại Trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công Khánh Hòa, Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng với 425 lượt người. Phê duyệt Quyết định điều dưỡng tại nhà đối với người có công với cách mạng và thân nhân liệt sĩ với 3.745 người, tổng kinh phí 9,4 tỷ đồng. 5. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết ngày 30/4/2026, toàn tỉnh có 314.472 người tham gia BHXH, tăng 0,75% so với tháng trước; có 238.238 người tham gia BHTN, tăng 0,4%; 3.074.232 người tham gia BHYT, tăng 0,87% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 90,75% dân số. Trong tháng đã giải quyết mới 10.708 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.682 người (trong đó: 120 người hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng; 2.555 người hưởng trợ cấp 1 lần; 6.500 người hưởng chế độ ốm đau; 1.193 người hưởng chế độ thai sản; 340 người hưởng chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; 1.592 người hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng và 90 người được hỗ trợ học nghề). Lũy kế đến ngày 30/4/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 36.354 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 5.084 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 522 người; trợ cấp 1 lần cho 8.531 người; chế độ ốm đau cho 21.141 người; chế độ thai sản cho 4.833 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 1.327 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 4.861 người và hỗ trợ học nghề cho 223 người). 6. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/4 - 14/5/2026) Trong tháng xảy ra 41 vụ tai nạn giao thông, giảm 13 vụ so với tháng trước và giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 27 người, giảm 12 người so với tháng trước và giảm 04 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 18 người, giảm 19 người so với tháng trước và giảm 39 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 xảy ra 291 vụ (trong đó có 05 vụ đường sắt), giảm 78 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 183 người, tăng 14 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 189 người, giảm 107 người so với cùng kỳ năm trước. 7. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 23/4 - 25/5/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 04 vụ thiên tai do mưa lớn kèm theo giông lốc, sét xảy ra tại xã Đạ Huoai 2, xã Hàm Kiệm, xã Đạ Huoai 2, xã Nâm Nung và xã Cát Tiên 3. Thiên tai đã làm cuốn trôi và mất tích 01 người, 09 căn nhà bị tốc mái (01 nhà bị tốc mái hoàn toàn), 35 ha cây sầu riêng, sét đánh làm cháy hệ thống điện làm chết khoảng 70.000 con gà của Công ty TaFa Việt, xã Trà Tân; ước thiệt hại khoảng 17,25 tỷ đồng. Lũy kế từ ngày 28/12/2025 đến nay xảy ra 08 vụ thiên tai, làm tốc mái 26 căn nhà (03 nhà bị sập tốc mái hoàn toàn) và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; ước tổng giá trị thiệt hại 17,90 tỷ đồng. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 16/4 - 15/5/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 09 vụ cháy nổ, giảm 03 vụ so với tháng trước và bằng với số vụ của cùng kỳ năm trước, ước thiệt hại 248,5 triệu đồng. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 37 vụ cháy, tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước, làm 02 người chết và 03 người bị thương; ước tổng giá trị thiệt hại 2.819 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra vi phạm (cùng kỳ năm trước xảy ra 03 vụ vi phạm và xử phạt 585 triệu đồng). Lũy kế 5 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 11 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 415,0 triệu đồng. * Đánh giá chung Trong tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực trên nhiều lĩnh vực. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản cơ bản ổn định; diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 3,2% so với cùng kỳ; chăn nuôi tiếp tục phát triển, tổng sản lượng thịt hơi 5 tháng tăng 9,51%; khai thác thủy sản duy trì. Sản xuất công nghiệp phục hồi rõ nét, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 5 tháng đầu năm tăng 8,04%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,01%, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế địa phương. Khu vực thương mại, dịch vụ và du lịch tiếp tục là điểm sáng nổi bật. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ 5 tháng tăng 16,17% so với cùng kỳ; trong đó doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành tăng 20,01%. Hoạt động du lịch phục hồi mạnh, toàn tỉnh đón gần 10 triệu lượt khách, tăng 19,54%; doanh thu từ hoạt động du lịch tăng 24,06%. Hoạt động vận tải, kho bãi tăng trưởng khá, doanh thu 5 tháng tăng 22,96%, phản ánh nhu cầu đi lại, lưu thông hàng hóa và hoạt động du lịch tiếp tục sôi động. Hoạt động đầu tư, phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư có chuyển biến tích cực. Số doanh nghiệp thành lập mới, tăng 96,2%; số doanh nghiệp hoạt động trở lại, tăng 15,72%; thu hút 22 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký 115.171,5 tỷ đồng. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn bằng 47,34% dự toán năm và tăng 17,76% so với cùng kỳ. Lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện; các hoạt động tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức phù hợp với nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân. Công tác giáo dục tập trung hoàn thành chương trình năm học, chuẩn bị các điều kiện tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2026. Công tác y tế, phòng chống dịch bệnh và khám chữa bệnh tiếp tục được triển khai. Các chính sách dân tộc, tôn giáo, người có công và bảo hiểm xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn tỉnh đạt 90,75% dân số. Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số khó khăn. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn thấp so với yêu cầu, trong khi khối lượng vốn còn lại phải thực hiện trong các tháng cuối năm rất lớn. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 5 tháng tăng 4,47%, trong đó nhiều nhóm hàng thiết yếu như lương thực, thực phẩm, nhà ở, vật liệu xây dựng, giao thông, giáo dục tăng, tạo áp lực nhất định đến chi phí sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân. Hoạt động doanh nghiệp tuy có tín hiệu tích cực về số doanh nghiệp thành lập mới, nhưng có 1.086 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động và 393 doanh nghiệp giải thể. Trong nông nghiệp, dịch tả lợn Châu Phi tiếp tục là yếu tố rủi ro cần theo dõi, kiểm soát chặt chẽ để hạn chế lây lan, bảo đảm ổn định sản xuất chăn nuôi. Một số vấn đề xã hội như dịch bệnh ở người, tai nạn giao thông, thiên tai, giông lốc, sét, thiếu nước tưới cục bộ trong mùa khô vẫn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất và an sinh xã hội. THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG -----
Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Lễ kỷ niệm và Tọa đàm 80 năm thành lập ngành Thống kê Việt Nam (06/5/1946 - 06/5/2026)
- 04/05/2026 13:49
Sáng ngày 28/4/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng long trọng tổ chức Lễ kỷ niệm và Tọa đàm 80 năm thành lập ngành Thống kê Việt Nam (06/5/1946 - 06/5/2026) với chủ đề “Thống kê Việt Nam: 80 năm đồng hành cùng đất nước - xây dựng và phát triển”. Tham dự chương trình có đồng chí Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh; các đồng chí Phó Trưởng Thống kê tỉnh; lãnh đạo, công chức, người lao động các phòng thuộc cơ quan Thống kê tỉnh; lãnh đạo, công chức các Thống kê cơ sở. Chương trình được tổ chức bằng hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, tạo điều kiện để công chức, người lao động toàn ngành cùng tham dự, cùng ôn lại truyền thống vẻ vang của ngành Thống kê Việt Nam. Chương trình gồm hai phần: phần lễ kỷ niệm và phần tọa đàm, diễn ra trong không khí trang trọng, ấm áp, đoàn kết và đầy tự hào. Trang trọng phần lễ kỷ niệm 80 năm thành lập ngành Cách đây 80 năm, ngày 06/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 61/SL thành lập Nha Thống kê Việt Nam thuộc Bộ Quốc dân Kinh tế, đặt nền móng cho sự ra đời và phát triển của ngành Thống kê Việt Nam. Trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Thống kê luôn đồng hành cùng đất nước trong các giai đoạn lịch sử, cung cấp thông tin trung thực, khách quan, kịp thời, phục vụ công tác lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Tại phần lễ, các đại biểu đã cùng theo dõi video clip kỷ niệm 80 năm thành lập ngành Thống kê Việt Nam, ôn lại chặng đường vẻ vang của các thế hệ công chức, người lao động ngành Thống kê qua các thời kỳ. Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của ngày thành lập ngành Thống kê Việt Nam; đồng thời ghi nhận, biểu dương những nỗ lực, đóng góp của đội ngũ công chức, người lao động ngành Thống kê các tỉnh Lâm Đồng. Đồng chí khẳng định, trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, những người làm công tác thống kê luôn giữ vững phẩm chất trung thực, khách quan, tận tụy với nghề; âm thầm, bền bỉ trên mặt trận số liệu, góp phần quan trọng vào việc cung cấp thông tin phục vụ công tác tham mưu, hoạch định chính sách và điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Kỷ niệm 80 năm thành lập ngành không chỉ là dịp để ôn lại truyền thống, tri ân những đóng góp của các thế hệ đi trước, mà còn là thời điểm để mỗi công chức, người lao động Thống kê tỉnh Lâm Đồng nhận thức sâu sắc hơn trách nhiệm của mình trong giai đoạn phát triển mới. Sôi nổi phần tọa đàm: Nhìn lại truyền thống, định hướng tương lai Sau phần lễ kỷ niệm, chương trình tiếp tục với phần tọa đàm. Đồng chí Nguyễn Hoài Hải - Phó Trưởng Thống kê tỉnh trình bày chuyên đề “Thống kê Việt Nam: 80 năm đồng hành cùng đất nước - xây dựng và phát triển”. Chuyên đề đã khái quát ý nghĩa lịch sử ngày thành lập ngành Thống kê Việt Nam; truyền thống 80 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển; vị thế, vai trò ngày càng quan trọng của ngành Thống kê trong hệ thống quản lý nhà nước. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và yêu cầu quản trị dựa trên dữ liệu, thông tin thống kê ngày càng khẳng định vai trò là cơ sở quan trọng để đánh giá thực trạng, dự báo xu hướng, hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực phát triển. Những năm gần đây, ngành Thống kê Việt Nam tiếp tục đổi mới toàn diện từ thể chế, phương pháp, quy trình sản xuất thông tin thống kê đến ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo nhằm nâng cao hiệu quả thu thập, xử lý, tổng hợp, phân tích và phổ biến thông tin thống kê. Đây cũng là định hướng quan trọng đối với Thống kê tỉnh Lâm Đồng trong quá trình nâng cao chất lượng công tác chuyên môn, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của cấp ủy, chính quyền, cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Trong phần tọa đàm, đại diện một số phòng thuộc Thống kê tỉnh và Thống kê cơ sở đã trình bày các tham luận, cùng chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; trao đổi những thuận lợi, khó khăn và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác thống kê trong thời gian tới. Các ý kiến tham luận tập trung vào nhiều nội dung thiết thực như: nâng cao chất lượng thông tin thống kê; tăng cường phối hợp, chia sẻ dữ liệu với các sở, ban, ngành và địa phương; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động điều tra, tổng hợp, phân tích số liệu; phát huy vai trò của Thống kê cơ sở trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp; xây dựng đội ngũ công chức thống kê có bản lĩnh, chuyên môn vững vàng, kỹ năng số và tư duy phân tích. Phát biểu bế mạc chương trình, đồng chí Phạm Quốc Hùng nhấn mạnh một số nhiệm vụ trọng tâm để ngành Thống kê tỉnh Lâm Đồng tiếp tục phát triển vững mạnh trong thời gian tới. Trước hết, cần tiếp tục tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp; tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan Thống kê với các sở, ban, ngành, địa phương trong việc thu thập, chia sẻ, khai thác và sử dụng dữ liệu. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm khắc phục các điểm nghẽn về cơ sở dữ liệu, nâng cao chất lượng thông tin thống kê, phục vụ kịp thời công tác chỉ đạo, điều hành. Bên cạnh đó, toàn ngành cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quy trình thống kê; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu hành chính, cơ sở dữ liệu dùng chung. Đồng thời, tiếp tục nâng cao chất lượng phân tích, dự báo thống kê; chuyển mạnh từ cung cấp số liệu đơn thuần sang cung cấp thông tin có chiều sâu, có giá trị tham mưu, phục vụ hiệu quả hơn cho công tác quản lý, điều hành phát triển kinh tế - xã hội. Đồng chí cũng yêu cầu tiếp tục củng cố vai trò của Thống kê cơ sở trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp; quan tâm xây dựng đội ngũ công chức, người lao động ngành Thống kê có bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, kỹ năng số, tư duy đổi mới và tinh thần trách nhiệm cao. Chương trình Lễ kỷ niệm và Tọa đàm 80 năm thành lập ngành Thống kê Việt Nam của Thống kê tỉnh Lâm Đồng khép lại trong không khí đoàn kết, phấn khởi và đầy ý nghĩa. Đây là dịp để toàn thể công chức, người lao động ngành Thống kê tỉnh Lâm Đồng thêm tự hào về truyền thống vẻ vang của ngành; đồng thời tiếp thêm động lực để tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động trong giai đoạn mới. Bước vào chặng đường phát triển tiếp theo, nhất là trong bối cảnh tỉnh Lâm Đồng sau sáp nhập có quy mô kinh tế, dân số và yêu cầu quản lý ngày càng lớn, ngành Thống kê tỉnh nhận thức rõ trách nhiệm nặng nề nhưng rất vẻ vang của mình. Với phương châm “Trung thực - Khách quan - Kịp thời”, Thống kê tỉnh Lâm Đồng quyết tâm tiếp tục phát huy truyền thống 80 năm của ngành Thống kê Việt Nam, xây dựng hệ thống thông tin thống kê ngày càng hiện đại, minh bạch, tin cậy; phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, góp phần đưa Lâm Đồng phát triển nhanh, bền vững trong thời gian tới./. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh của buổi tọa đàmĐồng chí Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu tại Lễ kỷ niệm và Tọa đàm 80 năm thành lập ngành Thống kê Việt Nam.Đồng chí Nguyễn Hoài Hải - Phó Trưởng Thống kê tỉnh trình bày chuyên đề “Thống kê Việt Nam: 80 năm đồng hành cùng đất nước - xây dựng và phát triển” Đồng chí Nguyễn Văn Tỉnh và đồng chí Nguyễn Hoài Hải - Phó Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì phần tọa đàm. Báo cáo tham luận của một số Phòng và Thống kê cơ sở
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
- 03/05/2026 08:00
I. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Trong tháng, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tương đối ổn định. Các địa phương trên địa bàn tỉnh tích cực thu hoạch cho vụ Đông xuân và xuống giống cho vụ Hè thu. Chăn nuôi duy trì xu hướng tích cực, đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi được kiểm soát hiệu quả, không có dịch bệnh nghiêm trọng xảy ra. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào khâu chăm sóc rừng, ươm cây giống lâm nghiệp. Khai thác thủy sản giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước do giá nhiên liệu cao, một số đội tàu khai thác xa bờ tạm dừng khai thác. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tính đến ngày 15/4/2026 ước đạt 116.049 ha, tăng 3,14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 57.690 ha, tăng 2% (diện tích lúa tăng chủ yếu ở các xã Đức Linh, xã Tánh Linh xuống giống sớm trong vụ Hè thu); cây ngô, diện tích ước đạt 6.280 ha, tăng 2,36%; rau các loại, diện tích ước đạt 32.380 ha, tăng 4,85%; hoa các loại, diện tích ước đạt 4.900 ha, tăng 4,90%; đậu các loại, diện tích ước đạt 2.910 ha, tăng 2,16%; cây hàng năm còn lại, diện tích ước đạt 11.889 ha, tăng 4,13%. 1.2. Cây lâu nămTrong tháng, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung đầu tư, chăm sóc các loại cây trồng lâu năm; trên địa bàn tỉnh đã xuất hiện mưa cục bộ một số nơi, lượng nước mùa khô cơ bản đủ cung cấp cho cây trồng. - Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.732 ha; cây đang trong giai đoạn đậu quả, người dân chủ động tưới nước, chăm sóc tốt ở vùng trọng điểm như Di Linh, Lâm Hà, Đức Trọng, Đắk Mil, Đắk Song, Đắk R’lấp;- Cây cao su: Diện tích hiện có 75.371 ha; diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện; - Cây sầu riêng: Diện tích hiện có 44.224 ha; hiện đang giai đoạn chăm sóc nuôi trái, sinh trưởng tương đối ổn định; nhờ hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác nên người dân đang tích cực đầu tư, tăng năng suất. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhất là nhu cầu từ Trung Quốc, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh;- Cây tiêu: Diện tích hiện có 37.760 ha; người dân đang hoàn tất thu hoạch vụ tiêu năm 2025-2026. Giá hồ tiêu duy trì ở mức cao (khoảng 148.000 - 151.000 đồng/kg) đã góp phần cải thiện thu nhập cho người sản xuất;- Cây thanh long: Diện tích hiện có 25.802 ha; cây sinh trưởng tương đối ổn định, sâu bệnh phát sinh ít; người dân đang chuyển từ mở rộng diện tích sang nâng cao năng suất, chất lượng như mở rộng sản xuất VietGAP, GloabaGAP; - Cây chè: Diện tích hiện có 9.282 ha; giá chè duy trì ổn định, thị trường tiêu thụ thuận lợi, góp phần duy trì hiệu quả sản xuất của ngành chè trên địa bàn tỉnh; tuy nhiên diện tích chè chủ yếu đã già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp nên người dân đang dần chuyển đổi sang cây cà phê, sầu riêng,...; - Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.217 ha; những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích.1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định sản xuất nông nghiệp trong những tháng mùa khô; tổng diện tích được cấp nước tưới từ nguồn nước thủy lợi, thủy điện là 99.242 ha, đạt 22,8% diện tích sản xuất nông nghiệp được tưới. Chuẩn bị bước vào mùa mưa công tác phòng, chống thiên tai được chủ động triển khai, rà soát, cập nhật phương án phòng, chống thiên tai, tăng cường quản lý an toàn công trình thủy lợi, hồ đập. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; một số loại sâu bệnh hại trên cây trồng, cụ thể: Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 80 ha, bệnh đạo ôn lá gây hại 377 ha, chuột gây hại 290 ha, rầy nâu gây hại 249 ha (so với tháng trước, sâu đục thân gây hại giảm 142 ha, bệnh đạo ôn lá gây hại giảm 167 ha, chuột gây hại giảm 73 ha, rầy nâu gây hại tăng 109 ha); Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 1.796 ha (tăng 35 ha so với tháng trước); Cây cà phê: Mọt đục cành gây hại 1.661 ha (tăng 771 ha so với tháng trước); Bọ xít muỗi gây hại 1.585 ha cà phê chè (giảm 581 ha so với tháng trước); Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.931 ha (tăng 680 ha so với tháng trước), bệnh thán thư gây hại 2.919 ha (giảm 176 ha so với tháng trước); Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 92 ha (tăng 27 ha so với tháng trước); Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 527 ha (giảm 95 ha so với tháng trước); bệnh thối rễ tóp cành gây hại 119 ha (giảm 03 ha so với tháng trước); ốc sên gây hại 137 ha (tăng 24 ha so với tháng trước); 2. Chăn nuôi Trong tháng, tình hình chăn nuôi tiếp tục duy trì và phát triển ổn định; quy mô đàn các loại vật nuôi đều có xu hướng tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, hoạt động chăn nuôi còn gặp nhiều khó khăn do giá thức ăn tăng cao, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính trong tháng đạt 34.998 tấn, tăng 12,17% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 128.226,7tấn, tăng 10,47%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,8 nghìn con, tăng 0,45% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tăng nhẹ cho thấy sự ổn định của loại vật nuôi này trong điều kiện hiệu quả kinh tế chưa thật sự nổi trội. Người dân chủ yếu duy trì quy mô đàn để phục vụ nhu cầu sản nuất nông nghiệp và cung cấp thịt tại chỗ. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,5 nghìn con, tăng 1,69% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 30,1 nghìn con, tăng 3,81%). Quy mô đàn bò được duy trì mức tăng bền vững nhờ thị trường tiêu thụ tương đối ổn định. Việc chú trọng cải thiện con giống, nâng cao kỹ thuật chăm sóc và áp dụng chăn nuôi an toàn sinh học đã góp phần nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.498 nghìn con, tăng 6,09% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.225 nghìn con, tăng 7,19%). Quy mô đàn lợn tăng chủ yếu từ khu vực chăn nuôi trang trại và doanh nghiệp, với xu hướng mở rộng quy mô, đầu tư bài bản và liên kết sản xuất theo chuỗi. Công tác kiểm soát dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn châu Phi, được triển khai hiệu quả đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tái đàn và phát triển đàn lợn. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.600 nghìn con gia cầm, tăng 7,11% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.200 nghìn con, chiếm 71,68% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,88%). Với ưu thế thời gian nuôi ngắn, chi phí đầu tư linh hoạt và khả năng quay vòng vốn nhanh, chăn nuôi gia cầm tiếp tục là lựa chọn phù hợp của nhiều hộ dân và doanh nghiệp, nhất là trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng thịt và trứng duy trì ổn định. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong tháng, tại phường Bắc Gia Nghĩa, xã Đạ Tẻh 3, xã Đạ Hoai phát sinh 03 hộ có lợn mắc bệnh và chưa qua 21 ngày, với số lợn bị tiêu hủy 1.132 con. Lũy kế từ ngày 01/01/2026 đến nay, tổng số lợn mắc bệnh chết và bị tiêu hủy 2.231 con. - Các dịch bệnh nguy hiểm khác (như bệnh heo tai xanh, lở mồm long móng, tụ huyết trùng, cúm gia cầm,...) không xảy ra. - Công tác phòng, chống dịch bệnh: Thực hiện tiêu hủy, khoanh vùng xử lý bệnh DTLCP phát sinh; triển khai tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường, tiêm phòng vắc xin cho đàn vật nuôi. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong tháng, hoạt động trồng rừng chưa được triển khai, chủ yếu tập trung chăm sóc rừng, chuẩn bị mặt bằng, ươm giống cây trồng. Tỉnh đã tăng cường công tác quản lý, bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng, lấn chiếm đất lâm nghiệp. Tuy nhiên, trong tháng đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 0,87 ha; lũy kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 02 vụ cháy rừng, diện tích rừng bị thiệt hại 0,87 ha (so với cùng kỳ, số vụ cháy rừng giảm 03 vụ, diện tích rừng thiệt hại giảm 0,3 ha). - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 43.094 m3, tăng 5,09% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 147.159 m3, tăng 3,26%. - Sản lượng củi khai thác ước đạt 26.464 ste, tăng 1,46% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 119.923 ste, tăng 1,97%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/3 - 10/4/2026) là 48 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 30 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 6,9 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm tăng 11 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật tăng 18 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại tăng 5,6 ha). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/4/2026), tổng số vụ vi phạm là 187 vụ bằng cùng kỳ năm trước (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 79 vụ, giảm 26 vụ; diện tích rừng bị thiệt hại 13,5 ha, giảm 1,6 ha). 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 467,9 ha, tăng 2,26% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.895,4 ha, tăng 1,17% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 1.703,7 ha, tăng 1,15%; diện tích nuôi tôm (chủ yếu là tôm thẻ trắng) đạt 175 ha, tăng 1,93%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.315 tấn, tăng 0,80% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 380 tấn, tăng 4,08%). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 9.270,9 tấn, tăng 1,0% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.530 tấn, tăng 3,79%). - Khai thác thủy sản: Trong tháng, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền khai thác quyết tâm bám biển khai thác dù giá dầu tăng cao; đặc biệt nguồn lợi cá cơm xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho các tàu nghề vây cá nồi nhỏ, nghề pha xúc đánh bắt. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn, quần đảo Trường Sa, nhà giàn DK. Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 18.670 tấn, giảm 1,31% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 18.590 tấn, giảm 1,48%). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 72.354,7 tấn, tăng 2,82 (sản lượng khai thác biển đạt 71.711,8 tấn, tăng 2,18%). - Sản xuất giống thuỷ sản: Hoạt động sản xuất tôm giống gắn với công tác kiểm dịch, phân tích xét nghiệm mẫu được duy trì thường xuyên, chất lượng tôm giống được giữ vững trên thị trường. Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống. Sản lượng tôm giống sản xuất trong tháng ước đạt 2,2 tỷ post, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 8,1 tỷ post, tăng 4,11%. II. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Những tháng đầu năm ngành công nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có nhiều chuyển biến tích cực, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 12,90% so với tháng trước, tính chung 4 tháng đầu năm 2026 tăng 8,07% so với cùng kỳ, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,65%. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 12,90% so với tháng trước và tăng 15,17% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 7,04% so với cùng kỳ năm trước; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 19,72%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 13,53%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,40%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,96%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,65%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,93%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,71%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 415.415 m3, tăng 8,40% so với tháng trước và tăng 8,31% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.306.321 m3, tăng 17,71% so với cùng kỳ. Nguyên nhân tăng do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình xây dựng trong điều kiện tỉnh đang tập trung nhiều giải pháp để giải ngân vốn đầu tư công cũng như đạt chỉ tiêu về vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.520 tấn, giảm 5,49% so với tháng trước nhưng tăng 8,17% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 12.486 tấn, tăng 10% so với cùng kỳ. - Các sản phẩm từ thuỷ sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 1.835 tấn, tăng 3,79% so với tháng trước và tăng 19,11% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 7.827 tấn, tăng 23,90% so với cùng kỳ. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 22.440 nghìn lít, tăng 7,58% so với tháng trước và tăng 21,75% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 86.208 nghìn lít, tăng 16,11% so với cùng kỳ do các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 646 nghìn đôi, tăng 7,52% so với tháng trước và tăng 20,06% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.220 nghìn đôi, tăng 27,02% so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng mới ngay từ các tháng đầu năm. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 11.095 tấn giảm 20,84% so với tháng trước nhưng tăng 40,71% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 46.123 tấn, tăng 50,92% so với cùng kỳ, nguyên nhân trong tháng giảm do ảnh hưởng của giá xăng dầu nên các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất, tuy nhiên so với cùng kỳ và cộng dồn vẫn tăng cao là do các doanh nghiệp đã chủ động cho kế hoạch cả năm 2026. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 126,5 nghìn tấn, tăng 9,13% so với tháng trước và tăng 3,85% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 528,313 nghìn tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.649 triệu kwh, tăng 19,64% so với tháng trước và tăng 13,5% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 11.420 triệu kwh, tăng 2,69% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 505 triệu kwh, giảm 4,68% so với tháng trước nhưng tăng 4,76% so với cùng kỳ; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 2.001 triệu kwh tăng 5,62% so với cùng kỳ. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 2,98% so với tháng trước và tăng 8,74% so cùng kỳ; trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,82%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,32%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,75%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,13%. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, Chỉ số sử dụng lao động tăng 6,09%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 1,33%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,01%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,02%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,47%. Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước và xu hướng cao hơn bình quân các tháng đầu năm 2026 là một tín hiệu tích cực, các doanh nghiệp tuyển dụng lao động phục vụ cho hoạt động sản xuất; dự báo thị trường lao động trong các ngành công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. 1.4. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Hiện nay trong các KCN có khoảng 166 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh. Lũy kế đến hết tháng 3/2026, doanh thu đạt 9.300 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 171,6 triệu USD; nộp ngân sách đạt 551 tỷ đồng. Đầu năm đến nay thu hút được 05 dự án đầu tư, trong đó có 01 dự án nước ngoài và 04 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký 178,66 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích 4,08 ha. Cụ thể: - Dự án Công ty TNHH Etoile Du Matin của Công ty TNHH Semo Vina (vốn 0,2 triệu USD, thuê lại 0,3 ha nhà xưởng) tại KCN Lộc Sơn. - Nhà máy sản xuất hàng may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam của Công ty TNHH may mặc Bảo Lộc Bảo Lợi Việt Nam (vốn 26 tỷ, diện tích 0,3128 ha) tại KCN Lộc Sơn. - Kho Transimex Phú Hội của Công ty cổ phần Transimex Logistics (vốn 98,658 tỷ, diện tích 1,29 ha). - Nhà máy sản xuất ống nhựa của Công ty TNHH MTV nhựa Stroman Lâm Đồng (vốn đầu tư 40 tỷ đồng, diện tích 1,3879 ha) tại KCN Phú Hội. - Nhà máy sản xuất giấy Trường Phát Tâm của Công ty TNHH Trường Phát Tâm (vốn đầu tư 14 tỷ đồng, diện tích 1,0887 ha) tại KCN Phú Hội. Công tác đầu tư hạ tầng các KCN được các chủ đầu tư quan tâm triển khai, có 5/14 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị khoảng 2,82 tỷ đồng đạt 0,32% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026, giảm 89,258% so với cùng kỳ (43,82 tỷ đồng), gồm: KCN Phan Thiết giai đoạn 1; KCN Hàm Kiệm I; KCN Hàm Kiệm II; KCN Sông Bình; KCN Tân Đức. Tình hình thu hút dự án đến nay: - KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án đầu tư có vốn 6 nước ngoài và 15 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước. - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài). - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước). - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Đầu tư phát triển Trong tháng, tình hình thực hiện vốn ngân sách nhà nước tại tỉnh ghi nhận sự chuyển động tích cực với mục tiêu trọng tâm là hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật và các tuyến giao thông kết nối vùng. Tỉnh tập trung cao độ các nguồn lực để triển khai đồng loạt các dự án trọng điểm và khẩn trương hoàn thiện hồ sơ pháp lý cho 43 dự án khởi công mới trong năm. Tuy nhiên, công tác thực hiện các dự án chưa đạt kỳ vọng do vướng mắc kéo dài trong giải phóng mặt bằng và sự chồng lấn quy hoạch khai thác khoáng sản. Bên cạnh đó, áp lực từ việc tăng giá nhiên liệu cùng tình trạng khan hiếm nguồn cung vật liệu xây dựng tại chỗ đã gây ra những trở ngại lớn cho năng lực thực thi của các đơn vị thi công. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 769,9 tỷ đồng, tăng 3,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 718,1 tỷ đồng, chiếm 93,27% và tăng 3,21% so với cùng kỳ (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 331,7 tỷ đồng, tăng 33,08% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 102,6 tỷ đồng, giảm 45,5% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 11,2 tỷ đồng, giảm 31,91% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 267,8 tỷ đồng, tăng 11,91% so với cùng kỳ; vốn khác 4,8 tỷ đồng, tăng 86,1% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 51,8 tỷ đồng, chiếm 6,73% và tăng 1,8% so với cùng kỳ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 2.680,6 tỷ đồng, đạt 17,61% so với kế hoạch năm, tăng 4,04% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 2.500,4 tỷ đồng, tăng 4,12% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 1.166,2 tỷ đồng, tăng 17,98% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 358,6 tỷ đồng, giảm 45,98% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 40,6 tỷ đồng, giảm 29,4% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 919,4 tỷ đồng, tăng 34,67% so với cùng kỳ; vốn khác 15,7 tỷ đồng, tăng 71,89% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 180,2 tỷ đồng, tăng 3,06% so với cùng kỳ. Tình hình phát triển doanh nghiệp tính từ ngày 01/01/2026 đến ngày 20/4/2026, toàn tỉnh có 1.715 doanh nghiệp thành lập mới, gấp 2,1 lần so với cùng kỳ năm trước; 1.004 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 4,74%; 332 doanh nghiệp giải thể, gấp 2,1 lần; 474 doanh nghiệp đã hoạt động trở lại, tăng 15,3%. Tổng số vốn trong 4 tháng đầu năm 2026 các doanh nghiệp đã đăng ký 8.731,2 tỷ đồng, tăng 56,61% so với cùng kỳ năm trước. Tình hình thu hút đầu tư (từ đầu năm đến ngày 23/4/2026), toàn tỉnh có 18 dự án đầu tư cấp mới với tổng vốn đăng ký đầu tư 55.281,1 tỷ đồng; 18 dự án đầu tư được điều chỉnh chủ trương đầu tư/điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư. III. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Trong tháng, hoạt động thương mại của tỉnh tiếp tục duy trì sự ổn định với sức mua tăng trưởng tích cực, đặc biệt trong các dịp lễ và cuối tuần. Nguồn cung hàng hóa dồi dào, đảm bảo đáp ứng nhu cầu tiêu dùng; mặt bằng giá cả tuy chịu tác động từ biến động giá xăng dầu nhưng vẫn được kiểm soát, không xảy ra tăng giá đột biến. Du lịch ghi nhận sự khởi sắc rõ rệt nhờ nhiều sự kiện hấp dẫn, góp phần thúc đẩy lượng khách và doanh thu tăng so với tháng trước và cùng kỳ. Các ngành dịch vụ như ăn uống, vận tải tiếp tục hoạt động hiệu quả, đáp ứng tốt nhu cầu của người dân và du khách trong điều kiện thời tiết thuận lợi. Hoạt động vận tải và kho bãi duy trì ổn định, đảm bảo lưu thông hàng hóa và phục vụ nhu cầu đi lại, góp phần hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh tế địa phương. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Thị trường hàng hóa trong tháng tiếp tục đà tăng trưởng. Nhu cầu tiêu dùng từ người dân và du khách tăng cao, đặc biệt trong dịp lễ, tập trung chủ yếu vào các mặt hàng thiết yếu như thực phẩm, thủy hải sản,... Các hệ thống siêu thị, cửa hàng điện máy và bán lẻ địa phương đã góp phần quan trọng bình ổn thị trường và kích cầu hiệu quả qua các chương trình khuyến mãi. Hoạt động các ngành dịch vụ khác diễn ra khá nhộn nhịp, đặc biệt là hoạt động du lịch, vui chơi giải trí trong dịp lễ sắp đến. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 16.414,2 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 18,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: uớc tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 10.409,6 tỷ đồng, tăng 2,83% so với tháng trước và tăng 18,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 3.121,8 tỷ đồng, tăng 13,19% so với tháng trước và tăng 14,77% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.882,7 tỷ đồng, tăng 3,42% so với tháng trước và tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ đạt 63.725,4 tỷ đồng, tăng 15,33% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hóa đạt 39.837,8 tỷ đồng, tăng 14,46% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 12.510 tỷ đồng, tăng 20,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 11.377,6 tỷ đồng, tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Quản lý thị trường đã tăng cường kiểm tra, kiểm soát nhằm phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại trong kinh doanh xăng dầu; đồng thời siết chặt giám sát đối với mặt hàng gạo và vật liệu xây dựng. Công tác đấu tranh chống hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ được đẩy mạnh, song song với việc theo dõi sát diễn biến cung cầu, giá cả xăng dầu để kịp thời phát hiện các dấu hiệu bất thường như tăng giá bất hợp lý hay gián đoạn nguồn cung. Kết quả hoạt động kiểm tra, kiểm soát thị trường lũy kế từ 15/12/2025 đến 14/4/2026: đã kiểm tra 470 vụ, phát hiện 452 vụ vi phạm và xử lý 454 vụ, tổng số tiền xử phạt đạt 3,65 tỷ đồng; trị giá hàng hóa vi phạm hơn 863,6 triệu đồng. 2. Chỉ số giá tiêu dùng Giá gas, giá dầu trong nước tăng cao theo giá nhiên liệu thế giới, cùng với giá vật liệu xây dựng tăng do chi phí nguyên liệu đầu vào và chi phí vận chuyển tăng, là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng tăng 0,56% so với tháng trước, CPI trong tháng tăng 4,62% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2026 tăng 4,42% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 09 nhóm hàng tăng giá: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,40%; May mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,50%; Nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,69%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,44%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; Thông tin và truyền thông tăng 0,05%; Giáo dục tăng 0,04%; Văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,08%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,24%. Có 02 nhóm hàng giảm giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,18%; Giao thông giảm 0,8%. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI trong tháng - Nguyên nhân tăng: Giá dầu trong nước được điều chỉnh vào các ngày 02, 03, 08, 09, 16, 21 và 23 tháng 4/2026, tính bình quân chung trong tháng chỉ số giá mặt hàng dầu hỏa tăng 26,54% so với tháng trước; giá dầu diezel tăng 18,35% so với tháng trước; Giá gas trong tháng tăng 48,86% so với tháng trước do từ ngày 01/4/2026, giá gas 12 ký trong nước điều chỉnh tăng 95.000 đồng/bình sau khi giá gas thế giới tăng 232,5 USD/tấn (từ mức 537,5 USD/tấn lên mức 770 USD/tấn); Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 3,26% do chi phí đầu vào tăng, đặc biệt là giá nguyên, nhiên liệu sản xuất và chi phí vận chuyển tăng, tác động đẩy giá các loại vật liệu như: cát, đá, xi măng, thép, gạch... tăng so tháng trước. - Nguyên nhân giảm: Giá rau tươi giảm 0,7% so tháng trước, do một số loại rau đang vào vụ thu hoạch và thời tiết thuận lợi nên sản lượng rau tươi dồi dào, nhiều chủng loại; Giá nhóm lương thực giảm 0,33% so tháng trước, trong đó giảm chủ yếu các mặt hàng gạo giảm 0,51%. Nguyên nhân, do nguồn cung được đảm bảo vì một số khu vực đang trong kỳ thu hoạch lúa vụ đông xuân. Đồng thời ảnh hưởng giá gạo xuất khẩu giảm do nguồn cung gạo thế giới tăng; Nguồn cung sản lượng gia cầm, trứng các loại tại địa phương dồi dào tác động làm cho giá các loại thịt gia cầm tươi sống giảm 2,08%, giá trứng các loại giảm 1,84% so với tháng trước; Giá các loại quả tươi giảm 2,70% so với tháng trước, trong đó giảm mạnh nhất giá xoài các loại giảm 8,01%; quả có múi giảm 1,70%; chuối giảm 2,27%; quả tươi khác giảm 2,57%. Nguyên nhân, hiện nay một số loại trái cây đang vào mùa vụ thu hoạch nguồn cung nhiều, nhu cầu tiêu dùng giảm tác động giá bán thị trường có phần giảm so tháng trước; Giá xăng giảm 3,93% so với tháng trước, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá trong tháng. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 4 tháng đầu năm 2026 tăng 4,42% so với bình quân cùng kỳ năm 2025. * Nguyên nhân tăng/giảm CPI bình quân 4 tháng đầu năm 2026 - Nguyên nhân tăng: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,58% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 1,13 điểm phần trăm, trong đó tăng do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo 4 tháng đầu năm 2026 tăng 1,21% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 5,61% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 1,40 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng mạnh 7,96%; giá thịt gia cầm tăng 5,39, so cùng kỳ tăng do thiếu hụt nguồn cung trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết và chi phí chăn nuôi ở mức cao. Chỉ số giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 5,23% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 0,44 điểm phần trăm, do giá lương thực thực phẩm đang ở mức tăng cao so cùng kỳ, giá gas, giá thuê mặt bằng và thuê nhân công tăng. Chỉ số giá nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,57% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI tăng 0,99 điểm phần trăm, do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào và giá thuê nhà ở tăng cao. Chỉ số giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, giá gas 4 tháng đầu năm 2026 tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước; chỉ số giá dầu hỏa tăng 32,03% do điều chỉnh giá dầu trong nước tăng theo biến động giá thế giới. Chỉ số giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng 3,46%; hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,28% và các thiết bị đồ dùng gia đình tăng 3,51%, do nhu cầu tiêu dùng cao trong dịp Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất, vận chuyển tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán sản phẩm. Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 3,79% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung tăng 0,43 điểm phần trăm, trong đó giá tăng chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu tăng 5,63%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước; giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 22,26% do giá xăng dầu đang mức tăng cao nên các công ty vận tải hành khách tăng giá vé so cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 7,19%, làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Nguyên nhân giảm: Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,21%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng có các kỳ nghỉ lễ dài ngày như Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch), Lễ 30/4 và 1/5. Trên địa bàn tỉnh diễn ra các sự kiện như Giải vô địch các đội mạnh Lân - Sư - Rồng quốc gia năm 2026; Giải đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026 “Non sông liền một dải”. Bên cạnh đó hưởng ứng chương trình kích cầu du lịch tỉnh Lâm Đồng năm 2026, các doanh nghiệp du lịch, dịch vụ trên địa bàn tỉnh đăng ký tham gia chương trình với nhiều gói khuyến mãi, giảm giá, dịch vụ tặng kèm quà tặng hấp dẫn dành cho nhiều đối tượng khách lựa chọn Lâm Đồng cho chuyến tham quan và nghỉ dưỡng trong thời gian tới. Hầu hết các cơ sở lưu trú đăng ký tham gia đều giảm giá trung bình từ 10 - 30% tập trung vào mùa du lịch hè sắp tới, kèm theo nhiều ưu đãi như miễn phí các dịch vụ, tham gia các hoạt động văn hóa - thể thao do cơ sở tổ chức phục vụ khách, quà tặng lưu niệm, xe đưa đón miễn phí, hướng dẫn tham quan các địa điểm du lịch nổi tiếng. Đặc biệt, là các gói khuyến mãi “đặt ăn” có nhiều quà tặng hấp dẫn và các chương trình nghệ thuật đặc sắc miễn phí. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 2.080 nghìn lượt, tăng 14,85% so tháng trước và tăng 24% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 75 nghìn lượt, tăng 18,2% so với tháng trước và tăng 24,46% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.886 nghìn ngày khách, tăng 13,52% so với tháng trước và tăng 26,97% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 135 nghìn lượt khách, giảm 8,78% so với tháng trước và tăng 34,64% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 436 nghìn ngày khách, giảm 10,05% so với tháng trước và tăng 41,76% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, lượt khách phục vụ đạt 7.936,4 nghìn lượt, tăng 20,42% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 290,8 nghìn lượt, tăng 19,16% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 15.004,6 nghìn ngày khách, tăng 22,69% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 đạt 631,3 nghìn lượt, tăng 23,33% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 2.018,8 nghìn ngày khách, tăng 27,07% so với cùng kỳ năm trước. Khách quốc tế đến tỉnh trong 4 tháng đầu năm 2026 chiếm tỷ trọng lớn như Hàn Quốc, Nga, Trung Quốc, Đức, Mỹ, Pháp, Anh.... Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 617,9 tỷ đồng, tăng 15,33% so với tháng trước và tăng 14,13% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.449,1 tỷ đồng, tăng 12,94% so với tháng trước và tăng 14,32% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 54,8 tỷ đồng, tăng 1,93% so với tháng trước và tăng 51,22% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 2.610,2 tỷ đồng, tăng 24,08% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 9.688,8 tỷ đồng, tăng 19,67% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 211 tỷ đồng, tăng 41,81% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.891,3 tỷ đồng, tăng 17,58% so với tháng trước và tăng 26,82% so với cùng kỳ. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 21.907,7 tỷ đồng, tăng 25,05% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.882,7 tỷ đồng, tăng 3,42% so với tháng trước và tăng 19,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 702,5 tỷ đồng, tăng 1,29% so với tháng trước và tăng 17,32% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 169,4 tỷ đồng, tăng 4,79% so với tháng trước và tăng 13,39% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 148 tỷ đồng, tăng 4,86% so với tháng trước và tăng 17,69% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 254,8 tỷ đồng, tăng 5,31% so với tháng trước và tăng 22,47% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.305,7 tỷ đồng, tăng 4,25% so với tháng trước và tăng 22,06% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 302,4 tỷ đồng, tăng 1,90% so với tháng trước và tăng 11,75% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 11.377,6 tỷ đồng, tăng 12,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.849,4 tỷ đồng, tăng 10,34% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 667,6 tỷ đồng, tăng 12,49% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 579,4 tỷ đồng, tăng 16,51% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 974,3 tỷ đồng, tăng 17,56% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 5.127,9 tỷ đồng, tăng 13,62% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ khác đạt 1.179 tỷ đồng, tăng 8,54% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Hoạt động vận tải trong tháng diễn ra khá nhộn nhịp, đáp ứng nhu cầu đi lại, du lịch và tiêu dùng tăng cao của người dân trong chuỗi nghỉ lễ kéo dài (Giỗ Tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch, 30/4 và 1/5) đã thúc đẩy lưu lượng giao thông và vận chuyển hàng hóa phục vụ lễ hội diễn ra sôi nổi. Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.235,8 tỷ đồng, tăng 6,71% so với tháng trước và tăng 29,58% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.699,4 tỷ đồng, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.703 nghìn HK, tăng 5,39% so với tháng trước và tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 392.145,3 nghìn HK.Km, tăng 5,93% so với tháng trước và tăng 16,31% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 10.950,7 nghìn HK, tăng 16,39% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.581.298,9 nghìn HK.Km, tăng 17,35% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 1.956 nghìn tấn, tăng 4,78% so với tháng trước và tăng 13,11% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 288.878,2 nghìn tấn.Km, tăng 5,27% so với tháng trước và tăng 14,05% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 7.950,5 nghìn tấn, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 1.170.264,9 nghìn tấn.Km, tăng 15,07% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.235,8 tỷ đồng, tăng 6,71% so với tháng trước và tăng 29,58% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 4.699,4 tỷ đồng, tăng 23,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.594,3 tỷ đồng, tăng 27,42% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.306,9 tỷ đồng, tăng 25,12% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 614,6 tỷ đồng, tăng 12,41% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 183,6 tỷ đồng, tăng 4,47% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước đạt 857,5 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 725,1 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 132,4 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). IV. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước thực hiện 2.090,9 tỷ đồng, giảm 20,66% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước thực hiện 13.268,1 tỷ đồng, bằng 38,53% kế hoạch năm và tăng 16,33% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 12.480 tỷ đồng, bằng 38,19% kế hoạch năm và tăng 14,39%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 788,1 tỷ đồng, bằng 44,78% kế hoạch năm và tăng 58,81% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 như: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 2.022,7 tỷ đồng (bằng 53,18% kế hoạch năm và tăng 12,53% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 607 tỷ đồng (bằng 44% kế hoạch năm và tăng 1,34%);[T1] khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 3.435,5 tỷ đồng (bằng 51,37% kế hoạch năm và tăng 51,65%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 1.137 tỷ đồng (bằng 41,65% kế hoạch năm và tăng 3,78%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 1.359,3 tỷ đồng (bằng 18,43% kế hoạch năm và giảm 1,38%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 2.503 tỷ đồng (bằng 43,16% kế hoạch năm và tăng 7,31%). 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước 4.707,2 tỷ đồng, lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 ước 20.877 tỷ đồng, bằng 46,93% kế hoạch năm, trong đó: chi đầu tư phát triển 9.160,3 tỷ đồng, bằng 69,33% kế hoạch năm; chi thường xuyên 11.716,1 tỷ đồng, bằng 38,59% kế hoạch năm. 3. Hoạt động tín dụng Lãi suất tiền gửi bằng VND bình quân của chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) trong tỉnh ở mức 0,21% - 0,41%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; ở mức 4,17% - 4,65%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; ở mức 6,67% -7,64%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; ở mức 7,02% - 7,79%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh NHTM ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Lãi suất cho vay bằng VND bình quân cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh từ 8,89%/năm - 10,73%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,34% - 4,65%/năm. Huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đến 31/3/2026, đạt 236.394 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 7.188 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,11%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 233.275 tỷ đồng (chiếm 98,68% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 3.119 tỷ đồng, (chiếm 1,32% tổng huy động vốn). Ước đến 30/4/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 238.400 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 9.124 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 4%. Dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đến 31/3/2026, đạt 372.289 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 1.305 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,35%. Trong đó: Dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 369.935 tỷ đồng (chiếm 99,37% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.354 tỷ đồng (chiếm 0,63% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn 264.156 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 108.133 tỷ đồng. Ước đến 30/4/2026, dư nợ cho vay đạt 374.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1%. Đến 31/3/2026, dư nợ cho vay ngành dịch vụ, du lịch, thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 186.497 tỷ đồng, chiếm 50,09% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32.013 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm thủy sản đạt 153.779 tỷ đồng, chiếm 41,31% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.945 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,87% trong tổng dư nợ tín dụng. V. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện trang trí pano cổ động trực quan tuyên truyền tấm lớn, pano bảng, tiêu đề, pano xe loa, biểu trưng,… phục vụ công tác tuyên truyền nhiệm vụ chính trị và chào mừng kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng Đà Lạt (03/4/1975 - 03/4/2026), Ngày giải phóng Phan Thiết (19/4/1975 - 19/4/2026), Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026); Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch) và 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (01/5/1886 - 01/5/2026); tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng và thi thiết kế cổng chào bằng hoa tươi tại chân đèo Prenn (đợt 2). - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Đã tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương: Tổ chức Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2026 tại 03 khu vực (Đền thờ Âu Lạc tại Phường Xuân Hương - Đà Lạt; xã Phan Rí Cửa và xã Tuy Đức); tổ chức Chương trình nghệ thuật đặc biệt chào mừng thành công Cuộc bầu cử Đại biểu Quốc hội và Hội đồng Nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031; chương trình văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày kỷ niệm của địa phương và đất nước; duy trì biểu diễn chương trình Âm nhạc đường phố tại khu vực Hồ Xuân Hương phục vụ nhân dân, du khách; ngoài ra đã thực hiện 55 buổi chiếu phim lưu động tại cơ sở và 05 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị khác. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 41.627 lượt khách, trong đó có 2.329 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 12.935 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 10.204 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 1.851 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 15.948 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 689 lượt khách); lũy kế từ ngày 01/01 đến ngày 13/4/2026, Bảo tàng tỉnh đã đón 116.913 lượt khách, trong đó có 11.252 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 35.001 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 23.566 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 5.124 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 50.968 lượt khách; Cơ sở Bảo tàng Đăk Nông: 2.254 lượt khách). Tổ chức khảo sát, thu thập tư liệu phục vụ công tác lập hồ sơ khoa học “Nghề làm nước mắm truyền thống Phan Thiết” trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam xem xét đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia; xây dựng Hồ sơ hiện vật Linga - Yoni Mường Mán và Linga thạch anh trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, đề nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 147 đoàn với 11.504 lượt khách; phục vụ 32 lễ viếng Bác, lễ kết nạp Đoàn, sinh hoạt chuyên đề; lũy kế từ 01/01 đến 13/4/2026, Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận đón 517 đoàn 28.009 lượt khách. Ngoài ra, đã tổ chức trưng bày triển lãm 95 hình ảnh với chuyên đề: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng dân tộc” tại Khu Di tích Dục Thanh phục vụ người dân và du khách. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 22 đoàn khách với 3.316 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm; lũy kế từ ngày 01/01 đến ngày 15/4/2026 đã đón 45 đoàn với 7.980 lượt khách. Ngoài ra, đã thực hiện triển lãm ảnh chủ đề “Lâm Đồng gắn kết lịch sử - Khát vọng vươn xa” và phối hợp tổ chức Giải leo núi “Hành trình về Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận” lần thứ nhất, thu hút đông đảo vận động viên tham gia. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 174 thẻ (49 thẻ thiếu nhi), phục vụ 268.325 lượt bạn đọc, luân chuyển 118.637 lượt tài liệu và trưng bày 3.876 bản sách; lũy kế từ 01/01 đến 10/4/2026, Thư viện tỉnh cấp mới và gia hạn 609 thẻ (thiếu nhi 177 thẻ), phục vụ 884.320 lượt bạn đọc, luân chuyển 200.641 lượt tài liệu và trưng bày 17.976 bản sách phục vụ nhiệm vụ chính trị. Ngoài ra, đã tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ V năm 2026; trưng bày, triển lãm và giới thiệu sách với chủ đề “Sách - Tri thức - Khát vọng phát triển đất nước”; tọa đàm chuyên đề “Sáng tạo từ bản sắc: Đưa di sản thiên nhiên và văn hóa địa phương vào trang sách của trẻ em” tại trường THCS Nguyễn Du, phường Phan Thiết và tổ chức chương trình bồi dưỡng “Kỹ năng siêu đọc sách - Giải tỏa áp lực học đường”. 1.2. Hoạt động thể thao - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Giải Thể dục dưỡng sinh tỉnh Lâm Đồng mở rộng lần thứ VI - năm 2026; Giải Xe đạp Cúp Truyền hình thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 38 năm 2026; phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Giải Golf Audi by Cội nguồn 2026 và Giải Yoga Cúp các câu lạc bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026. - Thể thao thành tích cao: Đăng cai tổ chức Giải Vô địch Cầu lông đồng đội nam nữ hỗn hợp quốc gia 2026; Giải Vô địch các đội mạnh Lân Sư Rồng toàn quốc lần thứ II năm 2026. Tổ chức Giải Pickleball, Giải Golf, Giải Xe đạp trong chương trình Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026. Phối hợp tổ chức Giải Bóng đá hạng Nhì quốc gia năm 2026 (trên Sân vận động Đà Lạt). Cử đoàn vận động viên tham gia 11 giải thể thao quốc gia và 1 giải thể thao quốc tế, kết quả đạt được 38 huy chương (06 HCV, 11 HCB, 21 HCĐ); thành tích đạt được tính đến thời điểm báo cáo (14/4/2026): 67 huy chương (15 HCV, 16 HCB, 36 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm năm học 2025-2026. Thực hiện công tác xây dựng trường học an toàn phòng, chống tai nạn thương tích, an toàn giao thông, phòng chống đuối nước cho trẻ em, phòng chống cháy nổ, tuyên truyền phòng chống dịch bệnh, vệ sinh cảnh quan môi trường “Xanh - Sạch - Đẹp”; đẩy mạnh thực hiện chuyển đổi số trong quản lý và giảng dạy, tăng cường huy động xã hội hóa giáo dục và phát triển trường ngoài công lập. Bên cạnh đó tập trung rà soát, củng cố điều kiện cơ sở vật chất, thiệt bị, đội ngũ nhà giáo để ổn định công tác dạy và học. Năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.593 cơ sở giáo dục với 24.494 lớp và 818.588 học sinh, gồm: 526 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó: 400 công lập) với 5.707 lớp và 151.943 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó: 558 công lập) với 10.210 lớp và 321.257 học sinh; 365 trường trung học cơ sở (trong đó: 363 công lập) với 6.016 lớp và 240.603 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (trong đó: 114 công lập; trong tổng số có 02 trường phổ thông dân tộc nội trú, 09 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông, 11 trường trung học cơ sở - trung học phổ thông và 100 trường trung học phổ thông) với 2.561 lớp và 104.785 học sinh; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó: 02 công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ - Tin học; 11 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập với 7.529 học viên. Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Toàn tỉnh có 78 cơ sở GDNN, gồm: 06 trường cao đẳng; 05 trường trung cấp (trong đó: 01 công lập); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. Công tác đánh giá, kiểm định chất lượng và công nhận trường đạt chuẩn quốc gia được chú trọng. Tính đến thời điểm 31/3/2026, toàn tỉnh có 912/1.434 trường công lập đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 63,60%); trong đó: cấp mầm non có 246/400 trường (đạt tỷ lệ 61.50%), cấp tiểu học có 342/557 trường (đạt tỷ lệ 61,40%), cấp trung học cơ sở có 253/363 trường (đạt tỷ lệ 69,70%) và cấp trung học phổ thông có 71/114 trường (đạt tỷ lệ 62,28%). 3. Y tế Trong tháng tiếp tục tăng cường công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý khi phát hiện các bệnh truyền nhiễm; đảm bảo đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 162 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 37 ca so với tháng trước và giảm 23 ca so với cùng kỳ năm trước, không có trường hợp tử vong. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 1.436 ca mắc. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 33 ổ dịch, bốn tháng đầu năm 2026 đã phát hiện xử lý 99 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng không xảy ra; lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 453 ca mắc, tăng 228 ca so với tháng trước và tăng 347 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 1.331 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 16 ca mắc, tăng 02 ca so với tháng trước và giảm 973 ca so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước có 43 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng đã tiêm chủng đầy đủ cho 4.261 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 3.527 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 4.323 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 4.390 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 4.269 trẻ, mũi 2 cho 4.349 trẻ và mũi 3 cho 4.562 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 3.749 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh.- Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng phát hiện 02 bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 437 bệnh nhân; đang điều trị 02 bệnh nhân; đang giám sát 09 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 431 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 6 người.- Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 179 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 5 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 04 BN/100.000 dân; BN lao kháng thuốc trong tháng là 05 người.- Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 14 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 03 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.813 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.787 người, tử vong 1.572 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 484.848 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 38.018 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 221.631 ngày, xét nghiệm cho 612.199 tiêu bản, chẩn đoán 142.247 hình ảnh và phẫu thuật 5.494 trường hợp. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, ước khám bệnh cho 1.719.671 lượt người; 137.600 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 800.478 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 6,03 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 90,83%; ước xét nghiệm cho 2.079.629 tiêu bản; chẩn đoán 488.672 hình ảnh và phẫu thuật cho 18.590 trường hợp.- Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 3.741 cơ sở, kết quả có 38 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 147 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm.4. Thông tin, báo chí, xuất bản- Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tuyên truyền kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; Lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2026; chuỗi hoạt động “Chào mùa Du lịch hè năm 2026”. Thực hiện hướng dẫn cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp triển khai Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số trên địa bàn tỉnh; đồng thời thường xuyên rà soát, theo dõi, xử lý các thông tin trên không gian mạng liên quan đến tỉnh Lâm Đồng.- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Được triển khai theo kế hoạch, bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương và địa phương. Đã xây dựng dự thảo Kế hoạch thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 03 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh.5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công5.1. Chính sách dân tộc- Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; công tác chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được quan tâm; các chương trình mục tiêu quốc gia, chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo được triển khai thực hiện. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy. Tuy nhiên do ảnh hưởng của giá xăng, dầu tăng cao, tình trạng thiếu nước tưới trong mùa khô xảy ra cục bộ ở một số địa phương đã hưởng đến đời sống, sinh hoạt và sản xuất của người dân, trong đó có đồng bào DTTS.- Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng. Các lễ hội truyền thống như: Tết Chol Chnam Thmay của đồng bào Khmer, Lễ mừng lúa mới của dân tộc Kho, Mạ, Chu Ru sau khi đã thu hoạch xong vụ mùa cũ,… được tổ chức chu đáo, mang đậm bản sắc văn hóa của đồng bào, qua đó góp phần tạo không khí vui tươi, nâng cao tinh thần đoàn kết và duy trì bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS.- Mạng lưới trường lớp vùng đồng bào DTTS ngày càng hoàn thiện. Sĩ số học sinh là người DTTS tiếp tục được duy trì ổn định. Các trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú thực hiện việc trang cấp các vật dụng thiết yếu như chăn, màn, chiếu, gối, quần áo đồng phục và học phẩm cho học sinh. Các chính sách miễn, giảm học phí; hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở nội trú, bán trú,… được thực hiện theo đúng chế độ quy định. Các mô hình đưa văn hóa truyền thống vào trường học và dạy tiếng K'ho (điển hình là Trường THCS Tân Thượng, xã Đinh Trang Thượng) đang phát huy hiệu quả, giúp học sinh DTTS giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc mình. Công tác phòng chống bạo lực học đường và xây dựng môi trường giáo dục an toàn được tuyên truyền, triển khai đến tất cả các trường ở vùng sâu, vùng xa trên địa bàn tỉnh. - Hệ thống Y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Công tác y tế vùng đồng bào DTTS đang chuyển dịch từ “điều trị” sang “chủ động phòng bệnh”. Các hoạt động khám sàng lọc bệnh không lây nhiễm (huyết áp, tiểu đường), tư vấn dinh dưỡng, cấp thuốc miễn phí cho người già và trẻ em thường xuyên được các bác sĩ trẻ tình nguyện tổ chức tại các xã khó khăn và vùng DTTS. Công tác tiêm chủng, tiêm bù, tiêm vét cho trẻ em vùng sâu, vùng xa chưa tiêm đủ mũi theo chương trình tiếp tục được triển khai. Từ quý I/2026, vắc - xin phế cầu bắt đầu đưa vào chương trình tiêm chủng miễn phí cho trẻ em vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) ban hành Giáo chỉ số 29-TCĐ/GC-HĐCM tấn phong giáo phẩm cho 70 chức sắc tỉnh Lâm Đồng; tổ chức khóa tu truyền thống khất sỹ lần thứ 40 cho 100 chư Tăng tại Tịnh xá Ngọc Thiền, phường Xuân Hương- Đà Lạt; Phân ban Ni giới tỉnh tổ chức Đại lễ tưởng niệm Đức Thánh Tổ Ni Đại Ái đạo tại Quảng trường Lâm Viên, phường Xuân Hương - Đà Lạt, có khoảng 2.000 Phật tử tham dự, qua đó trao tặng 01 căn nhà tình thương (trị giá 100,0 triệu đồng) cho 01 em học sinh, 120 phần học bổng (mỗi phần trị giá 1,0 triệu đồng) cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn và 36 phần học bổng cho 36 tăng ni sinh đang theo học tại Trường Trung cấp Phật học tỉnh Lâm Đồng. Các cơ sở Công giáo trên địa bàn tỉnh tổ chức các hoạt động mừng lễ Phục sinh năm 2026 vào ngày 05/4/2026; Toà Giám mục Giáo phận Phan Thiết tổ chức Thánh lễ hành hương cho Hội Lòng Chúa Thương xót Giáo phận tại Trung tâm Thánh Mẫu Tàpao, xã Đồng Kho; Thánh lễ Kinh thánh Giuse tại Nhà hưu dưỡng linh mục Phan Thiết, xã Tân Lập. Đạo Tin Lành tổ chức Lễ Phục sinh năm 2026 trong không khí vui tươi, trang trọng; Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh tổ chức lễ công bố thành lập chi hội và bổ nhiệm chức việc làm quản nhiệm 04 chi hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam); Giáo hội Báp Tít Việt Nam tổ chức Đại Hội đồng lần thứ V, nhiệm kỳ 2026-2030, đoàn tỉnh Lâm Đồng có 28 người tham dự; Hội thánh Tin Lành Trưởng Lão Việt Nam tổ chức lễ công bố Quyết định thành lập Hội thánh Trung Thành, xã Tà Đùng với khoảng 600 người là chức sắc, chức việc, tín đồ trong và ngoài tỉnh tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Trong tháng đã giải quyết 429 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Thực hiện chi trả trợ cấp hàng tháng không dùng tiền mặt cho 13.919 người có công với cách mạng với tổng kinh phí 48.057.554.478 đồng. Phê duyệt danh sách đối tượng là con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học có nhu cầu hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho 87 đối tượng (xây mới: 47 căn, sửa chữa: 40 căn). Tổ chức đưa 189 lượt người có công với cách mạng đi điều dưỡng tập trung tại trung tâm điều dưỡng và chăm sóc người có công tỉnh Khánh Hòa và Trung tâm điều dưỡng người có công tỉnh Lâm Đồng. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến hết 31/3/2026, toàn tỉnh có 312.140 người tham gia BHXH, tăng 1,18% so với tháng trước; có 237.284 người tham gia BHTN, tăng 5,57%; số người tham gia BHYT là 3.047.805 người, tăng 2,65% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 89,97% dân số. Trong tháng đã giải quyết mới 10.993 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 1.198 người (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 115 người; trợ cấp 1 lần cho 2.944 người; chế độ ốm đau cho 5.919 người; chế độ thai sản cho 1.567 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 448 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 1.144 người và hỗ trợ học nghề cho 54 người). Lũy kế đến 31/3/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 25.646 lượt người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 3.402 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 402 người; trợ cấp 1 lần cho 5.976 người; chế độ ốm đau cho 14.641 người; chế độ thai sản cho 3.640 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 987 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 3.269 người và hỗ trợ học nghề cho 133 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/3/2026 - 15/4/2026) Trong tháng xảy ra 54 vụ tai nạn giao thông, giảm 08 vụ so với tháng trước và giảm 27 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 39 người, tăng 01 người so với tháng trước và giảm 02 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 37 người, tăng 15 người so với tháng trước và giảm 30 người so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 250 vụ (trong đó có 04 vụ đường sắt), giảm 51 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 156 người, tăng 18 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 171 người, giảm 68 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 28/3/2026 đến 22/4/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ thiên tai (mưa lớn kèm theo giông lốc) tại khu vực phường 1, 2, 3 Bảo Lộc, xã Đam Rông 2 và xã Nhân Cơ; thiên tai làm tốc mái 16 nhà dân, sập 0,9 ha giàn chanh giây, một số cây xanh và tường rào bệnh viện ngã đổ; ước thiệt hại khoảng 650 triệu đồng. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 04 vụ thiên tai, làm tốc mái 17 căn nhà, sạt lở 375m bờ biển và hư hỏng nhiều công trình, tài sản khác; chưa thống kê giá trị thiệt hại. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 15/3 đến ngày 15/4/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 12 vụ cháy nổ, tăng 07 vụ so với tháng trước và tăng 05 vụ so với cùng kỳ năm trước; ước thiệt hại 1.542 triệu đồng. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 28 vụ cháy (tăng 13 vụ so với cùng kỳ năm trước), làm chết 02 người và bị thương 03 người; ước tổng giá trị thiệt hại 2.570 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng xảy ra 01 vụ vi phạm môi trường, đã xử phạt 65 triệu đồng. Lũy kế từ 4 tháng đầu năm 2026 xảy ra 3 vụ vi phạm, giảm 08 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt là 415 triệu đồng. * Đánh giá chung Trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi và tăng trưởng tích cực trên hầu hết các ngành, lĩnh vực. Hoạt động sản xuất nông nghiệp cơ bản ổn định, sản xuất vụ Đông xuân đạt tiến độ, chăn nuôi phát triển khá, dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi cơ bản được kiểm soát. Công nghiệp tiếp tục tăng với chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) 4 tháng đầu năm tăng 8,07% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 17,65%. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch diễn ra sôi động; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 15,33%, tổng lượt khách du lịch phục vụ đạt gần 7,94 triệu lượt, tăng 20,42% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động vận tải, lưu thông hàng hóa cơ bản thông suốt, đáp ứng tốt nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và du lịch. Thu ngân sách nhà nước đạt khá với tổng thu 4 tháng đầu năm ước tăng 16,33% so với cùng kỳ; môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện, số doanh nghiệp thành lập mới gấp 2,1 lần cùng kỳ năm trước. Bên cạnh những kết quả tích cực, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn còn một số khó khăn, thách thức cần lưu ý. Giá xăng dầu, khí đốt và vật liệu xây dựng tăng cao tiếp tục gây áp lực lên chi phí sản xuất, vận tải và mặt bằng giá cả; CPI bình quân 4 tháng đầu năm tăng 4,42% so với cùng kỳ năm trước. Tiến độ thực hiện và giải ngân một số dự án đầu tư công còn chậm do vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng, quy hoạch khoáng sản và thiếu nguồn vật liệu xây dựng. Hoạt động khai thác thủy sản còn chịu tác động bởi chi phí nhiên liệu tăng; dịch tả lợn châu Phi vẫn phát sinh cục bộ tại một số địa phương. Bên cạnh đó, tình hình vi phạm lâm luật còn diễn biến phức tạp; thị trường tiêu thụ một số nông sản chủ lực tiềm ẩn rủi ro khi diện tích mở rộng nhanh và phụ thuộc lớn vào thị trường xuất khẩu.THỐNG KÊ TỈNH LÂM ĐỒNG [T1]Giảm so với quý 1/2026 là do Công ty TNHH Linkfarm (Khu vực Đầu tư nước ngoài-xã Hồng Sơn) do Công ty nộp nhầm phân bổ thuế TNDN 303 tỷ
Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thống kê tỉnh lần thứ VI, nhiệm kỳ 2025-2030
- 09/04/2026 10:11
Sáng ngày 07/4/2026, Đảng bộ Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thống kê tỉnh lần thứ VI, nhiệm kỳ 2025-2030 nhằm đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quý I năm 2026 và triển khai phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm quý II năm 2026. Hội nghị do đồng chí Phạm Quốc Hùng, Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh chủ trì, với sự tham dự của các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ. Phát biểu khai mạc hội nghị, đồng chí Bí thư Đảng ủy nhấn mạnh, quý I năm 2026 là giai đoạn có khối lượng công việc lớn, yêu cầu nhiệm vụ cao. Trong bối cảnh đó, Đảng ủy Thống kê tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai toàn diện các mặt công tác; vừa thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng Đảng, vừa lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, chuyên môn của ngành. Đồng chí đề nghị các đồng chí phát huy tinh thần trách nhiệm, dân chủ, thẳng thắn, tập trung trí tuệ để đánh giá đúng tình hình, làm rõ kết quả đạt được, những hạn chế, nguyên nhân và thống nhất các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, thiết thực, khả thi trong quý II năm 2026. Tại hội nghị, các đại biểu đã nghe và thảo luận nhiều nội dung quan trọng, gồm: kết quả thực hiện nhiệm vụ tháng 3, quý I và phương hướng, nhiệm vụ quý II năm 2026; công tác tuyên truyền, quán triệt chủ trương của Đảng; việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; công tác dân vận, phong trào “Dân vận khéo”; công tác kiểm tra, giám sát; đồng thời cho ý kiến đối với dự thảo nghị quyết lãnh đạo nhiệm vụ quý II, nghị quyết chuyên đề về về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện Tổng điều tra kinh tế năm 2026 trên địa bàn tỉnh và Quy chế chi tiêu nội bộ của Đảng bộ. Các báo cáo và ý kiến thảo luận tại hội nghị cho thấy, trong quý I năm 2026, Đảng bộ Thống kê tỉnh đã phát huy tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo trên các mặt công tác. Công tác chính trị, tư tưởng tiếp tục được quan tâm; tình hình tư tưởng trong toàn Đảng bộ cơ bản ổn định; công tác xây dựng Đảng, kiểm tra, giám sát được triển khai theo chương trình, kế hoạch đề ra. Trên lĩnh vực chuyên môn, Đảng ủy đã tập trung lãnh đạo thực hiện tốt công tác báo cáo thống kê, tham mưu phục vụ chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, trong đó nổi bật là công tác tham mưu báo cáo kinh tế - xã hội, đánh giá tăng trưởng GRDP và triển khai Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Bên cạnh những kết quả đạt được, hội nghị cũng thẳng thắn chỉ ra một số hạn chế cần tiếp tục khắc phục trong thời gian tới, như chất lượng triển khai một số mặt công tác ở cơ sở chưa thật đồng đều; một vài chi bộ còn chậm trong ban hành kế hoạch kiểm tra, giám sát; khối lượng nhiệm vụ chuyên môn lớn, nhất là yêu cầu đặt ra đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Tổng điều tra kinh tế năm 2026. Phát biểu bế mạc và chỉ đạo hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng ghi nhận, biểu dương tinh thần làm việc nghiêm túc, trách nhiệm, dân chủ của các đại biểu; đồng thời khẳng định Đảng bộ đã cơ bản hoàn thành tốt nhiệm vụ quý I năm 2026 với nhiều kết quả tích cực. Để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quý II, đồng chí đề nghị toàn Đảng bộ tiếp tục làm tốt công tác chính trị, tư tưởng; nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, chất lượng sinh hoạt chi bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát; giữ vững đoàn kết, kỷ luật, kỷ cương hành chính; đồng thời tập trung lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, chuyên môn, bảo đảm các báo cáo thống kê, báo cáo kinh tế - xã hội, điều chỉnh kịch bản tăng trưởng GRDP và các báo cáo tham mưu phục vụ cấp trên, phục vụ Ủy ban nhân dân tỉnh kịp thời, chặt chẽ, chính xác, khách quan và có tính dự báo. Đồng chí Bí thư Đảng ủy cũng nhấn mạnh, Tổng điều tra kinh tế năm 2026 là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, cần được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ, chặt chẽ, bảo đảm đúng phương án, đúng tiến độ và chất lượng cao nhất. Mỗi đồng chí trong Ban Chấp hành, từng cấp ủy, chi bộ và đơn vị cần nêu cao tinh thần trách nhiệm, chủ động phối hợp, bám sát cơ sở, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chung của toàn ngành. Với tinh thần đoàn kết, trách nhiệm và quyết tâm chính trị cao, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ Thống kê tỉnh lần thứ VI, nhiệm kỳ 2025-2030 đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra, tạo cơ sở quan trọng để Đảng bộ Thống kê tỉnh tiếp tục phát huy kết quả đạt được, khắc phục khó khăn, hạn chế và tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quý II năm 2026. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh của Hội nghị:Đ/c Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu, chỉ đạo Hội nghịToàn cảnh Hội nghịĐ/c Nguyễn Hoài Hải, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó trưởng Thống kê tỉnh báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ tháng 3, quý I và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm quý II năm 2026Đ/c Trương Thị Mộng Di, Phó Bí thư Đảng ủy, Phó trưởng Thống kê tỉnh báo cáo tình hình triển khai các cuộc thi; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách HCM; công tác “Dân vận khéo”Đ/c Nguyễn Văn Tỉnh, Đảng ủy viên, Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy, Phó trưởng Thống kê tỉnh báo cáo tình hình công tác kiểm tra, giám sát của đảng bộ quý I và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm quý II năm 2026Đ/c Đỗ Trung Kiên, Đảng ủy viên, Phó trưởng Thống kê tỉnh thông qua dự thảo Nghị quyết chuyên đề của Đảng bộ Đ/c Phạm Quốc Hùng - Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh kết luận Hội nghị
Cục Thống kê họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý I năm 2026.
- 06/04/2026 16:35
Sáng ngày 04/4/2026, Cục Thống kê tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý I năm 2026. Đồng chí Nguyễn Thị Hương, Cục trưởng Cục Thống kê, chủ trì buổi họp báo. Tham dự họp báo có các đồng chí Phó Cục trưởng, lãnh đạo các ban nghiệp vụ thuộc Cục Thống kê, đông đảo phóng viên các cơ quan báo chí; hội nghị được kết nối trực tuyến đến Thống kê các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Tại điểm cầu Thống kê tỉnh Lâm Đồng, tham dự có các đồng chí Phó Trưởng Thống kê tỉnh và lãnh đạo các phòng nghiệp vụ. Tại buổi họp báo, Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương đã công bố một số chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tình hình kinh tế - xã hội của cả nước trong quý I năm 2026. Theo đó, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I năm 2026 ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước. Trong mức tăng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,58%, đóng góp 5,60%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,92%, đóng góp 44,08%; khu vực dịch vụ tăng 8,18%, đóng góp 50,32%. Phát biểu tại họp báo, đồng chí Cục trưởng nhấn mạnh, kết quả đạt được trong quý I thể hiện hiệu quả điều hành linh hoạt, quyết liệt của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương; đồng thời cho thấy tinh thần chủ động thích ứng của nền kinh tế trước những biến động của tình hình thế giới. Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị tiếp tục diễn biến phức tạp, nhất là tại khu vực Trung Đông, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì được đà tăng trưởng tích cực. Tuy nhiên, bước sang quý II, nền kinh tế dự báo còn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức khi áp lực từ giá năng lượng, nguyên vật liệu và chuỗi cung ứng có thể tiếp tục gia tăng, đòi hỏi các cấp, các ngành và cộng đồng doanh nghiệp phải tiếp tục chủ động, nỗ lực và triển khai đồng bộ các giải pháp phù hợp, hiệu quả. Cũng tại buổi họp báo, lãnh đạo Cục Thống kê và các đơn vị chuyên môn đã trao đổi, giải đáp nhiều câu hỏi của phóng viên, nhà báo liên quan đến tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2026. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh tại điểm Họp báo:Bà Nguyễn Thị Hương - Cục trưởng Cục Thống kê, chủ trì buổi họp báo.Các Phó trưởng Thống kê tỉnh và lãnh đạo các phòng nghiệp vụ tham dự buổi họp báo
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2026 tỉnh Lâm Đồng
- 04/04/2026 21:59
Trong tháng và quý I năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng diễn ra trong bối cảnh thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn, khó lường; căng thẳng địa chính trị, biến động giá năng lượng, thị trường tài chính và thời tiết cực đoan đã tạo thêm áp lực đối với quá trình phục hồi kinh tế. Ở trong nước, kinh tế tiếp tục duy trì đà phục hồi tích cực, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương triển khai nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh đó, với sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, linh hoạt của các cấp, các ngành, kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng cơ bản giữ vững ổn định, nhiều lĩnh vực tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống Nhân dân từng bước được cải thiện. I. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý I năm 2026 ước tăng 7,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: giá trị tăng thêm khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 5,39%, đóng góp 1,29 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 7,91%, đóng góp 1,94 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 8,20%, đóng góp 3,77 điểm phần trăm; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,52%, đóng góp 0,47 điểm phần trăm. II. Nông, lâm nghiệp và thủy sản Quý I năm 2026, tình hình sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng ổn định, đồng thời thể hiện rõ sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng nâng cao hiệu quả và giá trị gia tăng. Vụ Đông xuân được triển khai đúng lịch thời vụ, bảo đảm tiến độ; các địa phương chú trọng chuyển đổi cơ cấu cây trồng, áp dụng kỹ thuật mới và tăng cường phòng chống dịch bệnh; diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm hầu hết tăng so với cùng kỳ; sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao tiếp tục được chú trọng. Chăn nuôi duy trì đà tăng trưởng ổn định, quy mô đàn gia súc, gia cầm đều tăng so với cùng kỳ. Tình hình dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi cơ bản được kiểm soát, không xảy ra dịch lớn trên diện rộng. Hoạt động lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng và ươm cây giống lâm nghiệp. Khai thác thủy sản tiếp tục tăng trưởng về sản lượng nuôi trồng và khai thác, góp phần đảm bảo nguồn cung trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn còn gặp nhiều khó khăn do tăng giá xăng, dầu làm gia tăng chi phí đầu vào, chi phí vận chuyển và giá vật tư nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất và thu nhập của người dân. 1. Trồng trọt 1.1. Cây hàng năm Vụ Đông xuân 2026, nhằm phát huy hiệu quả sử dụng đất, tăng cường tiết kiệm nguồn nước tưới và hạn chế sâu bệnh, người dân đã chuyển đổi sang cây trồng khác trên đất trồng lúa với diện tích 1.870 ha. Tính đến ngày 15/3/2026, tổng diện tích gieo trồng vụ Đông xuân ước đạt 108.931 ha, tăng 3,14% so với vụ Đông xuân năm trước. Trong đó: Lúa diện tích ước đạt 56.400 ha, tăng 1,96% so với cùng kỳ năm trước; cây ngô, diện tích ước đạt 6.150 ha, tăng 2,34%; cây khoai lang, diện tích ước đạt 2.250 ha, tăng 2,86%; cây đậu các loại diện tích ước đạt 2.750 ha, tăng 2,14%; cây lạc, diện tích ước dạt 1.400 ha, tăng 3,33%; cây rau các loại, diện tích ước đạt 28.100 ha, tăng 5,13%; hoa các loại, diện tích ước đạt 4.450 ha, tăng 4,90%,... Sản xuất rau và hoa trên địa bàn tỉnh ngày càng chuyển mạnh sang hướng nông nghiệp công nghệ cao, ứng dụng nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới tự động và các quy trình sản xuất an toàn như VietGAP, GlobalGAP; nhờ đó năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm được nâng cao, nhiều sản phẩm rau của tỉnh đã tham gia vào chuỗi cung ứng cho các hệ thống siêu thị, doanh nghiệp chế biến và thị trường xuất khẩu. 1.2. Cây lâu năm Trong quý I năm 2026, các địa phương trong tỉnh tiếp tục tập trung chăm sóc và thu hoạch sản phẩm các loại cây lâu năm. Cụ thể một số loại cây chính như sau: - Cây chè: Diện tích hiện có 9.282 ha, giảm 1,52% so với cùng kỳ năm trước; diện tích chè giảm do người dân chuyển đổi một số diện tích chè già cỗi, sản xuất theo truyền thống trước đây hiệu quả kinh tế thấp sang cây cà phê, sầu riêng, chanh leo,...; - Cây cà phê: Diện tích hiện có 328.732 ha, tăng 1,05% so với cùng kỳ năm trước (toàn tỉnh hiện có hơn 22.700 ha cà phê được canh tác theo hướng ứng dụng công nghệ cao; đang xây dựng 5 vùng sản xuất cà phê công nghệ cao với quy mô gần 1.750 ha, trong đó có 3 vùng đã được công nhận); hiện giá cà phê đang duy trì ở mức cao nên người dân tập trung chăm sóc, tưới, tỉa cành, làm cỏ,...; - Cây dâu tằm: Diện tích hiện có 11.216,9 ha, tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước. Những năm gần đây việc chuyển đổi giống cho năng suất cao, ít sâu bệnh như VA-201, S7-CB, TPL 03 và TPL 05 phù hợp điều kiện thổ nhưỡng, năng suất cao và khả năng chống chịu sâu bệnh tốt, bên cạnh đó giá kén tằm ổn định người dân tích cực đầu tư chăm bón, mở rộng diện tích; - Cây sầu riêng: Hiện đang giai đoạn chăm sóc, xử lý để đậu hoa kết trái; diện tích hiện có 44.224,2 ha, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước; nhờ hiệu quả kinh tế vượt trội so với nhiều loại cây trồng khác nên người dân đang tích cực đầu tư, tăng năng suất. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần định hướng người dân trồng theo quy hoạch, đảm bảo tuân thủ các quy trình kỹ thuật, kiểm soát chất lượng, đồng thời theo dõi sát diễn biến thị trường, nhất là nhu cầu từ Trung Quốc, nhằm hạn chế rủi ro về đầu ra khi diện tích mở rộng quá nhanh; - Cây thanh long: Trong quý I chủ yếu là vụ nghịch mùa, người nông dân đang xử lý ra hoa bằng chong đèn, chi phí sản xuất cao; diện tích hiện có 25.801,7 ha, giảm 0,69% so với cùng kỳ năm trước (diện tích thanh long có 09 mã số vùng trồng xuất khẩu đi thị trường Hoa Kỳ với diện tích là 171,6 ha). Diện tích giảm so với cùng kỳ do một số vùng bị thiệt hại do lũ vừa qua và một số vườn thanh long già cỗi, người trồng thanh long không tiếp tục đầu tư và chuyển sang canh tác các loại cây trồng khác; - Cây cao su: Diện tích hiện có 75.371,4 ha, tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích cao su tiếp tục được duy trì ổn định và năng suất khai thác tại các vùng chuyên canh ngày càng được cải thiện. - Cây điều: Diện tích điều hiện có 50.150 ha, tăng 1,36% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026 là thời kỳ quan trọng của vụ điều, là giai đoạn ra hoa, phát triển trái, bắt đầu bước vào mùa thu hoạch; một số địa phương trong tỉnh tiếp tục khuyến khích duy trì và phát triển cây điều gắn với chế biến, góp phần ổn định sinh kế cho người dân; - Cây hồ tiêu: Hiện đang là vụ thu hoạch chính của cây hồ tiêu; diện tích hồ tiêu hiện có 37.759,5 ha, tăng 1,54% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích và sản lượng hồ tiêu có xu hướng ổn định và tích cực, nhờ giá mặt hàng này duy trì ở mức cao và ổn định, người dân mở rộng diện tích cũng như tăng cường thâm canh để nâng cao năng suất. 1.3. Tình hình thủy lợi phục vụ sản xuất Trong quý I năm 2026, hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, góp phần ổn định tình hình sản xuất nông nghiệp và đời sống nhân dân. Công tác phòng, chống hạn hán, thiếu nước được tăng cường thông qua việc theo dõi sát diễn biến thời tiết, tích trữ nguồn nước và áp dụng các biện pháp tưới tiết kiệm; việc kiểm tra an toàn công trình thủy lợi, đặc biệt là các hồ chứa và đập dâng, được thực hiện thường xuyên. Tỉnh đã chủ động triển khai kế hoạch phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn mùa khô năm 2026; thực hiện các giải pháp ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn, bảo đảm nguồn nước phục vụ sản xuất và dân sinh mùa khô 2026 trên địa bàn; đến nay trên địa bàn tỉnh chưa xảy ra tình trạng hạn hán. 1.4. Tình hình dịch bệnh Trong tháng 3 và quý I năm 2026, tình hình sâu bệnh trên các loại cây trồng cơ bản được kiểm soát tốt; công tác dự báo luôn được tăng cường nên không xảy ra dịch bệnh nghiêm trọng trên diện rộng. Một số loại sâu bệnh hại xuất hiện rải rác trên các loại cây trồng chủ lực như lúa, rau màu, cây công nghiệp và cây ăn quả; tuy nhiên mức độ gây hại thấp, cụ thể: Cây lúa: Sâu đục thân gây hại 219 ha, Bệnh đạo ôn lá gây hại 468,3 ha; Cây cà chua: Sâu đục lá cà chua Nam Mỹ gây hại 0,5 ha, Bệnh xoăn lá virus gây hại 64 ha; Cây dâu tằm: Bệnh tuyến trùng gây hại 320,4 ha; Cây ngô: Sâu keo mùa thu gây hại 46,9 ha; Cây sầu riêng: Bệnh xì mủ, thối rễ gây hại 2.164,3 ha (109 ha nhiễm nặng); Cây cà phê chè: Bọ xít muỗi gây hại 2.117,2 ha; Cây điều: Bọ xít muỗi gây hại 3.312 ha, Bệnh thán thư gây hại 2.972 ha; Cây thanh long: Bệnh đốm nâu gây hại 1.717 ha, Bệnh thán thư cành, quả gây hại 213 ha, ốc sên gây hại 321 ha. 1.5. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao Sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao tiếp tục được chú trọng. Đến nay, toàn tỉnh có 107.456 ha diện tích sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghệ cao, chiếm 10% diện tích gieo trồng toàn tỉnh (trong đó có khoảng 1.200 ha ứng dụng nông nghiệp thông minh); có 16 vùng sản xuất trồng trọt được công nhận ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao (Gồm: 06 vùng cà phê, 01 vùng chè, 01 vùng sầu riêng, 01 vùng xoài, 02 vùng rau, 02 vùng hoa, 02 vùng hồ tiêu, 01 vùng lúa); có 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao trong lĩnh vực trồng trọt và bảo vệ thực vật được công nhận (Công ty TNHH Dalat Hasfarm; Công ty TNHH Hoa Mặt Trời; Công ty TNHH Trang trại Langbiang; Công ty TNHH SX-TM-NS Phong Thúy; Công ty TNHH Quang Nguyên Đà Lạt; Công ty CP cây giống Cao Nguyên; Công ty CP INNO GENETICS). 2. Chăn nuôi Trong quý, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì ổn định và có xu hướng tăng ở hầu hết các vật nuôi chủ lực. Tổng đàn gia súc, gia cầm tăng so với cùng kỳ năm trước, góp phần bảo đảm nguồn cung thực phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân. Sản lượng thịt hơi các loại ước tính tháng 3/2026 đạt 34.999,1 tấn, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026 ước đạt 93.228,7 tấn, tăng 9,84%. - Đàn trâu: Tổng đàn hiện có 26,9 nghìn con trâu, tăng 0,75% so với cùng kỳ. Quy mô đàn trâu tăng nhẹ do giá bán tương đối ổn định, người chăn nuôi duy trì đàn phục vụ sản xuất và cung cấp thịt cho thị trường. Tuy nhiên, do thời gian nuôi dài và hiệu quả kinh tế chưa cao nên việc mở rộng quy mô còn hạn chế. - Đàn bò: Tổng đàn hiện có 319,3 nghìn con bò, tăng 1,69% so với cùng kỳ (trong đó đàn bò sữa 30,1 nghìn con, tăng 3,79%). Quy mô đàn bò tiếp tục được duy trì nhờ đầu ra sản phẩm thịt và sữa tương đối ổn định; nhiều cơ sở chăn nuôi chú trọng cải thiện con giống và áp dụng quy trình chăn nuôi an toàn sinh học nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất. - Đàn lợn: Tổng đàn hiện có 1.495 nghìn con, tăng 6,03% so với cùng kỳ (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ có 1.228 nghìn con, tăng 7,45%). Quy mô đàn lợn tăng nhờ một số doanh nghiệp và trang trại quy mô lớn mở rộng sản xuất, nâng công suất chuồng trại, tăng cường liên kết chăn nuôi gia công với doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm. Bên cạnh đó, công tác phòng, chống dịch bệnh, đặc biệt là dịch tả lợn châu Phi, được triển khai chặt chẽ nên nguy cơ phát sinh dịch bệnh cơ bản được kiểm soát. - Đàn gia cầm: Tổng đàn hiện có 22.500 nghìn con, tăng 7,14% so với cùng kỳ (trong đó gà các loại 16.150 nghìn con, chiếm 71,78% trong tổng đàn gia cầm, tăng 10,95%). Quy mô đàn gia cầm tăng nhờ nhu cầu tiêu thụ thịt và trứng ổn định, thời gian nuôi ngắn và khả năng quay vòng vốn nhanh nên người chăn nuôi dễ dàng điều chỉnh quy mô đàn theo nhu cầu thị trường. * Các hoạt động phòng, chống dịch bệnh - Trong Quý I năm 2026, công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn vật nuôi được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Các loại dịch bệnh nguy hiểm như: lở mồm long móng, tai xanh ở lợn, viêm da nổi cục... không xảy ra trên địa bàn tỉnh. Công tác kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật xuất, nhập tỉnh được duy trì thực hiện theo đúng quy định; công tác kiểm soát giết mổ và kiểm tra vệ sinh thú y tiếp tục được tăng cường. - Đối với bệnh Dịch tả lợn Châu Phi (DTLCP): Trong quý I/2026, đã xảy ra tại 03 hộ/03 thôn/03 xã với tổng số 1.099 con lợn chết và tiêu hủy, trọng lượng tiêu hủy 53.254 kg. Các địa phương đã triển khai đồng bộ các biện pháp chống dịch, thực hiện vệ sinh, khử trùng tiêu độc tại khu vực có dịch, nơi có ổ dịch cũ và những nơi có nguy cơ cao; xử lý dứt điểm, không để dịch bệnh kéo dài. 3. Sản xuất lâm nghiệp Trong quý, thời tiết trên địa bàn tỉnh đang vào mùa khô, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung, chủ yếu gieo tạo giống cây rừng phục vụ công tác trồng rừng khi điều kiện thời tiết thuận lợi. - Sản lượng gỗ khai thác trong tháng 3 năm 2026 ước đạt 36.682,9 m3, tăng 4,93% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 104.065 m3, tăng 2,52%. - Sản lượng củi khai thác tháng 3 năm 2026 ước đạt 32.172,2 ste, tăng 3,51% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026, sản lượng củi khai thác ước đạt 93.459 ste, tăng 2,12%. - Tổng số vụ vi phạm lâm luật trong tháng (tính từ 10/02/2026 - 10/3/2026) là 19 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 07 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 1,03 ha; trong đó 01 vụ vi phạm khai thác rừng trái pháp luật có tính chất phức tạp, nổi cộm xảy ra tại xã Tân Lập, thiệt hại 1.161 gốc cây gỗ Tếch, tương đương 126,9 m3 gỗ); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm giảm 46 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 39 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 6,9 ha). Quý I năm 2026 (từ ngày 10/12/2025 đến ngày 10/3/2026), tổng số vụ vi phạm là 139 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật là 49 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại 6,6 ha); so với cùng kỳ, số vụ vi phạm giảm 11 vụ (trong đó số vụ phá rừng trái pháp luật giảm 44 vụ, diện tích rừng bị thiệt hại giảm 7,2 ha). 4. Thủy sản - Nuôi trồng thủy sản: Trong tháng, các địa phương tăng cường công tác hỗ trợ kỹ thuật, kiểm tra, giám sát môi trường và chú ý phòng trừ dịch bệnh tại các vùng nuôi thủy sản; tình hình nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định. Diện tích nuôi trồng thủy sản trong tháng ước đạt 472,8 ha, tăng 1,05% so với cùng kỳ; lũy kế 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 1.427,5 ha, tăng 0,89% (trong đó diện tích nuôi cá đạt 423,7 ha, tăng 1,15%; diện tích nuôi tôm (chủ yếu là tôm thẻ trắng) đạt 130 ha, tăng 1,83%). Sản lượng nuôi trồng trong tháng ước đạt 2.320,4 tấn, giảm 0,39% so với cùng kỳ năm trước (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 420 tấn, tăng 4,74%); quý I năm 2026 ước đạt 6.955,9 tấn, tăng 1,07% (trong đó tôm nuôi nước lợ ước đạt 1.150,5 tấn, tăng 3,07%). - Khai thác thủy sản: Những tháng đầu năm, tình hình thời tiết và ngư trường tương đối thuận lợi, tàu thuyền bám biển hoạt động khai thác ổn định; nguồn lợi cá cơm xuất hiện khá dày tạo điều kiện cho các tàu nghề vây cá nổi nhỏ, nghề pha xúc đánh bắt. Ngư trường khai thác chủ yếu tập trung tại vùng lộng trong tỉnh, khu vực phía nam đảo Phú Quý, Côn Sơn,... Sản lượng khai thác thủy sản trong tháng ước đạt 16.209,6 tấn, tăng 3,02% so với cùng kỳ năm trước (sản lượng khai thác thủy sản biển đạt 16.159 tấn, tăng 3,02%); quý I năm 2026 ước đạt 53.257,3 tấn, tăng 3,5% (sản lượng khai thác biển đạt 53.109 tấn, tăng 3,5%). - Sản xuất giống thủy sản: Trong tháng, thời tiết thuận lợi cho việc sản xuất tôm giống, sản lượng tôm giống ước đạt 2,06 tỷ post, tăng 3,73% so với cùng kỳ năm trước; quý I năm 2026 ước đạt 5,9 tỷ post, tăng 2,24%. 5. Công tác ứng dụng khoa học công nghệ, khuyến nông vào sản xuất Trong quý I năm 2026, công tác ứng dụng khoa học, công nghệ và khuyến nông tiếp tục được quan tâm triển khai gắn với phát triển sản xuất nông, lâm, thủy sản. Ngành chức năng tiếp tục theo dõi, thực hiện 07 mô hình chuyển tiếp từ năm 2025 về sản xuất lúa, tái canh cà phê, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản thích ứng với biến đổi khí hậu. Công tác sản xuất, cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản được duy trì hiệu quả, đáp ứng nhu cầu sản xuất. Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục được đẩy mạnh; toàn tỉnh có 107.456 ha ứng dụng công nghệ cao, chiếm khoảng 10% diện tích gieo trồng, trong đó khoảng 1.200 ha ứng dụng nông nghiệp thông minh; có 16 vùng trồng trọt và 07 doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao được công nhận, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng và tính bền vững của ngành nông nghiệp. 6. Chương trình xây dựng nông thôn mới Trong quý I năm 2026, các chương trình mục tiêu quốc gia tiếp tục được triển khai đồng bộ, bao gồm xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035 (giai đoạn I: 2026-2030); đồng thời xây dựng dự thảo phân loại nhóm xã thực hiện Chương trình nông thôn mới giai đoạn 2026-2030 và rà soát, lập kế hoạch triển khai nhiệm vụ cho giai đoạn 2026-2030 và năm 2026. Kinh tế tập thể tiếp tục được củng cố với 08 Liên hiệp HTX nông nghiệp hoạt động theo Luật HTX năm 2023, gồm 45 HTX thành viên; toàn tỉnh có 959 HTX nông nghiệp với 19.582 thành viên (trong đó có 166 HTX ngừng hoạt động). Hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được đẩy mạnh với 428 chuỗi liên kết, thu hút 47.590 hộ tham gia; diện tích liên kết trong trồng trọt đạt khoảng 85 nghìn ha, sản lượng khoảng 920 nghìn tấn/năm; tổng đàn vật nuôi đạt 2.230 nghìn con, sản lượng khoảng 210 nghìn tấn/năm. Chương trình OCOP tiếp tục được triển khai hiệu quả với 945 sản phẩm còn hạn chứng nhận, trong đó có 08 sản phẩm đang đề nghị đánh giá 5 sao, 80 sản phẩm 4 sao và 857 sản phẩm 3 sao, với 530 chủ thể tham gia; đồng thời tăng cường quảng bá, tiêu thụ, mở rộng mạng lưới phân phối, góp phần nâng cao giá trị và thương hiệu sản phẩm đặc trưng của địa phương. III. Công nghiệp; xây dựng; đầu tư phát triển 1. Công nghiệp Tình hình hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh ước tháng 3 và quý I năm 2026 với mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Ngành công nghiệp khai khoáng; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao là động lực chính cho tăng trưởng toàn ngành; ngành công nghiệp sản xuất và phân phối điện; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải hoạt động ổn định. 1.1. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) trong tháng ước tăng 43,32% so với tháng trước và tăng 11,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,2%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 27,3%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 5,6%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,72%. Tính chung quý I năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,20% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 16,68%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 19,50%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,30%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,53%. 1.2. Một số sản phẩm chủ yếu - Sản phẩm đá xây dựng: Trong tháng sản lượng sản xuất ước đạt 404.989 m3, tăng 2,3 lần so với tháng trước và tăng 11,75% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 888.739 m3, tăng 16,68% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 tăng mạnh do các doanh nghiệp chủ động nguồn nguyên vật liệu để phục vụ các công trình đầu tư công đang gấp rút giải ngân vốn năm 2025. - Sản phẩm rau, quả qua chế biến, bảo quản: Trong tháng sản lượng ước đạt 3.594 tấn, tăng 45,1% so với tháng trước và tăng 9,47% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 8.892 tấn, tăng 5,18% so với cùng kỳ. - Các sản phẩm từ thủy sản được chế biến, bảo quản: Trong tháng ước đạt 2.240 tấn, tăng 30,99% so với tháng trước và tăng 24,72% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 5.991 tấn, tăng 29,02% so với cùng kỳ. - Đồ uống các loại: Trong tháng ước đạt 12.426 nghìn lít, giảm 50,3% so với tháng trước và tăng 6,99% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 63.768 nghìn lít, tăng 17,1% so với cùng kỳ do các sản phẩm rượu vang đang có xu hướng tiêu dùng ngày càng cao. - Sản phẩm giày, dép: Trong tháng ước sản lượng đạt 585 nghìn đôi, tăng 81,55% so với tháng trước và tăng 9,69% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.558 nghìn đôi, tăng 28,77% so với cùng kỳ là do doanh nghiệp nhận thêm đơn hàng ngay từ các tháng đầu năm. - Sản phẩm phân bón: Trong tháng ước sản lượng sản xuất đạt 17.166 tấn tăng 52,75% so với tháng trước và tăng 12,57% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 35.028 tấn, tăng 28,69% so với cùng kỳ, nguyên nhân do các doanh nghiệp đã chủ động nguồn hàng để chuẩn bị cho mùa vụ 2026 và nhà máy hóa chất Đức Giang - Đăk Nông đi vào sản xuất từ tháng 3/2025 nên so với cùng kỳ tăng khá cao. - Sản phẩm Ôxit nhôm: Trong tháng ước đạt 138,9 nghìn tấn, tăng 4,09% so với tháng trước và tăng 9,34% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 401,8 nghìn tấn, tăng 2,4% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện sản xuất: Trong tháng ước sản lượng đạt 3.147 triệu kwh, tăng 40,1% so với tháng trước và giảm 2,92% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 8.077 triệu kwh tăng 1,91% so với cùng kỳ. - Sản phẩm điện thương phẩm: Trong tháng ước sản lượng đạt 533 triệu kwh, tăng 12,66% so với tháng trước và tăng 3,61% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 sản lượng sản xuất ước đạt 1.496 triệu kwh tăng 4,47% so với cùng kỳ. 1.3. Chỉ số sử dụng lao động Chỉ số sử dụng lao động trong tháng tăng 0,78% so với tháng trước và tăng 6,29% so cùng kỳ; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng giảm 0,07%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,92%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 6,33%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,74%. Theo loại hình doanh nghiệp, chỉ số sử dụng lao động của khối doanh nghiệp nhà nước giảm 1,97% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng 11,25%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,06%. Tính chung quý I năm 2026, chỉ số sử dụng lao động tăng 5,38%; trong đó ngành công nghiệp khai khoáng tăng 0,52%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,10%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,52%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,30%. 1.4. Chỉ số tiêu thụ Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước tăng 43,38% so với tháng trước và tăng 2,08% so với cùng kỳ; lũy kế quý I năm 2026 chỉ số tiêu thụ tăng 0,05% so với cùng kỳ. Các ngành có chỉ số tiêu thụ tăng trong tháng như: sản xuất thực phẩm tăng 18,36%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 16,01%; chế biến gỗ tăng 2,84%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 27,78%; in và sao chép bản ghi các loại tăng 16,88%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,17%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 8,63%; sản xuất kim loại tăng 1,28%; sản xuất máy móc thiết bị chưa phân vào đâu tăng 88,41%. Các ngành có chỉ số tiêu thụ giảm như: sản xuất đồ uống giảm 3,78%; ngành dệt giảm 11,47%; sản xuất trang phục giảm 34,38%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất giảm 11,68%... 1.5. Chỉ số tồn kho Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong tháng ước giảm 7,28% so với tháng trước và tăng 1,37% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng so cùng kỳ: sản xuất chế biến thực phẩm tăng 5,09%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,36%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 6,80%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 121,76%… Ngược lại những ngành giảm như: ngành dệt giảm 59,76%; chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ giảm 49,18%; sản xuất kim loại giảm 1%. 1.6. Tình hình xu hướng sản xuất kinh doanh ngành chế biến, chế tạo Sản xuất kinh doanh quý I năm 2026 so với quý trước: Qua khảo sát các doanh nghiệp thuộc ngành chế biến chế tạo cho thấy có 31,65% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh thuận lợi hơn quý trước; 21,59% đánh giá khó khăn hơn và 46,76% số doanh nghiệp cho rằng ổn định, không thay đổi. Theo hình thức sở hữu: Doanh nghiệp ngoài quốc doanh 32,17% có chiều hướng thuận lợi; 43,48% có chiều hướng không thay đổi và 24,35% có chiều hướng khó khăn hơn. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) 37,50% doanh nghiệp có chiều hướng thuận lợi; 43,75% có chiều hướng không thay đổi và 18,75% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong doanh nghiệp nhà nước đánh giá 25,00% có chiều hướng thuận lợi; 62,50% có chiều hướng không thay đổi và 12,50% có chiều hướng khó khăn hơn. Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý I năm 2026, có 50,36% doanh nghiệp đánh giá do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 20,86% doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 52,52% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh trong nước cao; 11,51% doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 37,41% doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên nhiên vật liệu; 26,62% doanh nghiệp cho rằng không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu; 21,58% doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu; 22,30% doanh nghiệp cho rằng lãi xuất vay vốn cao; 20,14% doanh nghiệp cho rằng do gặp khó khăn về tài chính; 4,32% doanh nghiệp cho rằng không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 15,11% doanh nghiệp đánh giá lý do chính sách pháp luật của nhà nước và 2,88% lý do khác. Dự kiến tình hình sản xuất kinh doanh quý II năm 2026 so với quý I năm 2026: Có 84,17% doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và tốt hơn (37,41% doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt hơn, 46,76% doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định); 15,83% dự báo khó khăn hơn. 1.7. Tình hình hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) Trong Quý I năm 2026 thu hút được 05 dự án đầu tư, trong đó có 1 dự án nước ngoài và 04 dự án trong nước với tổng vốn đầu tư đăng ký là 178,6 tỷ và 0,2 triệu USD, diện tích 4,08 ha. Lũy kế đến nay, trong các KCN trên địa bàn tỉnh có 246 dự án (58 dự án FDI và 188 dự án trong nước) còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đầu tư là 44.780,238 tỷ đồng và 514,788 triệu USD và diện tích đất đăng ký 731,2 ha, tỷ lệ lấp đầy đạt 54,18%. Hiện nay có 166 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện lũy kế đến nay: Doanh thu đạt 3.765 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 49 triệu USD; nộp ngân sách đạt 191 tỷ đồng. Trong Quý I năm 2026, có 5/14 KCN triển khai đầu tư xây dựng và duy tu bảo dưỡng hạ tầng với giá trị khoảng 2,8/881,6 tỷ đồng đạt 0,32% kế hoạch vốn đăng ký đầu năm 2026, giảm 89,26% so với cùng kỳ (43,8 tỷ đồng). - KCN Lộc Sơn thu hút được 56 dự án đầu tư (09 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 47 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất đã cho thuê lại 94,8ha/132,6 ha đất công nghiệp cho thuê, tỷ lệ lấp đầy đạt 71,74%. - KCN Phú Hội thu hút được 32 dự án đầu tư (11 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 21 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê lại 56 ha/74,6 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 75,02%. - KCN Phan Thiết giai đoạn 1 thu hút được 39 dự án đầu tư (10 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 29 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 51,4 ha/51,4 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 100%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 0,02/0,8 tỷ đồng đạt 1,22% kế hoạch năm 2026. - KCN Phan Thiết giai đoạn 2 thu hút được 12 dự án đầu tư (02 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 10 dự án đầu tư có vốn trong nước), với diện tích đất cho thuê 23,01 ha/28,1 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 81,92%. - KCN Hàm Kiệm I thu hút được 23 dự án đầu tư (08 dự án có vốn đầu tư nước ngoài và 15 dự án vốn đầu tư trong nước) với diện tích đất cho thuê 60,7 ha/90,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 66,82%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 0,20/22,8 tỷ đồng đạt 0,88% kế hoạch năm 2026. - KCN Hàm Kiệm II thu hút được 18 dự án đầu tư (07 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 11 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích đất cho thuê 91,9 ha/276,9 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 33,18%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 1,00/205 tỷ đồng đạt 0,49% kế hoạch năm 2026. - KCN Sông Bình thu hút được 03 dự án đầu tư có vốn trong nước với diện tích đất cho thuê 58,4 ha/202,3 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 28,84%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 0,10/59,1 tỷ đồng đạt 0,17% kế hoạch năm 2026. - KCN Tân Đức thu hút được 07 dự án đầu tư (02 trong nước và 05 nước ngoài) với diện tích đất cho thuê 31,1 ha/210,8 ha đất thương phẩm, tỷ lệ lấp đầy 14,75%. Giá trị đầu tư hạ tầng tháng 02/2026 là 1,5/473 tỷ đồng đạt 0,32% kế hoạch năm 2026. - KCN Tâm Thắng đã thu hút được 49 dự án đầu tư (gồm 05 dự án đầu tư có vốn nước ngoài và 44 dự án đầu tư có vốn trong nước) với diện tích thuê lại 130,6 ha/134 ha, tỷ lệ lấp đầy 97,11%. - KCN Nhân Cơ thu hút được 01 dự án với quy mô 129,4 ha, tổng vốn đầu tư đăng ký 18.423 tỷ đồng, tỷ lệ lắp đầy KCN 87,44%. - Các KCN đang xây dựng, chưa thu hút dự án đầu tư: KCN Tuy Phong; KCN Sơn Mỹ 1; KCN Sơn Mỹ 2; KCN Phú Bình; KCN Nhân Cơ 2. 2. Xây dựng Trong Quý I năm 2026, hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục giữ vai trò là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Việc đẩy mạnh triển khai các dự án đầu tư công, đặc biệt là các công trình hạ tầng giao thông liên vùng, cùng với sự phát triển của các dự án đô thị, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao đã góp phần duy trì đà tăng trưởng ổn định của ngành. Giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I năm 2026 ước đạt 12.308 tỷ đồng, tăng 13,45% so cùng kỳ. Trong đó khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 56 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,45%), tăng 94,27% so với cùng kỳ; doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 7.041,1 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 57,21%), tăng 16,2% so với cùng kỳ; khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 93 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 0,76%), giảm 39,46% so với cùng kỳ; loại hình kinh tế khác ước đạt 5.117,9 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 41,58%), tăng 11,1% so với cùng kỳ. Giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước quý I năm 2026 phân theo loại công trình: Nhà ở đạt 5.038,3 tỷ đồng, tăng 11,47% so với cùng kỳ; nhà không để ở đạt 2.588,1 tỷ đồng, tăng 15,15% so với cùng kỳ; công trình kỹ thuật dân dụng 3.122 tỷ đồng, tăng 14,91% so với cùng kỳ (tăng chủ yếu một số công trình giao thông trọng điểm); hoạt động xây dựng chuyên dụng đạt 1.559,7 tỷ đồng, tăng 14,33% so với cùng kỳ. Kết quả khảo sát xu hướng hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) của các doanh nghiệp xây dựng quý I năm 2026 so quý IV năm 2025 với 6,4% doanh nghiệp nhận định hoạt động thuận lợi hơn, 35,8% doanh nghiệp nhận định hoạt động ổn định và 57,8% doanh nghiệp nhận định hoạt động khó khăn hơn. Dự báo quý II năm 2026 so với quý I/2026, các doanh nghiệp xây dựng nhận định hoạt động SXKD tốt lên với 11,6% doanh nghiệp dự báo thuận lợi hơn; 39,3% nhận định ổn định và 49,1% dự báo khó khăn hơn. 3. Đầu tư phát triển Trong quý I năm 2026, cùng với việc tập trung triển khai các nhiệm vụ, giải pháp đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, tình hình thực hiện vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tiếp tục có chuyển biến tích cực. Nhằm tạo thêm động lực cho tăng trưởng, tỉnh xác định 20 dự án trọng điểm trong năm 2026, với tổng vốn trên 88 nghìn tỷ đồng. Trong đó, có 10 dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước, 02 dự án thực hiện theo phương thức đối tác công tư (PPP) và 08 dự án sử dụng vốn ngoài ngân sách. Việc lựa chọn danh mục dự án được thực hiện trên cơ sở tính cấp thiết, khả năng triển khai, hiệu quả kinh tế - xã hội, thứ tự ưu tiên bố trí vốn và năng lực tổ chức thực hiện, qua đó tạo tiền đề quan trọng để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho phát triển của tỉnh. Trong tháng, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 715,1 tỷ đồng, tăng 6,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 669 tỷ đồng, chiếm 93,35% và tăng 7,03% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 314,6 tỷ đồng, tăng 3,6% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 96,8 tỷ đồng, giảm 43,64% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 10,6 tỷ đồng, giảm 29,88% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 243 tỷ đồng, tăng 80,11% so với cùng kỳ; vốn khác 4 tỷ đồng, tăng 58,26% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 46,1 tỷ đồng, chiếm 6,45% và tăng 3,39% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.918,3 tỷ đồng, đạt 12,60% so với kế hoạch năm, tăng 4,84% so với cùng kỳ năm trước; trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh ước đạt 1.790,2 tỷ đồng, tăng 4,95% (vốn cân đối ngân sách tỉnh ước đạt 839,5 tỷ đồng, tăng 2,47% so với cùng kỳ; vốn trung ương hỗ trợ đầu tư theo mục tiêu ước đạt 255,6 tỷ đồng, giảm 46,24% so với cùng kỳ; vốn nước ngoài 29,6 tỷ đồng, giảm 27,89% so với cùng kỳ; vốn xổ số kiến thiết 655 tỷ đồng, tăng 80,25% so với cùng kỳ; vốn khác 10,5 tỷ đồng, tăng 60,09% so với cùng kỳ); vốn ngân sách nhà nước cấp xã ước đạt 128,1 tỷ đồng, tăng 3,39% so với cùng kỳ. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn trong quý I năm 2026 ước đạt 22.007,4 tỷ đồng, tăng 11,27% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó vốn nhà nước đạt 3.488,4 tỷ đồng, tăng 5,36%, chiếm 15,85% trong tổng nguồn vốn; vốn ngoài nhà nước đạt 17.745,9 tỷ đồng, tăng 12,85%, chiếm 80,64%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 773,1 tỷ đồng, tăng 4%, chiếm 3,51%. Tình hình phát triển doanh nghiệp và thu hút đầu tư tiếp tục có chuyển biến tích cực. Tính đến ngày 18/3/2026, trong tháng toàn tỉnh có 400 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 43,88% so với tháng trước và tăng 51,52% so với cùng kỳ năm trước; 45 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động; 60 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động; 70 doanh nghiệp giải thể. Tính chung quý I năm 2026, toàn tỉnh có 1.349 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, tăng 2,0 lần so với cùng kỳ; 433 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 16,71%; 889 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng hoạt động, giảm 7,2%; 263 doanh nghiệp giải thể, tăng 2,1 lần. Tổng số vốn đăng ký của doanh nghiệp đạt 5.032 tỷ đồng, tăng 10,5%; bình quân mỗi tháng có gần 600 doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Về thu hút đầu tư, từ đầu năm đến ngày 18/3/2026, toàn tỉnh có 10 dự án đầu tư ngoài ngân sách được cấp mới với tổng vốn đăng ký 54.648 tỷ đồng; 12 dự án được chấp thuận điều chỉnh quy mô, tổng mức đầu tư, tiến độ thực hiện và một số nội dung liên quan. Tính đến ngày 18/3/2026, trên địa bàn tỉnh có 2.938 dự án đầu tư còn hiệu lực, với tổng vốn đăng ký khoảng 828.602 tỷ đồng; trong đó có 237 dự án FDI, tổng vốn đầu tư 224.297 tỷ đồng. * Tình hình thực hiện đầu tư xây dựng các công trình trọng điểm Trong quý I năm 2026, tỉnh tiếp tục tập trung triển khai các công trình, dự án trọng điểm trên các lĩnh vực giao thông, hàng không, thủy lợi, công nghiệp và hạ tầng đô thị, tạo nền tảng quan trọng cho liên kết vùng, thu hút đầu tư và thúc đẩy tăng trưởng. Về giao thông, dự án cao tốc Bắc - Nam phía Tây đoạn Gia Nghĩa - Chơn Thành có chiều dài 124,13 km, đi qua địa bàn 2 tỉnh Lâm Đồng và Đồng Nai, được chia thành 5 dự án thành phần; trong đó khu vực Đắk Nông cũ phụ trách 2 dự án thành phần, gồm dự án đường gom và cầu vượt với sơ bộ mức đầu tư khoảng 338 tỷ đồng, và dự án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư với tổng mức đầu tư khoảng 662 tỷ đồng. Dự án cao tốc Tân Phú - Bảo Lộc dài khoảng 66 km, tổng mức đầu tư hơn 18.000 tỷ đồng theo hình thức PPP, BOT. Dự án cao tốc Bảo Lộc - Liên Khương giai đoạn 1 dài 73,6 km, tổng mức đầu tư khoảng 17.718 tỷ đồng, được bố trí kế hoạch vốn năm 2026 là 3.110 tỷ đồng. Về hạ tầng hàng không và đường sắt, dự án nâng cấp Cảng hàng không Liên Khương có tổng vốn gần 5.000 tỷ đồng, đang được triển khai nhằm đưa Liên Khương trở thành cảng hàng không quốc tế. Dự án Cảng hàng không Phan Thiết có công suất thiết kế 2 triệu hành khách/năm, tổng mức đầu tư hạng mục dân dụng khoảng 3.800 tỷ đồng. Dự án đường sắt tốc độ cao qua địa bàn tỉnh có chiều dài 156,5 km, đi qua 18 phường, xã, có 02 nhà ga, 04 trạm bảo dưỡng, diện tích giải phóng mặt bằng khoảng 1.046,4 ha, ảnh hưởng đến 2.441 hộ gia đình, 35 tổ chức và dự kiến bố trí tái định cư cho 991 hộ. Trong lĩnh vực thủy lợi, dự án hồ chứa nước KaZam có tổng mức đầu tư 495,5 tỷ đồng, lũy kế giải ngân đạt 407,16/495,50 tỷ đồng, bằng 82% tổng vốn; riêng năm 2025 giải ngân 60,89/149,28 tỷ đồng, đạt 41%. Hồ chứa nước Ka Pét có tổng mức đầu tư 874,09 tỷ đồng, đến nay đã giải ngân 48,92 tỷ đồng/267,52 tỷ đồng kế hoạch vốn năm. Dự án hệ thống kênh mương hồ Đạ Lây, Đạ Sị có tổng mức đầu tư 565,35 tỷ đồng, phục vụ tưới cho khoảng 2.900 ha đất nông nghiệp, song đến nay chưa thể triển khai do chưa hoàn tất thủ tục nhiệm vụ - dự toán và đo đạc giải thửa phục vụ giải phóng mặt bằng. Dự án hồ Đắk Gang có tổng vốn đầu tư 1.082 tỷ đồng, dung tích hồ khoảng 15 triệu m³, cung cấp nước tưới cho khoảng 2.000 - 2.500 ha cây trồng. Trong lĩnh vực công nghiệp và đô thị, dự án Nhà máy điện phân nhôm Đắk Nông có tổng mức đầu tư trên 28.000 tỷ đồng, công suất thiết kế 450.000 tấn nhôm nguyên chất/năm, dự kiến vận hành phân kỳ đầu tiên trong quý III năm 2026. Khu công nghiệp Sơn Mỹ 1 có quy mô 1.070 ha, Khu công nghiệp Sơn Mỹ 2 giai đoạn 1 có quy mô 1.225 ha, định hướng phát triển các ngành năng lượng, vật liệu xây dựng, điện tử, chế tạo máy, công nghiệp công nghệ cao và logistics. Dự án cải thiện môi trường đô thị các thành phố loại II - Hợp phần tỉnh Đắk Nông cũ có tổng mức đầu tư 1.499 tỷ đồng, được bố trí kế hoạch vốn năm 2026 là 62,5 tỷ đồng. Nhìn chung, các công trình trọng điểm đang từng bước được triển khai, song một số dự án còn gặp khó khăn về thủ tục đầu tư, giải phóng mặt bằng, tái định cư và lựa chọn nhà đầu tư, cần tiếp tục tập trung tháo gỡ để đẩy nhanh tiến độ thực hiện. IV. Thương mại; giá cả; du lịch; giao thông vận tải Hoạt động thương mại trong quý I/2026 diễn ra sôi động, nguồn cung hàng hóa dồi dào, chủng loại phong phú, cơ bản đáp ứng tốt nhu cầu mua sắm của người dân và khách du lịch, nhất là trong các dịp lễ, tết và cuối tuần. Hoạt động du lịch tiếp tục khởi sắc; các cơ sở lưu trú, nhà hàng và dịch vụ lữ hành duy trì hoạt động ổn định, phục vụ tốt nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng. Cùng với đó, hoạt động vận tải, kho bãi được duy trì thông suốt, đáp ứng nhu cầu đi lại của Nhân dân và vận chuyển hàng hóa trên địa bàn. 1. Thương mại 1.1. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ Trong tháng, thị trường trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định; hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường, sức mua của người dân tăng nhẹ so với tháng trước, chủ yếu tập trung vào các mặt hàng thiết yếu. Nguồn cung hàng hóa dồi dào, đáp ứng tốt nhu cầu tiêu dùng, không xảy ra tình trạng khan hiếm hoặc biến động bất thường. Các dịch vụ ăn uống, lưu trú và dịch vụ liên quan tiếp tục duy trì ổn định, phục vụ tốt nhu cầu của người dân và du khách. Tính chung quý I năm 2026, thị trường hàng hóa và giá cả nhìn chung ổn định, lượng hàng hóa lưu thông tăng, hệ thống phân phối chủ động nguồn hàng và triển khai nhiều chương trình khuyến mãi, góp phần kích cầu tiêu dùng và nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại trên địa bàn. Dự ước tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ trong tháng đạt 15.420,9 tỷ đồng, giảm 0,92% so với tháng trước và tăng 14,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: uớc tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 9.689,1 tỷ đồng, tăng 1,17% so với tháng trước và tăng 14,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành ước đạt 2.825 tỷ đồng, giảm 8,91% so với tháng trước và tăng 13,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 2.906,8 tỷ đồng, tăng 0,75% so với tháng trước và tăng 16,06% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu các ngành dịch vụ ước đạt 46.619 tỷ đồng, tăng 12,73% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: tổng mức bán lẻ hàng hoá đạt 28.991,7 tỷ đồng, tăng 11,31% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu lưu trú, ăn uống và lữ hành đạt 9.013,1 tỷ đồng, tăng 18,15% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu các ngành dịch vụ khác đạt 8.614,2 tỷ đồng, tăng 12,18% so với cùng kỳ năm trước. 1.2. Công tác quản lý thị trường Trong thời gian qua, tình trạng vi phạm trong hoạt động kinh doanh trên địa bàn vẫn còn xảy ra, chủ yếu tập trung ở các mặt hàng như thời trang, mỹ phẩm và thực phẩm. Các hành vi vi phạm phổ biến gồm kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ. Trước thực tế đó, lực lượng chức năng đã tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đặc biệt đối với một số sản phẩm có dấu hiệu vi phạm như thực phẩm chức năng mang nhãn hiệu “DOPPELHERZ” và thuốc Clorocid TW3. Đồng thời, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả, nhất là trong dịp trước, trong và sau Tết Nguyên đán; chú trọng rà soát, xử lý các sản phẩm mỹ phẩm vi phạm, tăng cường quản lý trong lĩnh vực kinh doanh xăng dầu và bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng. Kết quả, từ ngày 05/02 đến 14/3/2026, lực lượng chức năng đã tiến hành kiểm tra 299 vụ, phát hiện 290 vụ vi phạm và xử lý 287 vụ; hiện còn 03 vụ đang tiếp tục xử lý. Tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính đạt 2.488,63 triệu đồng; trị giá hàng hóa buộc tiêu hủy ước tính 854,55 triệu đồng. Qua đó cho thấy công tác quản lý thị trường được triển khai quyết liệt, góp phần ổn định môi trường kinh doanh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. 2. Giá cả 2.1. Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2026 giảm 0,39% so với tháng trước, tăng 0,01% so với tháng 12/2025 và so với cùng kỳ năm trước tăng 4,26%. Tính chung quý I năm 2026, CPI tăng 4,36% so với cùng kỳ năm trước. - Nguyên nhân tăng CPI bình quân quý I năm 2026: Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,82% làm CPI chung tăng 1,15 điểm phần trăm, trong đó tăng do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Lễ ông Công, ông Táo và Tết Nguyên đán tăng cao làm cho giá gạo quý I/2026 tăng 1,50% so với cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 6,78% làm CPI chung tăng 1,64 điểm phần trăm, trong đó chỉ số giá nhóm thịt lợn tăng mạnh 10,72%; giá thịt gia cầm tăng 7,15%, so cùng kỳ tăng do thiếu hụt nguồn cung trong khi nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong các dịp Lễ, Tết; Chỉ số giá nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 5,75%, do giá lương thực thực phẩm đang mức tăng cao so cùng kỳ, giá gas, giá thuê mặt bằng và nhân công tăng; Chỉ số giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,79% do giá xi măng, cát, đá tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào và giá nhà thuê tăng, làm CPI chung tăng 0,86 điểm phần trăm; Chỉ số giá dầu hỏa tăng 12,33% do điều chỉnh giá dầu trong nước tăng theo biến động giá thế giới; Chỉ số giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá tăng 3,59%; hàng may mặc, mũ nón, giày dép tăng 2,46% và các thiết bị đồ dùng gia đình tăng 3,40%, do nhu cầu tiêu dùng cao trong dịp Tết, cùng với nguyên liệu đầu vào và chi phí sản xuất tăng nên các nhà cung ứng tăng giá bán sản phẩm; Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 1,52% so cùng kỳ năm trước góp phần làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm, trong đó giá tăng chủ yếu các mặt hàng nhiên liệu tăng 0,58%, do ảnh hưởng các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước; giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 16,57% do giá xăng dầu đang mức tăng cao nên các công ty vận tải hành khách tăng giá vé so cùng kỳ năm trước; Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng 7,17%, làm CPI chung tăng 0,34 điểm phần trăm do một số trường đại học, trung học dân lập, mầm non tư thục điều chỉnh tăng học phí thường niên. - Nguyên nhân giảm CPI bình quân quý I năm 2026: Chỉ số giá nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,21%, góp phần làm CPI chung giảm 0,01 điểm phần trăm, do giá điện thoại thế hệ cũ giảm khi các doanh nghiệp áp dụng chương trình giảm giá, kích cầu đối với các dòng điện thoại thông minh đã được tung ra thị trường một thời gian. Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, bình quân quý I/2026 giá gas giảm 5,55% so với cùng kỳ năm trước. 2.2. Tình hình biến động giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản; giá sản xuất công nghiệp và giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất Trong Quý I năm 2026, giá nguyên liệu, nhiên liệu và vật liệu phục vụ sản xuất trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng có xu hướng tăng nhẹ, phù hợp với diễn biến chung của cả nước trong bối cảnh mặt bằng giá đầu vào vẫn duy trì ở mức cao. Sự gia tăng này chịu tác động từ nhiều yếu tố như biến động giá năng lượng, chi phí vận chuyển và nhu cầu sản xuất, đầu tư phục hồi. Biến động giá đầu vào đã ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất, làm tăng giá thành sản phẩm và tạo áp lực nhất định lên hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tính chung trong quý, chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 6,72% so với cùng kỳ năm trước, phản ánh áp lực chi phí vẫn còn hiện hữu. Xét theo nhóm hàng, cả 7 nhóm sản phẩm chính đều ghi nhận mức tăng giá so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm sản phẩm khai khoáng tăng 18,34%, nhóm nông, lâm, thủy sản tăng 6,73%, dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 5,84%, điện, khí đốt và điều hòa không khí tăng 4,79%, nguyên vật liệu khác tăng 4,5%, sản phẩm xây dựng tăng 3,87% và nước tự nhiên khai thác tăng 0,9%. Diễn biến này cho thấy áp lực chi phí đầu vào lan tỏa trên nhiều lĩnh vực sản xuất, không chỉ tập trung ở một số ngành riêng lẻ. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý I năm 2026 tăng 1,93% so với quý trước và tăng 5,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 5,06% so với quý trước, tăng 17,44% so cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,52% so với quý trước, tăng 4,87% so cùng kỳ năm trước; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,2% so với quý trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước (nguyên nhân chủ yếu là do các nhà máy thủy điện áp dụng giá điện mùa khô, cùng với sản lượng phát điện vượt giá hợp đồng tại một số nhà máy, kéo theo chỉ số giá nhóm thủy điện tăng. Đồng thời, chi phí đầu vào như than, dầu, điện và chi phí bảo trì ở mức cao cũng làm tăng giá nhiệt điện và các dịch vụ liên quan); chỉ số giá sản phẩm nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,32% so với quý trước, tăng 0,78% so cùng kỳ năm trước, giá nhiên liệu và chi phí vận hành tăng nên một số công ty điều chỉnh tăng giá dịch vụ thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu phù hợp với tình hình thực tế.. Nhìn chung, diễn biến giá trong quý cho thấy áp lực chi phí sản xuất vẫn còn, đòi hỏi các doanh nghiệp cần chủ động thích ứng, tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động trong bối cảnh giá đầu vào còn nhiều biến động. 3. Hoạt động du lịch Trong tháng, trên địa bàn tỉnh diễn ra nhiều sự kiện văn hóa, thể thao phục vụ Nhân dân và du khách, như: Giải xe đạp nữ quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh - Cúp BIWASE, Giải Việt Nam Festival 3 môn thể thao địa hình lần thứ 4, Lễ hội các môn thể thao địa hình phối hợp Di Linh năm 2026 “Di Linh Outdoor Festival 2026”, Giải chạy địa hình Dalat Ultra Trail 2026... Các cơ sở kinh doanh ăn uống, vui chơi giải trí duy trì hoạt động ổn định, đáp ứng tốt nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của người dân và du khách. Tính chung quý I năm 2026, hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động, lượng khách đến địa phương trong các dịp lễ, tết tăng khá. Địa phương đã tổ chức nhiều hoạt động đón và quảng bá hình ảnh du lịch, như chào đón những du khách đầu tiên đến bằng đường hàng không trong dịp năm mới, tặng quà đặc sản địa phương tại sân bay Liên Khương,…; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá hình ảnh du lịch Lâm Đồng thân thiện, hấp dẫn. Lượt khách phục vụ trong tháng ước đạt 1.865,1 ngàn lượt, giảm 9% so tháng trước và tăng 22,23% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày ước đạt 65,5 ngàn lượt, giảm 11% so với tháng trước và tăng 18,87% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ ước đạt 3.536 ngàn ngày khách, giảm 8,99% so với tháng trước và tăng 23,76% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế trong tháng ước đạt 160 ngàn lượt khách, giảm 5,21% so với tháng trước và tăng 18,57% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách phục vụ ước đạt 517,5 ngàn ngày khách, giảm 6,39% so với tháng trước và tăng 22,54% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 lượt khách phục vụ đạt 5.910,4 ngàn lượt, tăng 20,3% so với cùng kỳ năm trước (trong đó lượt khách trong ngày đạt 217,8 ngàn lượt, tăng 18,51% so với cùng kỳ năm trước); ngày khách phục vụ đạt 11.231,4 ngàn ngày khách, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước. Lượt khách quốc tế quý I năm 2026 đạt 508,3 ngàn lượt, tăng 23,49% so với cùng kỳ năm trước; ngày khách quốc tế đạt 1.615,6 ngàn ngày khách, tăng 26,1% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú trong tháng ước đạt 570,2 tỷ đồng, giảm 8,32% so với tháng trước và tăng 15,18% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 2.209,3 tỷ đồng, giảm 9,05% so với tháng trước và tăng 12,39% so với cùng kỳ năm trước; du lịch lữ hành ước đạt 45,4 tỷ đồng, giảm 9,38% so với tháng trước và tăng 26,82% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.886,8 tỷ đồng, tăng 20,77% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống đạt 6.980,5 tỷ đồng, tăng 17,25% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ lữ hành đạt 145,8 tỷ đồng, tăng 29,6% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu từ hoạt động du lịch trong tháng ước đạt 5.083,3 tỷ đồng, giảm 7,3% so với tháng trước và tăng 26,86% so với cùng kỳ. Quý I năm 2026 doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 16.070,4 tỷ đồng, tăng 24,84% so với cùng kỳ năm trước. 4. Hoạt động dịch vụ khác Tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác trong tháng ước đạt 2.906,8 tỷ đồng, tăng 0,75% so với tháng trước và tăng 16,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 717,7 tỷ đồng, tăng 2,34% so với tháng trước và tăng 17,57% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ đạt 169,4 tỷ đồng, tăng 0,29% so với tháng trước và tăng 16,68% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 140,1 tỷ đồng, tăng 0,01% so với tháng trước và tăng 22% so với cùng kỳ; Doanh thu dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 242,7 tỷ đồng, tăng 1,10% so với tháng trước và tăng 19,97% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 1.332,9 tỷ đồng, tăng 0,02% so với tháng trước và tăng 14,59% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác ước đạt 304 tỷ đồng, tăng 0,61% so với tháng trước và tăng 13,12% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 8.614,2 tỷ đồng, tăng 12,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu dịch vụ kinh doanh bất động sản đạt 2.171,1 tỷ đồng, tăng 9,45% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 506,1 tỷ đồng, tăng 13,97% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ giáo dục và đào tạo đạt 430,3 tỷ đồng, tăng 15,83% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội ước đạt 720,3 tỷ đồng, tăng 16,03% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí đạt 3.902,5 tỷ đồng, tăng 13,33% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ khác đạt 883,9 tỷ đồng, tăng 8,36% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ thông tin truyền thông ước đạt 179 tỷ đồng, tăng 0,94% so với quý trước và tăng 10,44% so với cùng kỳ năm trước; Doanh thu dịch vụ chuyên môn, khoa học và công nghệ ước đạt 635,3 tỷ đồng, tăng 0,26% so với quý trước và tăng 14,26% so với cùng kỳ năm trước. 5. Hoạt động vận tải Trong Quý I năm 2026, hoạt động vận tải và kho bãi trên địa bàn tỉnh duy trì mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên có sự giảm nhẹ vào thời điểm sau Tết Nguyên đán. Nguyên nhân chủ yếu do lượng khách du lịch giảm sau kỳ nghỉ lễ, kéo theo nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa phục vụ du lịch không còn sôi động như giai đoạn trước Tết. - Vận tải hành khách: Lượt khách vận chuyển trong tháng ước đạt 2.833,8 nghìn HK, giảm 3,19% so với tháng trước và tăng 22,13% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 409.716,4 nghìn HK.Km, giảm 2,74% so với tháng trước và tăng 23,28% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, lượt khách vận chuyển ước đạt 8.516,6 nghìn HK, tăng 20,74% so với cùng kỳ năm trước; lượt khách luân chuyển ước đạt 1.228.677,7 nghìn HK.Km, tăng 21,62% so với cùng kỳ năm trước. - Vận tải hàng hóa: Khối lượng vận chuyển trong tháng ước đạt 2.057,3 nghìn tấn, giảm 3,59% so với tháng trước và tăng 20,92% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 303.193,3 nghìn tấn.Km, giảm 3,30% so với tháng trước và tăng 21,67% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, khối lượng vận chuyển ước đạt 6.185,0 nghìn tấn, tăng 18,62% so với cùng kỳ năm trước; khối lượng luân chuyển ước đạt 910.160,3 nghìn tấn.Km, tăng 19,17% so với cùng kỳ năm trước. - Doanh thu hoạt động giao thông vận tải, kho bãi trong tháng ước đạt 1.184,1 tỷ đồng, giảm 1,53% so với tháng trước và tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 ước đạt 3.488,7 tỷ đồng, tăng 21,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.189,8 tỷ đồng, tăng 26,83% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.706,5 tỷ đồng, tăng 23,25% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 455,2 tỷ đồng, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 137,2 tỷ đồng, tăng 3,86% so với cùng kỳ năm trước. - Khối lượng hàng hóa vận tải qua cảng quốc tế Vĩnh Tân trong tháng ước đạt 125 nghìn tấn trong đó xuất cảng 75 nghìn tấn (tro bay, cát, xỉ than, muối xá, quặng), nhập cảng 50 nghìn tấn (xi măng, cao lanh, máy móc, muối xá). Quý I năm 2026 ước đạt 585 nghìn tấn, trong đó xuất cảng 509,4 nghìn tấn (muối xá, đá xá, tro bay, cát, xỉ than); nhập cảng 75,6 nghìn tấn (túi xi măng, cao lanh, bột đá, máy móc, muối xá). V. Thu - chi ngân sách; hoạt động tín dụng 1. Thu ngân sách nhà nước Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh trong tháng ước đạt 2.906 tỷ đồng, tăng 33,74% so với tháng trước và tăng 7,96% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 ước đạt 11.070,7 tỷ đồng, bằng 32,15% kế hoạch năm và tăng 26,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa ước đạt 10.518,3 tỷ đồng, bằng 30,82% kế hoạch năm và tăng 24,45%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu ước đạt 552,3 tỷ đồng, bằng 31,38% kế hoạch năm và tăng 73,24% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực thu chủ yếu trong thu nội địa quý I năm 2026: Thu từ khu vực doanh nghiệp nhà nước ước đạt 1.689 tỷ đồng (bằng 44,41% kế hoạch năm và tăng 30,49% so với cùng kỳ năm trước); khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 784 tỷ đồng (bằng 56,80% kế hoạch năm và tăng 62,39%); khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước ước đạt 2.851 tỷ đồng (bằng 42,63% kế hoạch năm và tăng 63,30%); thuế thu nhập cá nhân ước đạt 905 tỷ đồng (bằng 33,16% kế hoạch năm và tăng 10,04%); các khoản thu về nhà, đất ước đạt 1.017 tỷ đồng (bằng 13,79% kế hoạch năm và tăng 2,02%); thu từ xổ số kiến thiết ước đạt 2.183 tỷ đồng (bằng 37,64% kế hoạch năm và tăng 7,70%). 2. Chi ngân sách Nhà nước Tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh quý I năm 2026 ước thực hiện 13.233 tỷ đồng (bằng 29,75% kế hoạch, tăng 15,75% so với cùng kỳ), trong đó: Chi đầu tư phát triển ước đạt 6.213 tỷ đồng, tăng 37,75% so với cùng kỳ; chi thường xuyên ước đạt 7.020 tỷ đồng, tăng 1,42% so với cùng kỳ. 3. Hoạt động tín dụng Công tác huy động vốn: đến 28/02/2026, huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) trên địa bàn tỉnh đạt 233.566 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 4.291 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,87%. Trong đó, huy động bằng đồng Việt Nam đạt 230.499 tỷ đồng (chiếm 98,69% tổng huy động vốn), huy động bằng ngoại tệ đạt 3.067 tỷ đồng, (chiếm 1,31% tổng huy động vốn). Ước 31/3/2026, huy động vốn toàn tỉnh đạt 236.000 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 6.725 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 3,0%. Hoạt động tín dụng: đến 28/02/2026, dư nợ cho vay của các TCTD trên địa bàn tỉnh đạt 371.093 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 110 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 0,03%. Trong đó, dư nợ cho vay bằng đồng Việt Nam đạt 368.832 tỷ đồng (chiếm 99,39% tổng dư nợ); dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 2.261 tỷ đồng (chiếm 0,61% tổng dư nợ). Dư nợ cho vay ngắn hạn là 263.534 tỷ đồng, dư nợ cho vay trung dài hạn 107.559 tỷ đồng. Ước tính đến ngày 31/3/2026, dư nợ cho vay đạt 374.500 tỷ đồng, so với cuối năm 2025 tăng 3.517 tỷ đồng, với tỷ lệ tăng 1,0%. Tình hình thực hiện lãi suất: lãi suất huy động Việt Nam đồng bình quân trong tỉnh ở mức 0,16% - 0,32%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; ở mức 3,41% - 4,69%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; ở mức 5,69% - 7,12%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến 12 tháng; ở mức 5,9% - 6,23%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn trên 12 tháng. Lãi suất tiền gửi USD của chi nhánh NHTM ở mức 0%/năm đối với tiền gửi của cá nhân và tổ chức. Đối với lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay bằng VND bình quân vay ngắn hạn đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 4%/năm; cho vay đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh ngắn hạn 7,84%/năm, trung dài hạn 9,40%/năm. Lãi suất cho vay bằng USD bình quân ở mức 4,02% - 4,15%/năm. Dư nợ cho vay các lĩnh vực: đến 28/02/2026, dư nợ cho vay ngành dịch vụ, du lịch, thương mại trên địa bàn tỉnh đạt 186.999 tỷ đồng, chiếm 50,39% tổng dư nợ tín dụng, ngành công nghiệp - xây dựng đạt 32727 tỷ đồng, chiếm 8,82% tổng dư nợ tín dụng, ngành nông lâm thủy sản đạt 151367 tỷ đồng, chiếm 40,79% tổng dư nợ tín dụng. Nợ xấu là 6.862 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 1,80% trong tổng dư nợ tín dụng. VI. Lĩnh vực Văn hóa - Xã hội 1. Hoạt động văn hóa - Thể dục thể thao 1.1. Hoạt động văn hóa - Hoạt động tuyên truyền, cổ động: Trong tháng đã thực hiện thiết kế, in ấn và thi công các biểu tượng trang trí, pano, băng rôn, hình ảnh, cờ hồng,... phục vụ công tác tuyên truyền bầu cử Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; tổ chức tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, phát động Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Lâm Đồng, Cuộc thi thiết kế cổng chào bằng hoa tươi tại chân đèo Prenn và tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị của địa phương, góp phần lan tỏa giá trị văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần của người dân. - Hoạt động văn hóa, văn nghệ: Tập trung tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ phục vụ nhiệm vụ chính trị của Trung ương và địa phương: Tổ chức 10 buổi biểu diễn văn nghệ phục vụ cơ sở tuyên truyền chào mừng Đại hội đại biểu Đảng các cấp tại một số xã trên địa bàn tỉnh; thực hiện 49 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị và phát sinh (trong đó biểu diễn phục vụ cơ sở là 38 buổi); thực hiện 202 buổi chiếu phim lưu động thu hút trên 50.000 lượt người xem và duy trì biểu diễn doanh thu thường xuyên vào các ngày cuối tuần tại sân khấu làng chài Fishermen show (Mũi Né). Ngoài ra trong quý I năm 2026, tỉnh đã tổ chức thành công các hoạt động mừng Đảng - mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026; chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng nhiệm kỳ 2025 - 2030; chương trình nghệ thuật phục vụ gặp mặt kiều bào; chương trình văn nghệ mừng Đảng - mừng xuân Bính Ngọ 2026 tại 03 khu vực; biểu diễn chương trình nghệ thuật phục vụ Nhân dân và du khách từ mùng 01 Tết đến mùng 03 Tết; chiếu phim, chương trình văn nghệ chủ đề “Mùa Xuân Hy Vọng” phục vụ cán bộ, chiến sĩ và phạm nhân tại Trại giam Đại Bình nhân dịp Xuân Bính Ngọ năm 2026; tổ chức Hội Tết Bính Ngọ; Hội Báo xuân Bính Ngọ (trưng bày sách, báo tạp chí, ấn phẩm xuân với 3.605 bản sách; xếp 11 mô hình sách nghệ thuật…); triển lãm chào mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026 với chủ đề “Sắc xuân đại ngàn”; “Sắc xuân Đà Lạt”; “Cổ vật và sắc xuân”; “Lâm Đồng vào xuân”; “Vùng đất và con người Lâm Đồng” và các hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026),… phục vụ người dân và du khách. - Hoạt động bảo tồn, bảo tàng: + Bảo tàng tỉnh: Đón 75.286 lượt khách, trong đó có 8.923 lượt khách quốc tế (Nhà trưng bày chính: 22.066 lượt khách; Di tích quốc gia Nhà lao thiếu nhi Đà Lạt: 13.362 lượt khách; Di tích quốc gia đặc biệt khảo cổ Cát Tiên: 3.273 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Bình Thuận: 35.020 lượt khách; cơ sở Bảo tàng Đắk Nông: 1.565 lượt khách). Tổ chức sưu tầm 55 hiện vật, hình ảnh, tư liệu; xây dựng hồ sơ hiện vật Linga - Yoni và Linga thạch anh để UBND tỉnh trình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, đề nghị Thủ tướng Chính phủ công nhận bảo vật quốc gia. + Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận: Tổ chức phục vụ 324 đoàn với 12.859 lượt khách, trong đó có 131 khách nước ngoài. Phục vụ 28 lễ viếng, 01 kết nạp Đoàn và 02 sinh hoạt chuyên đề. Trưng bày triển lãm 130 ảnh chuyên đề Chủ tịch Hồ Chí Minh với những chặng đường cách mạng vẻ vang của Đảng với tên gọi “Dục Thanh nhớ Bác”; trưng bày ảnh nghệ thuật, ảnh tư liệu “Sắc xuân Lâm Đồng” và “Xuân về dưới mái Trường Dục Thanh” tại khu di tích Dục Thanh; tiếp nhận 02 tượng đồng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hưng đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn; phối hợp với Báo và Phát thanh Truyền hình Lâm Đồng thực hiện phóng sự “Triển lãm ảnh về Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Khu di tích Dục Thanh”, Báo Lâm Đồng điện tử thực hiện phóng sự “Bảo tàng Hồ Chí Minh Bình Thuận - Lâm Đồng” thu hút hơn 134.000 lượt khách hưởng thụ văn hóa. + Khu di tích căn cứ Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ: Tiếp đón 4.664 lượt khách đến thăm viếng, tham quan, học tập, nghiên cứu, trải nghiệm. Sưu tầm được 04 hiện vật là ảnh tư liệu liên quan hoạt động cách mạng của cán bộ, chiến sĩ cơ quan Tỉnh ủy Bình Thuận trong kháng chiến chống Mỹ. - Hoạt động Thư viện: Cấp mới và gia hạn 435 thẻ (128 thẻ thiếu nhi); phục vụ 615.905 lượt bạn đọc; luân chuyển 82.004 lượt tài liệu; bổ sung 2.091 cuốn sách; đăng tải 339 bài viết về hoạt động Thư viện trên Fanpage; giới thiệu 364 đầu sách trên mạng xã hội; giới thiệu 10 video clip; cập nhật 420 tin bài lên trang website của Thư viện và sưu tầm 243 tin bài về Lâm Đồng. 1.2. Hoạt động thể thao Tiếp tục hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” với phương châm đưa thể dục thể thao về cơ sở nhằm duy trì và phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng. - Thể dục thể thao quần chúng: Tổ chức Lễ phát động Tháng hoạt động TDTT cho mọi người và Ngày chạy Olympic vì sức khoẻ toàn dân năm 2026; Giải chạy bộ “Vietnam Highlands Trail - Lâm Đồng”; Giải chạy Chinh phục thử thách lần thứ 3 “Prenn Trail Summit”; Giải đua thuyền truyền thống Phan Thiết mở rộng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; Giải Võ thuật Cổ truyền tỉnh Lâm Đồng - Mừng xuân Bính Ngọ 2026; môn Việt dã - Leo núi Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Lâm Đồng lần thứ I năm 2026 - Giải Leo núi Tà Cú tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; Giải Pickleball tỉnh Lâm Đồng mở rộng năm 2026; lễ hội các môn thể thao địa hình phối hợp Di Linh năm 2026 “DI LINH OUT DOOR FESTIVAL 2026”; Giải Việt Nam FesTrival 3 môn phối hợp Lâm Đồng năm 2026; Giải Siêu Marathon Đà Lạt ULtra Trail 2026. - Thể thao thành tích cao: Đã ban hành Quyết định cử đoàn vận động viên tham gia 07 giải thể thao quốc gia theo kế hoạch. Thành tích đạt được tính đến thời điểm báo cáo (12/3/2026) là 22 huy chương (05 HCV, 05 HCB, 12 HCĐ). 2. Giáo dục và đào tạo Tiếp tục triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm của năm học 2025-2026. Công tác chuyên môn, nghiệp vụ được triển khai toàn diện ở tất cả các cấp học; chú trọng bồi dưỡng, tập huấn nâng cao năng lực đội ngũ, đẩy mạnh chuyển đổi số và kiểm định chất lượng giáo dục. Năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có 1.593 cơ sở giáo dục với 24.494 lớp và 818.588 học sinh, gồm: 526 cơ sở giáo dục mầm non (trong đó: 400 công lập và 126 ngoài công lập) với 5.707 lớp và 151.943 trẻ; 564 cơ sở giáo dục tiểu học (trong đó: 558 công lập và 06 ngoài công lập) với 10.210 lớp và 321.257 học sinh; 365 trường trung học cơ sở (trong đó: 363 công lập và 02 ngoài công lập) với 6.016 lớp và 240.603 học sinh; 122 trường trung học phổ thông (trong đó: 114 công lập và 08 ngoài công lập; trong tổng số có 02 trường phổ thông dân tộc nội trú, 09 trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở và trung học phổ thông, 11 trường trung học cơ sở - trung học phổ thông và 100 trường trung học phổ thông) với 2.561 lớp và 104.785 học sinh; 01 trung tâm giáo dục thường xuyên công lập; 03 trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập (trong đó: 02 công lập và 01 ngoài công lập); 01 Trung tâm Giáo dục thường xuyên - Ngoại ngữ - Tin học; 11 trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên công lập với 7.529 học viên. Tổng số cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên toàn tỉnh là 50.702 người. Lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (GDNN): Toàn tỉnh có 78 cơ sở GDNN, gồm: 06 trường cao đẳng (trong đó: 04 trường thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý, 02 trường thuộc bộ, ngành quản lý); 05 trường trung cấp (trong đó: 01 trường trung cấp công lập và 04 trường trung cấp tư thục); 28 trung tâm GDNN (trong đó: 12 công lập, 16 tư thục); 28 doanh nghiệp đăng ký hoạt động GDNN và 11 cơ sở GDNN khác (gồm 11 trường trung cấp liên kết đào tạo) thực hiện chức năng đào tạo nghề nghiệp trình độ sơ cấp, đào tạo dưới 03 tháng và chức năng giáo dục thường xuyên. Kết quả kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm học 2025-2026: Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức hàng năm nhằm phát hiện, bồi dưỡng nhân tài, nâng cao chất lượng dạy và học. Kết quả, toàn tỉnh giành 104 giải, gồm: 01 giải nhất, 11 giải nhì, 29 giải ba và 63 giải khuyến khích. 3. Y tế Trong tháng tập trung công tác giám sát, phát hiện và tích cực triển khai các biện pháp dự phòng, khoanh vùng, xử lý ngay khi phát hiện các ca bệnh truyền nhiễm; đánh giá tình hình dịch bệnh truyền nhiễm tại các địa phương có số mắc cao để triển khai các biện pháp phòng chống và xử lý kịp thời các ổ dịch phát sinh; chuẩn bị đầy đủ thuốc, hóa chất, vật tư phòng chống dịch và nâng cao chất lượng khám chữa bệnh phục vụ người dân. - Bệnh sốt xuất huyết: Trong tháng phát hiện 199 ca mắc sốt xuất huyết mới, giảm 250 ca so với tháng trước và giảm 48 ca so với cùng kỳ năm trước; không có trường hợp tử vong. Quý I năm 2026, toàn tỉnh có 1.274 ca mắc. Trong tháng đã phát hiện và xử lý 19 ổ dịch, quý I đã phát hiện xử lý 66 ổ dịch. - Bệnh sốt rét: Trong tháng phát hiện 01 ca mắc; quý I năm 2026, toàn tỉnh có 02 ca mắc bệnh sốt rét. - Bệnh tay chân miệng: Trong tháng phát hiện 225 ca mắc, giảm 111 ca so với tháng trước và tăng 197 ca so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, toàn tỉnh ước có 878 ca mắc. - Bệnh sởi: Trong tháng phát hiện 14 ca mắc, tăng 07 ca so với tháng trước và giảm 756 ca so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, toàn tỉnh ước có 27 ca mắc. - Tiêm chủng mở rộng: Trong tháng, đã tiêm chủng đầy đủ cho 2.128 trẻ dưới 1 tuổi; tiêm viêm gan B sơ sinh trước 24h sau sinh cho 2.796 trẻ; tiêm MR (phòng chống sởi và rubella) cho 2.194 trẻ; tiêm bạch hầu - ho gà - uốn ván (DPT) mũi 4 cho 2.262 trẻ; tiêm viêm não Nhật Bản mũi 1 cho 2.104 trẻ, mũi 2 cho 1.808 trẻ và mũi 3 cho 2.109 trẻ; ngoài ra đã tổ chức tiêm phòng uốn ván cho 1.999 phụ nữ có thai trên địa bàn tỉnh. - Công tác phòng chống Phong: Duy trì tốt công tác loại trừ bệnh phong theo 4 tiêu chí của Bộ Y tế. Trong tháng không phát hiện bệnh nhân phong mới. Toàn tỉnh còn quản lý 441 bệnh nhân, đang điều trị 01 bệnh nhân; đang giám sát 11 bệnh nhân; chăm sóc tàn tật cho 434 bệnh nhân; bệnh nhân hết quản lý trong tháng là 4 người. - Công tác phòng chống Lao: Chương trình chống lao tiếp tục được duy trì mục tiêu triển khai công tác chống lao tại 100% xã, phường, đặc khu. Trong tháng, số bệnh nhân (BN) lao mới các thể thu nhận là 122 bệnh nhân, tỷ lệ BN lao mới các thể/dân số là 3 BN/100.000 dân; BN lao phổi có bằng chứng vi khuẩn học mới (AFB (+) và MTB) trong tháng là 03 BN/100.000 dân; BN lao kháng thuốc trong tháng là 06 người. - Công tác phòng chống HIV/AIDS: Trong tháng phát hiện 04 bệnh nhân nhiễm HIV mới, có 01 trường hợp tử vong do AIDS. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh có 4.799 người mắc HIV, chuyển sang AIDS 1.784 người, tử vong 1.569 người. - Công tác khám chữa bệnh: Trong tháng đã tổ chức khám bệnh cho 318.612 lượt bệnh nhân, số lượt bệnh nhân điều trị nội trú là 29.747 lượt người, tổng số ngày điều trị nội trú là 154.801 ngày, xét nghiệm cho 400.330 tiêu bản, chẩn đoán 90.484 hình ảnh và phẫu thuật 3.636 trường hợp. Quý I năm 2026 ước khám bệnh cho 1.205.709 lượt người; 95.777 lượt bệnh nhân điều trị nội trú với 577.418 ngày, số ngày điều trị nội trú trung bình/bệnh nhân 5,2 ngày, công suất sử dụng giường bệnh toàn tỉnh đạt 68%; ước xét nghiệm cho 1.683.550 tiêu bản; chẩn đoán 339.649 hình ảnh và phẫu thuật cho 12.295 trường hợp. - Công tác bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm: Tỉnh đã triển khai kiểm tra an toàn thực phẩm tại 3.638 cơ sở, kết quả có 31 cơ sở vi phạm bị xử phạt với số tiền 209,15 triệu đồng. Trong tháng trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm. 4. Thông tin, báo chí, xuất bản - Báo chí và truyền thông: Thực hiện tốt công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và các ngày lễ, sự kiện chính trị quan trọng. Công tác thông tin, tuyên truyền về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được triển khai kịp thời trên báo chí và hệ thống thông tin cơ sở. Kịp thời cung cấp, theo dõi và tổng hợp thông tin báo chí, dư luận xã hội về tỉnh Lâm Đồng; thực hiện điểm báo, báo cáo định kỳ phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo tỉnh.- Thông tin cơ sở và thông tin đối ngoại: Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách mới, sự kiện quan trọng và quảng bá hình ảnh tỉnh Lâm Đồng được tăng cường với nhiều hình thức; đã xây dựng Kế hoạch thực hiện Quyết định số 173/QĐ-TTg ngày 27/01/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược truyền thông quảng bá hình ảnh Việt Nam ra nước ngoài giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.- Xuất bản, in và phát hành: Thực hiện tốt hoạt động quản lý Nhà nước về xuất bản, in và phát hành xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh. Trong tháng đã cấp 04 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh. 5. Chính sách liên quan đến đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo và người có công 5.1. Chính sách dân tộc - Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) ổn định; đời sống vật chất, tinh thần của người dân tiếp tục được cải thiện, các chương trình mục tiêu quốc gia, các chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo được triển khai đồng bộ, hiệu quả. Hạ tầng thiết yếu tiếp tục được đầu tư hoàn thiện, bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào được gìn giữ và phát huy. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN tỉnh đã quan tâm, tổ chức các hoạt động thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ gạo,... cho hộ nghèo, gia đình chính sách và người có uy tín với số tiền hơn 300 tỷ đồng, qua đó góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. - Bản sắc văn hóa dân tộc vùng đồng bào DTTS được duy trì và phát huy; phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao trong vùng đồng bào DTTS phát triển sâu rộng, phong phú với các lễ hội truyền thống như: Lễ hội Lồng tồng, Lễ hội mừng lúa mới (tết đầu lúa), giữ gìn văn hóa cồng chiêng, duy trì tổ chức các trò chơi truyền thống; qua đó góp phần tạo không khí vui tươi, nâng cao tinh thần đoàn kết và duy trì bản sắc văn hóa của đồng bào DTTS. Trong dịp Tết Bính Ngọ 2026, một số xã vùng DTTS và biên giới như Nâm Nung, Đắk Mil, Quảng Trực, Quảng Hòa, Đạ Tẻh, Cát Tiên 3, Đam Rông 4,... tổ chức bắn pháo hoa tầm thấp vào thời khắc giao thừa và các chương trình văn nghệ “Mừng Đảng - Mừng Xuân”, thu hút đông đảo người dân tham gia, hưởng thụ. - Mạng lưới trường lớp vùng đồng bào DTTS ngày càng hoàn thiện. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú duy trì sĩ số học sinh ổn định. Các chính sách miễn, giảm học phí; hỗ trợ gạo, tiền ăn, tiền ở nội trú, bán trú,… được thực hiện theo đúng chế độ quy định. Việc dạy tiếng Chăm, Ê đê, M’nông, K’ho trong nhà trường tiếp tục được triển khai, qua đó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. - Hệ thống Y tế vùng đồng bào DTTS tiếp tục được quan tâm đầu tư nhằm từng bước nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe người dân. Tiếp tục thực hiện chủ trương nâng cao tỷ lệ trạm y tế có bác sĩ, hướng tới mục tiêu giúp đồng bào DTTS tiếp cận dịch vụ y tế hiện đại và chăm sóc sức khỏe toàn diện; công tác đào tạo nhân lực y tế là người DTTS được chú trọng nhằm nâng cao chất lượng công tác y tế vùng đồng bào DTTS. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, hệ thống y tế cơ sở tại 100% các xã vùng DTTS đảm bảo trực và chăm sóc sức khỏe người dân. - Công tác phục vụ người dân vùng đồng bào DTTS trong dịp Tết Đầu lúa và Tết Nguyên đán 2026 được quan tâm triển khai, đã dự trữ đầy đủ các mặt hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu và hoàn thành việc cung ứng hàng hóa xuống hệ thống các cửa hàng, đại lý trực thuộc trước Tết Đầu lúa và Tết Nguyên đán, bảo đảm nguồn cung ổn định, kịp thời phục vụ nhu cầu mua sắm của ngưởi dân. Tại các điểm bán hàng, giá cả được niêm yết công khai, hàng hóa bảo đảm rõ nguồn gốc, xuất xứ; các mặt hàng tham gia chương trình bình ổn giá được thông báo công khai, góp phần ổn định thị trường, bảo đảm quyền lợi người tiêu dùng. 5.2. Chính sách tôn giáo Hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo trên địa bàn tỉnh diễn ra bình thường ổn định. Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) tỉnh tổ chức Đại giới đàn Chơn Thành tại Thiền Viện Trúc Lâm Chánh Thiện, xã Tân Lập; tổ chức Hội nghị Tổng kết công tác phật sự năm 2025; đăng ký bổ nhiệm Trụ trì 08 cơ sở Phật giáo; đề nghị thành lập 12 Ban Quản trị các cơ sở tự viện trong tỉnh; Thiền viện Linh Ẩn, xã Nam Ban - Lâm Hà tổ chức lễ Cầu quốc thái dân an thu hút khoảng 1.000 tăng ni, phật tử (trong đó có 04 tu sỹ người Nepal, Ấn Độ) tham dự. Cộng đoàn Don Bosco Đà Lạt tổ chức Hội chợ mừng năm mới 2026 cho hơn 1.700 em thiếu nhi thuộc các Giáo hạt: Đà Lạt, Đơn Dương và Đức Trọng tham dự; Giám mục Giáo phận Đà Lạt chủ trì Thánh lễ tạ ơn, khánh thành Quần thể mục vụ Giáo xứ Ka La, xã Bảo Thuận với khoảng 3.000 linh mục, tu sĩ, giáo dân tham dự; Giáo xứ Chính Toà, phường Xuân Hương - Đà Lạt tổ chức Thánh lễ Tạ ơn Tất Niên năm 2025, họp mặt mừng Xuân Bính Ngọ 2026 và phát 280 phần quà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn; Nữ Đan viện Xitô Thánh Mẫu Phước Hải tổ chức Thánh lễ Tạ ơn Thiết lập Nữ Đan viện Xitô Thánh Mẫu Phước Thanh, xã Bảo Lâm 1 với khoảng 500 người là linh mục, tu sĩ, giáo dân tham dự. Ban Đại diện Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tỉnh tổ chức lễ công bố quyết định thành lập Chi hội và bổ nhiệm quản nhiệm Chi hội Tin Lành Việt Nam (miền Nam) Hang Hớt, xã Nam Ban Lâm Hà với khoảng 1.000 người là chức sắc, tín đồ tham dự. Các tôn giáo khác trên địa bàn tỉnh hoạt động ổn định. 5.3. Chính sách người có công Công tác chăm lo Tết và thực hiện chính sách an sinh xã hội cho các đối tượng là người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ xã hội, hưu trí và đối tượng yếu thế được quan tâm thực hiện. Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh đã chi 114.302,982 triệu đồng thăm hỏi, động viên người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng; 37.449,6 triệu đồng hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn và 1.220 triệu đồng hỗ trợ cho các đối tượng bảo trợ xã hội. Trong quý I năm 2026, đã giải quyết 501 hồ sơ về chế độ chính sách cho người có công. Chi trả trợ cấp hằng tháng cho đối tượng người có công với cách mạng 13.802 người với tổng kinh phí 134.183.118.738 đồng. Giải quyết chế độ mai táng phí cho 212 hồ sơ. 6. Hoạt động bảo hiểm Công tác giải quyết, chi trả các chế độ BHXH, BHYT, BHTN cho đối tượng thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng quy định, tạo thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia và thụ hưởng. Tính đến 28/02/2026, toàn tỉnh có 292.335 người tham gia BHXH, giảm 0,95% so với tháng trước; có 224.773 người tham gia BHTN, tăng 1,36%; số người tham gia BHYT là 2.848.381 người, tăng 2,06% so với tháng trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT chung toàn tỉnh đạt 84,08% dân số. Trong 2 tháng đầu năm 2026, đã giải quyết mới 5.853 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ học nghề cho 934 người (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 91 người; trợ cấp 1 lần cho 1.395 người; chế độ ốm đau cho 3.328 người; chế độ thai sản cho 814 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 225 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 933 người và hỗ trợ học nghề cho 01 người). Lũy kế đến ngày 28/02/2026, toàn tỉnh đã giải quyết mới 16.857 người hưởng chế độ BHXH và phối hợp chi trả cho 2.204 người hưởng chế độ BHTN (trong đó: lương hưu và trợ cấp BHXH hàng tháng cho 287 người; trợ cấp 1 lần cho 3.032 người; chế độ ốm đau cho 8.722 người; chế độ thai sản cho 2.073 người; chế độ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe cho 539 người; trợ cấp thất nghiệp hàng tháng cho 2.125 người và hỗ trợ học nghề cho 79 người). 7. Tai nạn giao thông (từ ngày 15/02/2026 - 14/3/2026) Trong tháng xảy ra 46 vụ tai nạn giao thông, giảm 42 vụ so với tháng trước và giảm 12 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết là 38 người, giảm 07 người so với tháng trước và tăng 08 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 22 người, giảm 45 người so với tháng trước và giảm 24 người so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 196 vụ (trong đó có 2 vụ đường sắt), giảm 24 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết 117 người, tăng 20 người so với cùng kỳ năm trước; số người bị thương là 134 người, giảm 38 người so với cùng kỳ năm trước. 8. Thiên tai, cháy nổ, vi phạm môi trường - Thiên tai: Trong tháng (từ ngày 26/02 đến ngày 28/3/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ mưa lốc, giông tại xã Đạ Tẻh 2 làm 01 căn nhà tốc mái. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 02 vụ thiên tai, làm sạt lở 375 m chiều dài bờ biển tại xã Tân Thành và 01 căn nhà bị tốc mái; chưa thống kê giá trị thiệt hại. - Cháy nổ: Trong tháng (từ ngày 15/02 đến ngày 15/3/2026) trên địa bàn tỉnh xảy ra 05 vụ cháy (tăng 02 vụ so với tháng trước và tăng 02 vụ so với cùng kỳ năm trước), làm bị thương 02 người, ước thiệt hại 988 triệu đồng. Quý I năm 2026 (tính đến 15/3/2026), toàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy (tăng 08 vụ so với cùng kỳ năm trước), làm bị thương 02 người; ước tổng giá trị thiệt hại 1.028 triệu đồng. - Vi phạm môi trường: Trong tháng không xảy ra. Lũy kế từ đầu năm đến nay xảy ra 02 vụ, giảm 7 vụ so với cùng kỳ năm trước, đã xử phạt 350 triệu đồng. * Đánh giá chung Trong tháng 3 và quý I năm 2026, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lâm Đồng nhìn chung tiếp tục duy trì xu hướng ổn định và tăng trưởng khá trong bối cảnh tình hình thế giới còn nhiều yếu tố biến động, giá cả một số yếu tố đầu vào sản xuất ở mức cao, tác động nhất định đến hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trên địa bàn tỉnh, nhiều ngành, lĩnh vực chủ yếu tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước. GRDP quý I ước tăng 7,47% so với cùng kỳ năm trước; cả ba khu vực kinh tế đều duy trì đà tăng, trong đó khu vực dịch vụ tiếp tục là động lực tăng trưởng nổi bật. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục giữ vai trò nền tảng ổn định của nền kinh tế. Sản xuất nông nghiệp được triển khai đúng thời vụ, tổng diện tích gieo trồng vụ Đông xuân đạt 108.931 ha, tăng 3,14% so với cùng kỳ; chăn nuôi và thủy sản duy trì phát triển ổn định; sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tiếp tục được mở rộng với 107.456 ha. Khu vực công nghiệp, xây dựng và đầu tư tiếp tục duy trì xu hướng tăng khá. Chỉ số sản xuất công nghiệp quý I tăng 8,20% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp khai khoáng và công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao. Vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn ước tăng 11,27%, cho thấy hoạt động đầu tư, xây dựng và mở rộng năng lực sản xuất tiếp tục được duy trì. Hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch tăng khá. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng 12,73%, lượng khách du lịch tăng 20,30% so với cùng kỳ, hoạt động vận tải đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa, cho thấy sức mua, nhu cầu tiêu dùng và các hoạt động lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí phục hồi tích cực. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tăng 26,22%. Các lĩnh vực văn hóa - xã hội tiếp tục được quan tâm thực hiện; công tác y tế, giáo dục, an sinh xã hội, chăm lo người có công, hộ nghèo và các đối tượng yếu thế được triển khai tương đối đầy đủ, kịp thời. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, một số khó khăn, hạn chế vẫn còn cần lưu ý. Chi phí đầu vào sản xuất còn ở mức cao, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và người sản xuất; mặc dù CPI tháng 3/2026 giảm 0,39% so với tháng trước, nhưng nhóm giao thông tăng 12,51%; trong đó giá nhiên liệu tăng 29,49%, giá xăng tăng 31,06%, giá dầu diezen tăng 57,71% và giá dầu hỏa tăng 63,25% gây áp lực chi phí vận tải, logistics, ảnh hưởng đến sản xuất và lưu thông hàng hóa. Dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi tuy cơ bản được kiểm soát nhưng vẫn còn phát sinh cục bộ; tăng trưởng công nghiệp chưa thật sự đồng đều giữa các ngành; công tác quản lý, bảo vệ rừng vẫn còn tiềm ẩn nguy cơ vi phạm. Đây là những yếu tố cần tiếp tục theo dõi sát và có giải pháp phù hợp nhằm củng cố tính ổn định, bền vững của tăng trưởng trong thời gian tới. TKT Lâm Đồng
Hội nghị sơ kết công tác quý I và triển khai nhiệm vụ công tác quý II năm 2026 của ngành Thống kê tỉnh Lâm Đồng
- 29/03/2026 15:46
Sáng ngày 27/3/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị sơ kết công tác quý I và triển khai nhiệm vụ công tác quý II năm 2026. Đồng chí Phạm Quốc Hùng, Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh, chủ trì hội nghị. Tham dự hội nghị có các đồng chí Phó Trưởng Thống kê tỉnh, lãnh đạo và công chức các phòng thuộc cơ quan Thống kê tỉnh; hội nghị được kết nối trực tuyến đến 16 điểm cầu Thống kê cơ sở trên toàn tỉnh. Trong quý I năm 2026, ngành Thống kê Lâm Đồng đã bám sát chương trình, kế hoạch công tác, chủ động tổ chức thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ được giao và đạt nhiều kết quả tích cực. Toàn ngành đã hoàn thành đầy đủ, đúng thời hạn các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội tháng, quý I, phục vụ kịp thời công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Tỉnh ủy, UBND tỉnh và của ngành. Công tác điều tra thống kê tiếp tục được triển khai đúng phương án, đúng tiến độ; chất lượng phân tích, cung cấp, giải trình số liệu tiếp tục được nâng lên. Đặc biệt, ngành đã hoàn thành công tác tổng kết Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 và đang tập trung triển khai Tổng điều tra kinh tế năm 2026 theo đúng kế hoạch. Phát biểu chỉ đạo tại hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng ghi nhận, biểu dương tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực và những kết quả mà các phòng thuộc cơ quan Thống kê tỉnh, các Thống kê cơ sở đã đạt được trong quý I năm 2026. Đồng chí nhấn mạnh, những kết quả đạt được trong thời gian qua đã thể hiện tinh thần chủ động, nghiêm túc, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, qua đó tiếp tục khẳng định vai trò của ngành Thống kê trong cung cấp thông tin kinh tế - xã hội trung thực, khách quan, kịp thời, phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền địa phương. Về nhiệm vụ quý II năm 2026, đồng chí Trưởng Thống kê tỉnh yêu cầu toàn ngành tiếp tục bám sát kế hoạch công tác của Cục Thống kê (Bộ Tài Chính) và nhiệm vụ địa phương giao; tập trung nâng cao hơn nữa chất lượng công tác tổng hợp, phân tích, dự báo; bảo đảm số liệu chính xác, kịp thời, sát thực tế. Đồng thời, tiếp tục tổ chức thực hiện tốt giai đoạn 2 Tổng điều tra kinh tế năm 2026; tăng cường kiểm tra, giám sát quy trình thu thập thông tin, bảo đảm tính đầy đủ, trung thực của số liệu. Cùng với đó, cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng hiệu quả phần mềm Taskgov trong theo dõi, quản lý tiến độ thực hiện nhiệm vụ; tăng cường bám sát địa bàn, chủ động phối hợp với các ngành, các địa phương trong thu thập, xử lý và tổng hợp thông tin; tập trung hoàn thành tốt công tác biên soạn Niên giám thống kê năm 2025, bảo đảm chất lượng và tiến độ đề ra. Đồng chí cũng giao nhiệm vụ cụ thể cho từng lĩnh vực nghiệp vụ, từng phòng chuyên môn, các Thống kê cơ sở nhằm bảo đảm triển khai đồng bộ và hiệu quả các nhiệm vụ trong thời gian tới. Hội nghị diễn ra trong không khí nghiêm túc, trách nhiệm, thống nhất cao. Kết quả đạt được trong quý I và những nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm đã đề ra cho quý II năm 2026 là cơ sở quan trọng để ngành Thống kê Lâm Đồng tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành phát triển kinh tế - xã hội của địa phương./. Thống kê tỉnh Lâm Đồng Một số hình ảnh của Hội nghị:Đ/c Phạm Quốc Hùng – Bí thư Đảng ủy, Trưởng Thống kê tỉnh phát biểu khai mạc và chỉ đạo Hội nghịCác đồng chí Lãnh đạo Thống kê tỉnh chủ trì Hội nghị
Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tổng kết Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025
- 29/03/2026 15:42
Chiều ngày 26/3/2026, Thống kê tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị tổng kết Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 nhằm đánh giá kết quả triển khai thực hiện trên địa bàn tỉnh, đồng thời biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong quá trình tổ chức thực hiện. Tham dự Hội nghị có đồng chí Lê Trọng Yên - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 tỉnh Lâm Đồng; đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 tỉnh Lâm Đồng; các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo, thành viên Tổ Thường trực, giám sát viên cấp tỉnh; cùng đại diện Ban Chỉ đạo cấp xã, tổ trưởng, điều tra viên tham dự trực tiếp và trực tuyến tại 15 điểm cầu Thống kê cơ sở trên toàn tỉnh. Phát biểu khai mạc Hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh, cuộc Tổng điều tra là nhiệm vụ chính trị quan trọng, có ý nghĩa thiết thực trong việc cung cấp thông tin toàn diện về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Đồng chí khẳng định, với sự quan tâm chỉ đạo của UBND tỉnh, sự phối hợp chặt chẽ của các sở, ngành, địa phương và nỗ lực của toàn bộ lực lượng tham gia, cuộc Tổng điều tra trên địa bàn tỉnh đã được triển khai nghiêm túc, đồng bộ, đúng phương án và bảo đảm tiến độ. Ngay sau phần khai mạc, các đại biểu đã theo dõi video clip tổng hợp, nhìn lại toàn bộ quá trình tổ chức, chỉ đạo và thực hiện Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 trên địa bàn tỉnh. Qua đó, Hội nghị đã làm rõ tinh thần trách nhiệm, sự chủ động và phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành, các địa phương và lực lượng tham gia điều tra trong suốt quá trình triển khai thực hiện. Tiếp đó, đồng chí Nguyễn Hoài Hải - Phó Trưởng Thống kê tỉnh, Ủy viên Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 tỉnh Lâm Đồng trình bày báo cáo kết quả sơ bộ của cuộc Tổng điều tra. Báo cáo đã bước đầu phản ánh bức tranh tổng thể về thực trạng nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh, cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng phục vụ công tác nghiên cứu, phân tích, đánh giá và tham mưu chính sách trong thời gian tới. Hội nghị cũng dành thời gian nghe các tham luận của địa phương về công tác tổ chức thực hiện Tổng điều tra. Các ý kiến đã chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tiễn, cách làm hiệu quả, đồng thời nêu lên những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác điều tra thống kê trong thời gian tới. Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, đồng chí Lê Trọng Yên - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 tỉnh Lâm Đồng đã ghi nhận, biểu dương sự nỗ lực của ngành Thống kê với vai trò là cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo; đồng thời đánh giá cao sự phối hợp trách nhiệm của các sở, ngành, địa phương và lực lượng tham gia điều tra. Đồng chí yêu cầu trong thời gian tới cần tiếp tục khẩn trương hoàn thiện công tác tổng hợp, xử lý, phân tích và khai thác hiệu quả dữ liệu Tổng điều tra, phục vụ thiết thực cho công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh. Tiếp thu ý kiến chỉ đạo của đồng chí Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 tỉnh Lâm Đồng đã phát biểu đáp từ, trân trọng cảm ơn sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của UBND tỉnh và cá nhân đồng chí Trưởng Ban Chỉ đạo tỉnh đối với cuộc Tổng điều tra. Đồng chí khẳng định Thống kê tỉnh, với vai trò là cơ quan thường trực, sẽ nghiêm túc tiếp thu đầy đủ các ý kiến chỉ đạo; tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành và địa phương khẩn trương hoàn thiện công tác tổng hợp, xử lý, biên soạn kết quả chính thức; đồng thời đẩy mạnh phân tích, khai thác và sử dụng hiệu quả dữ liệu Tổng điều tra phục vụ công tác tham mưu, quản lý nhà nước và xây dựng chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới. Nhằm ghi nhận những đóng góp tích cực vào thành công chung của cuộc Tổng điều tra, Hội nghị đã công bố các quyết định khen thưởng đối với các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc. Trong đó, Thống kê tỉnh Lâm Đồng vinh dự có 01 cá nhân được tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ; 03 tập thể và 08 cá nhân được tặng Bằng khen của Bộ Tài chính. Đại diện lãnh đạo Thống kê tỉnh đã trao quyết định khen thưởng của Trưởng Thống kê tỉnh cho các tập thể, cá nhân tham dự trực tiếp tại điểm cầu trung tâm. Phát biểu bế mạc Hội nghị, đồng chí Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 tỉnh Lâm Đồng nhấn mạnh, sau một buổi làm việc nghiêm túc, trách nhiệm và hiệu quả, Hội nghị đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. Đồng chí ghi nhận và đánh giá cao sự phối hợp chặt chẽ của các sở, ban, ngành, địa phương; sự nỗ lực của Tổ Thường trực, giám sát viên, tổ trưởng, điều tra viên các cấp; cùng sự đồng thuận, phối hợp tích cực của các tổ chức, hộ dân và cơ sở sản xuất trong toàn tỉnh. Đồng chí cũng đề nghị trong thời gian tới, Thống kê tỉnh tiếp tục phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan hoàn thiện số liệu chính thức, biên soạn ấn phẩm kết quả Tổng điều tra, đẩy mạnh phân tích, khai thác dữ liệu nhằm phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hội nghị tổng kết Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp năm 2025 tỉnh Lâm Đồng đã diễn ra thành công tốt đẹp. Kết quả của Hội nghị tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của công tác thống kê trong việc cung cấp thông tin trung thực, khách quan, kịp thời, góp phần phục vụ hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới. Thống kê tỉnh Lâm ĐồngMột số hình ảnh tại Hội nghị:Đ/c Lê Trọng Yên - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh, Trưởng ban Ban Chỉ đạo TĐTNN năm 2025 tỉnh Lâm Đồng phát biểu chỉ đạo tại Hội nghịĐ/c Phạm Quốc Hùng - Trưởng Thống kê tỉnh, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo TĐTNN 2025 tỉnh Lâm Đồng phát biểu khai mạc Hội nghịĐ/c Nguyễn Hoài Hải - Phó Trưởng Thống kê tỉnh, Ủy viên Ban Chỉ đạo TĐTNN 2025 tỉnh Lâm Đồng trình bày Báo cáo kết quả sơ bộ TĐTNN 2025Các đơn vị tham gia tham luận tại Hội nghị